Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

khoi 11

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (150.04 KB, 8 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>SỞ GD & ĐT LÂM ĐỒNG</b>


TRƯỜNG THPT ĐẠ TÔNG
TỔ: NGỮ VĂN


<b>ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 11</b>


<b>Học kì I - Năm học 2010-2011</b>



<b>I. LÍ THUYẾT:</b>



<b>Câu 1:</b> Ngữ cảnh là gì? Các nhân tố của ngữ cảnh? Vai trò của ngữ cảnh?
<b>Câu 2:</b> Thế nào là ngơn ngữ báo chí? Đặc trưng của ngơn ngữ báo chí?
<b>Câu 3:</b> Mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận so sánh?


<b>Câu 4:</b> Lập luận phân tích là gì? Tác dụng của lập luận phân tích trong văn nghị luận?


<b>Câu 5:</b> Phỏng vấn là gì? Những yêu cầu đối với người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn?


<b>II. TẬP LÀM VĂN:</b>


<b>*Nghị luận xã hội:</b>



<b>Câu 1:</b> Qua bài “ Chiếu cầu hiền” em hãy phát biểu vai trò của người hiền tài đối với một đất nước
( viết thành một bài văn ngắn không quá 150 từ)


<b>Câu 2:</b> Từ đoạn trích “ vĩnh biệt cửu trùng đài”, theo em ta nên xử lí mối quan hệ giữa khát vọng
nghệ thuật và lợi ích của nhân dân như thế nào? ( viết thành một bài văn ngắn không quá 150 từ)


<b>Câu 3:</b> Thanh niên với nhiệm vụ giảm thiểu ô nhiễm môi trường( viết thành một bài văn ngắn
không quá 150 từ)


<b>*Nghị luận văn học:</b>




<b>Câu 1:</b> Phân tích tâm trạng của Hồ Xuân Hương qua bài: Tự tình(Bài II).


<b>Câu 2:</b> Nêu cảm nhận về cảnh thu và tình thu trong bài: Câu cá mùa thu(Thu điếu) của Nguyễn
Khuyến.


<b>Câu 3:</b> Vì sao chị em Liên ( trong truyện ngắn Hai đứa trẻ ) của Thạch Lam cố thức để đợi chuyến
tàu đêm đi qua? Qua đó tác giả muốn nói điều gì?


<b>Câu 4:</b> Hãy phân tích vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “ Chữ người tử tù” của
Nguyễn Tuân?


<b>Câu 5:</b> Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích: “Hạnh phúc của một tang gia”(Trích Số đỏ)
của Vũ Trọng Phụng?


<b>Câu 6:</b> Bi kịch của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm” Chí Phèo” của Nam Cao?


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

<b>---Hết---ĐÁP ÁN ĐỀ CƯƠNG ƠN TẬP MƠN NGỮ VĂN 11</b>


<b>Học kì I - Năm học 2010 -2011</b>



<b>I. LÍ THUYẾT:</b>


<b> Câu 1:</b>


- Ngữ cảnh là bối cảnh lời nói, ở đó người nói (người viết) tạo ra lời nói thích ứng, cịn người
nghe (người đọc) căn cứ vào đó để hiểu đúng ý.


- Các nhân tố của ngữ cảnh:
+ Nhân vật giao tiếp.


+ Bối cảnh ngồi ngơn ngữ.


+ Văn cảnh.


- Vai trị của ngữ cảnh: tạo lập câu và lĩnh hội câu.


<b> Câu 2:</b>


- Ngơn ngữ báo chí là ngơn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản
ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.


- Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí: có 3 đặc trưng cơ bản:
+ Tính thông tin thời sự.


+ Tính ngắn gọn.


+ Tính sinh động hấp dẫn.


<b>Câu 3: </b>


<b> </b>Mục đích và yêu cầu của thao tác lập luận so sánh:


<b>- Mục đích:</b> Làm sáng tổ đối tượng đang nghiên cứu trong mối tương quan với đối tượng khác.
So sánh đúng làm cho văn nghị luận sáng rõ, cụ thể, sinh động và có sức thuyết phục.


<b> - Yêu cầu: </b>Khi so sánh, phải đặt các đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một
tiêu chí mới thấy được sự giống và khác nhau giữa chúng, đồng thời phải nêu rõ ý kiến, quan điểm
của người nói(viết).


<b>Câu 4: </b>Lập luận phân tích là thao tác chia nhỏ các đối tượng thành các yếu tố bộ phận để xem xét
rồi tổng hợp nhằm phát hiện ra bản chất của đối tượng.



- Tác dụng của lập luận trong văn nghị luận: Nhằm làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong
tương quan với đối tượng khác làm cho bài nghị luận rõ ràng, cụ thể, sinh động và có sức thuyết
phục.


<b>Câu 5:</b>


Phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp có mục đích nhằm thu thập thơng tin hoặc cung cấp thông tin về
một chủ đề quan tâm.


* Yêu cầu đối với người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn


- <b>Người phỏng vấn:</b> từ khi chuẩn bị đến lúc tiến hành và trình bày kết quả phỏng vấn, cần tìm
những tri thức hữu hiệu để khai thác được nhiều nhất các thông tin chân thực, đặc sắc về chủ
đề được hỏi.


- <b>Người trả lời phỏng vấn</b>: cần cung cấp đầy đủ những thông tin trung thực, phù hợp với chủ
đề phỏng vấn. Câu trả lời phải rõ ràng và cố gắng được trình bày sao cho hấp dẫn.


<b>II. TẬP LÀM VĂN:</b>


<b>*Nghị luận xã hội:</b>


<b>Câu 1. </b>


<b>a. Mở bài: </b>Giới thiệu vấn đề


<b>b. Thân bài: </b>cần có các ý cơ bản sau


- Người hiền tài có vai trị vơ cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

- Liên hệ, mở rộng: muốn cống hiến cho đất nước, mỗi học sinh cần nỗ lực học tập, rèn luyện
phẩm chất đạo đức. Có nhu thế mới thành người hiền tài, mới giúp ích được cho đất nước.



<b>c. Kết bài: </b>khẳng định lại vai trò của hiền tài.


<b>Câu 2: </b>


<b>a. Mở bài: </b>Giới thiệu vấn đề


<b>b. Thân bài: </b>cần có các ý cơ bản sau


- Người nghệ sĩ trước hết là một cơng dân, là một cơng dân trong cộng đồng. Vì vậy bản thân
người nghệ sĩ cần có trách nhiệm với đất nước với xã hội.


- Nếu như những dự định, những khát khao nghệ thuật của nghệ sĩ khơng đi ngược lợi ích
cộng đồng thì người nghệ sĩ nên theo đuổi. Nhưng nếu dự định ước mong của người nghệ sĩ
đi ngược với quyền lợi của nhân dân thì phải biết tơn trọng lợi ích của nhân dân.


- Liên hệ mở rộng : bài học cảnh tỉnh mà tác giả mà Nguyễn Huy Tưởng muốn gửi gắm qua
nhân vật Vũ Như Tô là bài học sâu sắc. Nghệ thuật phải gắn liền với lợi ích của nhân dân thì
nghệ thuật mới có sức sống lâu bền. Nếu đất nước giàu mạnh hơm nay thì điểm tô cho đất
nước là không sai trái. Nhưng nếu nhân dân đói khổ mà lại lấy cơng sức của nhân dân điểm
tô cho đất nước là tội lỗi.


<b>c. Kết bài:</b> khẳng định lại việc “ cần xử lí hài hịa mối quan hệ giữa lợi ích của nhân dân và quan
điểm nghệ thuật thuần túy”


<b>Câu 3: </b>


<b>a. Mở bài: </b>Giới thiệu vấn đề


<b>b. Thân bài: </b>cần có các ý cơ bản sau



- Ơ nhiễm mơi trường hiện nay đang là vấn đề nghiêm trọng đối với các nước trên thế giới
nhất là các nước đang phát triển


- Ơ nhiễm mơi trường gây nhiều tác hại cho cuộc sống con người: bệnh tật tăng lên, mùa
màng thất bát, thiên tai xảy ra liên miên. Từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của nền văn
minh nhân loại


- Ơ nhiễm mơi trường diễn ra ở mọi nơi ảnh hưởng đến mọi nguồn lực thiên nhiên như đất,
nước, khơng khí


- Giảm thiểu ơ nhiễm mơi trường là vấn đề bức thiết của mỗi công dân, mỗi đất nước và cả
nhân loại


- Để giảm ô nhiễm môi trường cần tuyên truyền tác hại của ô nhiễm môi trường với cộng đồng
dân cư, không chặt phá rừng bừa bãi, hạn chế sử dụng chế phẩm có nguồn gốc nilông.


<b>c. Kết bài:</b> Khẳng định tác hại của ô nhiễm môi trường và nêu cao yêu cầu phải giảm thiểu nó.


<b>*Nghị luận văn học: Dàn ý sơ lược</b>



<b> Câu 1: Tâm trạng của Hồ Xuân Hương qua bài: Tự tình(Bài II).</b>
<b> a. Hai câu đề.</b>


<b> </b>“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non”.


 Hình ảnh một con người cơ đơn ngồi một mình trong đêm khuya, cộng vào đó là tiếng <i>trống</i>


<i>canh</i> báo hiệu sự trơi chảy của thời gian.



 Cách dùng từ: Cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đời của chính mình.


 Câu thơ ngắt làm 3 như một sự chì chiết, bẽ bàng, buồn bực. Cái <i>hồng nhan</i> ấy không được quân


tử yêu thương mà lại vô duyên, vô nghĩa, trơ lì ra với nước non.


Hai câu thơ tạc vào khơng gian, thời gian hình tượng một người đàn bà trầm uất, đang đối diện


với chính mình.
<b> b. Hai câu thực.</b>


“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa trịn”.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

- Hình ảnh người phụ nữ uống rượu một mình giữa đêm trăng, đem chính cái hồng nhan của mình
ra làm thức nhấm, để rồi sững sờ phát hiện ra rằng trong cuộc đời mình khơng có cái gì là viên mãn
cả, đều dang dở, muộn màng.


- Hai câu đối thanh nghịch ý: Người say lại tỉnh >< trăng khuyết vẫn khuyết  tức, bởi con người


muốn thay đổi mà hồn cảnh cứ ỳ ra  vơ cùng cô đơn, buồn và tuyệt vọng.


<b>c. Hai câu luận.</b>


“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”.


- Động từ mạnh: Xiên ngang, đâm toạc-> Tả cảnh thiên nhiên kì lạ phi thường, đầy sức sống: Muốn
phá phách, tung hồnh - cá tính Hồ Xn Hương: Mạnh mẽ, quyết liệt, tìm mọi cách vượt lên số


phận.


- Phép đảo ngữ và nghệ thuật đối: Sự phẫn uất của thân phận rêu đá, cũng là sự phẫn uất, phản
kháng của tâm trạng nhân vật trữ tình.


<b>d. Hai câu kết.</b>


“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con”.
- Hai câu kết khép lại lời tự tình.


Nỗi đau về thân phận lẽ mọn, ngán ngẩm về tuổi xuân qua đi không trở lại, nhưng mùa xuân của


đất trời vẫn cứ tuần hoàn.


 Nỗi đau của con người lâm vào cảnh phải chia sẻ cái không thể chia sẻ:


Mảnh tình - san sẻ - tí - con con.


 Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đận của nhà thơ. Càng


gắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch.


=> Với cách sử dụng từ ngữ sáng tạo giàu sức biểu cảm, kết hợp với các biện pháp nghệ thuật: đảo
từ, đối, động từ mạnh, xây dựng hình ảnh độc đáo…Bài thơ thể hiện tâm trạng, thái độ: vùa đau
buồn, vừa phẫn uất cho duyên phận hẫm hiu, bẽ bàng nhưng vẫn không thôi khát vọng hạnh phúc


<b> Câu 2 : cảnh thu và tình thu trong bài: Câu cá mùa thu(Thu điếu) của Nguyễn Khuyến. </b>
<b> a. Cảnh thu:</b>



- Điểm nhìn từ trên thuyền câu -> nhìn ra mặt ao nhìn lên bầu trời -> nhìn tới ngõ vắng -> trở về với
ao thu( khác với Thu vịnh )


-> Cảnh thu được đón nhận từ gần -> cao xa -> gần. Cảnh sắc thu theo nhiều hướng thật sinh động.
- Mang nét riêng của cảnh sắc mùa thu của làng quê Bắc bộ: Khơng khí dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh
vật:


+ Màu sắc: <i>Trong veo, sóng biếc, xanh ngắt</i>


+ Đường nét, chuyển động: <i>Hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, mây lơ lửng.</i>


-> Hình ảnh thơ bình dị, thân thuộc, khơng chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn thể hiện cái
hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa.


"Cái thú vị của bài <i>Thu điếu</i> ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời,
xanh bèo" ( Xuân Diệu ).


- Không gian thu tĩnh lặng, phảng phất buồn:
+ Vắng teo


+ Trong veo Các hình ảnh được miêu tả
+ Khẽ đưa vèo trong trạng thái ngưng
+ Hơi gợn tí. chuyển động, hoặc chuyển
+ Mây lơ lửng động nhẹ, khẽ.


- Đặc biệt câu thơ cuối tạo được một tiếng động duy nhất: <i>Cá đâu đớp động dưới chân bèo</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

<b> b. Tình thu.</b>


- Nói chuyện câu cá nhưng thực ra là để đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lịng.


+ Một tâm thế nhàn: Tựa gối ôm cần


+ Một sự chờ đợi: Lâu chẳng được.


+ Một cái chợt tỉnh mơ hồ: Cá đâu đớp động..


- Không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về một nỗi cô
đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lịng thi nhân.


-> Nguyễn khuyến có một tâm hồn hồn gắn bó với thiên nhiên đất nước, một tấm lịng u nước
thầm kín mà sâu sắc.


=> Bút pháp thủy mặc Đường thi và vẽ đẹp <i>thi trung hữu họa</i> của bức tranh phong cảnh; vận dụng
tài tình nghệ thuật đối. Cảnh thu đẹp nhưng buồn và tĩnh lặng. Qua đó bộc lộ tình u thiên nhiên,
u quê hương đất nước và tâm sự thời thế của tác giả.


<b> Câu 3 : Chị em Liên thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua.. </b>


<b> </b>Liên và An là hai đứa trẻ từng sống ở Hà Nội rồi gia đình thất cơ lỡ vận, phải chuyển về quê - một
phố huyện hẻo lánh. Hai chị em được mẹ cho trông coi một cửa hàng tạp hoá. Ngày nào cũng giống
hệt ngày nào, chúng chờ bán cho người ta những món hàng nhỏ bé, chiều chiều trong bóng tối chập
choạng của hồng hơn với tiếng ếch nhái ngoài đồng và tiếng muỗi vo ve trong nhà, hai chị em cặm
cụi tính số tiền bé nhỏ bán được trong ngày. Thế giới xung quanh hai chị em Liên cũng thật tội
nghiệp. Đó là chị Tí ngày thì mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nứơc dưới gốc cây bàng với ngọn đèn
hoa kì leo lét. Đó là bà cụ Thi hơi điên, già nua với tiếng cười khanh khách. Đó là bác phở Siêu với
gánh hàng phở là món quà xa xỉ của phố huyện nghèo. Đó là vợ chồng bác Xẩm góp chuyện bằng
mấy tiếng đàn bầu. Đó là mấy đứa trẻ con nhà nghèo đi nhặt thanh tre hay thanh nứa hoặc bất cứ
thứ gì có thể dùng được. Số phận của con người đều có một cái gì đó tàn lụi, khơng tương lai, leo
lét một cách tội nghiệp trong nghèo đói, buồn chán và tăm tối nơi phố huyện.



Sống trong bóng tối, trong yên lặng, trong buồn chán, may mắn thay cuối cùng hai chị em Liên
cũng tìm đựơc chút niềm vui để mong đợi, để hi vọng. Hai chị em Liên cố thức để được nhìn
chuyến tàu đi qua vơí các em đó là cái mốc điểm bước đi của thời gian đang cho các em xích lại gần
với chuyến tàu. Với các em chuyến tàu ấy là tất cả miền vui và hi vọng. Đó là Hà Nội trong q
khứ êm đềm xa xơi. Đó là niềm vui duy nhất để giải toả tâm trí sau một ngày mệt mỏi, đơn điệu và
buồn chán. Đó là âm thanh, ánh sáng, vẻ lấp lánh của cuộc đời khác hồn tồn khơng giống với
cuộc đời nghèo nàn và tẻ nhạt nơi đây. Có lẽ qua truyện ngắn này, Thạch Lam muốn nói với chúng
ta rằng : Có những cuộc đời mới đáng thương làm sao, có những ứơc mơ mới nhỏ bé, tội nghiệp
nhưng chân thành tha thiết và cảm động làm sao. Nhưng dẫu sao, sự chờ đợi của các em cũng cho
chúng ta hiểu ra rằng : Trong cuộc đời, phải biết vượt lên cái tẻ nhạt, cái vô vị hàng ngày để mà hi
vọng, dẫu hi vọng có nhỏ bé thì mới có thể cịn gọi là sống là tồn tại. Hãy biết hy vọng, dừng chìm
đắm trong bóng tối. Một chút hi vọng nhỏ bé thôi cũng sẽ là một liều thuốc tiên giúp chúng ta đứng
dậy, trụ vững trong cuộc đời.


=> Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dịng tâm trạng chảy trơi, những cảm xúc, cảm giác mong
manh mơ hồ trong tâm hồn nhân vật. Bút pháp tương phản, đối lập. Miêu tả sinh động những biến
đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người. Ngơn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng.
Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng;


Truyện ngắn hai đứa trẻ thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp
người nghèo khổ, chìm khuất trong mỏi mịn, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước Cách mạng
và sự trân trong với mong ước bé nhỏ, bình dị mà tha thiết của họ


<b>Câu 4 : Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao : </b>


- Huấn Cao là một nghệ sĩ tài hoa:
Có tài năng viết thi pháp.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

Vẻ đẹp của Huấn Cao lan truyền khắp thiên hạ và trở thành niềm mong ước của nhiều người.
- Huấn Cao là một con người có khí phách ngang tàng, một bậc anh hùng nghĩa liệt :



Có những hành động chọc trời, khuấy nước chống lại triều đình nhà Nguyễn.
Dỗ gơng một cách ngang ngược.


Đuổi viên quản ngục ra khỏi phịng của mình.


Xưa nay chưa bao giờ hạ mình trước uy quyền, tiền bạc.
Coi thường quyền lực, coi thường cái chết.


- Vẻ đẹp thiên lương :
Có tâm hồn thanh cao.


Khơng bao giờ vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết chữ bao giờ.


Khi biết tấm lòng thành của viên quản ngục thì ơng cho chữ: “thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm
lòng trong thiên hạ”.


Cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày ra trong căn buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng
nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang tô
đậm nét chữ trên tấm lụa trắng tinh.


Huấn Cao là một bức tượng tạc sừng sững giữa chốn ngục tù mạnh mẽ, uy nghi; Huấn Cao đã đã
thay đổi cả tấm đời nhỏ bé của viên quản ngục- một con người yêu cái đẹp đến khổ hạnh, tận tụy
với cái đẹp như tôi tớ. Cái đẹp của thiên lương, tài hoa đã gạt phăng đi mọi tì vết của chốn ngục tù.
Huấn Cao ngay trong đêm cuối cùng của đời mình đã được tái sinh. Sự tái sinh của Huấn Cao đã
được gửi vào viên quản ngục. Một người tận tụy khổ hạnh như viên quản ngục thì ắt cái đẹp trong
Huấn Cao sẽ được nâng niu, chăm sóc.


Lời cuối cùng của Huấn Cao là lời khẳng định duy nhất chỉ có một bức tượng tạc về thiên lương
và tài hoa cũng là lời phủ định cả thời cuộc đương thời: “thầy quản nên tìm về quê nhà mà ở đã ,


thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ cho thiên
lương lành vững và cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi. Xã hội này khơng có chỗ cho
cái đẹp…”. Cái đời của Huấn Cao muốn gìn giữ thiên lương phải thành kẻ tử tù. Và viên quản ngục
muốn tôn thờ cái đẹp phải làm một người dân thường để không ai chạm đến.


=> Xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao con người hội tụ nhiều vẽ đẹp lí tưởng.


<b> Câu 5:</b> <b>Nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích “ Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng</b>
<b>Phụng.</b>


* Cái chết của cụ cố tổ làm nhiều người hạnh phúc:


- Cụ cố Hồng: nhắm nghiền mắt lại mơ màng đến lúc mặc bộ đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa khóc
mếu máo để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến kia kìa!”


- Ơng phán mọc sừng đột nhiên tăng giá thêm vài nghìn đồng, khơng đau khổ vì vợ ngoại tình cũng
khơng đau xót vì ơng già đã mất mà chỉ lo phi vụ làm ăn với Xn tóc đỏ.


- Ơng Văn Minh: Khơng biết xử trí với Xn tóc đỏ ra sao vì nhờ Xn tóc đỏ mà ông nội chết, bản
di chúc sẽ được thực hiện, của cải sẽ chia ra, hầu bao ông ta sẽ tăng thêm.


Tiệm may Âu hố và ơng Typn có thể lăng xê những mốt trang phục táo bạo nhất.


- Cơ Tuyết sung sướng vì được mặc bộ đồ ngây thơ cái áo dài voan mỏng trong có coóc-sê.
- Cậu Tú Tân mừng điên người vì đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà chưa được dùng đến.


- Xuân tóc đỏ vênh vang hơn vì có Xn tóc đỏ mà ông cụ lăn ra chết, lập công trạng cho gia đình
cụ cố Hồng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

Cái chết của cha, của ông nội đã tạo nên một sự tưng dửng hiếm thấy: “ Người ta tưng bừng vui vẻ


đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn xe đám ma”, Nếu khơng có các từ cáo phó, kèn, đám ma thì có
lẽ ta hiểu nhầm sang đám cưới bởi vì đây là một đám ma xưa nay hiếm .


Bắt đầu là hai viên cảnh sát là Min Đơ và Min Toa đến đám tang với khn mặt mừng rỡ, hí hửng
vì được th người giữ trật tự. Cịn các vị tai to mặt lớn đến đám tang khơng vì nghĩa tử là nghĩa tận
mà đến đây để ngắm không mất tiền làn da trắng thập thò trong làn áo mỏng của cơ Tuyết.


Hàng phố thì vui q vì chẳng mấy khi họ được xem một đấm ma to như thế theo cà lối Ta – Tàu –
Tây, có kiệu, bát cống, lợn quay đi lọng cho đến vòng hoa, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm
người đi đưa, lại có cả cậu Tú Tân chỉ huy, những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ .
Còn trai thanh gái lịch trong đám ma này thì chỉ bình phẩm, chê bai nhau, ghen tng nha, hẹn hò
nhau bằng vẻ mặt buồn rầu của những người đi đưa ma .


Cảnh cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một làm từng động tác, giữ tư thế đau buồn để cậu ta chụp ảnh.
Ông Phán mọc sừng cứ oặt người đi và khóc trong tay Xuân bên cạnh bố vợ cũng ho khạc mếu
máo và ngất đi một cách rất đúng của một người con hiếu thảo. Ơng Phán đã lén lút thanh tốn món
tiền th Xn tóc đỏ giết ơng cụ già một cái giấy bạc năm đồng gấp tư .


<b>=> </b>

Đoạn trích: “Hạnh phúc của một tang gia” là một bi hài kịch, phơi bày bản chất nhố nhăng, đồi
bại của một gia đình đồng thời phản ánh bộ mặt thật của xã hội thuộng lưu thành thi trước Cách
mạng tháng tám


<b>Câu 6 : Bi kịch của nhân vật Chí Phèo :</b>


Chí Phèo khơng có cha mẹ, khơng họ hàng thân thích, khơng một tấc đất cắm dùi. Mới sinh ra,
Chí đã bị vứt bên cạnh cái lị gạch cũ bỏ không qua tay anh bỏ thả ống lươn, người đàn bà gố mù,
bác phó cối khơng có con. Chí bơ vơ từ nhà này sang nhà khác trong thân phận một đứa con hoang
thật là thê thảm. Năm hai mươi tuổi, Chí là một thanh niên khoẻ mạnh làm canh điền cho nhà Bá
Kiến, chỉ vì một cơn ghen tng Bá Kiến đẩy Chí vào tù, chấm dứt qng đời sống lương thiện của
Chí, dập tắt ln ước mơ cháy bòng của một chàng thanh niên về một ngôi nhà nho nhỏ, chồng cày


thuê cuốc mướn, vợ dệt vải, nếu có tiền thì bỏ một con lợn làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm sào
ruộng làm .


Từ một người lương thiện, có lịng tự trọng, biết khinh những cái đáng khinh, có những ước mơ
thật bình dị, chỉ sau 7,8 năm ở tù Chí trở thành một tên lưu manh cơn đồ . Nhà tù đã cướp đi bộ mặt
lương thiện của hắn, biến Chí trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại , cái đầu thì trọc lốc, cái răng
cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết .


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

mình. Sau chuỗi ngày u đương với Chí, khi bị bà cô ngăn cản, thị Nở trút vào tất cả vào mặt Chí
tất cả những lời thậm tệ của bà cơ. Chí đã ngẩn người, ngẩn mặt trức những lời của Thị Nở, trong
tâm trí Chí, hình ảnh Thị Nở với bát cháo hành nóng hổi vẫn ám ảnh, Chí khơng thể qn và lại
càng khơng muốn mất Thị Nở, Chí đã cố gắng đuổi theo , nắm lấy tay Thị Nở nhưng mọi cố gắng
của Chí dường như bất lực. Hi vọng vào tình yêu thương của Thị Nở, hi vọng vào tương lai được
sống trong xã hội lương thiện khơng cịn. Chí lâm vào tuyệt vọng. Chí đã quằn quại trong đau đớn,
tuyệt vọng, Chí lại bắt đầu uống rượu, nhưng càng uống lại càng tỉnh, càng tỉnh lại càng đau đớn.
Hơi rượu khơng cịn sặc sụa. Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức.
Trong giây phút tuyệt vọng, trong những đớn đau tủi nhục của số phận, Chí biết rằng con đường trở
về với cuộc đời, về với xã hội lương thiện khơng cịn , lúc say nhất cũng là lúc tỉnh nhất, Chí đã đến
nhà Bá Kiến, trong tiếng kêu tuyệt vọng ai oán: Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để làm mất
những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa biết khơng! Chỉ có một
cách … biết khơng! Chỉ cịn một cách là… cái này! Biết khơng! Chí đã rút dao đâm Bá Kiến và tự
kết liễu đời mình.


<b>=> Chí Phèo - bi kịch của người sinh ra là người nhưng khơng được làm người. </b>Chí Phèo tố
cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa, phong kiến tàn bạo, cướp đi cả nhân hình và nhân tính của người
nơng dân lương thiện, đồng thời nhà văn phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người
ngay cả khi tưởng như họ đã biến thành quỷ dữ.


</div>

<!--links-->

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×