Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (452.25 KB, 33 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>KHÁI QUÁT VHVN GIAI ĐOẠN 1900-1930 </b>
<b>I. NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG,VĂN HÓA, THẨM MĨ TRONG </b>
<b>GIAI ĐOẠN 1900 - 1930: </b>
<b>1- Lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn 1900 – 1930 </b>
<b>1.1- Tình hình chính trị : </b>
Ðầu thế kỉ XX Pháp cơ bản đã thực hiện xong cơng cuộc bình định trên đất nước ta và chuyển
sang khai thác thuộc địa, xây dựng trật tự mới. Ðây là thời điểm Pháp cảm thấy có thể yên tâm
và phấn khởi trước cảnh thái bình mà chúng hằng mong đợi. Nhưng đối với ta, đây là những
ngày tháng đau thương, bi đát nhất của lịch sử.
Kể từ sau cái chết của Phan Ðình Phùng (1896), xem như phong trào chống Pháp theo ngọn cờ
Cần Vương đã thất bại hồn tồn . Thơn xóm, làng mạc Việt Nam tiêu điều xơ xác do kẻ thù tàn
phá, nhân dân phải xiêu tán lưu lạc khắp nơi. Những người tham gia khởi nghĩa trước kia bị giết,
bị tù đày hoặc phải trốn tránh không dám trở về. Trong khi đó, cột sống của chế độ phong kiến
cũng bị sụp đổ. Hàng ngũ giai cấp thống trị tan rã. Cả bộ máy thống trị của nhà nước phong kiến
từ triều đình đến tỉnh , huyện , làng, xã đều trở thành tay sai cho bọn xâm lược. Mọi quyền hành
đều nằm trong tay Pháp . Tầng lớp trí thức thời phong kiến lúc bấy giờ cũng lâm vào tình trạng
sống dở, chết dở. Những người đã từng tham gia vào phong trào chống Pháp kẻ thì bị giết chết,
người bị tù đày hoặc trốn tránh, có khi phải chạy ra nước ngồi. Có người khơng chịu được thử
thách cuối cùng phải ra đầu thú, sống nơm nớp trong cảnh tù treo của thực dân. Có người khơng
tham gia chống Pháp nhưng cịn chút liêm sĩ thì lui về sống ẩn dật, bất đắc chí. Họ thường phải
cam chịu, bất lực và đành phải an phận. Cá biệt có một số người ham cuộc sống giàu sang phú
quý nên đã cởi bỏ lớp nho phong , sĩ khí để ra phục vụ cho ông chủ mới...
Thế là bộ máy cai trị của Pháp được tổ chức lại theo lối hiện đại hơn, chặt chẽ hơn, có quyền lực
hơn và phá dần cái thế tự triü làng xã ngày trước. Ðể che dấu bộ mặt thật cướp nước, để tuyên
truyền văn minh nước Pháp, bọn thực dân đã đưa ra Hội đồng tư vấn , bày trò dân chủ giả hiệu.
Chúng còn lập Viện Hàn lâm Bắc Kì để dựng lên cái gọi là bảo vệ và phát triển văn hoá .
<i>Ơng nghè ơng cống cũng nằm co </i>
<i>Sao bằng đi học làm ông phán </i>
<i>Sáng rượu sâm banh , tối sữa bò </i>
<i> ( Chữ Nho - Trần Tế Xương ) </i>
Họ quyết định bỏ lối học từ chương, đi tìm đến những tri thức hiện đại mà họ biết được qua sách
vở và báo chí nước ngồi được bí mật đưa vào Việt nam lúc này. Trong số đó tiêu biểu là tân
thư, tân văn. Cũng từ sách vở nước ngoài, họ được tiếp xúc với các luồng tư tưởng tiến bộ, hiểu
được tình hình cách mạng trên thế giới từ đó chọn cho mình một con đường cứu nưóc khác
trước. Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải ngun. Tên tuổi, danh tiếng, khí phách của ơng đã
được nhiều người biết đến và hết lòng ái mộ, nhất là tầng lớp thanh niên. Họ cảm thấy rằng: Con
người đó là hiện thân của tinh thần bài Pháp, của phong trào ái quốc, phong trào vận động cách
mạng lúc này.
năm này lên đến đỉnh cao. Thực dân Pháp lo sợ và tìm cách đối phó. Một cuộc đàn áp dã man
những người yêu nước đã diễn ra. Nhiều chiến sĩ cách mạng bị giết, bị tù đày hoặc phải bỏ trốn
ra nước ngoài. Lực lượng cách mạng bị tan rã. Thực dân Pháp không chỉ khủng bố điên cuồng
bằng biện pháp chính trị, qn sự mà cịn chủ trương áp dụng những chính sách văn hố thực dân
để tạo ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc.
Thế nhưng, những người yêu nước vẫn không chịu khuất phục. Họ vẫn tiếp tục hoạt động và tìm
cơ hội để gây dựng lại phong trào. Việt Nam Quang Phục Hội ra đời năm 1912 và tìm cách bắt rễ
về trong nước. Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, đặc biệt từ khoảng năm 1922 , cách mạng Việt
Nam lại chuyển biến mạnh mẽ. Xu hướng cách mạng tư sản cũ trước khi chấm dứt với cuộc khởi
nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo thất bại, cũng đã có những cố gắng, vừa cơng khai,
<b>1.2- Tình hình kinh tế : </b>
Ðầu thế kỉ XX , kinh tế nước ta vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Thực dân Pháp thực hiện
chính sách kinh tế thực dân ( bán hàng hoá, khai thác nguyên liệu, cho vay nặng lãi, công nghiệp
chỉ phát triển trong giới hạn khơng hại đến cơng nghiệp chính quốc, đóng khung trong phạm vi
cung cấp cho chính quốc những nguyên liệu hay những sản vật mà chúng thiếu, tăng cường bóc
lột , sưu thuế ), từ đó làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt ,
phục vụ cho các cơng trình khai thác của chúng. Kết quả của chính sách nói trên đã kéo nước ta
vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhưng không được cơng nghiệp hố mà lại biến thành thị
trường tiêu thụ cho Pháp.
Giao thông buôn bán mở mang, kinh tế hàng hoá phát triển đã tạo ra một thị trường thống nhất từ
Nam đến Bắc. Khách quan đã tạo cơ sở để củng cố sự thống nhất của dân tộc đã hình thành từ
lâu nhưng chưa thật vững. Sự phát triển của giao thông và buôn bán làm mọc lên nhiều thành thị,
các hải cảng được xây dựng, nhiều người từ nông thôn kéo ra thành thị. Nhưng thành thị chủ yếu
là trung tâm thương nghiệp và tiêu thụ, khơng có tác dụng tích cực đẩy mạnh kinh tế nước ta
theo hướng tư sản hoá.
<b>1.3- Tình hình xã hội : </b>
Xã hội nước ta trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến phương Ðơng. Chính quyền
thuộc về một dịng họ, đứng đầu có vua, trong xã hội có tứ dân. Nơng dân giữ vai trị quan trọng
về kinh tế nhưng bị khinh rẻ, bị áp bức bóc lột. Kẻ sĩ được xem như một đẳng cấp đặc biệt, tự
nhận và được xã hội thừa nhận như người cầm chính đạo truyền bá giáo hố triều đình cho nông
dân nhất là giai đoạn đầu thế kỉ XX .
Khi có mặt thực dân Pháp trên đất nước ta thì mọi cái đã thay đổi. Kinh tế hàng hố kích thích sự
phát triển của cơng thương nghiệp làm cho thành thị phát triển, làm xuất hiện nhiều nhu cầu mới,
phát triển nhiều nghề mới, tầng lớp thị dân phát triển. Tầng lớp thị dân trong các thành phố
nhượng địa được xem là lớp người ngoài tứ dân . Họ có ít nhiều tự do trong đời sống thành thị tư
sản. Ðối với họ thì họ hàng, làng xã, đẳng cấp khơng cịn nhiều ý nghĩa nữa. Giai cấp tư sản từ
các tầng lớp thị dân phát triển dần lên.
Sự phát triển các đô thị dẫn đến sự phá sản nông nghiệp, làm cho nông thôn tiêu điều xơ xác.
Nông dân kéo ra thành thị ngày càng đông. Một tầng lớp tiểu tư sản nghèo ngày càng phát triển ,
sống bấp bênh ở thành thị.
Ở đầu thế kỉ XX , giai cấp cơng nhân Việt Nam đã hình thành. Do q trình bần cùng hố và phá
sản của nông dân , thợ thủ công , giai cấp công nhân có điều kiện để hiểu được nơng dân, liên
minh được chặt chẽ với nông dân. Và ngược lại, cũng trên điều kiện hiểu biết ấy , do vị trí lịch
sử của giai cấp vô sản mà nông dân đi theo nó làm cách mạng, bền bỉ và lâu dài.
Trong tình hình xã hội đầy phức tạp và có nhiều đổi mới như thế thì giai cấp phong kiến , vốïn
đã hình thành lâu đời trong xã hội Việt Nam cũng lung lay đến tận gốc. Ðể bảo vệ quyền lợi ích
kỉ cho giai cấp mình, giai cấp phong kiến đã quỳ gối đầu hàng giặc, làm tay sai cho giặc. Hơn thế
nữa, họ còn cấu kết với giặc để quay trở lại đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta. Tuy
nhiên , trong số họ cũng cịn có những người yêu nước, tự tách mình ra khỏi hàng ngũ đó để đi
làm cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản.
Nhìn chung, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX có nhiều biến động. Cơ cấu xã hội thay đổi hoàn
toàn.
<b>2- Vấn đề tư tưởng , văn hoá , thẩm mĩ </b>
<b>2.1- Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến chuyên chế tập quyền </b>
cao độ. Nhà Nguyễn khi lên ngôi đã duy trì Nho giáo, xem Nho giáo như là quốc giáo, dùng tư
tưởng Nho giáo để thống trị xã hội. Nho giáo đã ràng buộc con người vào tư tưởng mệnh trời.
Ðến đầu thế kỉ XX , giai cấp phong kiến đã tỏ ra bạc nhược, ươn hèn, cúi đầu làm tay sai cho
giặc. Hàng ngũ giai cấp thống trị tan rã hoàn toàn. Ý thức phong kiến cũng ngày càng thể hiện
tính chất lạc hậu, cổ hủ. Với cách nhìn của các nhà nho tiến bộ thời này, nó là sức mạnh cản trở
sự phát triển của xã hội. Cho nên , các nhà chí sĩ Ðơng Kinh Nghia Thục đã chủ trương chốïng
lại tư tưởng phục cổ, sùng bái cổ nhân, giáo điều, có tác hại kìm hãm sự phát triển của trí tuệ. Họ
chủ trương làm cho con người phải từ bỏ tư tưởng sống định mệnh, trở nên can đảm, làm chủ
cuộc đời mình, có khả năng hiểu biết vũ trụ, phất cao ngọn cờ khoa học . Mặc dù ý thức phong
kiến đã tỏ ra thoái hoá, nhưng trong thực tế , ở giai đoẵn 1900 - 1930 , nó vẫn cịn cơ sở tồn tại.
Ở nông thôn, gốc rễ của nó vẫn cịn rất sâu. Ở thành thị thì nó bắt đầu va chạm với ý thức tư sản
vừa mới xuất hiện. Tuy nhiên, phạm vi còn rất nhỏ hẹp , chỉ giới hạn trong quan hệ đạo đức gia
đình và tình cảm cá nhân.
khi chi phối xã hội thì đồng thời nó cũng là của xã hội và chịu sự chi phối trở lại của xã hội. Qua
đó, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ý thức hệ tư sản trong tiến trình hiện đại hố văn chương ở
giai đoẵn đầu thế kỉ XX . Ở đây, khi xem xét vấn đề , chúng ta cũng phải lưu ý một điều là
không thể đồng nhất hồn tồn chính trị với văn học, nhất là bàn đến ý thức hệ tư sản của giai
đoạn này. Giữa chúng có liên quan mật thiết với nhau nhưng vẫn có quy luật riêng. Và, bằng
chứng là khi cách mạng tư sản đã thất bại hoàn toàn, với cuộc khởi ngĩa Yên Bái, sau năm 1930
văn học chịu ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản đã phát triển mạnh mẽ, mặc dù nó cịn mang nhiều
hạn chế.
Nhìn chung, đầu thế kỉ XX, trong xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ từ ý thức
hệ phong kiến sang ý thức hệ tư sản. Ở giai đoaün 30 năm đầu của thế kỉ, ý thức hệ tư sản chưa
Vào những thập niên 20, 30, ý thức vô sản đã bắt đầu xuất hiện. Nó có mặt do hai điều kiện:
Aính hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và cách mạng Trung Quốc thông qua sách báo, đặc
biệt là vai trò của Nguyễn Aïi Quốc và một số trí thức tiến bộ đương thời; và sự ra đời của giai
cấp vô sản Việt Nam. Nhưng ảnh hưởng của ý thức hệ vô sản chủ yếu mới chỉ là trên đời sống tư
tưởng chính trị. Ðối với văn học, nhất là văn học giai đoạn này, dĩ nhiên nó có ảnh hưởng, hơn
nữa còn tạo ra những thành tựu đáng kể nhưng chưa có điều kiện để phát triển.
<b>2.2- Trước thế kỉ XX, nền văn hoá nước ta là nền văn hoá phong kiến mang đậm bản sắc Ðông </b>
Nam Á. Về đời sống vật chất, Việt Nam có nghề trồng lúa nước cho nên thức ăn là cơm, thức
uống thì có rượu cũng được chế tạo từ gạo. Khí hậu ở Việt Nam nóng cho nên cách ăn mặc của
người Việt thường giản dị, thoáng mát, làm từ chất liệu thực vật ( tơ tầm , bông vải , đay gai ) .
Việc ở cũng rất cẩn thận, người Việt có thói quen chọn hướng làm nhà, chú ý vai trị phong thủy.
Ðất Việt là vùng sơng nước, cho nên phương tiện đi lại cần phải dùng thuyền. Trồng lúa nước thì
có tính thời vụ cao, vì thế người Việt cần phải sống có sự liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành
tính cộng đồng và tính tự trị trong tổ chức xã hội. Lối tổ chức này tạo nên tính dân chủ và tính
tơn ti, tinh thần đồìn kết và tính tập thể. Khi tiếp thu những luồng tư tưởng nước ngoài, người
Việt Nam đã có sự tiếp biến chứ khơng có tình trạng xung đột hoặc độc tơn .
Nhìn chung, nền văn hố Việt Nam được thai nghén và trưởng thành trong cái nơi văn hố Ðơng
Nam Á. Tư tưởng phương Ðơng đã ăn sâu vào phong tục, tập quán và tâm khảm của con người.
Lối sống theo làng xã, họ tộc đã tạo nên thế tự trị lâu đời cho người Việt Nam. Con người Việt
Nam có nếp sống chuẩn mực từ trong cách ăn mặc cho đến việc ứng xử. Thế mà đến đầu thế kỉ
XX, sự du nhập của văn hoá phương Tây vào Việt Nam đã làm thay đổi những giá trị cổ truyền
của dân tộc. Văn hoá Việt Nam chuyển dần sang nền văn hoá hiện đại chịu ảnh hưởng của văn
hoá phương Tây.
Trên bình diện văn hố vật chất, ảnh hưởng đáng kể nhất là trong phát triển đô thị, công nghiệp
và giao thông- các lĩnh vực mà phương Tây vốn mạnh.
Về mặt văn hoá tinh thần: Trước kia ở Việt Nam tồn tại ba tôn giáo được du nhập từ nước ngồi.
Ðó là Phật giáo, Nho giáo và Ðạo giáo. Kitô giáo vốn đã xuất hiện ở Việt Nam từ các thế kỉ
trước (XVI ,XVII) , đến giai đoạn 1900- 1930 đã có nhiều ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của
người Việt Nam. Ngồi ra, cịn có những đổi mới trong việc giáo dục, trong lĩnh vực văn tự -
ngơn ngữ, báo chí, văn học nghệ thuật.
và thi cử bằng chữ Hán mà tiến hành theo từng bước. Ðầu tiên là bổ sung những bài thi mới vào
những kì thi vốn có từ trước. Cho nên Tú Xương đã mỉa mai :
<i>Bốn kì trọn vẹn thêm kì nữa </i>
<i>Á , ớ , u , Âu ngọn bút chì </i>
<i>( Ði thi ) </i>
Mãi đến năm 1919, nhà Nguyễn cịn cho tổ chức kì thi Hội cuối cùng. Nhưng các ông nghè, ông
cử, ông cống thời đó chỉ có danh hiệu mà thơi, chứ khơng được bổ dụng vào các ngạch quan lại
như trước nữa. Dần dần, các trường dạy chữ Nho bị đóng cửa. Các giáo chức đều bị bãi bỏ. Thay
thế vào đó Pháp đã ban bố học chính tổng quy ( 1918 ). Bắt đầu từ lúc đó, chính quyền thực dân
kiểm sốt tất cả cơng việc về giáo dục. Tiếng Pháp được dạy trong nhà trường ngày càng phổ
biến rộng hơn. Từ năm thứ hai, thứ ba học sinh phải học tiếng Pháp.
Mục đích của Pháp là hướng tới việc đào tạo lớp người làm tay sai cho chúng. Pháp không hề đặt
ra nhiệm vụ phát triển trình độ dân trí. Và, những đổi thay về giáo dục ấy đã dẫn đến kết quả là tỉ
lệ người đi học so với dân số cịn rất ít. Hầu hết học sinh là con em của tầng lớp giàu có hoặc con
em của người dân thành thị có điều kiện thuận lợi trong việc học tập.
Chữ quốc ngữ : Chữ quốc ngữ ra đời từ thế kỉ XVII, là thành quả tập thể của nhiều giáo sĩ Bồ
Ðào Nha, Ý, Pháp ... trong đó cơng lao lớn nhất thuộc về linh mục Alexandre de Rhodes. Cuối
thế kỉ XIX, chữ quốc ngữ đã được người Pháp mang ra phổ biến nhưng bị sự phản ứng quyết liệt
của các nhà nho, cũng như những người yêu nước Việt Nam. Nó bị xem là thứ chữ của quân xâm
Về văn học : Việc phổ biến sử dụng chữ quốc ngữ cũng góp phần thúc đẩy việc xây dựng và phát
triển nền văn xuôi Việt Nam.. Nền văn học trung đại Việt Nam chưa chú ý phát triển văn xuôi. Ở
giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã có xuất hiện những sáng tác văn xuôi bằng chữ quốc ngữ của
Trương Vĩnh Kí và Huỳnh Tịnh Của . Nhưng đây chỉ là những mò mẫm ban đầu, những thí
nghiệm lẻ loi chưa có tính chất phổ biến. Sang đầu thế kỉ XX , văn xuôi Việt Nam mới thể hiện
những tiến bộ rõ rệt. Bên cạnh đó, do có sự tiếp xúc với văn học phương Tây mà nền văn học
Việt Nam giai đoạn này đã xuất hiện thể loại mới: Thể loại tiểu thuyết hiện đại, vốn là đặc thù
của văn hoá phương Tây. Khởi đầu là quyển tiểu thuyết in bằng chữ quốc ngữ, xuất hiện ở Nam
kì năm 1887 với tựa đề Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Nhưng đến giai đoạn
1900-1930 thì thể loại tiểu thuyết hiện đại mới phát triển trong phạm vi cả nước. Những tên tuổi
tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh, Trần Thiên Trung, Trương Duy Toản, Hoàng Ngọc Phách, Trọng
Khiêm, Nguyễn Trọng Thuật... Chất văn xi, tính cách cá nhân phương Tây cịn ảnh hưởng đến
cả lĩnh vực sáng tác lâu đời trong văn học Việt Nam, đó là thơ. Thơ Tản Ðà, thơ Trần Tuấn Khải
trong giai đoạn này đã mang những giai điệu mới.
Cải lương là một hình thức văn nghệ dân gian ở Nam kì. Nó là sự kết hợp giữa loại hình kịch nói
với các hình thức ca hát tài tử của dân gian. Ðây là thể loại mới xuất hiện từ khi có sự giao lưu
với văn hố phương Tây .
Ðầu thế kỉ XX , công tác dịch thuật, biên khảo, nghiên cứu phê bình văn học bắt đầu phát triển
Ở giai đoạn này đã có diễn ra một cuộc tranh luận về văn học rất sôi nổi, tiêu biểu là cuộc tranh
luận về Truyện Kiều của Phạm Quỳnh với Ngô Ðức Kế và Huỳnh Thúc Kháng. Nội dung tư
tưởng của văn học giai đoạn này (trừ văn học nô dịch) nổi bật ba xu hướng: Xu hướng yêu nước,
xu hướng lãng mạn, xu hướng hiện thực . Xu hướng văn học yêu nước có sự thăng trầm theo
diễn biến của các phong trào Cách mạng. Khi phong trào cách mạng dân chủ tư sản lên cao, văn
thơ yêu nước thuộc các tổ chức này là những lời tố cáo tội ác kẻ thù rất đanh thép. Nó là bức
tranh phản ánh thời sự của xã hội đương thời; là những lời động viên kêu gọi toàn dân chống
giặc cứu nước. Ðến lúc phong trào cách mạng theo xu hướng tư sản bắt đầu thất bại thì tiếng nói
u nước lại bộc lộ bằng những hình thức khác nhau: Lối nói bóng gió, lối gởi gắm kín đáo, lối
dùng hình ảnh tượng trưng hoặc mượn lời nhân vật lịch sử để thổ lộ tâm tình rất phổ biến.
Xu hướng hiện thực mới được manh nha trong giai đoạn này qua một số tác phẩm của Phạm Duy
Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Vũ Ðình Long,... Các tác giả đã phanh phui những xấu xa
của xã hội thực dân nửa phong kiến, phơi bày cảnh khổ của nhân dân.
Xu hướng lãng mạn được khơi nguồn từ các tác phẩm của Ðơng Hồ, Tương Phố, Tản Ðà, Hồng
Ngọc Phách. Ðấy là những sáng tác đã gợi lên tiếng lòng sâu kín, những nỗi buồn đau và những
mơ ước hảo huyền của lớp người đang bi quan, chán nản trước cuộc sống. Sự xung đột giữa lễ
giáo phong kiến cũ và chủ nghĩa cá nhân bắt đầu xuất hiện.
Văn chương hiện thực và lãng mạn giai đoạn này như khúc nhạc dạo đầu chuẩn bị cho buổi hoà
tấu sẽ được diễn ra vào giai đoạn 1930 - 1945. Vào thập niên thứ ba của thế kỉ đã xuất hiện các
sáng tác của Nguyễn Aïi Quốc được gởi từ nước ngoài về như: Con rồng tre, Nhật kí chìm tàu,
Bản án chế độ thực dân Pháp, Ðường Cách mạng ... Nguyễn Aïi Quốc đã khai sinh cho dịng văn
học của giai cấp vơ sản của nước ta.
So với văn học và sân khấu thì các ngành nghệ thuật: hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc ... biến đổi
Việt và báo tiếng Pháp như : Chuông Rạng, An Nam ở Sài Gòn, Người cùng khổ ở Pháp cũng
được phát hành trong giai đoạn này.
<b>2.3- Vấn đề thẩm mĩ : </b>
<b> Cũng như mọi dân tộc khác, người Việt Nam ta có ý thức thẩm mĩ riêng của mình. Ý thức thẩm </b>
mĩ của người Việt Nam cũng vận động và phát triển qua các chặng đường lịch sử từ thời dựng
nước đến nay. Ý thức ấy nói chung là phát sinh từ cuộc sống. Nó ln luôn nằm trong sự biến
đổi, gạn lọc để đi lên nhưng nó lại có chất bền vững để chịu đựng với thử thách của thời gian và
không gian. Những nhân tố nào đã tạo nên môi trường thẩm mĩ để cho con người nảy sinh ý thức
thẩm mĩ ? Ðó chính là thiên nhiên là vị trí địa lí , vị trí văn hố, là cộng đồng làng xã, là vận
mệnh đất nước, vận mệnh nhân dân [63 /107 ]. Ở giai đoạn 1900 - 1930, tình hình chính trị xã
hội có nhiều biến động lớn lao như đã trình bày, cho nên mơi trường thẩm mĩ khơng cịn như
trước nữa. Lối sống tư sản đã tấn công quyết liệt vào xã hội phong kiến Việt Nam, cùng với nó là
sự du nhập ồ ạt của nền văn hoá phương Tây. Tất cả đã làm thay đổi hẳn bộ mặt trang nghiêm
của xã hội phong kiến vốn tồn tại vững chắc hơn 10 thế kỉ qua. Kẻ thù mang vào đất nước chúng
ta nhiều cái mới. Sự phát triển của đô thị tư sản đã phá dần thế tự trị làng xã ngày trước. Lối sống
sôi động, gấp rút theo cường độ của xã hội hiện đại đánh mất những sinh hoạt gia đình, họ tộc,
làng xã, vốn là một phương diện tạo nên các mối quan hệ tốt đẹp của con người được hình thành
rất lâu. Ðứng trước những đổi thay của con người và xã hội; đối diện với những cái xấu xa, hợm
hĩnh do thực dân Pháp đưa đến, con người Việt Nam đã phản ứng quyết liệt trong buổi đầu. Họ
tỏ ra bực tức, căm giận, không thể chấp nhận nổi, lắm lúc phải hét to lên trong sự bất lực :
<i>Muốn mù , trời chẳng cho mù nhỉ , </i>
<i>Giương mắt trông chi buổi bạc tình </i>
Nhưng dù căm tức, dù bực bội đến đâu họ vẫn phải sống với nó, phải thích nghi với nó; dần dần
lại bình thường hố trước cái xấu, cái lố lăng của phương Tây, của xã hội tư sản. Cuối cùng ,
chính những người nệ cổ nhất, những nhà nho bảo thủ nhất cũng phải chạy theo cuộc sống mới,
phải học lối sống mới. Trạng thái tâm lí của con người đã thay đổi trước những biến động trong
xã hội, cho nên ý thức thẩm mĩ của con người tất yếu cũng đổi thay. Quan niệm về cái đẹp của
cuộc sống, của con người khác trước. Và cũng chính vì thế quan niệm về cái đẹp trong nghệ
thuật khơng giống như xưa nữa. Thử nhìn lại trong lĩnh vực sinh hoạt đời sống thường ngày như
ăn, ở, mặc và trong lĩnh vực nghệ thuật, ý thức ấy có những biểu hiện mới nào?
Trước hết chúng ta bàn đến lĩnh vực sinh hoạt. Biểu hiện rõ nhất qua cái mặc . Người Việt Nam
vốn chuộng sự đoan trang và kín đáo trong cách mặc. Áo dài của người phụ nữ Việt Nam với nét
đẹp truyền thống thể hiện sự mềm mại, uyển chuyển, thướt tha, êm dịu, không khoe khoang mà
lộng lẫy nay phải ở vào thế bị cạnh tranh với chiếc váy đầm, với quần Âu. Lẽ dĩ nhiên, cái mới
vẫn còn ở trong thế bị xem là hợm hĩnh nên khơng ít người lúc bấy giờ đã mỉa mai:
<i>Váy lĩnh cô kia quét sạch hè </i>
<i>( Trần Tế Xương ) </i>
Bộ đồ Âu phục , đôi giày Tây cũng làm cho người đàn ông phải đắn đo cân nhắc với Áo hàng
Tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh .
luôn động [33/ 17 ]. Cái đẹp cũng phải thích ứng với cuộc sống như thế. Cuộc sống trong xã hội
phong kiến vốïn mang tính ổn định, trầm lặng. Con người trong xã hội thời đó thường hướng nội.
Cái đẹp cũng được hình thành từ tính cách và đặc điểm đó của con người và xã hội. Trước kia,
người ta chuộng hàm răng đen rưng rức, người ta quý cái môi trầu cắn chỉ và thấy tất cả sự
duyên dáng ở chiếc nón quai thao. Nhưng bây giờ, để thích nghi với cuộc sống mới, cái đẹp lại
được thể hiện với hàm răng trắng như ngà. Người ta khơng cịn ca ngợi mái tóc dài mà lại thích
rẽ tóc lệch ... Nói chung, quan niệm cái đẹp được quy định lại theo những đổi thay của cuộc sống
Trong lĩnh vực nghệ thuật chúng ta càng thấy rõ điều này hơn. Ví dụ như lĩnh vực hội hoạ. Ngày
trước, con người phát hiện ra nét đẹp từ những bức tranh dân gian sinh động như tranh làng Hồ
qua nét vẽ gợi cảm, gợi ý, tập trung vào đề tài cuộc sống và con người lao động... Xem tranh đó
ta khơng bao giờ thấy buồn, thấy chán ngán. Vẻ đẹp của nó chính là sự kết hợp giữa tình cảm
chân thật với phong thái của dân tộc. Giờ đây, người ta lại hướng đến những bức tranh sơn dầu
theo kiểu phương Tây.
Ðối với sáng tác văn chương, ngày trước người ta quan niệm cái đẹp toát lên từ sự hài hoà cân
đối của một bài thơ Ðường luật, từ sự hoàn chỉnh của phép đối, của cách gieo vần... Giờ đây,
những yếu tố đó đang chịu sự lấn át dần bởi chất phóng khống , tự do vừa tìm thấy được từ văn
học phương Tây.
Theo quan niệm ngày xưa, ý thức thẩm mĩ được biểu hiện qua lĩnh vực đời sống vật chất và tinh
thần của con người, đồng thời cách ứng xử của người Việt cũng thể hiện ý thức thẩm mĩ.Tạo
được sự hài hoà trong cuộc sống về đạo lí ở lĩnh vực gia đình, họ tộc, cộng đồng làng xã cũng là
một góc thẩm mĩ không nhỏ. Ðến giai đọan này những quan niệm ấy vẫn được duy trì. Hơn nữa,
vào những năm này, đối với con người, thiên nhiên vẫn còn là một nét thẩm mĩ lớn. Sự sống
không thể thiếu thiên nhiên, sự sống dựa vào thiên nhiên , thiên nhiên làm đẹp sự sống. Thiên
nhiên vẫn còn tạo nên nguồn cảm hứng sáng tác của văn thi sĩ. Nói chung, nó vẫn cịn gắn bó với
con người như trước .
Nhìn chung , ý thức thẩm mĩ của người Việt Nam ở giai đoạn 1900 - 1930 có những thay đổi. Sự
thay đổi đó do hồn cảnh chính trị, xã hội chi phối. Chúng ta phải thấy một điều : Nó cũng đang
đứng trước sự gạn lọc, biến đổi. Và, chính cái chất vững bền đã giúp nó vượt qua mọi thử thách
để giữ lấy những gì thuộc về truyền thống của dân tộc Việt Nam , không bị mất gốc , lai căng bởi
ảnh hưởng tư tưởng văn hoá nước ngồi.
<b>II.- Tình trạng phân hóa trong văn học giai đoạn 1900 - 1930 : </b>
Trong thời kỳ trung đại, nền văn học của ta có sự hiện diện của cả hai lực lượng sáng tác: Lực
lượng nhà nho và lực lượng nông dân. Mỗi bên có cơng chúng, đề tài, đời sống, phương thức
truyền đạt riêng, lý tưởng thẩm mĩ và các thể loại thường dùng cũng khác nhau.
Lực lượng sáng tác của văn học viết thời trung đại chủ yếu là nhà nho, những trí thức phong
kiến. Nhà nho thời phong kiến có một địa vị đặc biệt trong xã hội. Họ chỉ đeo đuổi việc học chữ
Hán. Họ rất am hiểu lời dạy của thánh hiền, thơng suốt các tín điều của nho giáo. Kiến thức của
nhà nho không vượt khỏi phạm vi sách vở của thánh hiền. Lẽ tất nhiên họ cũng am hiểu tường
tận các chủ trương của Lão - Trang, thấm nhuần tư tưởng Phật giáo. Có thể nói rằng việc học
hành của nhà nho theo tinh thần tam giáo đồng nguyên.
tìm đến cuộc sống ẩn dật. Nhưng họ cũng khó có thể quên đời được, lại ray rức, trằn trọc, lương
tâm bị dằn xé như trường hợp của Nguyễn Khuyến:
<i>"Cờ đương giở cuộc khơng cịn nước </i>
<i>Bạc chửa thâu canh đã chạy làng " </i>
<i>(Tự trào) </i>
Có thể thấy một điều đặc biệt ở nhà nho là họ thường hay băn khoăn về vấn đề xuất xử và ở vào
những giai đoạn xã hội phong kiến suy vong thì lối sống ẩn dật là lối sống phổ biến của những
nhà nho có khí tiết. Thời kỳ ẩn dật cũng là thời kỳ nhà nho sáng tác nhiều nhất.
Ðầu thế kỷ XX, giai đoạn lịch sử đầy biến động, có sự chi phối mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa, của văn học phương Tây, lực lượng nhà nho không tách rời sự phân hóa:
* Có những nhà nho vì yêu nước thương dân, không cam tâm làm nô lệ đã tiếp tục đứng lên
chống Pháp (Phan Bội Châu, Ngô Ðức Kế, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc
Kháng...) họ được tiếp nhận và phát triển luồng tư tưởng cách mạng từ châu Âu đưa đến. Họ vừa
họat động chính trị vừa sáng tác văn chương. Buổi đầu khi phong trào cách mạng lên cao, các
nhà nho có nhu cầu đưa những vấn đề mới của xã hội vào văn học nên họ sáng tác say sưa. Bằng
những cách tân nghệ thuật họ nhiệt tình thể hiện những vấn đề mới của xã hội, cuộc sống và con
Bên cạnh những nhà nho cấp tiến ấy, một số nhà nho khác "vẫn tự hào về thơ phú, chữ nghĩa đạo
lý thánh hiền, vẫn làm thơ phú" . Nhưng xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đang trên con đường tư
sản hóa khơng dành chỗ cho cuộc sống ẩn dật của nhà nho bất đắc chí cho nên hình tượng người
ẩn sĩ cũng mất dần trong văn học.
* Vào giai đoạn này có xuất hiện một số trường hợp nhà nho rời nông thôn ra thành phố sinh
sống bằng nghề viết văn. Sống ở thành thị, giữa những người dân thành thị dần dần bản thân họ
cũng bị thành thị hóa. Họ dùng những thể thức văn học cũ để gởi gắm những cảm xúc cá nhân,
những cảnh vật và khơng khí thành thị. Họ đã khai thác tất cả những kinh nghiệm sáng tác trong
văn học dân gian và các truyện nôm của các nhà nho tài tử trước kia. Họ là những người có đóng
góp đáng kể cho tiến trình hiện đại hóa văn chương Việt Nam.
khi chọn cho mình một hướng đi để phù hợp với sự phát triển của thời đại. Họ đến với cái mới vì
ước nguyện dung hịa hai nền văn hóa Âu - Á.
<b>2. Quan niệm sáng tác : </b>
Quan niệm sáng tác của văn học trung đại là quan niệm của nhà nho, chịu ảnh hưởng nặng nề
của tư tưởng nho giáo, đến giai đoạn này người sáng tác không theo duy nhất một quan niệm như
trước nữa.
- "Văn dĩ tải đạo", "Thi ngơn chí" đó là quan niệm chủ yếu và phổ biến của nhà nho trong thời kỳ
trung đại. Quan niệm đó vẫn tồn tại trong giai đoạn 1900 - 1930. Phan Bội Châu, một người có
nhiều tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn vướng víu với quan niệm cổ hủ này, khi cho rằng sáng tác văn
chương là để "lập công" "lập chí", "lập ngơn". Tản Ðà, người đã mạnh dạn cách tân phương pháp
sáng tác cũ, tiến hành một cuộc cách mạng trong nghệ thuật thơ ca nhưng vẫn có tư tưởng phân
biệt loại văn "vị đời" và "văn chơi".
- Vào giai đoạn này đã xuất hiện quan niệm sáng tác mới, thể hiện ở nhiều phương diện :
+ Quan niệm văn học phục vụ chính trị : chính vì ý thức được văn học phục vụ chính trị- sáng
tác văn chương nhằm tuyên truyền vận động cứu nước- đã khiến nhà văn phải quan tâm đến đối
tượng cơng chúng là tồn thể nhân dân, trong đó có cả quần chúng lao động. Người sáng tác phải
tìm mọi cách để lưu truyền phổ biến tác phẩm của mình. Cho nên văn học khơng cịn tính chất
bình kín trong một nhóm người nhỏ hẹp, mà nó đã được cơng bố rộng rãi bằng nhiều hình thức.
Giờ đây người ta tìm cách in ấn và sử dụng in ấn để xuất bản tác phẩm văn học. Khi đã có xuất
bản thì văn chương khơng cịn là của riêng ai hay của một giai cấp nào, mà được xem là những
giá trị văn hóa của tồn xã hội.
+ Quan niệm về thể loại cũng khác trước, tiểu thuyết và kịch được công nhận là một thể loại văn
học, không còn bị khinh rẻ. Nho sĩ ngày trước chuộng thơ, gởi gắm tâm hồn của mình trong thơ,
bộc bạch tâm sự chí khí bằng thơ. Lớp nghệ sĩ mới hôm nay lại say mê văn xuôi, hướng về văn
xuôi nhiều hơn. Họ nhận thấy văn xi có nhiều khả năng phản ánh chân thật, cụ thể đa dạng
cuộc sống tư sản hóa đầy những cảnh đời phức tạp, bon chen. Ðối với các nhà nho, vấn đề mô tả
hiện thực cuộc sống không phải là điều mà họ quan tâm đến. Ngược lại các tư tưởng của nền văn
học mới để hết tâm sức vào vấn đề phản ánh hiện thực. Mặc dù vấn đề phản ánh hiện thực khách
+ Ðây cũng là một giai đoạn xuất hiện quan niệm mới, xem việc sáng tác văn chương là một
nghề kiếm sống, "nôm na phá nghiệp kiếm ăn xồng" (Tản Ðà).
Nhìn chung, sự phân hóa trong quan niệm sáng tác "tìm thấy trong tồn bộ đời sống của nền văn
học mới, trong loại tác giả này và loại tác giả khác, tuy cùng thời nhưng khác nhau về quan điểm
tư tưởng - thẩm mĩ, về nguồn gốc xuất thân và học vấn, tài năng, tuy hai bình diện đối lập nhau
của một thể thống nhất của một tác giả" và "đó là một q trình lâu dài, chồng chéo lên nhau,
giằng co, tranh chấp giữa cái cũ và cái mới" ("Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời", Trần Ðình
Hựu và Lê Trí Dũng, tr 318).
Văn chương thời trung đại là sản phẩm của những cá nhân riêng lẽ nhưng vẫn mang một đặc
trưng chung, bởi nó được tạo nên bằng một phương pháp sáng tác chung, thể hiện qua một số
yếu tố : ngôn ngữ, thể loại, kết cấu, nhân vật...
Ðầu thế kỉ XX, người sáng tác khơng cịn tuân thủ theo một hệ thống phương pháp sáng tác duy
nhất ấy nữa. Hoàn cảnh khách quan và nhân tố chủ quan đã đẩy người sáng tác đến sự lựa chọn
khá gay go và phức tạp: Bám lấy phương pháp sáng tác cũ hay đi tìm phương pháp sáng tác mới.
Tình hình đó đã tạo ra tình trạng phân hóa không thể tránh khỏi trong phương pháp sáng tác.
+ Một số nhà nho đã chọn con đường cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho. Họ vẫn theo
phương pháp sáng tác cũ nhưng có những đổi mới đáng kể.
+ Một số người thuộc lực lượng trí thức tân học thì chọn con đường học theo phương Tây để
sáng tác. Họ bắt đầu từ công việc dịch thuật, qua phỏng tác và cuối cùng là sáng tác.
Trong lịch sử văn học Việt Nam đây là giai đoạn duy nhất có hiện tượng đan xen hai yếu tố cũ và
mới thể hiện trong sáng tác của một tác giả, có khi trong cùng một tác phẩm. Hai yếu tố cũ và
mới được kết hợp nhuần nhuyễn và phổ biến trên khắp các thể loại tạo ra những giá trị đặc biệt,
không thể xếp vào kho tàng văn học trung đại, mà cũng chưa thể cơng nhận đó là một tác phẩm
của nền văn học hiện đại.
<b>4. Công chúng : </b>
Ðối với văn học trung đại, lực lượng sáng tác nhà nho cũng chính là lực lượng cơng chúng của
nền văn học đó. Nhà nho khi sáng tác không hề nghĩ đến công chúng và cũng khơng cần phải có
cơng chúng. Người thưởng thức văn thi phẩm của họ là chính bản thân họ hay người tri kỷ của
họ. Vào đầu thế kỷ XX, lực lượng sáng tác nhà nho vẫn còn, văn thơ của nhà nho vẫn hiện diện
trên văn đàn. Công chúng say mê văn chương chữ Hán, chữ Nơm tất nhiên vẫn cịn. Mặc dù đã
mất hết hào hứng của thời kỳ trước, còn chăng chỉ là những hình ảnh của "Sĩ khí rụt rè gà phải
cáo" hay "Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi". Lực lượng công chúng này đang thu hẹp dần. Sự
tồn tại của họ chứng minh cái tình nghĩa sâu nặng đối với Hán học của một số người trí thức
phong kiến. Ðứng trước những đổi thay của thời cuộc, những con người này khơng muốn, có thể
chưa muốn chạy theo cái mới khi mà trong suy nghĩ của họ vẫn cịn quan niệm rằng những thứ
đó do giặc ngoại xâm mang đến, những thứ đó là phi đạo đức, là trái với thánh hiền.
Giữa lúc văn học của nhà nho và lực lượng công chúng của nền văn học đó đang suy yếu dần thì
một lực lượng công chúng mới bắt đầu xuất hiện. Công chúng mới (bao gồm nhiều loại người
khác nhau, đang sống trong các đô thị thời đó, có các nhà nho từ nơng thơn ra có những người
học vấn Tây học và cả những người khơng học vấn) khơng thấy hấp dẫn trước món ăn tinh thần
của nhà nho. Cuộc sống hiện đại là cuộc sống sôi động, gấp rút. Văn chương của nhà nho không
phù hợp với cuộc sống hiện đại.
thơ Lamartin, kịch Molie, Cornây vẫn hấp dẫn, lôi cuốn độc giả hơn thơ Nguyễn Trãi hay văn
của Trương Hán Siêu. Ðiều muốn nhấn mạnh ở đây là sự tồn tại song song của hai loại công
<b>III.- Ðầu thế kỉ XX văn học Việt Nam đi vào con đường hiện đại hóa. </b>
<b>1. Khái niệm về văn học hiện đại : </b>
Văn chương hiện đại là nền văn chương mới về nội dung tư tưởng cũng như hình thức nghệ thuật
mà theo chúng tơi đã có mầm mống từ đầu thế kỉ XIX song hình thành và phát triển chủ yếu
trong phạm vi thế kỉ XX (chuyên đề "Sự chuyển biến của văn học Việt Nam sang thời kỳ hiện
đại") (Trần Thanh Ðạm, trang 25).
<b>2. Vấn đề hiện đại hoá của văn học : </b>
<b>2.1 Thế nào là hiện đại hóa của văn học ? </b>
- Giáo sư Trần Thanh Ðạm có viết : "Vì tính chất hiện đại của nó khơng được hình thành trong
một ngày, một tháng, một năm cho nên mới đặt vấn đề : Hiện đại hóa và tiến trình hiện đại hóa"
(Tài liệu đã dẫn).
- Giáo sư Trần Ðình Hượu đã giải thích cụ thể hơn : "Q trình hiện đại hóa văn học là q trình
xóa bỏ quan niệm xã hội luân thường với con người đạo đức và chức năng hình thành quan niệm
xã hội, quan niệm con người, quan niệm cuộc sống chi phối việc thay đổi đề tài văn học. Người
sáng tác phải chú ý đến người, đến việc và phải quan tâm đến cốt truyện, đến nhân vật, phải quan
tâm đến nhận thức, đến xây dựng. Ðó là q trình biến dạng, tha hóa ba mẫu nhân vật : Nho gia,
người ẩn sĩ và người tài tử tồn tại mấy trăm năm trong văn học bác học. Ðó là cụ thể hóa, đa
dạng hóa các nhân vật của xã hội cũ : Vua, quan Tuần, quan Huyện, quan Nghè, Thầy Ðồ, ông
Lý, người nơng dân. Ðó là q trình xuất hiện ngày càng nhiều những nhân vật thành thị : Thầy
Thông, Thầy Ký, ơng Thầu Khốn, cậu học trị, người dân lao động, người công nhân, cô tiểu
thư và cô gái mới. Cuộc sống trong văn học cũng dần dần phức tạp, đa dạng, nhiều màu sắc như
cuộc sống thực và để thể hiện nó, thể loại, phương pháp sáng tác, tiêu chuẩn thẩm mĩ cũng kịp
<b>2.2-Vì sao có yêu cầu hiện đại của văn học Việt Nam ở đầu thế kỉ XX ? </b>
+ Khách quan : hoàn cảnh xã hội, sự thay đổi trong tư tưởng, văn hóa đã tạo cơ sở cho việc hiện
đại hóa của nền văn học Việt Nam ở đầu thế kỉ XX.
- Xã hội : Sự thay đổi về hình thái xã hội là một yếu tố quan trọng đã ảnh hưởng đến sự thay đổi
của nền văn học Việt Nam. Ðó là sự thay đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa
phong kiến. Ðặc trưng của xã hội thực dân nửa phong kiến là có sự hiện diện của quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa mang hình thức thuộc địa, đã gây biến đổi lớn trong cơ cấu xã hội, làm ảnh
hưởng đến tâm lý sống, điệu sống, cách sống, nhịp sống của toàn xã hội, trước hết là ở thành thị.
Nhà văn sống trong xã hội có những biến đổi lớn lao như thế cũng bị chi phối cách sống, cách
nghĩ, cách cảm.
- Xã hội thực dân nửa phong kiến, thành thị, đã phát triển nhanh tạo nên lối sống thành thị hiện
đại, sôi động, khẩn trương. Từ điều kiện của văn minh thành thị sự giao lưu mọi mặt trong nước
và ngồi nước cũng được thay đổi, khơng còn bị giới hạn trong phạm vi khu vực mà vươn tới
phạm vi tịan cầu.
- Tư tưởng, văn hóa :
Ðầu thế kỉ XX nền văn hóa phương Tây đã được du nhập vào Việt Nam ồ ạt, trong phạm vi cả
nước. Cuộc giao lưu văn hóa lần này có nhiều mới mẻ so với trước kia, mà nổi bật là vượt ra
khỏi phạm vi khu vực để vươn đến toàn cầu.
+ Chủ quan : sự vận động và phát triển của văn học là một nhu cầu tất yếu.
<b>3. Vấn đề hiện đại hóa của văn học Việt Nam ở 30 năm đầu thế kỉ XX : </b>
- Vấn đề hiện đại hóa của văn học Việt Nam ở đầu thế kỉ XX đã diễn ra theo hai bước :
+ Bước 1 -Từ năm 1900 đến 1920: Ở giai đoạn này văn học đã đổi mới về nội dung. Các vấn đề
thuộc về ý thức hệ, lý tưởng chính trị xã hội, tình cảm cụ thể... là những vấn đề mà chúng ta có
thể nhận thấy dễ dàng. Ví dụ : về ý thức hệ, văn học ra đời trong giai đoạn này phần lớn chiûu sự
chi phối bởi ý thức hệ tư sản, trong khi các sáng tác ở thời trung đại chịu sự chi phối của ý thức
hệ phong kiến; về lý tưởng chính trị xã hội, chủ nghĩa yêu nước đã gắn với lý tưởng cách mạng
dân chủ tư sản, khác với văn học trung đại chủ nghĩa yêu nước không thể tách rời lý tưởng tôn
quân...
Về mặt nghệ thuật, văn học giai đoạn 1900 - 1920, trong phạm vi cả nước, chưa có những đổi
mới đáng kể. Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho trước
kia. Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng. Còn nhiều tác phẩm thể hiện những vấn
đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật cũ. Các tác giả cịn ít dùng chữ Quốc ngữ để
sáng tác ,chưa bỏ được lối văn biền ngẫu, thơ vẫn là một thể loại được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn
cịn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy...
Trường hợp những bài thơ bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu
khá phổ biến trong giai đoạn này. Ví dụ : "Bài hát khuyên nhà nho" - (Khuyết danh) là một minh
chứng cụ thể:
"Chữ duy tân gác để ngồi tai
<i>Những tấp tễnh đua tài nơ lệ </i>
<i>Ðãn ngôn vũ trụ giai ngô sự </i>
<i>Khẳng hứa sơn hà thuộc bỉ cường </i>
<i>Khuyên ai mà có chí cải lương </i>
<i>Nên phải biết tự cường mới được" </i>
+ Bước 2 - Từ năm 1920 - 1930: Văn học ở giai đoạn này không chỉ đổi mới về nội dung mà cả
nghệ thuật cũng đã khác trước rất nhiều. Văn học đã mang tính hiện đại rõ rệt nhưng yếu tố trung
đại vẫn còn tồn tại xen kẽ, khá phổ biến từ nội dung đến hình thức. Ví dụ : "Tố Tâm" - Hoàng
- Kết quả của q trình hiện đại hóa văn học ở giai đoạn 1900 - 1930 : Mặc dù đây chỉ là chặng
đường đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nhưng nó cũng gặt hái được những kết
quả đáng kể, tạo cơ sở vững chắc cho chặng đường tiếp theo. Trước hết, nó đã đóng góp tích cực
vào cơng cuộc hiện đại hóa văn học bằng sự thay đổi hệ ý thức trong văn học theo hướng tiên
tiến. Nó cũng có vai trị trong việc đổi mới thi pháp văn học. Mặt khác, công cuộc hiện đại hóa
văn chương ở giai đoạn này đã đưa nền văn học nước ta đi vào quỹ đạo của nền văn học thế giới.
<b>VI.- Các dòng văn học: </b>
<b>1. Văn học yêu nước và cách mạng </b>
nhà nho trước kia. Họ đã được tiếp nhận các luồng tư tưởng tiến bộ từ nước ngồi truyền vào,
thơng qua sách báo, mà tiêu biểu là tân thư và tân văn. Họ quan niệm văn chương cũng là một
loại vũ khí đánh giặc cứu nước, cho nên họ đã sáng tác văn chương để phục vụ cho hoạt động
chính trị. Ðó là những người như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền,...
Quần chúng lao động cũng là những người sáng tác tích cực của bộ phận văn học yêu nước và
cách mạng ở giai đoạn này.
Ngồi ra cịn có một lực lượng không nhỏ những tác giả mà chúng ta chưa được biết tên tuổi.
Tác phẩm của họ có nội dung thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha, ý chí đấu tranh chống giặc
đến cùng, Vì muốn tránh sự theo dõi của mật thám, họ thường dấu tên họ và bí mật phổ biến tác
phẩm của mình.
<b>1.2- Những bước thăng trầm của văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930 : </b>
- Từ năm 1905 đến 1908, thơ văn yêu nước và cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản phát
triển cao. Có văn thơ của phong trào Ðơng Du, có văn thơ của Ðơng Kinh nghĩa thục, văn thơ
Văn thơ của phong trào Duy Tân, tiêu biểu là Ðông kinh nghĩa thục thiên vào nội dung cải cách
xã hội, thể hiện tinh thần yêu nước, nêu lên các quan niệm mới mẻ về đất nước, xã hội, nhân
sinh... Ðóng góp nhiều cho văn thơ của phong trào Duy Tân phải kể đến Phan Chu Trinh,
Nguyễn Phan Lãng, Lê Ðại, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Ðức Kế... Bên cạnh đó cịn có một số tác
giả khơng cho biết tên, như tác giả của các bài "Văn minh tân đọc sách", "Cáo hủ lậu văn", Bài
ca Aï tế á"...
Văn thơ của phong trào chống thuế ở Trung Kỳ phần lớn không rõ tên tác giả và dần dần nó đã
hịa nhập vào kho tàng văn học dân gian. Số văn thơ này như: Ca dao chống áp bức bóc lột, Bài
vè sưu thuế lạm thu, Vè thuế nặng, Bài hát xin xâu.v.v... Ðặc điểm nổi bật của bộ phận thơ văn
chống thuế ở Trung Kỳ là phản ánh một cách sâu sắc nỗi khổ của nhân dân.
Nhìn chung, trong khoảng thời gian này số người tham gia sáng tác thơ văn yêu nước rất đông,
lượng tác phẩm ra đời cũng rất nhiều. Hơn nữa, vấn đề lưu truyền phổ biến cũng khá rầm rộ.
Người ta làm đủ mọi cách để các tác phẩm đến được với độc giả. Người ta dịch ra quốc âm, chép
tay rồi chuyền cho nhau hoặc cịn đưa vào chương trình giảng dạy ở trường Ðông Kinh nghĩa
thục.v.v... Với nội dung yêu nước tiến bộ, hừng hực tinh thần cách mạng, ý chí quyết tâm đánh
giặc, thơ văn yêu nước ra đời trong giai đoạn này đã tạo ra những ảnh hưởng lớn, có lợi cho
phong trào cách mạng.
- Từ năm 1908 đến năm 1912, văn thơ yêu nước và cách mạng rơi vào tình trạng bế tắc. Cuối
năm 1908, cách mạng bị khủng bố, chính lúc đó thơ văn u nước cũng bắt đầu lâm vào tình thế
khó khăn. Số lượng tác phẩm ra đời rất ít, chất lượng cũng giảm sút rõ rệt.
Các nhà nho tham gia phong trào Ðông Du, trong cơn thất vọng nhất thời, khơng cịn cảm hứng
để sáng tác. Phan Bội Châu phải chạy trốn sang Thái Lan, nghiên mực tàu của ông dường như
Các sĩ phu thuộc nhóm Ðơng kinh nghĩa thục thì phần lớn bị bắt, bị đày ra Côn Ðảo. Lúc đầu thơ
văn yêu nước theo các chí sĩ vào nhà tù cũng được phát triển khá cao, nhưng dần dần về sau
cũng giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.
bộ phận văn học này trở về với tình trạng lơ thơ, khí thế sơi nổi, hừng hực tinh thần cách mạng
mất dần.
Nhìn chung thơ văn cách mạng từ sau khủng bố của giặc Pháp, năm 1909 vẫn tồn tại, nhưng chất
lượng và số lượng không bằng những năm trước đây. Trong khi đó văn thơ châm biếm thời thế,
đả kích bọn quan lại, tay sai, thổ lộ chút lịng thương nước, thương dân, khóc những nhà cách
mạng hy sinh trong các cuộc khủng bố của quân thù.... của những cây bút khơng tham gia cách
mạng nhưng ít nhiều có tinh thần dân tộc vẫn tiếp tục ra đời, mặc dù khơng có những bài thật
xuất sắc. Tuy nhiên, số tác phẩm nói trên chưa sưu tầm được đầy đủ, nói chung là chưa thể khơi
phục lại đầy đủ bộ mặt văn học của quần chúng yêu nước hồi này. Nhưng có thể khẳng định ở
chặng này cũng như các chặng khác, dòng văn học dân gian tố cáo sự bóc lột của kẻ thù, phơi
bày tội ác của quần chúng vẫn không vơi cạn.
- Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, phong trào ái quốc dân chủ lại sôi nổi trong cả nước nhưng
chỉ giới hạn ở các đô thị. Văn thơ yêu nước lại phát triển cùng với phong trào cách mạng mang
tính chất địi tự do dân chủ theo xu hướng tư sản. Văn thơ cách mạng bấy giờ trở lại thời kỳ sôi
nổi, rầm rộ, có thơ văn trong nước và cả thơ văn từ nước ngồi đưa về, có thơ văn phổ biến bí
mật và cả thơ văn phổ biến cơng khai. Văn thơ công khai phần lớn xuất hiện trong phong trào ái
quốc dân chủ 1925 - 1926, xoay quanh các sự kiện chính, địi thả Phan Bội Châu, để tang Phan
Chu Trinh, học sinh bãi khóa, cùng với việc Khải Ðịnh đi Pháp và việc hắn làm lễ tứ tuần đại
khánh. Ngồi ra, trên văn đàn cơng khai, Ngơ Ðức Kế và Huỳnh Thúc Kháng cịn đả kích quyết
liệt bọn bồi bút của Pháp. Mặc dù văn học cách mạng ở giai đoạn này có chiều hướng khởi sắc,
phát triển về số lượng và chất lượng, mang nhiều sắc thái mới nhưng vẫn không sao sánh bằng
giai đoạn 1905 - 1908.
- Những năm cuối của thập niên thứ ba, văn học yêu nước và cách mạng theo xu hướng cách
mạng tư sản dần dần xuống dốc. Trước khi mất hẳn, nó cũng góp phần sưởi ấm cho những tâm
hồn buốt lạnh và là tiếng nói của dân tộc trong những ngày chờ đón luồng tư tưởng mới nhất của
thời đại, tư tưởng cách mạng vô sản.
Cũng trong thời gian này, mầm mống của văn học cách mạng theo xu hướng vô sản đã được nảy
nở. Ðặc điểm của văn học này là cịn ít tính chất văn nghệ, nhiều tính chất chính trị nhưng nội
dung đã tiến bộ hơn hẳn dòng văn học tư sản cùng giai đoạn.
<b>1.3- Nội dung của văn học yêu nước và cách mạng : </b>
<b>* Thể hiện tư tưởng yêu nước tiến bộ: </b>
Văn học yêu nước và cách mạng đã nêu lên quan niệm mới về đất nước, về yêu nước. Các nhà
nho yêu nước và cả nhân dân ta sống trong điều kiện ý thức hệ phong kiến thống trị không thể
nào quan niệm có nước lại khơng có vua. Nước là của vua, yêu nước tất phải yêu vua, yêu vua là
yêu nước. Vấn đề là cần có vua sáng để có tôi hiền. Sang đến đầu thế kỷ XX, chế độ thực dân
nửa phong kiến đã ra đời và thay thế chế độ phong kiến, trạng thái ý thức của xã hội cũng chuyển
biến theo. Sự có mặt của ý thức hệ tư sản là một nhân tố mới có vai trị quan trọng trong đời sống
tinh thần của xã hội. Quan niệm của các tác giả văn thơ cách mạng về quốc gia đã khác trước.
Nước khơng cịn là của vua, vua và nước khơng cịn là một. Có thể có nước mà khơng có vua.
Yêu nước không nhất thiết phải yêu vua. "Trung quân ái quốc" hai cái tách rời nhau. Chủ nghĩa
tôn quân đang dần dần bị loại trừ và như thế, nói đến nước sẽ là nói đến non sơng, nịi giống, nói
đến dân tộc, đồng bào. Trước kia, nghĩa quân thần, đạo thần tử có thể là động lực kích thích tinh
thần đấu tranh:
<i>Kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi </i>
<i>Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi </i>
trân trọng cái địa vị của đất nước, cơ nghiệp của cha ông đã nhiều thế hệ nối tiếp nhau xây dựng,
<i>Nọ thuở trước đánh tàu mấy lớp </i>
<i>Cõi trời Nam cơ nghiệp mở mang </i>
<i>Sơng Ðằng lớp sóng Trần vương </i>
<i>Núi Lam rẽ khói mở đường nhà Lê </i>
<i>Quang Trung đế từ khi độc lập </i>
<i>Khí anh hùng đầy lấp giang san </i>
Tự hào về đất nước các tác giả khơng cịn ca ngợi các bậc thánh đế anh hùng xuất chúng, mà họ
đã đi đến khẳng định vai trò của nhân dân, của "ức triệu anh hùng vơ danh." Nhìn chung, văn thơ
u nước đã khẳng định một vấn đề rất mới mẻ: Ðất nước là của dân, yêu nước là phải yêu dân.
"Nước Việt Nam là của gia tài,
<i>Cả quyền lợi với đất đai </i>
<i>Của dân nào phải riêng ai một nhà." </i>
<i>(Lời tuyên cáo của Việt Nam quang phục hội- Hoàng Trọng Mậu). </i>
<i>Hoặc : </i>
<i>Nước có mạnh thì dân mới mạnh </i>
<i>Dân có khơn thì nước mới khơn </i>
<i>( Kinh đạo nam _ khuyết danh ) </i>
Trong thơ văn yêu nước ở đầu thế kỷ XX, vấn đề yêu nước còn được gắn liền với vấn đề cách
mạng. Chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước đó là chuyện chung của nhiều thời đại có
ngoại xâm. Nhưng chống giặc để rồi khơng trở lại chế độ phong kiến mà tiến lên xây dựng chế
độ dân chủ tư sản là một đổi mới trong lịch sử của dân tộc. Ðó cũng là nội dung chủ yếu của văn
thơ cách mạng giai đoạn 1900 - 1930. Ðiều này đã được khẳng định trong "Lời tuyên cáo của
<i>Muốn cho ích nước lợi nhà </i>
<i>Muốn cho ích nước lợi nhà (Hồng Trọng Mậu) </i>
nhưng chuẩn bị cho nó thì đã từ văn thơ của phong trào Duy Tân, Ðông Kinh Nghĩa Thục và
phần nào cả văn thơ Ðông Du.... Ở đây song song với nội dung kêu gọi chống Pháp, cịn có nội
dung cải cách xã hội nhằm làm cho nước giàu dân mạnh. Hai nhiệm vụ đó quan hệ mật thiết với
nhau, hỗ trợ cho nhau.
Yêu nước bấy giờ được biểu hiện bằng hành động cụ thể là tham gia đánh giặc cứu nước và tiến
hành cải cách xã hội.
Vào đầu thế kỷ XX ,vấn đề cãi cách xã hội được đặt ra với mục đích làm cho dân giàu nước
mạnh , được thực hiện song song với nhiệm vụ đánh Pháp
Trong thơ văn yêu nước, đầu thế kỷ XX, yêu nước và vấn đề dân chủ gắn liền nhau. Xuất phát từ
quan niệm mới về đất nước, yêu nước các tác giả đã đi đến khẳng định quyền làm chủ của người
dân trong xã hội, đồng thời cũng khẳng định vai trò của người dân trong sự nghiệp cứu nước.
Mục đích cứu nước lúc bấy giờ là vì dân chứ khơng phải vì vua. Phan Bội Châu đề cao địa vị của
người dân trong công cuộc xây dựng nước nhà :
<i>Nghìn mn ức triệu người chung góp </i>
<i>Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà. </i>
<i>Người dân ta của dân ta, </i>
<i>Dân là dân nứơc , nước là nước dân </i>
Và khẳng định :
Người dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước là thực hiện bổn phận đồng thời thể
hiện tinh thần làm chủ của mình. Thơ văn yêu nước thường nhắc đến các khái niệm "đồng bào,
đồng quốc" xác lập nên một chữ "nghĩa" - nghĩa đồng bào khác hẳn với chữ "nghĩa" trong văn
học trung đại.
<b>* Thời sự chính trị trong văn chương đầu thế kỷ XX. </b>
Xã hội Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX là một bầu trời đen kịt. Chính quyền phong
kiến đương thời có thể làm ngơ, ngồi yên trên ngai vàng để hưởng thụ, nhưng nhân dân Việt
Nam những người u nước Việt Nam thì khơng thể nào nhắm mắt, khoanh tay. Ngọn cờ Cần
vương vừa ngã xuống, thanh niên lại xơng xáo đi tìm một hướng cứu nước mới. Phong trào yêu
nước Duy Tân và cách mạng như một tia sáng bừng lên vào đầu thế kỷ XX. Tia sáng ấy dù mong
manh, yếu ớt và sớm tắt đi nhưng cũng đủ xoa dịu những khó khăn, căng thẳng, đợi chờ của
đồng bào Việt Nam sau nhiều năm dài chống giặc liên tiếp thất bại. Văn chương yêu nước và
cách mạng đầu thế kỷ đã phản ánh kịp thời và phát ngôn cho các phong trào cách mạng lúc bấy
giờ. Ðó là phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu cấp tiến đi theo con đường cách
mạng dân chủ tư sản.
Như những thước phim thời sự hấp dẫn, sinh động, văn chương yêu nước đầu thế kỷ XX đã ghi
nhận kịp thời các diễn biến và tái hiện trọn vẹn gương mặt của xã hội Việt Nam vào những năm
đầu thế kỷ XX. Sau khi kết thúc cơng cuộc bình định ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Pháp đã
bắt tay ngay vào việc khai thác thuộc địa tại Việt Nam. Một chế độ cai trị và bóc lột hà khắc đã
diễn ra. Người dân Việt Nam mất hết chủ quyền. Mọi thứ đều do người Pháp cai quản, giai cấp
thống trị phong kiến đương thời chỉ giữ nổi vai trị bù nhìn mà thơi. Ðể thực hiện chủ trương vơ
vét, bóc lột ở các thuộc địa, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thuế khóa rất nặng nề, hàng
trăm thứ thuế cay nghiệt đã được áp dụng. Nó như những sợi dây thịng lọng vơ hình xiết chặt
lấy người dân Việt Nam vơ tội. (Hải ngoại huyết thư- Phan Bội Châu).
Thực dân Pháp cịn tìm cách đẩy những người dân vô tội vào nơi ma thiêng nước độc để đào
sông, đào mỏ, làm đường. Thân phận của người đi phu khơng khác gì anh tù khổ sai:
"Ông Tây áp trước
<i>Cậu lính áp sau." </i>
do bị vắt kiệt sức lao động, sống trong màn trời chiếu đất, "ăn cơm với muối, uống nước chè
trâm."
Ðiều đáng sợ, làm cho con người kinh hãi là chính sách ngu dân bằng con đường "khai hóa" của
thực dân. Song song với những lời lẽ mỵ dân thâm độc là hàng loạt chủ trương nham hiểm, xảo
quyệt được thực hiện. Một mặt chúng tỏ ra như muốn bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc,
nhưng mặt khác chúng lại ra sức xây dựng một nền giáo dục mới. Nội dung của chương trình học
mới tất nhiên là nhằm mục đích đào tạo những phần tử tay sai trung thành, phục vụ cho chế độ
bảo hộ. Ngoài ra các cơ quan báo chí do Pháp thành lập lần lượt ra đời ở cả ba kỳ Nam, Trung,
Bắc. Báo chí là cơ quan tuyên truyền của thực dân, nơi phổ biến đường lối, chính sách cai trị của
chúng. Tất cả những việc làm của thực dân đã biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến tự chủ
trở thành một thuộc địa của chủ nghĩa tư bản. Ðó là tấn bi kịch của dân tộc Việt Nam khi bước
vào thế kỷ XX.
Âu Mỹ. Cũng chính vì vậy mà nếu như phong trào yêu nước ở cuối thế kỷ XIX kết hợp với tinh
thần bài ngoại thì tư tưởng Duy Tân ở giai đoạn đầu thế kỷ XX lại đi đôi với tinh thần vọng
ngoại. Chủ nghĩa yêu nước thời này thắm đượm màu sắc duy tân. Tinh thần dân tộc được đi đôi
với ý thức cách mạng. Duy tân và cách mạng là tinh thần của thời đại, và duy tân và cách mạng
cũng là xu thế hiện đại của tư tưởng và văn hóa dân tộc. Thực tế đã được phản ánh trong văn
chương giai đoạn này. Ðó là một khơng khí cách mạng đầy hào hứng.
<i>"Ðội tiên phong đâu tá, gió duy tân từ Ðông hải thổi vào </i>
<i>Gương ngoại quốc kia là, sóng cách mạng bởi Âu châu dồn tới." </i>
<i>("Văn tế Phan Chu Trinh" - Phan Bội Châu) </i>
Nhìn chung, thơ văn yêu nước giai đoạn đầu thế kỷ XX nổi bật nội dung khai sáng dân tộc đúng
như nhận định của ơng Trần Thanh Ðạm: "Có người gọi rất đúng rằng văn học đầu thế kỷ XX có
tính chất của một phong trào ánh sáng như ở Âu châu vào thế kỷ XVIII". (Chuyên đề "Sự chuyển
biến của văn học Việt Nam sang thời kỳ hiện đại" trang 37).
Có thể khẳng định rằng thời sự là một đặc điểm của văn chương yêu nước và cách mạng giai
đoạn này. Khi làn sóng cách mạng trong nước lên cao, thơ văn yêu nước được sống trong khơng
khí chính trị sơi nổi, quyết liệt cho nên không ngừng phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Các
sáng tác đó đã dõi theo hoạt động của các tổ chức yêu nước, cùng với Ðông Kinh nghĩa thục,
Ðông Du, đến với mọi người qua những buổi diễn thuyết, bình văn hay hiện diện ngay trong bài
học của các học sinh ở những trường học do các nhóm này tổ chức. Khi các tổ chức cách mạng
lần lượt bị thất bại, những người tham gia bị cầm tù. Văn thơ yêu nước theo bước chân của người
tù chính trị đi vào nhà giam. Văn thơ trong tù có thời điểm đã được phát triển về số lượng và chất
lượng, nhưng rất tiếc là đến nay số lượng đó cịn lại rất ít, chủ yếu là văn vần.
Thơ văn trong tù đã góp phần khơng nhỏ cùng với thơ văn yêu nước và cách mạng ở giai đoạn
này làm tái hiện lại lịch sử chính trị xã hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX. Ðó là lịch
sử của những phong trào chống Pháp theo ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản, có lúc sôi nổi
quyết liệt nhưng cũng có hồi mất mát hy sinh, mặc dù đau thương vẫn hào hùng bất khuất.
Bức tranh thời sự đầu thế kỷ XX được các tác giả chấm phá bằng những nét sinh động, chân thực
thể hiện được cái đa dạng của cuộc sống, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ đau
thương mà rất hào hùng. Các thi sĩ, văn gia thời này đâu chỉ nhằm tái hiện lịch sử. Họ còn dùng
ngòi bút để tuyên truyền vận động cứu nước, để giác ngộ "xã hội đang còn mê mẩn, đánh thức cả
một làng nho cịn chìm đắm trong vịng danh lợi."
<b>* Văn học yêu nước và cách mạng là lời tuyên truyền vận động cứu nước. </b>
Sống trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, dân khổ nhục, nhà nho ln có ý thức về trách nhiệm và
rất mong muốn tìm ra con đường cứu nước và làm cho đất nước giàu mạnh, sánh kịp các nước
châu Âu. Nhưng họ chỉ có trong tay một thứ vũ khí là văn chương, họ muốn biến nó thành cơng
cụ vạn năng "vừa là trống vừa là chiêng thức tỉnh người mê ngủ, vừa là gươm là súng đánh đổ
ánh đặc trưng của thời đại. Quần chúng nhân dân đã được chú ý nhưng cái nhìn tồn diện về họ,
vị trí và vai trò của họ trong cuộc đấu tranh này còn bị nhiều hạn chế.
Khi đặt chân lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp không chỉ nhằm khai thác những tiềm lực về
kinh tế mà cịn ơm ấp ý đồ thống trị về mặt tinh thần nhân dân ta. Chúng muốn biến dân tộc Việt
Nam trở thành nơ lệ cho chúng. Sống trong chế độ chính trị và giáo dục của thực dân, người Việt
Nam sẽ dễ dàng trở thành những kẻ ích kỷ, đê hèn, tự ti, mất gốc, khơng biết gì đến Tổ quốc, dân
tộc. Nhân dân Việt Nam đang say sưa trong giấc ngủ của đêm trường nô lệ. Nhiều người quên
dần cái nhục mất nước, cứ ngỡ rằng việc khai hóa của thực dân là sự thật, là hảo ý của Pháp đối
với Việt Nam. Nỗi đau mất nước đã lắng dần theo năm tháng, người ta lại còn cảm thấy dường
như sự hiện diện của Pháp lại có lợi cho người Việt Nam, Pháp mang đến cho nhân dân Việt
Nam bao nhiêu là tiện nghi vật chất mà họ chưa từng có được. Người Việt Nam đã thích nghi
dần và bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Phải đánh thức đồng bào, "gọi hồn" dân tộc trở về, phải
giáo dục tư tưởng mới cho nhân dân: Yêu nước giành độc lập và cải cách xã hội. Văn học yêu
nước và cách mạng đã tích cực giác ngộ xã hội, đánh thức cả dân tộc còn mê mẩn. Loại văn thơ
gọi hồn trở thành công cụ trong giai đoạn này. (Kêu hồn nước - Nguyễn Quyền, Tỉnh hồn ca -
Phan Chu Trinh).
Văn chương còn góp phần vào việc bồi dưỡng tình cảm cho con người, đánh đổ tinh thần tự ti,
xây dựng tình cảm mới, nhắc nhở rằng nhục nơ lệ chỉ có thể rửa sạch và được rửa sạch bằng tinh
thần đấu tranh của toàn thể đồng bào. Phan Bội Châu đã cho rằng một trong những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng mất nước là do nhân dân ta xung khắc, bất hòa đã ngờ nhau chẳng biết tin
nhau, coi nhau như thể qn thùì mà "bụng có hợp thì nhà mới hợp" cịn "lịng đã tan thì nước
cũng tan."
Tiếp nối truyền thống văn học của các giai đoạn trước, văn học hướng tới sự phát triển vào con
người cố gắng vươn lên khẳng định những giá trị chân chính của con người, đặt ra vấn đề quyền
sống con người, trong đó có người phụ nữ. Ðến giai đoạn này văn học đã phát triển thêm một
bước: Nêu lên yêu cầu đấu tranh giải phóng phụ nữ và xem nó như một bộ phận của cách mạng
dân tộc. Thanh niên cũng trở thành đối tượng được quan tâm nhiều. Các nhà nho đã thấy rõ vai
trò, khả năng của họ cho nên rất chú ý giáo dục đối tượng này. Trong Bài ca chúc Tết thanh
niên" Phan Bội Châu đã vạch kỹ con đường đi tới cho thanh niên, kêu gọi họ phải tỉnh táo và
sáng suốt trong việc chọn cho mình một lý tưởng sống. Phải biết: "Ði cho êm, đứng cho vững,
trụ cho gan" để làm nên việc lớn.
chương đầy nhiệt tình của các nhà chiến sĩ là mồi lửa làm cho kho thuốc nổ ấy bốc cháy." (Văn
thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trang 100).
Sau biến cố năm 1908, phong trào cách mạng bị lắng xuống do sự đàn áp quá dã man của kẻ thù.
Tổ chức cách mạng khơng cịn cơ sở trong nội địa, vậy mà văn thơ tuyên truyền vẫn tiếp tục ra
đời để triển khai những chủ trương lớn của hội duy tân ngày trước. Các sáng tác này do những
ngưòi yêu nước còn lại đang lẫn trốn hoặc chạy ra nước ngồi tìm cách hoạt động và sáng tác.
Nội dung khơng có gì thay đổi, có khác là ở chỗ khẳng định dứt khoát cái chính thể mà cuộc
cách mạng ái quốc sẽ thành lập cho nước Việt Nam là chế độ dân chủ cộng hòa theo quốc dân
Ðảng Trung Quốc; xác nhận quyền làm chủ của nhân dân. Chính chỗ này đã làm cho tư tưởng
của nó có tác dụng rõ rệt đối với độc giả hiện đại. Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ tư sản
khơng giành được thắng lợi hồn tồn nhưng thơ văn cổ xúy cho phong trào ấy cũng kèo dài thời
gian tồn tại và phát triển đến khoảng hai mươi năm. Nó đã đóng góp khơng nhỏ cho hoạt động
chính trị cứu nước thời bấy giờ.
<b>1.4. Vấn đề cách tân nghệ thuật trong văn học yêu nước và cách mạng. </b>
Lực lượng sáng tác văn chương đầu thế kỷ XX chủ yếu là các nhà nho, nhà khoa bảng. Ðối với
họ chữ Hán, chữ Nôm là phương tiện thông dụng nhất và quen thuộc đến thành nề nếp. Nhà Nho
"cũng chỉ quen với văn, thơ, phú, lục... thứ văn học cao quí viết bằng thứ ngơn ngữ khó hiểu, rất
Văn xuôi Nôm đến đầu thế kỷ XX vẫn còn rất ấu trĩ, lủng củng, nghèo nàn, mà nhà nho cũng
quen dùng chữ Hán hơn chữ Nơm. Vì vậy việc cải cách văn xuôi trước hết tiến hành trong văn
chữ Hán. Các nhà nho tiến bộ đã bỏ bớt âm hưởng biền ngẫu, cố gắng đưa tri thức mới, thuật
ngữ mới vào trong sáng tác. Họ học cách viết của báo chí Trung Quốc lúc đó là trình bày ý kiến
rõ ràng, mạch lạc, chặt chẽ. Các nhà nho thời nay chịu ảnh hưởng của văn tân thư Trung Quốc
đặc biệt là họ thường lấy văn của Lương Khải Siêu làm mẫu mực.
<i>"Dây! Dậy! </i>
<i>Bên án tiếng gà vừa gáy... </i>
<i>Ði cho êm! Ðứng cho vững! Trụ cho gan!..." </i>
Văn vần vẫn là hình thức được ưa chuộng nhất trong thời này. Ðầu thế kỷ XX phổ biến hình thức
diễn ca. Có những văn bản chính luận đã được diễn ca nhằm mục đích đưa tư tưởng mới đến với
quần chúng được dễ dàng. Ðó là trường hợp của "Hải ngoại huyết thư" của Phan Bội Châu. Diễn
ca được các nhà yêu nước dùng để thể hiện những nội dung tuyên truyền cứu nước rất phù hợp
với điều kiện xã hội lúc bấy giờ. Người ta có thể đọc cho nhau nghe, nhớ lâu, dễ thuộc không cần
phải in thành sách vở...
Ðể đạt được hiệu quả trong tuyên truyền, các tác giả văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ
XX đã cách tân nghệ thuật sáng tác, tạo nên những đổi mới so với trước kia. Tuy nhiên văn
phong của họ tỏ ra rất bề bộn, chữ Hán, chữ quốc ngữ pha tạp, các thể loại truyền thống và hiện
đại đan xen. Tuy hô hào sử dụng chữ quốc ngữ nhưng đại đa số các nhà nho lại thích dùng chữ
Nơm để sáng tác. Họ chưa bỏ được lối viết văn biền ngẫu, nhiều bài thơ thời này còn bị pha trộn
một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ khó hiểu ("Bài hát khuyên nhà nho", Hú hồn
thanh niên). Nhiều từ ngữ xa lạ, tên đất, tên người thật đặc biệt được mang vào trong tác phẩm
một cách tuỳ tiện, làm cho bài văn, bài thơ trở nên nặng nề tạo cảm giác khó chịu đối với người
đọc (Tình phu phụ - Khuyết danh). Có thể khẳng định đây là một đặc điểm chỉ tìm thấy ở văn
học giai đoạn này.
<b>2. Văn học hợp pháp. </b>
<b>2.1. Lực lượng sáng tác: </b>
Lực lượng sáng tác tiêu biểu của dòng văn học hợp pháp là nhà nho và các bậc trí thức tân học.
Dù là nhà nho hay trí thức tân học phần lớn họ là những người chú trọng đến văn hố hơn chính
trị. Việc đọc sách của họ là để hướng đến mục đích mở mang tầm nhìn cho người sáng tác, nhằm
phát triển văn hoá nước nhà. Họ không chỉ đọc tân thư, tân văn mà còn đọc cả những sáng tác
văn học phương Tây. Khách quan mà đánh giá thì họ là những người mạnh dạn đến với cái mới,
tuy ở họ không tránh khỏi những dằn vặt, trăn trở khi chọn cho mình một hướng đi để phù hợp
với sự phát triển của thời đại. Nhìn chung, họ đã tỏ ra là người nhanh chóng vứt bỏ cái cũ phong
<b>2.2. Ðiều kiện ra đời và phát triển của văn học hợp pháp: </b>
Văn học công khai hợp pháp là một bộ phận văn học quan trọng của nền văn học dân tộc trong
giai đoạn này. Văn học công khai hợp pháp phát triển trong lúc văn học yêu nước đang bị trấn áp
mạnh. Văn học hợp pháp ở buổi đầu đã được phát động từ hai phía đối lập nhau, nhằm hai mục
đích trái ngược nhau nhưng lại đạt cùng một kết quả: Phía Pháp muốn có một cơng cụ để tun
truyền cho chúng, để phục vụ cho việc khai hố, do đó mở báo chí xây dựng nhà in, thành lập
một số trường dạy quốc ngữ và chữ Pháp, cho dịch các tác phẩm văn học Pháp; phía Việt Nam,
người yêu nước muốn thực sự khai hố cho dân để tìm cách giải phóng dân tộc khỏi ách nơ lệ,
cho nên cổ động học chữ quốc ngữ, giới thiệu tân thư, dạy và khuyên học khoa học kinh tế hiện
đại.... Lúc đầu việc làm của hai bên tuy ý đồ đối lập nhau nhưng cơng việc được tiến hành có
những điểm gần nhau. Khi mục đích chính trị của các nhà yêu nước lộ rõ thì Pháp đã tìm cách
đối phó. Một đợt càn quét dã man được thực hiện đối với các nhà yêu nước. Các sĩ phu yêu nước
rơi vào tình trạng tan tác, nhưng sức sống của dân tộc ta đã tiếp nhận những thành quả ban đầu
và đẩy mãi nó lên. Nhất là trong lĩnh vực văn học, chúng ta đã tiến những bước lớn. Văn học hợp
pháp đã được phát triển trong những điều kiện thuận lợi lớn:
<b>+ Vấn đề chữ quốc ngữ: </b>
Chữ quốc ngữ đã có mặt ở Việt Nam từ các thế kỷ trước, nhưng đến đầu thế kỷ XX nó mới được
đưa vào trong sáng tác văn học một cách phổ biến. Chữ quốc ngữ là một hệ thống ngôn ngữ -
văn tự lý tưởng của văn học mới, vì nó mơ tả cuộc sống bình thường, nó có thể đến với bất cứ
loại độc giả nào từ tầng lớp quí tộc đến bình dân.
Ði đơi với vấn đề sử dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác là việc xây dựng văn xuôi quốc ngữ.
Trong quá trình hình thành và phát triển của nền văn học mới, các tác giả không tránh khỏi việc
ghi chép khẩu ngữ. Mặt khác, do ảnh hưởng của cách viết văn cũ (văn biền ngẫu), văn xuôi quốc
<b>+ Báo chí: </b>
Báo chí đã đóng vai trị rất quan trọng trong việc phát triển dòng văn học hợp pháp ở giai đoạn
này. Báo chí chính là nơi để các nhà văn cơng bố tác phẩm của mình, cũng là nơi để các nhà văn
thử nghiệm, rèn luyện văn xuôi quốc ngữ. Báo chí là nơi sưu tầm và giới thiệu văn học trung đại
Việt Nam, giới thiệu văn học Pháp và văn học Trung Quốc. Báo chí có tác dụng khích lệ, mơ
ước về sự nghiệp văn học, kích thích những người cầm bút phỏng tác, sáng tác. Báo chí cịn là
nơi trao đổi ý kiến, tìm tịi cách làm giàu ngôn ngữ, và cũng là nơi để các nhà văn rèn luyện cách
mô tả cuộc sống bằng các thể loại và hình thức mới để hình thành nhà văn và tập hợp thành đội
ngũ nhà văn.
Báo chí ở giai đoạn này đã đi từ chỗ là một công cụ tuyên truyền của Pháp dần dần ngày càng
gắn chặt hơn với văn học, thúc đẩy văn học phát triển.
<b>+ Dịch thuật: </b>
Phong trào dịch thuật bắt đầu ở Nam bộ và nhanh chóng phát triển trong phạm vi cả nước. Cơng
việc dịch thuật được thúc đẩy bởi nhiều động cơ và các tác phẩm dịch đã có sức hút lớn đối với
độc giả thành thị lúc đó. Việc dịch thuật đã buộc các nhà văn vay mượn, sáng tạo làm cho tiếng
<b>- Cuộc sống ở thành thị và công chúng thành thị: </b>
mãn được sự tò mò. Người ta cần sống những cảnh ngộ của kịch, những số phận của tiểu thuyết,
những cảnh ngộ, số phận của con người cụ thể trong cuộc sống bình thường. Ngưịi ta muốn nếm
trải cái có thật chứ khơng phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu minh họa đạo nghĩa.
Ngưòi ta cũng muốn rút ra từ đó những bài học q giá về cuộc sống chứ không phải là bài học
đạo lý. Người ta muốn xúc cảm, muốn mở mang như những người cá nhân, chứ không phải xúc
động như khi chiêm ngưỡng những tấm gương cao của vị thánh xuất chúng.
Thế là vào khoảng trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, một lối sống thành thị tư sản hóa
và một cơng chúng thành thị đã hình thành. Ðó khơng chỉ là đối tượng mơ tả, phục vụ mà còn là
nhân tố làm nảy sinh nền văn học mới.
<b>- Vấn đề đổi mới về quan niệm sáng tác: </b>
Sự thay đổi về quan niệm sáng tác đã dẫn đến nhiều đổi mới trong nền văn học giai đoạn này. Nó
khơng chỉ là một đặc điểm của giai đoạn văn học mang tính chất giao thời như đã trình bày ở
phần trên, mà nó cịn là một trong những nhân tố thúc đẩy sự ra đời của văn học mới, đẩy mạnh
sự phát triển của cả bộ phận văn học hợp pháp.
Bấy giờ vì muốn đáp ứng nhu cầu thị hiếu và thẩm mỹ của công chúng thành thị nhà văn sáng
tạo tác phẩm như một kế sinh nhai. Ðộc giả trước đây đi tìm văn phẩm, bây giờ tác phẩm phải
chạy theo người tiêu thụ. Nhà văn thành một nghề, văn học trở thành hàng hoá. Người sáng tác
đã xa dần quan niệm "trước thư lập ngơn" sáng tác để thể hiện "tâm, chí, đạo" dùng tác phẩm văn
chương để di dưỡng tinh thần và giáo dục con cháu.
Trước kia nhà nho không chú ý đến vấn đề phản ánh chân thực, cụ thể cuộc sống đời thường.
Các tác giả của bộ phận văn học mới để hết tâm lực vào mơ tả sao cho "chân tình, chân cảnh"
con người và cuộc sống xã hội, chủ yếu là con người bình thường và cuộc sống bình thường. Ðối
tượng được tập trung miêu tả trong tác phẩm bấy giờ là cuộc sống thực, cuộc sống đời thường và
những con người cũng có thực trong cuộc sống.
Sự thay đổi quan niệm văn học và sự hình thành phương pháp sáng tác mới là cả một quá trình
lâu dài giằng co, tranh chấp giữa cái cũ và cái mới. Hiện tượng này tìm thấy trong toàn bộ đời
sống một nền văn học mới.
<b>- Chính sách văn hóa nơ dịch của thực dân: </b>
Thực dân Pháp đã thực hiện chính sách văn hố nơ dịch ở Việt Nam, nhằm làm cho nhân dân
Việt Nam đoạn tuyệt với những truyền thống tốt đẹp đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu phản
động trong văn hoá xưa. Tuy nhiên, sự mở mang tương đối của thực dân đã đem lại nhà máy
giấy, nhà máy in, một số trường học mới dạy chữ quốc ngữ, báo chí... Ðấy là những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của văn học hợp pháp.
Thế nhưng chính sách văn hố nơ dịch của thực dân cũng tạo nên nhiều lực cản đối với phát
triển của văn học hợp pháp, làm hạn chế nội dung tư tưởng của bộ phận văn học này. Vì lưỡi kéo
kiểm duyệt quá ngặt nghèo của thực dân, các tác giả khi phản ánh hiện thực cuộc sống xã hội
phải bỏ qua hiện thực của cuộc đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân. Bị lôi cuốn vào
quỹ đạo của chính sách văn học thực dân, nhiều nhà văn đã mang ảo tưởng dùng hoạt động nghệ
thuật để bảo tồn nền văn hố dân tộc, đó là một giải pháp cứu nước lúc bấy giờ.
<b>2. 3. Một số nội dung tiêu biểu của văn học hợp pháp: </b>
<b>* Văn học hợp pháp phản ánh hiện thực xã hội trên con đường tư sản hóa </b>
Vào đầu thế kỷ XX có nhiều vấn đề mới đặt ra cho người cầm bút. Hiện thực cuộc sống ngày
nhà văn viết về xã hội tư sản hoá với những con người, tình huống, cảnh ngộ, sự việc cụ thể.
Xã hội được miêu tả trong văn học hợp pháp là một xã hội náo nhiệt, xô bồ mà đồng tiền tư sản,
lối sống tư sản, đạo đức tư sản đang dần dần chiếm địa vị ưu thắng ở thành thị. Trong khi đó ở
nơng thơn bọn cưịng hào, quan lại, địa chủ cấu kết nhau hà hiếp dân lành. Cuộc sống của người
dân nghèo vốn đã lam lũ, khốn khó lại phải chịu đựng thêm bao nhiêu tai hoạ do chúng gây ra.
Xã hội tư sản trong sáng tác của nhà văn lúc đó như một xã hội mục nát, khơng hề có những con
người ưu tú. Ở vào giai đoạn này, ý thức hệ tư sản đang lấn dần vị trí của ý thức hệ phong kiến,
nhưng nó vẫn chưa giành được phần thắng về mình. Vì vậy khi giải quyết các vấn đề của xã hội,
nhà văn thường rơi vào hiện tượng lưỡng phân. Họ chưa thể khẳng định xã hội tư sản, cũng
không thể khẳng định một lý tưởng xã hội khác. Nhà văn chỉ mới nhìn thấy sự đau khổ, đổ vỡ, sự
khơng hài hịa của con người và xã hội. Mang tâm trạng của người trí thức tiểu tư sản bấp bênh,
hoang mang, dễ dao động, lại bị lép vế trong xã hội thời đó, nhà văn chỉ dừng lại ở mức độ xót
thương, cảm động và đau khổ.
Hiện thực được mô tả trong văn học hợp pháp có tính chất chân thực, cụ thể đa dạng nhưng chưa
phải là những vấn đề mấu chốt của xã hội hiện thời. Chưa có ai đi sâu và lưỡi kéo kiểm duyệt
của thực dân cũng không cho phép đi sâu vào đời sống cùng khổ của nhân dân lao động để moi
ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa địa chủ phong kiến tư bản đế quốc với người dân cùng khổ
trong xã hội. Giá trị tố cáo, phê phán của văn học hợp pháp còn nhiều hạn chế. Văn học hợp
pháp không hề đặt vấn đề đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến thống trị hay bọn tư bản đế
quốc. Các tác giả chỉ muốn cải tạo chúng về mặt đạo đức.
Nhìn chung, văn học hợp pháp phản ánh hiện thực trên lập trường đạo đức là chính. Ðây là yếu
tố làm nên hạn chế trong nội dung hiện thực của bộ phận văn học này, vì nó đã giới hạn con mắt
quan sát của tác giả không cho tác giả trực tiếp và tồn tâm tồn ý nhìn vào hiện thực, phân tích
và lý giải hiện thực.
<b>* Cái tôi và chủ nghĩa cá nhân trong văn học hợp pháp: </b>
<b> Xã hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX đang trên con đường tư sản hóa, con người </b>
không thể tiếp tục nép mình vào cái ta chung, xã hội tư sản không dành chỗ cho những con
người chỉ sống theo trật tự trên dưới, theo quan hệ họ tộc, làng xã. Cái tôi của chủ nghĩa cá nhân
rất phù hợp với xã hội hiện thời. Nhà văn, nhà thơ cần phải đưa nó vào trong tác phẩm.
Sự tiếp nhận nền văn hoá phương Tây ở các tác giả thời này có nhiều mức độ khác nhau. Riêng
đối với các tác giả tân học hoặc chịu ảnh hưởng của nền học vấn mới như Hoàng Ngọc Phách,
Hồ Biểu Chánh, Tản Ðà, Ðông Hồ, Tương Phố... hay cả Tân Dân Tử, Trần Thiên Trung... thì
cùng một lúc họ phải chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Ðơng lẫn phương Tây. Ðiều này đặt ra
cho họ một sự lựa chọn hết sức gay go. Ði theo chủ nghĩa cá nhân của ý thức tư sản hay giữ gìn
đạo đức phong kiến. Chủ nghĩa cá nhân mở ra cho con người một chân trời tự do: tự do trong
quan hệ tình cảm, nhất là tình u đơi lứa, chủ nghĩa cá nhân giải phóng con người khỏi những
ràng buộc của lễ giáo phong kiến khắt khe. Nhưng nó mới quá! Làm sao tránh được những bỡ
ngỡ, người ta không thể không đến với nó trong sự dè dặt, ngại ngùng. Trong khi đó, đạo đức
phong kiến lại vốn là khuôn vàng thước ngọc, quyết định mọi giá trị đạo đức trong xã hội hàng
nghìn năm qua, chưa thể dứt bỏ trong chốc lát. Người sáng tác bị đặt vào tình thế lưỡng phân.
Ðối với họ cả hai phía đều có sức hấp dẫn và thu hút lạ kỳ, ngay cả trong thị hiếu của công
chúng cũng thế.
nhân trong văn học giai đoạn 40-45. Nhìn chung, ở vào thời điểm này, cái tôi và chủ nghĩa cá
nhân tuy đã xuất hiện nhưng nó chưa đủ sức để chống đối những ràng buộc của lễ giáo phong
kiến. Các tác giả còn chịu ảnh hưởng của nhân sinh quan phong kiến, cho nên cái tơi cịn nhiều
màu sắc phong kiến. Chủ nghĩa cá nhân còn rất yếu ớt bởi các tác giả cịn đứng về phía đạo đức
phong kiến can ngăn con người khỏi phải rơi vào hố cá nhân chủ nghĩa.
<b>* Nội dung yêu nước và vấn đề cứu nước của văn học hợp pháp: </b>
Các tác giả của văn thơ hợp pháp phần lớn là những người đứng ngoài cuộc đấu tranh cứu nước
<b>2. 4. Ðặc điểm nghệ thuật của văn học hợp pháp: </b>
Văn học hợp pháp vừa kế thừa nghệ thuật sáng tác của các nhà nho thời trung đại, vừa tiếp nhận
nghệ thuật hiện đại của nền văn học phương Tây. Các tác giả đã tiến hành một cuộc cách tân
trong nghệ thuật, lấy truyền thống làm cơ sở và nền văn học hiện đại phương Tây như một chất
xúc tác thúc đẩy quá trình cách tân đó. Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy
nhất có hiện tượng đan xen giữa hai hình thức nghệ thuật: nghệ thuật của văn học trung đại và
nghệ thuật của văn học hiện đại. Chính sự lắp ghép và pha tạp các yếu tố cũ và mới đã làm cho
nhiều tác phẩm ra đời trong giai đoạn này mang tính chất trung gian, vừa thể hiện chất hiện đại
nhưng vẫn mang dáng dấp truyền thống.
Nhìn chung, văn học hợp pháp giai đoạn này có xu hướng tiến gần đến văn học hiện đại. Ðối với
các tác gia,í văn học hiện đại là một khu vườn quyến rũ đầy những hoa thơm cỏ lạ. Phát hiện nó
là một chuyện nhưng đến với nó là một chuyện khác. Bởi vì họ "khơng có đủ độ sâu và độ đúng
của lý luận, không đủ học vấn để kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng của văn học nước
ngoài một cách hợp lý và sáng tạo" (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời - Trần Ðình Hượu và
Lê Chí Dũng, trang 337). Ðối với người sáng tác, cảm xúc thẩm mỹ có thay đổi, thế giới quan và
nhân sinh quan đã khác trước, nhưng họ chưa được trang bị chu đáo về mặt lý luận. Họ đã đến
với văn học hiện đại trong sự nhận thức chưa trọn vẹn về mọi phương diện, trong đó có cả
phương diện nghệ thuật.
<b>2. 5. Các loại hình: </b>
<b>2.5.1. Truyện ngắn và tiểu thuyết: </b>
bao lâu, phong trào sáng tác truyện ngắn đã trở nên phổ biến trong cả nước. Báo chí là nơi cung
cấp món ăn tinh thần hấp dẫn đó cho cơng chúng đương thời. Phong trào sáng tác tiểu thuyết
cũng bắt đầu ở Nam bộ. Trần Thiên Trung, Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh... được xem là những
người đã xây nền tạo móng cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Ðến năm 1925, ở miền Bắc
"Tố Tâm" của Hoàng Ngọc Phách ra đời đã tạo nên một tiếng vang lớn trong độc giả và đánh
dấu bước phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại ở buổi đầu hình thành. Bên cạnh đó "Quả
dưa đỏ" của Nguyễn Trọng Thuật, "Kim Anh lệ sử" của Trọng Khiêm cũng góp phần tạo nên
luồng gió mới thổi vào văn đàn hợp pháp Việt Nam ở 30 năm đầu thế kỷ XX.
Nội dung của truyện ngắn và tiểu thuyết giai đoạn này tập trung vào phản ánh hiện thực xã hội
đương thời, đả phá những cảnh suy đồi trong xã hội thực dân nửa phong kiến, bênh vực cho đạo
đức gia đình xã hội, hoặc nêu lên một vài khía cạnh của sự xung đột giữa lễ giáo phong kiến và
chủ nghĩa cá nhân tư sản, phơi bày cảnh khốn khổ của nhân dân dưới ách thống trị, bóc lột của
bọn địa chủ, quan lại thực dân.
Về nghệ thuật, một đặc trưng tiêu biểu của truyện ngắn và tiểu thuyết trong giai đoạn đầu thế kỷ
XX là sự kết hợp đan xen giữa hai loại nghệ thuật cũ và mới. Lực lượng sáng tác có những người
xuất thân Nho học, có người xuất thân Tây học. Hai nguồn gốc kiến thức ấy có ảnh hưởng lớn
đến tài nghệ của mỗi người và đưa đến kết quả là nghệ thuật của bên Tây học tiến bộ hơn bên
Nho học. Nhưng nhìn chung, sáng tác của cả hai loẵi tác giả ấy đều mang một đặc điểm chung
là "lắp ghép một cách máy móc cái truyền thống và hiện đại.". Hạn chế đó mang tính tất yếu của
một giai đoạn chuyển biến trong lịch sử văn học, từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù
văn học hiện đại. Chính vì sự lắp ghép nên đã xuất hiện nhiều trường hợp lối kết thúc có hậu,
diễn biến theo thời gian được xây dựng xen lẫn với hình thức kể chuyện tạo ra những điểm thắt
nút, diễn biến theo tâm lý nhân vật, câu văn biền ngẫu, đối ý, đối thanh, lên bổng xuống trầm ra
đời bên cạnh câu văn xuôi hiện đại, v.v... Nhìn chung, ở hầu khắp các phương diện của nghệ
Nguyễn Bá Học: Ông là một trong những nhà văn nổi tiếng đầu tiên ở Việt Nam viết truyện ngắn
phản ánh xã hội thành thị đang trên đường tư sản hóa. Ơng có 7 truyện ngắn, sáng tác trong 3
năm: "Câu chuyện gia đình, chuyện ơng Lý Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư, Dư sinh
lịch hiểm ký, Chuyện cơ Chiêu Nhì, Câu chuyện một tối của người tân hơn." Ơng đã đi vào phản
ánh hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến, một xã hội náo động, xô bồ đầy những cạm bẫy
chết người. Ðó là cuộc sống ở thành thị. Cịn ở nơng thơn thì ngày càng tàn tạ, vắng lặng, ngưng
đọng với sự sụp đổ của Nho học, với những người nông dân, đặc biệt là phụ nữ sống an phận thủ
thường theo nề nếp cũ. Cũng như nhiều tác giả khác cùng thời, ông có ước muốn "điều hịa tân
cựu" "thổ nạp Á-Âu" . Nhưng thực tế ông đã không thể hướng lý tưởng xã hội-thẩm mỹ của
mình vào việc khẳng định xã hội tư sản. Ơng đã hình dung một xã hội lý tưởng phải là xã hội tư
sản với đạo đức cũ. Nhưng ông lại đang cơng kích và chê bai xã hội bao quanh ông. Qua tác
phẩm chúng ta thấy cái nhìn thực tế, cụ thể của ơng đã chiếm ưu thế so với sự hình dung của ơng
về một xã hội tư sản lý tưởng.
Phạm Duy Tốn: Ông đã viết những truyện ngắn: Nước đời lắm nỗi, Con người Sở Khanh, Bực
mình, Sống chết mặc bây. Ông đã tập trung phơi bày thực trạng thối nát, bất công của xã hội
thực dân nửa phong kiến. Ông chịu ảnh hưởng của văn Pháp nhiều nên cách viết có phần mới
hơn Nguyễn Bá Học. Ơng thành cơng ở nghệ thuật mô tả chân thực những hiện tượng mà ông
quan sát. Truyện ngắn "Sống chết mặc bây" được xem là tác phẩm nổi tiếng của ơng.
Nguyễn Trọng Thuật: Ơng có quyển tiểu thuyết "Quả dưa đỏ" được giải thưởng của Hội Khai trí
Tiến Ðức năm 1925. "Quả dưa đỏ chịu ảnh hưởng của cuốn Robinson Crusoe của Ðaniel Dejoe
nhưng không phải là phiêu lưu tiểu thuyết như tác giả gán cho tác phẩm của mình. Tác giả có
dụng ý phản ánh ý hướng thích phiêu lưu, mạo hiểm trong tâm lý của cơng chúng thời đó. Ơng
Trọng Khiêm: Tác giả của quyển tiểu thuyết dài: "Kim Anh lệ sử." Tác phẩm đề cập đến cuộc
đời lưu lạc, đau khổ ê chề của một người phụ nữ con nhà nề nếp vì gia đình sa sút nên phải nhận
lấy cuộc sống ba chìm bảy nổi. Tác phẩm đã nói đến nhiều cảnh ngộ xã hội, nhiều nhân vật có ý
nghĩa. Trong một mức độ nhất định ông đã phản ánh được nhiều khía cạnh của hiện thực xã hội
đương thời, với một thái độ phê phán khá sắc bén.
Tuy nhiên, đây là một tác phẩm còn nhiều hạn chế. Chủ đề bị tản mạn, thiếu tập trung, kết cấu
không theo thứ tự thời gian nhưng sự liên lạc giữa các chương, đoạn không chặt chẽ, nhiều đoạn
trong tác phẩm còn chịu nhiều ảnh hưởng của tiểu thuyết kiếm hiệp.
Hồng Ngọc Phách: Ơng có một quyển tiểu thuyết duy nhất là "Tố Tâm". Tác phẩm viết xong
năm 1922, khi ông học năm cuối cùng của trường Cao đẳng sư phạm in tại Hà Nội đầu năm
1925. "Tố Tâm" ra đời đã gây một tiếng vang lớn trên văn đàn đương thời. Tác phẩm đã thể hiện
sự kết hợp hai yếu tố cũ và mới trong cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Ơng đã để cho
hai nhân vật chính Tố Tâm và Ðạm Thủy giằng co giữa hai con đường chạy theo tình yêu tự do
hay chấp nhận lễ giáo phong kiến. Tác phẩm đã khép lại trong kết thúc bi thảm. Với "Tố Tâm",
người tuân thủ đạo đức truyền thống đã khơng có hạnh phúc trong chế độ đại gia đình phong
kiến, mà người muốn sống hết mình cho tình yêu tự do cũng không thể đón nhận hạnh phúc
trong tình u. Cả đơi đường đều khơng thể trọn vẹn, con người bị lâm vào thế bế tắc. Nguyên
nhân bắt nguồn từ trạng thái lưỡng phân, giao thời của xã hội. Có thể thấy được, ở "Tố Tâm" cái
tôi tư sản được tác giả đặt bên cạnh lễ giáo phong kiến. Tất nhiên ở vào thời đại của ông, ông
chưa đủ sức tấn công vào lễ giáo phong kiến. Ơng chỉ dám nói đến cái tôi trong thế cạnh tranh
với lễ giáo phong kiến, và ơng là một "trọng tài" có sự thiên vị đối với đạo đức phong kiến, mặc
dù thực tâm ông đã nghiêng về cái tôi tư sản. "Tố Tâm" là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện tính
giao thời của văn học giai đoạn này.
phong kiến. Chính quan điểm đạo đức như thế đã làm hạn chế nội dung hiện thực trong sáng tác
của ơng.
Ơng là một tác giả đã mạnh dạn tiếp nhận những thành tựu nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại
phương Tây để tạo nên những yếu tố mới về nghệ thuật trong sáng tác của mình, thể hiện qua
ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng nhân vật, chi tiết, cốt truyện, đề tài, v.v....
Ở Nam bộ trước năm 1930, bên cạnh Hồ Biểu Chánh cịn có nhiều tác giả khác như Trần Thiên
Trung, Nguyễn Chánh Sắc, Tân Dân Tử. Ðây là những cây bút tiên phong của nền tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại.
<b>2.5.2. Kịch nói và cải lương: </b>
Kịch: Là một loại hình nghệ thuật sân khấu rất mới, có giá trị văn học, chỉ xuất hiện từ khi có sự
du nhập của nền văn hóa phương Tây. Một số tác giả tiêu biểu thời này như Vũ Ðình Long, Nam
Xương đã dùng thể loại hoàn toàn mới mẻ này để phản ánh hiện thực xã hội đương thời. Ðời
sống của các gia đình phong kiến bị phá sản, sự hư hỏng của con người trong xã hội tư sản, hiện
tượng lai căng mất gốc... Tuy nhiên, mọi vấn đề được các tác giả đưa lên sân khấu để bóc trần sự
thật, để phê phán hay đả kích đều xuất phát từ lập trường đạo lý, nhằm củng cố nền luân lý cổ
truyền của dân tộc. Cho nên chưa thể xem nội dung đó là hồn tồn mới lạ. Khán giả đương thời
hưởng ứng nồng nhiệt bởi những vấn đề hãy còn xưa cũ ấy được thể hiện trong một hình thức rất
mới.
Cải lương: Cũng như kịch nói, cải lương cũng được xem là một hình thức mới xuất hiện trong
hoàn cảnh xã hội mới. Cải lương bắt nguồn từ một hình thức văn nghệ dân gian ở Nam bộ. Cải
lương thường được viết theo các tiểu thuyết Trung Quốc ngày xưa hoặc viết theo các tiểu thuyết,
kịch của ta và Pháp. Khai thác đề tài lịch sử cải lương rất phù hợp với thị hiếu của công chúng
đương thời. Cải lương ra đời đã làm phong phú thêm nghệ thuật của loại hình kịch hát tự sự dân
tộc. Tuy nhiên, các văn nghệ sĩ đương thời ít chú ý đến giá trị văn học của các vở cải lương. Bấy
giờ có một số vở cải lương được nổi tiếng như: Phụng Nghi đình, xử án Bàng Q Phi, Giọt máu
<b>2.5.3. Thơ. </b>
Vào những năm thuộc thập niên thứ 3 của thế kỷ XX, trên thi đàn công khai, thơ ca như một
ngọn gió thu hiu hắt tràn tới gieo vào lịng cơng chúng thành thị một nỗi buồn thê lương, dai
dẳng. So với tiểu thuyết, thơ đối với dân tộc ta có truyền thống lâu đời. Nhưng ở 30 năm đầu thế
kỷ XX, xã hội có nhiều biến chuyển nên thơ cũng biến chuyển theo.
Nói đến thơ ca của bộ phận văn học hợp pháp phải kể đến các nhà thơ: Ðông Hồ, Tương Phố,
Tản Ðà, Trần Tuấn Khải.
Nội dung chủ yếu của thơ ca hợp pháp là u nước nhưng đó chỉ là tình u nước mơ hồ, xa xơi,
bóng gió. Tình u nước đó khơng đủ thúc giục người đọc tiến lên hành động, nó chỉ có khả
năng nhắc nhở con người khơng được làm ngơ với Tổ quốc.
Tóm lại, những tìm tịi trong việc đổi mới về nghệ thuật và nội dung của thơ ca hợp pháp, mặc
dù chưa mang tính tồn diện, đồng bộ, mỗi người có một hướng cách tân riêng, khơng mang lại
sự đổi mới có tính chất ngun tắc thơ Việt Nam. Nhưng những việc làm đó và việc thơ trữ tình
trên văn đàn công khai tập trung vào sầu cảm, bi thương vào thế giới bên trong của con người đã
tích cực chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới lãng mạn ở giai đoạn 1930-1945.
<b>V. KẾT LUẬN CHUNG </b>
Ở giai đoạn 1900-1930, văn học chưa làm nên những kiệt tác nhưng khơng vì thế chúng ta xem
nó khơng có vai trị quan trọng trong lịch sử phát triển. Phải nhìn nhận đóng góp của nó đối với
sự phát triển của nền văn học nước nhà. Có nó, dịng chảy liên tục từ thế kỷ thứ X đến nay không
tắt mạch hay chia dòng.
Văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX có sự hiện diện của cả hai nền văn học truyền thống và hiện
đại, có sự pha tạp cả hai yếu tố cũ và mới, tạo nên những giá trị trung gian. Văn học giai đoạn
<b>Khát quát văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX </b>
<b>MỤC ĐÍCH CHUYÊN ĐỀ </b>
Chuyên đề này được biên soạn nhằm giúp các em học sinh có cái nhìn khái quát về diện mạo văn
học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX.
Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội ảnh hưởng như thế nào đến văn học? Trong một bối cảnh như
vậy, nền văn học đã diễn tiến ra sao? Đâu là những đặc điểm chung bao trùm mọi sáng tác phơi
thai trong thời kì ấy? Các em sẽ có nền tảng thi pháp thời kì văn học để soi chiếu, đối sánh trong
từng tác phẩm cụ thể.
<b>II. KIẾN THỨC CƠ BẢN </b>
<b>1. Khái quát văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975 </b>
<b>a. Vài nét về hồn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa </b>
+ Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ xuyên suốt (Bản đề cương văn hóa năm 1943) >
yếu tố trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa văn học nước ta dưới ách thực dân,
tạo nên một nền văn nghệ thống nhất sau 1945.
+ Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ trường kí suốt 30 năm đã tác động
sâu sắc, toàn diện tới đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, trong đó có văn nghệ, tạo nên
những đặc điểm riêng biệt của một nền văn học hình thành và phát triển trong hoàn cảnh chiến
tranh gian khổ, ác liệt.
+ Nền kinh tế nghèo nàn và chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa bị hạn chế (chủ yếu tiếp
xúc và chịu ảnh hưởng văn hóa các nước xã hội chủ nghĩa, cụ thể là Liên Xô và Trung Quốc…).
Trong hoàn cảnh như vậy, văn học giai đoạn 1945- 1975 vẫn phát triển và đạt được nhiều thành
tựu, đóng góp cho lịch sử văn học những giá trị riêng.
<b>b. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu </b>
<b>Chia làm 3 chặng </b>
<b>+ 1945- 1954: </b>
- Từ cuối 1946: tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp. Văn học gắn bó sâu sắc với
đời sống cách mạng và kháng chiến; hướng tới khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của
quần chúng công nông binh; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của
kháng chiến.
<b>- Thể loại: </b>
<b>· Truyện và kí: mở đầu cho văn xuôi kháng chiến (Một lần tới thủ đô, Trận phố Ràng của Trần </b>
Đăng, Truyện ngắn Đơi mắt và nhật kí Ở rừng của Nam Cao, truyện ngắn Làng của Kim Lân…),
hình thành những tác phẩm khá dày dặn (Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Đất nứớc đứng lên của
Ngun Ngọc, Truyện Tây Bắc của Tơ Hồi…)
<b>· Thơ: đạt được nhiều thành tựu ( Cảnh khuya, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh, Bên kia sơng </b>
Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiên của Quang Dũng…)
<b>· Kịch: một số vở kịch gây sự chú ý (Bắc Sơn, Những người </b>ở lại của Nguyễn Huy Tưởng,…)
<b>+ 1955 - 1964: </b>
- Nội dung bao trùm: Hình ảnh người lao động, những đổi thay của con người trong bước đầu
xây dựng chủ nghĩa xã hội với cảm hứng lãng mạn, lạc quan…
<b>- Văn xuôi: mở rộng đề tài, bao quát nhiều vấn đề, nhiều phạm vi của hiện thực đời sống. </b>
· Đề tài kháng chiến chống Pháp (Sống mãi với thủ đô, Cao điểm cuối cùng, Trứớc giờ nổ
súng…)
· Đề tài hiện thực đời sống trước cách mạng tháng Tám (Vợ nhặt, Mười năm, Vỡ bờ…)
· Đề tài công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với sự đổi đời của con người (Sông Đà, Mùa
lạc, Cái sân gạch…)
<b>- Kịch nói: một số tác phẩm được dư luận chú ý. </b>
<b>+ 1965 - 1975: </b>
- Cao trào sáng tác viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ trong cả nước > chủ đề bao trùm: tinh
thần yêu nước, ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
<b>- Văn xi: </b>
· Những tác phẩm truyện, kí ra đời ngay trên tiền tuyến đầy máu lửa đã phản ánh nhanh nhạy và
kịp thời cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam anh dũng (Người mẹ cầm súng, Rừng xà nu,
Hịn đất…)
· Miền Bắc: truyện, kí cũng phát triển (kí chống Mĩ của Nguyễn Tuân, Dấu chân người lính, Bão
biển…)
<b>· Thơ: đạt nhiều thành tựu xuất sắc </b>
o Mở rộng và đào sâu chất liệu hiện thực.
o Tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận
o Ghi nhận một thế hệ nhà thơ trẻ chống Mĩ tài năng (Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Bằng
Việt…) và hàng loạt các tác phẩm gây tiếng vang (Tập thơ Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu,
Hoa ngày thường – Chim báo bão của Chế Lan Viên; Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa
Điềm…
<b>· Kịch: cũng có những thành tựu đáng ghi nhận. </b>
Văn học vùng địch tạm chiếm: vì nhiều lí do khơng đạt được nhiều thành tựu lớn nếu đánh giá cả
mặt tư tưởng và nghệ thuật.
<b>c. Những đặc điểm cơ bản </b>
<b>c.1. Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận </b>
<b>mệnh chung của đất nước > Đặc điểm bản chất của văn học từ năm 1945- 1975. </b>
+ Mơ hình nhà văn - chiến sĩ
+ Sự vận động, phát triển của văn học ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử của dân tộc> văn
học là tấm gương phản chiếu những vấn đề trọng đại của lịch sử dân tộc.
<b>c.2. Nền văn học hướng về đại chúng </b>
+ Đại chúng: đối tượng phản ánh, đối tượng phục vụ, nguồn bổ sung cho lực lượng sáng tác.
+ Nội dung: cuộc sống nhân dân lao động, con đường tất yếu đến với cách mạng, xây dựng và
khám phá vẻ đẹp hình tượng quần chúng…
+ Hình thức: ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng; hình ảnh lấy từ kho tàng văn học dân
gian; ngôn ngữ giản dị, trong sáng.
<b>c.3. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn > Đặc điểm </b>
<b>thể hiện khuynh hướng thẩm mĩ của văn học 1945- 1975. </b>
+ Khuynh hướng sử thi:
- Đề tài: những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và tính chất tồn dân tộc
- Nhân vật chính: những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất, ý chí tồn dân
tộc, tiêu biểu cho lí tưởng dân tộc hơn là khát vọng cá nhân. Văn học khám phá con người ở khía
cạnh trách nhiệm, bổn phận, lẽ sống lớn, tình cảm lớn.
+ Cảm hứng lãng mạn:
- Là cảm hứng khẳng định cái tơi dạt dào tình cảm hướng tới cách mạng.
- Biểu hiện: ca ngợi vẻ đẹp của con người mới, cuộc sống mới, chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
tin tưởng vào tương lai đất nước.
Ø Cảm hứng nâng đỡ con người vượt lên những chặng đường chiến tranh gian khổ, máu lửa, hi
sinh.
<b>Văn học Việt Nam thế kỷ XX </b>
<b>Mở đầu </b>
Thông thường lịch sử văn học Việt nam được phân chia phỏng theo sự phân kỳ của lịch sử, tức là
văn học trung đại, văn học cận đại, văn học hiện đại ( bao gồm cả văn học đương đại). Về phần
mình, chúng tơi cho rằng có thể khái quát nền văn học này vào hai giai đoạn lớn là văn học từ thế
kỷ XIX về trước và văn học thế kỷ XX. Tập sách này đưa ra một cái nhìn khái quát về giai đoạn
thứ hai mà xu thế vận động của nó cịn đang tiếp tục cho tới hơm nay.
Lý do chính để có sự phân chia như trên : chúng tơi muốn nhìn văn học như một hiện tượng văn
hố. Các sự kiện lịch sử thường không mấy khi tác động ngay tới văn học mà phải thơng qua văn
hóa ; mà sự vận động của văn hố thì thường chậm rải từ tốn khó xác định bằng những cái mốc
rõ rệt. Mượn một thuật ngữ của nhà nghiên cứu người Nga M. Bakhtin, chúng tơi muốn nói tới
những thời đại lớn trong đời sống tinh thần. Theo sự đọc được cịn rất ít ỏi của người viết thì
nhiều bộ văn học sử ở Pháp ở Nga cũng đang áp dụng cách nhìn văn hố học như thế này đẻ
khảo sát văn chương. Ngay ở Trung quốc hôm nay,xu hướng tách thế kỷ XX thành một đơn vị
độc lập cũng đang được nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi và tỏ ra là có triển vọng.
và cả hai tạo nên một cặp đối lập (cái đối lập rất cần thiết cho người ta trong khoa học khi muốn
làm cơng việc so sánh).
Sau khi phân tích hoàn cảnh xã hội,nhiều cuốn sách văn học sử thường đi vào khái quát các trào
lưu chính chi phối sự vận động của lịch sử văn học, nhất là nói kỹ về các tác giả quan trọng nổi
bật trong giai đoạn. Để có điều kiện nhìn văn học dưới góc độ văn hố, chúng tơi muốn cùng bạn
đọc tìm tới những đường dây mới : Mơi trường văn học, chủ thể văn học, sự tiếp nhận ảnh hưởng
nước ngồi và sự nối tiếp di sản ơng cha. Trước khi dừng lại ở các thể tài như thơ tiểu thuyết,
phê bình văn học, cịn có cả một chương nói về hệ thống thể loại cũng như sự phát triển của ngơn
ngữ văn học nói chung.
Trong phần căn bản, tập sách là sự trình bày ngắn gọn những kết quả chúng tôi thu hoạch được
khi khảo sát đối tượng. Để đạt được những kết quả này, chúng tôi phải xác lập những quan niệm
có tính chất chỉ đạo chi phối cách hiẻu về đối tượng. Phần này được đưa vào phụ lục tập sách.
Khi chúng tôi bắt tay viết tập sách nhỏ này, bộ phận văn học ở các vùng bị chiếm thời kỳ kháng
chiến chống Pháp cũng như văn học Sài Gịn thời kỳ trước 1975 chưa được chính thức sưu tầm
và nghiên cứu. Trong khi suy nghĩ về sự phát triển của văn học Việt nam nói chung, chúng tơi
vẫn coi đó là một thực tế cần được tính tới của lịch sử văn học. Tuy nhiên, trong tập sách này, bộ
phận văn học đó cịn chưa được tính tới đầy đủ như đáng lẽ nó phải có. Xin được xem đó là một
hạn chế ngồi ý muốn của người biên soạn.
<b>I. MỘT MƠI TRƯỜNG MỚI HÌNH THÀNH </b>
Suốt thời gian dài hàng mấy thế kỷ sự sáng tạo văn chương ở ta (nếu không phải là tất cả thì
cũng là một phần đáng kể) loay hoay trong một cái khuôn khá chặt là nhà trường và sự thi cử.
Người ta vẫn làm thơ viết văn, và phải nói là làm rất nhiều nữa. Nhưng thường chỉ xem đó là một
cách nói chí mình ( ngơn chí ), nhân hứng thì viết ra (mạn hứng) tóm lại là một cách để tu dưỡng
tính tình, đơi khi là tự tiêu khiển (theo nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu “văn nhân vẫn gần với
loại thánh hiền hơn loại nghệ sĩ”). Xét về hiệu quả, tác phẩm viết ra không để cho ai khác đọc
ngồi chính mình, bè bạn mình, và kẻ sẽ chấm bài thi của mình.
Kể ra, cũng có một số người mơ tới chuyện đưa tác phẩm (nhất là những tác phẩm tương đối dài
hơi) ra trước công chúng, nhưng mơ để mà mơ, giữa dự tính và khả năng thực hiện có một
khoảng chênh lệch khá hơn. Sự phổ biến văn chương lúc ấy gặp mn vàn khó khăn.
a. Văn tự (kể cả chữ Hán lẫn chữ Nôm) không thể phổ cập tới đám đông.
b. Không có những cơng cụ xã hội như báo chí, xuất bản để thường xuyên đăng tải.
c. Phương tiện thông tin giao tiếp quá đơn sơ, tốc độ chậm chạp, người ta sống với làng quê của
mình nhiều hơn sống với cả nước, mặc dù vẫn luôn luôn nghĩ đến đất nước. Trong hoàn cảnh ấy,
một tác phẩm văn chương sau khi ra đời thường chỉ được biết tới trong phạm vi vùng đất nhỏ
nào đó, và phải rất lâu thường khi vài chục năm ròng, rồi những Truyện Kiều, Hoa Tiên, Lục
Vân Tiên hoặc thơ Hồ Xuân Hương mới có dịp phổ biến trên một phạm vi tạm gọi là rộng rãi so
với các vùng tác giả sinh sống.
lên, mở rộng mãi ra. Xét trên toàn cục, văn chương lúc này thật đã thốt khỏi tình trạng “tự
phát”, “tự cung tự cấp” ngày xưa, để trở thành một ngành hoạt động xã hội. Rồi người ta lại
nhanh chóng nhận ra rằng văn chương có sức tác động đáng kể đến tính tình, cách sống, cách
nghĩ của bạn đọc đương thời. Trong tay những người khác nhau, văn chương có thể được lèo lái
theo những phương hướng khác nhau. Nhóm Đơng Dương tạp chí, nhóm Nam Phong, Văn Đồn
Tới sau 1945, thì văn chương lại càng có dịp thật sự trở thành một lực lượng được tổ chức.
Trong điều kiện của cách mạng và kháng chiến, khi sức người sức của được tận dụng triệt để, thì
cũng là lúc giới cầm bút được đoàn ngũ hoá chặt chẽ, sự sáng tạo được chỉ đạo sít sao để tạo
thành sức mạnh đóng góp cho sự nghiệp chung.
Cịn một khía cạnh nữa trong nếp sống văn nghệ từ đầu thế kỷ cũng đã hình thành và càng về sau
càng được được củng cố, ấy là việc tạo ra một mặt bằng thống nhất trong cả nước. Nhờ có đường
sắt, nhờ có bưu điện, nhờ có trăm ngàn phương tiện thông tin ngày một hiện đại, sáng tác của
những người cầm bút khơng cịn ở trong tình trạng manh mún từng vùng trước đây mà sớm gia
nhập vào đời sống văn học nói chung. Trước 1945, Trúc Hà từ Nam bộ đã viết nhiều bài cho
Nam Phong, Thanh Tịnh là cộng tác viên tích cực của Ngày nay, thơ Quách Tấn từ Bình Định,
Nha Trang gửi ra Hà Nội xuất bản… Hồi kháng chiến chống Pháp, sách báo len lỏi đi về giữa
các vùng tự do ở Việt Bắc, Khu Ba, Khu Bốn, Khu Năm. Hồi chống Mỹ, Nguyễn Tuân và Anh
Đức, người ở Hà Nội người ở trong Nam, mấy lần đối thoại với nhau qua làn sóng phát thanh; và
đến nay thỉnh thoảng vẫn thấy báo Văn Nghệ ở Hà Nội đăng tải những bài do người Việt ở nước
ngoài gửi về. Văn chương đã tận dụng được mọi lợi thế của thời đại thơng tin – nói một cách văn
hoa, văn chương có cánh, đấy là cái đặc quyền mà chỉ sự sáng tạo ở thế kỷ này mới có.
Hai loại mơ hình đối lập
Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, mặc dù trong thời trung đại trên đất Việt Nam đã có những
trung tâm buôn bán sinh hoạt theo kiểu đô thị, nhưng xét kỹ thì đó chưa thể gọi là đơ thị điển
hình. Cịn như bước sang thế kỷ XX, những Sài gòn, Hà Nội Hải Phịng đã phát triển tới mức trở
thành những đơ thị gần giống như người ta vẫn thấy ở nhiều nước khác thời hiện đại. Chính sự
phát triển đơ thị như thế đã ảnh hưởng tới bản chất cuả văn học trong hai thời kỳ khác nhau. Xét
văn chương như một quá trình sản xuất thì về căn bản, văn học VN trung đại là một nền sản xuất
tự cấp tự túc. Trên cả nước thị trường văn học chưa hình thành. Hoặc có thể nói là đã hình thành
Một mặt phải nhận là những nhân tài lớn của đất nước như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Gia Thiều, Tú Xương … đều có ở qua đơ thị.
Mặt khác nhìn chung thì lực lượng sáng tác ở đây mỏng mảnh, những tư tưởng văn học xuất phát
ở đây thường bị coi thường
Một sức hút mãnh liệt