Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (264.75 KB, 40 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>PHẦN MỞ ĐẦU</b>
<b>I. Tính cấp thiết của đề tài:</b>
Môn Giáo dục công dân (GDCD) là môn học có vị trí rất quan trọng
trong trường trung học phổ thơng(THPT), mơn GDCD hình thành ở học sinh
phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của người cơng dân tương lai có
thế giới quan khoa học nhân sinh quan tiên tiến, của đạo đức trong sáng, ra sức
thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng đắn của Đảng và Nhà nước ,
sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có ý thức trách nhiệm cao đối với
đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay mơn GDCD có những nhiệm vụ cụ thể la ø:
Trang bị cho học sinh THPT một cách tương đối có hệ thống những tri thức
cơ bản phổ thông thiết thực, của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
của lí luận vềchủ nghĩa tư bản và chủ nghiã xã hội , về nhà nước pháp quyền,
vềđạo đức và lối sống có đạo đức, những quan điểm khoa học và cách mạng,
về thời đại,về con người, về cộng đồng, về quá trình xã hội đang diễn ra trên
thế giới và trên đất nước ta, về cuộc đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội giữa cái tiến bộ và cái phản tiến bộ. Góp phần bồi dưỡng cho học
sinh phương pháp tư duy khoa học biết phân tích, đánh giá các hiện tượng xã
hội theo quan điểm khoa học và tiến bộ. Hình thành những kĩ năng vận
dụng tri thức đã học vào cuộc sống học tập , lao động, sinh hoạt, giúp học sinh
định hướng đúng đắn về chính trị tư tưởng đạo đức trong các hoạt động xã
hội , trong cïc sống hiện tại và tương lai.
có thể nhận thức được những quy luật ấy. Biết vận dụng những kiến thức đó
vào thực tiễn cuộc sống. Nắm vững được một số phạm trù cơ bản của đạo đức
học, các yêu cầu cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời kỳ CNH –
HĐH.
Để thực hiện được mục tiêu nhiệm vụ của mơn GDCD ở trương THPT nói
chung và ở lớp 10 nói riêng địi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của
những người làm công tác giáo dục mà đặc biệt là những giáo viên trực tiếp
giảng dạy bộ môn này. Họ phải biết sử dụng các phương pháp dạy học phù
hợp trong quá trình giảng dạy để giảm đi sự nặng nề , khô khan nhàm chán
gây hứng thú cho người học khuyến khích họ tích cực chủ động, tự giác
chiếm lĩnh tri thức từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả học
Sự phát triển của xã hội cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI địi hỏi con người
có một số phẩm chất và năng lực nổi lên hàng đầu như năng lực làm việc nhóm,
năng lực hoạt động thực tiễn và giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra, năng lực
hợp tác, năng lực thích ứng... Những yêu cầu trên đặt ra cho giáo dục phải đổi mới
toàn điện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu giáo dục của xã hội và cá nhân, từ học chế
đào tạo, cách thiết kế chương trình, tìm tịi những phương thức, cách thức giáo dục
thích hợp hơn.
hoạt động hợp tác giữa thầy và trị, hoạt động hợp tác giữa trị và
trị cĩ một tác dụng lớn chống thói quen học tập thụ động nhằm tạo ra
những con người năng động, sáng tạo có năng lực giải quyết vấn đề. Cần phải
khắc phục ngay lối học thụ động đã được hình thành trong nhà trường nhiều năm
qua bằng cách khuyến khích học sinh tham gia một cách chủ động và tích cực
trong việc học của mình thơng qua việc cho học sinh thảo luận nhĩm ngay trong
lớp dưới sự hướng dẫn của thầy giáo.
Như vậy, trong việc giảng dạy bộ môn Giáo dục cơng dân có rất nhiều
phương pháp được áp dụng, một trong những phương pháp đang được vận dụng
khá phổ biến là phương pháp thảo luận nhóm. Đây là phương pháp mà học sinh
được tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập. Học sinh có thể chia sẻ
kinh nghiệm, ý kiến hay để giải quyết một vấn đề, một tình huống đạo đức, pháp
luật nào đó,... Vấn đề đặt ra là : Để thực hiện được phương pháp hoạt động nhóm,
<b>II. Tình hình nghiên cứu:</b>
<b> Hiện nay đổi mới phương pháp dạy học là một vần dề cần thiết và cấp bách.</b>
Xuất phát từ yêu cầu đó, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những phương pháp dạy
học hiện đại vào quá trình dạy các mơn học nói chung và mơn GDCD tiêu biểu có
thể nêu là các tác giả:
Tác giả đề cập đến những phương pháp dạy học cơ bản: phương pháp nêu vấn đề,
phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp trực quan…
Bên cạnh những đóng góp vơ cùng to lớn đó thì cơng trình cần phải được bổ sung
sâu sắc trong thực tiễn dạy học ở trường trung học phổ thông cụ thể.
- Lê Nguyên Long “Thử đi tìm phương pháp dạy học hiệu quả” NXB giáo dục
1999.
Tác giả đã trình bày những lý luận dạy học, phương pháp dạy học nhưng chưa đi
sâu nghiên cứu ưu điểm, nhược điểm của các phương pháp để rút ra giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
-Bài viết của PGS.TS Vũ Hồng Tiến <i>“ góp phần nâng cao hiệu quả một số </i>
<i>phương pháp dạy học tích cực mơn GDCD</i>”. Bài viết chỉ giới hạn ở các khái niệm,
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 10, 11
GDCD, NXB giáo dục. Tập trung nêu lên những vấn đề chung về đổi mới dạy học
ở trường THPT. Trong đó, có đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học
GDCD
- Lê Đức Quảng “ Phương pháp và tư liệu giảng dạy GDCD” NXB giáo dục và
Đinh Văn Đức “Đổi mới phương pháp dạy học GDCD”. Tác giả đã phân tích thực
trạng giảng dạy giáo dục công dân ở trường THPT, đề suất giải pháp định hướng
đổi mới phương pháp dạy học giáo duc công dân, lấy người học làm trung tâm.
Tuy nhiên, đề tài vẫn cịn mang tính lí luận chưa được vận dụng phổ biến trong
việc đổi mới phương pháp dạy học GDCD ở trường trung học PT cụ thể.
- Sách giáo viên GDCD 10,11,12 NXB giáo dục. Các tác giả đã đưa ra các
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh. Tuy vậy,
đây cũng chỉ là lí luận chung chưa cụ thể và rõ ràng.
dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nhưng giáo trình này vẫn chưa làm rõ
cách vận dụng các phương pháp dạy học vào từng mơn học cụ thể.
<b>III. Mục đích và nhiệm vụ.</b>
<b>1 Mục đích nghiên cứu:</b>
Vận dụng phương pháp thảo luận vào q trình dạy học mơn Giáo dục cơng
dân lớp 10 nhằm tăng cường tính độc lập, sáng tạo cho học sinh.
<b>2 Nhiệm vụ nghiên cứu:</b>
Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp thảo luận trong q trình
dạy học Giáo dục cơng dân lớp 10 tại trường THPT Tháp Mười Đồng Tháp hiện
nay. Xác định sử dụng phương pháp thảo luận trong bài giảng có hiệu quả hơn,
thiết kế giáo án và tổ chức thực nghiệm một số bài học Giáo dục cơng dân 10 có
sử dụng phương pháp thảo luận.
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
<b>1. Đối tượng nghiên cứu.</b>
Sử dụng PPTL trong quá trình dạy học bài 12, 13 môn Giáo dục công dân lớp 10
tại trường THPT Tháp Mười Đồng Tháp.
HS đang học khối lớp 10 tại trường THPT Tháp mười.
<b>2. phạm vi nghiên cứu</b>
Do giới hạn của khả năng nên đề tài chỉ nghiên cứư trong pham vi nhỏ đó là
<i>Vận dụng phương pháp thảo luận trong quá trình dạy học bài 12, 13 môn Giáo </i>
<i>dục công dân lớp 10 tại trường THPT Tháp Mười Đồng Tháp.</i>
Giáo viên vận dụng phương pháp thảo luận trong q trình dạy học mơn Giáo
dục cơng dân lớp 10 tại trường THPT Tháp Mười Đồng Tháp,
Học sinh lớp 10 tại trường THPT Tháp Mười Đồng Tháp.
<b> V. Phương pháp nghiên cứu.</b>
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra khảo sát.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Giúp cho học sinh có phương pháp học tập phù hợp với từng nội dung trình
bài cụ thể nâng cao tri thức và kết quả học tập.
- Giúp cho giáo viên, sinh viên có phương pháp dạy tốt hơn, thích hợp với nội
dung trình bày.
- Nếu đề tài thành cơng là tài liệu bổ ích để các sinh viên cũng như giáo viên
giảng dạy mơn Giáo dục cơng dân nói riêng và các mơn học khác nói chung có
cách vận dụng phương pháp thảo luận trong dạy học đạt kết quả .
<b>VII. Kết cấu đề tài.</b>
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo phần nội dung của đề tài bao
gồm 2 chương:
<b>Chương 1: Cơ sở lí luận của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong</b>
dạy học GDCD lớp 10 ở trường THPT Mỹ Quý- Tháp
<b>PHẦN NỘI DUNG</b>
<b>CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUậN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP</b>
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC GDCD LỚP 10 Ở TRƯỜNG THPT
MỸ QUÝ- THÁP MƯỜI
<b>1.1. Cơ sở lí luận của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy</b>
<b>học GDCD lớp 10 ở trường THPT Mỹ Quý- Tháp Mười</b>
<i><b> 1.1.1. Khái niệm phương pháp thảo luận nhóm:</b></i>
Trong những năm gần đây, việc thay Sách giáo khoa đã hoàn chỉnh ở cấp
Trung học cơ sở và năm học 2006-2007 tiếp tục ở lớp 10 bậc Trung học phổ
thơng. Khố bồi dưỡng Hè 2006 vừa qua, các lớp bồi dưỡng về việc giảng dạy
theo Sách giáo khoa mới đã được triển khai trên quy mô cả nước, đồng thời diễn
ra với việc bồi dưỡng phương pháp giảng dạy mới.
Có nhiều phương pháp được giới thiệu và bồi dưỡng, song đáng chú ý hơn
cả là phương pháp Thảo luận Nhóm trong lớp học.
Phương pháp này hình thành từ môi trường đại học của nhiều nước tiên tiến
trong đầu thập niên 70 của thế kỷ trước. Tại những nước này, có hẳn một mơn học
giảng dạy cho sinh viên sư phạm những kỹ năng cần thiết để sau này ra trường ,
sinh viên sẽ áp dụng trong trường học. Môn học này được đặt tên là “Năng động
tập thể” (tiếng Anh gọi là <i>Group Dynamics</i>). Hầu như học dưới mái trường đại
học, trong lớp cũng như ngoài lớp, các giáo viên đều cho học sinh làm việc theo tổ
nhóm trước khi sinh viên ra trường. Cái lợi nhất của phương pháp này là làm cho
học sinh quen thuộc với môi trường làm việc chung trước khi chính thức đi vào
làm tại các cơng ty, nhà máy, xí nghiệp trong xã hội.
Tại Việt Nam, một số giáo sư thuộc khoa Tâm lý Giáo Dục của các trường
đại học bắt đầu nghiên cứu và cơng bố các cơng trình của mình vào cuối thập niên
1990 và đem ra áp dụng tại các trường sư phạm trong thời gian gần đây.(3)
Khi thay sách giáo khoa lớp 6 (2001), phương pháp này được giới thiệu và
bồi dưỡng cho các giáo viên cấp 2 và được áp dụng liên tục cho đến nay. Tại các
trường trung học phổ thông, phương pháp này được giới thiệu và bồi dưỡng kể từ
năm 2006-2007. Đó là đơi dịng về q trình hình thành phương pháp thảo luận,
Phương pháp Thảo luận nhóm trong học tập là phương pháp mà học sinh
khơng cịn làm việc cá nhân mà là làm việc chung với nhau bằng những nhóm
nhỏ, thảo luận chung trong nhóm về những vấn đề do giáo viên đề ra nhằm mục
đích tìm hiểu những nội dung và tự giải đáp trước khi vấn đề đó được giải quyết
với sự giám sát, điều chỉnh chung của lớp học và của giáo viên
Dạy học theo nhóm tức là hình thức dạy học đặt học sinh vào mơi trường
học tập tích cực, trong đó học sinh được chia thành các nhóm nhỏ (2,4,6 em)
hoặc nhóm lớn một cách thích hợp. Trong nhóm, học sinh được thảo luận và
hợp tác làm việc với nhau. Dạy học theo nhóm, học sinh học tập thông qua
giao tiếp, trao đổi, tranh luận với nhau, chia sẻ và có cơ hội để diễn đạt ý nghĩ
của mình, tìm tịi và mở rộng suy nghĩ. Cịn giáo viên là người tổ chức các hoạt
động, gợi mở, hướng dẫn, kích thích và hỗ trợ học sinh bằng kinh nghiệm giáo
dục của mình.
<i><b> 1.1.2. Ưu điểm và hạn chế của việc dạy học theo hình thức hoạt động nhĩm:</b></i>
<i> 1.1.2.1. Những ưu điểm của phương pháp thảo luận nhóm:</i>
<b> </b> <b> Hoạt động nhóm là một đặc điểm quan trọng, đó là q trình học sinh</b>
được tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hương dẫn của giáo
viên, được khuyến khích để trao đổi kinh nghiệm và được tạo ra cơ hội làm
việc hợp tác với người khác.
Bằng cách nói ra những điều đang suy nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ
trình độ hiểu biết của mình về vấn đề đã nêu ra, thấy mình đã học hỏi được
những gì.Với cách này, bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không
phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên.
Thơng qua hoạt động thảo luận nhóm như vậy, học sinh nắm vững, nhớ
sâu kiến thức của bài học. Đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ
năng làm việc và giao tiếp, tạo thói quen học hỏi lẫn nhau; phát huy vai trị,
trách nhiệm, tính tích cực trên cơ sở hợp tác. Có như vậy mới dần xố bỏ thói
quen thụ động “ghi chép” của học sinh.
Giúp học sinh rèn luyện, phát triển kỹ năng làm việc và giao tiếp, tạo
điều kiện cho các em học hỏi lẫn nhau. Hoạt động nhóm cịn làm tăng hiệu
quả,nhất là lúc phải giải quýêt những vấn đề gay cấn cần tới sự phối hợp của
các cá nhân để hồn thành nhiệm vụ chung.
Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các
mối quan hệ qua lại trong học sinh, tạo ra không khí đồn kết, giúp đỡ, tin
tưởng lẫn nhau trong học tập.
Khi dạy học theo nhóm, giáo viên có dịp tận dụng các kinh nghiệm, sự
sáng tạo của học sinh trong học tập.
Có thể nói, mơ hình thảo luận nhóm sẽ khắc phục được tình trạng đó. Khi
những vấn đề được giao phó hoặc phân cơng cho nhóm thảo luận, những học sinh
trong nhóm sẽ cố gắng tìm hiểu và phát biểu trong nhóm của mình để trình bày
cho cả lớp. Đồng thời, tinh thần hợp tác trong nhóm sẽ được phát huy và hỗ trợ lẫn
nhau giữa các thanh viên trong nhóm.
Như thế, khi một vấn đề được đem ra thảo luận, trách nhiệm nghiên cứu và
tìm hiểu vấn đề sẽ được thơng qua trong nhóm và dù cho vấn đề được giải đáp
đúng hay sai trước khi có nhận xét của nhóm khác và sau cùng là của thày cơ, vấn
đề đó đương nhiên đã tạo sự chú ý và sự cố gắng tìm hiểu nơi mỗi thành viên và
việc học tập do vậy sẽ tích cực hơn. Do đó việc học tập sẽ mang lai kết quả tốt
hơn, tránh được học sinh chỉ biết ngồi nghe thày cô một cách thụ động và dĩ nhiên
Khi nhóm thảo luận hoạt động dưới sự giám sát của thầy cô giáo, những
thói quen xấu như nói chuyện riêng, thiếu tập trung, đùa giỡn …ít nhiều sẽ bi loại
trừ. Động lực trong nhóm sẽ được phát huy và những động lực tiềm tàng nơi mỗi
cá nhân có dịp được bộc lộ.
Trong khi thảo luận nhóm, việc giao lưu giữa các học sinh đương nhiên
diễn ra. Cứ thường thì trong một nhóm, trình độ học sinh khơng khi nào tuyệt đối
bằng nhau. Trong nhóm chắc chắn sẽ có những học sinh học khá hơn những học
sinh cịn lại. Đây cũng chính là cơ hội để cho học sinh học tập lẫn nhau (học thày
không tày học bạn) và khi được thầy cô tổng kết giải đáp, học sinh sẽ hiểu bài hơn,
nhớ lâu hơn và vì vậy việc học tập mang lại kết quả tốt hơn.
<i> 1.1.2.2<b>. Những mặt hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm:</b></i>
Trong khi thảo luận có thể xảy ra tình trạng hình thức mỗi nhóm chỉ có vài
thành viên thực sự làm việc, còn lại dựa dẫm theo, khơng khí lớp học có phần
ồn ào mất trật tự.
Trong hoạt động nhóm chỉ có một số thành viên khá, giỏi tham gia,
những thành viên khác khơng tích cực, vì vậy kết quả thảo luận phụ thuộc vào
ý kiến của một hoặc hai thành viên mà thơi.
Các thành viên không lắng nghe ý kiến của nhau nên khó đưa ra ý kiến
thống nhất.
Một số thành viên khơng hứng thú hoạt động nhóm nên dẫn tới nhóm
hoạt động tự do, không hiệu quả.
Một số thành viên xem đây là cơ hội thuận lợi để làm việc riêng, nói
chuyện và đùa giỡn với nhau.
Tốn thời gian và dễ “cháy giáo án”. Do đó giáo viên phải quản lí chặt
chẽ thời gian theo kế hoạch đã định..
Vì vậy giáo viên chú ý khắc phục những nhược điểm nói trên để
phương pháp này thực sự phát huy tính hiệu quả trong q trình dạy học.
<i><b>1.1.3. Vai trò của giáo viên trong dạy học GDCD theo nhóm:</b></i>
<b> Để tổ chức hoạt động nhóm có hiệu quả cịn phụ thuộc nhiều vào giáo viên</b>
từ khâu chuẩn bị đến khi thực hiện bài dạy. Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với giáo
viên như sau:
<i>1.1.3.1<b>. Lập kế hoạch bài dạy:</b></i>
<i>Lập kế hoạch bài dạy:</i>
- Dự kiến:
+ Nhiệm vụ sẽ giao cho các nhóm hoạt động, các nhóm giải quyết một
nhiệm vụ hay mỗi nhóm giải quyết một nhiệm vụ khác nhau.
+ Thời gian cho các hoạt động.
+ Thời gian cho các nhóm trình bày (nếu có).
+ Các tình huống có thể xảy ra và khả năng giải quyết các vấn đề thảo
luận của học sinh.
- Chuẩn bị kỹ các câu hỏi:
Cần chuẩn bị kỹ các câu hỏi, nhất là câu hỏi mở nhằm khuyến khích học
sinh suy nghĩ ở mức độ cao hơn và sâu hơn.
- Chuẩn bị chu đáo đồ dùng và thiết bị dạy học.
Đặc biệt cần chuẩn bị các đồ dùng và phương tiện có liên quan tới hoạt động
nhóm như giấy khổ to, băng dính, bút dạ, tranh ảnh…
<i>1.1.3.2. Thực hiện kế hoạch bài học:</i>
Khác với hoạt động dạy học trước đây, dạy học theo hình thức chia
nhóm, vai trò của giáo viên cĩ những thể hiện như sau:
Thiết kế tạo môi trường cho phương pháp dạy học tích cực, trong đó giáo
viên là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động, gợi mở, khuyến khích và hỗ
trợ việc học của học sinh bằng kinh nghiệm của mình.
- Trong thời gian HS thảo luận theo nhóm nhỏ, GV cần đi vịng quanh các nhóm
và lắng nghe ý kiến của HS, giúp đỡ, gợi ý nếu cần thiết:
+ Người giáo viên phải là người điều động các nhóm nhỏ làm việc.
+ Phải quan sát và theo dõi hoạt động, cơng việc của từng nhóm để tìm ra cách
giải quyết hợp lý nhất.
hướng dẫn, hỗ trợ học sinh thực hiện , hoạt động và phát triển kỹ năng phản
ánh, trình bày được các quan điểm của mình.
- Quản lí, giám sát và giúp đỡ hoạt động nhóm.
+ Khi học sinh hoạt động nhóm, giáo viên quan sát, theo dõi và kịp thời giúp
đỡ các nhóm giải quyết vấn đề, trực tiếp giải đáp thắc mắc khi có thắc mắc của
nhóm. GV quan sát các nhĩm làm việc, người giáo viên phải phát hiện các sai lầm
mà các nhĩm mắc phải khi tham gia nhĩm, những sai lầm mang tính điển hình và
chưa được sữa chữa để cuối phần thảo luận nhĩm giáo viên cĩ nhận xét, gĩp ý.
+ Phát hiện các nhóm hoạt động chưa có hiệu quả để kịp thời uốn nắn và
điều chỉnh.
+ Động viên, khuyến khích và khen ngợi, nhằm tạo khong khí phấn khởi,
giúp học sinh tự tin trong học tập.
- Ngoài những vấn đề mà các thành viên nhóm thảo luận tổng kết để báo cáo thì
giáo viên phải đặt thêm những câu hỏi bổ sung để phát huy tính tích cực hoạt động
của nhóm (Câu hỏi này khơng phải chỉ dành cho nhóm trưởng trả lời mà là các
nhóm viên có liên quan).
- Xây dựng mối quan hệ thân thiện, hợp tác giữa thầy-trò, trò-trò trong mơi
trường học tập tích cực và an tồn.
- Tiếp nhận thơng tin phản hồi: Trong q trình dạy học theo nhóm, chúng ta
có thể tiếp nhận thơng tin phản hồi trực tiếp từ nhóm hoặc đại diện nhóm lên
trình bày trước lớp. Thông qua những thông tin này, ta có thể đánh giá được kết
quả học tập của các em và kịp thời uốn nắn, bổ sung kiến thức.
- Tổng kết, Giáo viên tĩm tắt, tổng hợp, liên kết các ý kiến của từng nhĩm thảo
luận theo thứ tự để nêu bật được nội dung bài học.rút kinh nghiệm hoạt động
nhóm, tổng kết về kỹ năng, thái độ làm việc, kết quả…
- Cuối cùng, người giáo viên là người hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm nếu các
Như vậy việc nhận ra vai trò của giáo viên trong tổ chức hoạt động
nhóm để từ đó giáo viên có sự chủ động trong việc tìm cách tổ chức hoạt động
nhóm một cách hiệu quả nhất
<i>1.1.3.3. Nhóm, cơ cấu nhóm, cách chia nhóm và các kiểu nhóm:</i>
<i>- Nhóm: Là một tổ chức gồm khoảng từ 2 đến 6 em. Nhóm khơng nên có số</i>
lượng lớn vì như vậy các thành viên khơng có cơ hội để thể hiện ý kiến của
mình và bạn khó quản lí.
<b> + Nhóm lớn: Khoảng 6 em. Với nhóm lớn các thành viên có niềm tin lớn về</b>
kết quả làm việc, hiểu nhiệm vụ nhanh chóng và rõ ràng hơn, thu hút được
nhiều kinh nghiệm hơn, nhưng cũng có hạn chế ở chỗ ít thành viên có cơ hội
thể hiện ý kiến của mình và việc ra quyết định cũng châm hơn.
<i> +Nhóm nhỏ: Khoảng 2-4 em. Nhóm nhỏ có nhiều hoạt động linh hoạt và ra</i>
quyết định nhanh, giáo viên quản lí cũng thuận lợi, nhưng với thể loại nhóm
này lại tận dụng được ít kinh nghiệm hơn nhóm lớn.
<b>- Cơ cấu nhóm: Trong nhóm gồm các thành phần:</b>
+ Trưởng nhóm: Quản lí, chỉ đạo, điều khiển hoạt động nhóm.
+ Thư kí nhóm: Ghi chép lại kết quả các cơng việc của nhóm sau khi đạt
được sự đồng tình của cả nhóm.
Các thành viên khác ttrong nhóm có trách nhiệm tham gia tích cực vào mọi
hoạt động của nhóm.
Việc phân cơng nhiệm vụ trong nhóm cần linh hoạt, các em lần lượt thay
nhau đóng vai các thành viên trên, nhưng cũng khơng nhất thiết bao giờ nhóm
cũng phải đầy đủ các thành phần, tuy nhiên khơng thể thiếu trưởng nhóm.
<i>- Cách chia nhóm và các kiểu nhóm:</i>
Việc chia nhóm và chọn kiểu nhóm phải dựa trên các yếu tố: mục tiêuy bài
giảng, nội dung, hình thức hoạt động, điều kiện về môi trường và thiết bị dạy học. Sau
đây là một số cách chia nhóm và kiểu nhóm thường được sử dụng trong dạy học.
<b>STT Cách chia nhóm</b> <b>Kiểu nhóm và khi sử dụng</b>
<b>1</b> <b>Gọi số: cho HS đếm từ số 1</b>
<b>đến số mà nhóm dự kiến </b>
<b>-Nhóm nhiều trình độ</b>
<b>-Nhóm cùng trình độ</b>
<b>2</b> <b>Biểu tượng</b> <b>-Nhóm cùng trình độ hay nhiều trình</b>
<b>độ.</b>
<b>-Nhóm hình thành ngẫu nhiên.</b>
<b>3</b> <b>Chỉ định</b> <b>-Nhóm cùng trình độ hay nhiều trinh</b>
<b>độ.</b>
<b>-Nhóm hình thành có chủ định. </b>
<b>4</b> <b>Cặp đơi</b> <b>-Nhóm cùng trinh độ hay nhiều trình</b>
<b>độ.</b>
<b>5</b> <b>Tình bạn</b> <b>-Nhóm cùng trình độ hay nhiều trình</b>
<b>độ.</b>
<b>6</b> <b>Cố định</b> <b>-Nhóm hình thành có chỉ định-nhóm</b>
<b>nhiều trình độ hay cùng trình độ.</b>
<b>* Khi chọn kiểu nhóm và chia nhóm cần lưu ý:</b>
+ Phụ thuộc vào nhiệm vụ quá khó hoặc quá dễ
+ Sự điều khiển của nhóm trưởng.
Cụ thể cần lưu ý: Số học sinh trong lớp hiện nay thường là trên 45 học sinh.
Nếu chia lớp làm 2 nhóm sẽ q đơng, nếu chia nhóm làm 4 nhóm thì khơng đủ
khơng gian để thảo luận vì diện tích mỗi một lớp có hạn. Con số thành viên trong
nhóm bao nhiêu là vừa? Nhiều ý kiến cho rằng không nên dưới 5 và không nên
quá 10. Cả hai con số này đều không thể thực hiện vì sĩ số trong lớp hiện nay tại
Việt Nam được quy định là 45.Tuy nhiên, một số lớp hiện nay có sĩ số là 50.
Việc chia các nhóm phải hết sức linh hoạt, ln thay đổi để tạo điều kiện
cho mỗi học sinh được giao lưu với tất cả các học sinh trong lớp học mà không
phải chỉ một nhóm người cố định. Để làm được điều này giáo viên cần phải có kế
hoạch, có phương án tối ưu nhất, nếu khơng sẽ dẫn đến tình trạng khi chia nhóm
sẽ rất lộn xộn khi phân cơng cơng việc cho các nhóm, thậm chí việc chia nhóm có
thể chiếm mất nhiều thời gian trong tiết học. Chúng ta có thể chia nhóm theo một
số phương án cụ thể như sau:
học tập, đồng thời những học sinh khá giỏi sẽ phải vất vả hơn trong việc trình bày
cho tất cả mọi thành viên trong nhóm đều hiểu vấn đề, song điều đó sẽ giúp cho
các em tự tin hơn về những kiến thức mình vừa tìm ra.
* Chia nhóm ngẫu nhiên : Theo cách này, chúng ta sẽ chia ngẫu nhiên theo
* Chia theo nhóm trình độ : Theo cách này, chúng ta phân lớp ra thành
những nhóm có trình độ khác nhau và mức độ yêu cầu của các nhóm là khác nhau.
Tức là chúng ta sẽ chia lớp thành 2 loại nhóm:
+ Các nhóm khá, giỏi
+ Các nhóm trung bình, yếu
Trên đây là một số kiểu nhóm và cách chia nhóm dùng cho những bài giảng sử
dụng phương pháp thảo luận. Tùy vào nội dung, diều kiện, lớp học,
<i><b>1.1.4. Các điều kiện thảo luận nhóm</b></i>
Kích thước phịng học là một nhân tố tác động đến việc thảo luận, kinh
nghiệm của các chuyên gia cho thấy: Việc thảo luận sẽ dễ dàng hơn nếu toàn bộ
học sinh có thể nhìn thấy nhau và thấy giáo viên. Một số giáo viên có kinh nghiệm
đã sắp xếp lớp theo bàn trịn hoặc hình móng ngựa để thuận tiện cho việc tiếp xúc
bằng mắt. Việc thảo luận các chủ thể có tính chất giải quyết vấn đề, địi hỏi học
Khó khăn lớn trong việc thảo luận là về thời gian. Vì vậy, giáo viên cân
nhắc giữa việc đảm bảo mục tiêu với thời gian quy định. Nếu vấn đề thảo luận đơn
giản thì sẽ đủ thời gian để đưa ra giải pháp. Còn nếu vấn đề thảo luận phức tạp,
địi hỏi có các hoạt động kèm theo như các hình thức trị chơi phân vai thì giáo
viên phải cân nhắc rất kĩ về thời gian.
Tuy vấn đề sắp xếp chỗ ngồi có ảnh hưởng đến việc thảo luận. Tuy nhiên,
sự sắp xếp chỗ ngồi có tác động đến chất lượng của việc thảo luận ít hơn là kĩ
năng của giáo viên trong việc khuyến khích, hướng dẫn học sinh thảo luận. Sau
đây là một số yêu cầu đặt ra đối với GV trong việc hướng dẫn HS thảo luận để
đảm bảo kết quả tốt hơn:
<i> 1.1.4.1.Kĩ năng điều khiển thảo luận:</i>
Sự linh hoạt của giáo viên góp phần rất quan trọng trong việc thực hiện
phương pháp thảo luận đạt kết quả, Sau đây là một số yêu cầu đặt ra trong việc
điều khiển thảo luận:
bài tập, hoặc từ những vấn đề chưa giải quyết xong trong các cuộc họp trước. Nhưng
trong cuộc họp đầu tiên với những nhóm mới, giáo viên cần phải chủ động khi bắt
đầu thảo luận.
- Bắt đầu thảo luận từ kinh nghiệm thông thường: Một trong những phương
pháp tốt nhất để bắt đầu thảo luận là cung cấp kinh nghiệm phổ biến, cụ thể thơng qua
phần trình bày trực quan, chiếu phim đóng vai, diễn kịch ngắn hoặc đọc tóm tắt. Sau
phần trình bày, HS sẽ rất dễ dàng đặt câu hỏi “tại sao bạn đã…”
+ Sự mở đầu như vậy có rất nhiều lợi thế bởi vì mỗi HS trong nhóm đều đã
nhận thức và biết địi hỏi về chủ đề đó thơng qua phần thảo luận. Thêm vào đó, bằng
cách tập trung thảo luận phần trình bày, giáo viên phải giải tỏa sự lo lắng và sợ hãi
cho những HS thường ngại biểu lộ ý kiến riêng của mình.
Tuy nhiên khơng phải lúc nào GV cũng tìm được cách trình bày cần để sử
dụng ở trong lớp. Trong mỗi lần thảo luận, đôi khi giáo viên bắt buộc phải quay lại
các kỹ thuật khác của phương pháp để đề xướng thảo luận.
- Bắt đầu thảo luận bằng tranh luận: Kỹ thuật thứ hai để kích thích thảo luận là
tạo sự bất đồng ý kiến. Những bằng chứng thực tế đã cho thấy sự ngạc nhiên hoặc sự
không chắc chắn về một điều gì đó thường khơi gợi tính tị mị của con người và đó
chính là động cơ học tập.
+ Một số cuộc thảo luận đạt kết quả rất cao khi giáo viên đóng vai trị là trọng
tài, một số khác thì lại có hiệu quả khi chỉ ra được sự khác nhau trong các quan điểm
của HS.
phải là chấp nhận ý kiến của GV một cách thụ động khi cho mọi lời nói của GV là
đúng. Tuy nhiên khơng thể tránh khỏi rủi ro, đó là tạo ra sự thiếu tin tưởng của người
học đối với người dạy. Tất nhiên đa số GV mong muốn tạo ra sự thách thức đối với
HS về ý kiến của mình. Song bên cạnh đó có một số ít GV lại muốn HS cảm thấy
những lời của HS là không đáng tin cậy và họ phải đi ngược lại với những gì mà họ
tin là đúng. Ở bất cứ trường hợp nào, GV cũng phải nhận thứ được rằng sự không
đồng ý không phải là dấu hiệu của sự thất bại mà nó mang tính xây dựng. Khi chủ
nghĩa giáo điều cứng nhắc gây trở ngại cho việc giải quyết vấn đề tiếp theo sự bất
đồng đó thì giáo viên có thể yêu cầu cho những HS có ý kiến bất đòng chuyển hướng
và tranh luận theo quan điểm đối kháng. Kỹ xảo đó xem ra rất có hiệu quả trong việc
phát triển nhận thức về thế mạnh của người khác.
Trong nghiên cứu về khả năng điều khiển nhóm, Maier đã chứng minh rằng,
một vật cản đối với việc giải quyết vấn đề có hiệu quả là những người tham gia thảo
luận đã ủng hộ hướng tranh luận về một giải pháp rõ ràng chứ không cố gắng giải
quyết vấn đề bằng cách cân nhắc các cứ liệu và đề xuất các giải pháp thay thế. Maier
đã đề xuất các nguyên tắc giải quyết vấn đề ở nhóm như sau:
1. Thành công trong giải quyết vấn đề là tất cả cùng nỗ lực vượt qua các khó
khăn, vướng mắc.
2. Nên sử dụng những sự kiện có sẵn, ngay cả khi chúng khơng thích hợp.
3. Điểm quan trọng nhất khi giải quyết vấn đề là tìm ra những phương án giải
quyết tối ưu.
5. Quá trình “lấy ý kiến” nên tách biệt với quá trình “đánh giá ý kiến” bởi vì
cái sau sẽ hạn chế cái trước.
<i>1.1.4.2. Biện pháp với những HS tham gia thảo luận.</i>
Đối với những học sinh tham gia tích cực thảo luận. Trong một lớp học, buổi
học, tiết học bất kì sẽ có những thành viên tham gia xây dựng bài tích cực, sơi nổi, có
những HS khơng nhiệt tình tham gia và trong giờ thảo luận cũng vậy, sẽ có một số
thành viên tham gia thảo luận rất tích cực, năng động và một số thành viên thụ động
trong giờ thảo luận.
Vì vậy, để giúp tất cả HS cùng tham gia thảo luận đặc biệt để phát huy sự
nhiệt tình, tích cực của những HS tham gia thảo luận sôi nổi. Giáo viên cần phải biểu
dương, khen ngợi để khích lệ tinh thần học tập của các em. Động viên các em cần cố
gắng giữ gìn và phát huy hơn nữa trong giờ thảo luận.
Đối với những HS này, Gv có thể giao nhiệm vụ như làm nhóm trưởng để
điều khiển giờ thảo luận tốt hơn. Các thành viên cịn lại trong nhóm của lớp học cần
phải học tập và noi theo tinh thần học tập của các bạn này để giờ thảo luận thật sôi
nổi, tất cả các HS trong lớp đều hoạt động hăng hái góp phần làm cho giờ thảo luận
đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh những HS năng động, tích cực hăng hái thảo luận thì lại có tình
trạng có những HS khác lại rất thụ động, không tham gia vào thảo luận.Vậy GV phải
làm gì?
đợi trong các buổi thảo luận. GV có thể bắt đầu thực hiện điều đó trong buổi họcđầu
tiên và giải thích tại sao việc thảo luận lại có ý nghĩa đến như vậy. Bên cạnh đó giáo
viên phải tiếp tục tìm mọi cách để tăng cường nhận thức của HS về giá trị của việc
HS tham gia các buổi thảo luận. Tuy nhiên, khơng chỉ có tham gia là đủ. Sự tham gia
với diện rộng là rất quan trọng đối với một số trường hợp nhưng đôi khi nó lại là điều
bất lợi đối với những trường hợp khác.Nhưng bạn cần tạo ra một bầu khơng khí mà ở
đó những ý kiến đóng góp quan trọng khơng bị mất đi, bởi vì đơi khi những người có
ý kiến hay lại khơng dám bày tỏ ra.
Điều gì ngăn cản HS phát biểu? Có nhiều nguyên nhân: Chán nản, thiếu kiến
thức, có thói quen bị động, chuẩn mực văn hóa, nhưng nguyên nhân lớn nhất vẫn là
sự nhút nhát. Khi một người ở đứng trước nhiều người, khi một người không biết
phát biểu ý kiến như thế nào, khi một người sợ nói lắp bắp hoặc sợ quên mất điểm
quan trọng khi nói, và đó là nguyên nhân của sự yên lặng.
Điều có thể giảm được những nhược điểm đó, Khi HS biết rằng mình đang ở
giữa bạn bè thì HS có thể có can đảm diễn đạt ý kiến của mình. Nếu HS biết rằng, tối
thiểu có một người bạn cùng lớp tham khảo, thảo luận ý kiến đó với mình thì nguy cơ
giữ n lặng cũng giảm dần đi, tức là giáo viên sẽ yêu cầu HS thảo luận câu hỏi theo
từng cặp, từng nhóm nhỏ trước khi thảo luận chung.
Yêu cầu HS chuẩn bị trả lời câu hỏi trong vòng 2 phút, nếu một HS đã chuẩn
bị xong câu trả lời thì việc phát biểu cũng mất ít thời gian hơn khi được yêu cầu trả lời
ngay lập tức.
góp đúng hay sai. Gọi tên HS dường như cũng khuyến khích HS và GV giao tiếp một
cách thoải mái hơn, giúp cho HS gần gũi và mạnh dạn hơn.Một trong những cách tốt
nhất khuyến khích những HS ít phát biểu tham gia vào buổi thảo luận là yêu cầu HS
đóng góp ý kiến về lĩnh vực mà HS hiểu biết một cách thấu đáo.
Tạo cảm giác thân thiện thoải mái cho những người thỉnh thoảng mới đóng
góp ý kiến.
GV biết tìm hiểu thơng tin liên quan về những HS không tham gia vào cuộc
thảo luận.
GV dùng kĩ thuật khơi gợi những kiến thức của HS, từ đó giúp HS vượt qua
những trở ngại khi thảo luận ở lớp, như là sợ nói sai. Địi hỏi GV phải đặt câu hỏi
thích hợp, khơng đặt HS vào tình huống khó khăn, lúng túng. Khơng thể đặt ra câu
hỏi chỉ có GV biết một câu trả lời đúng là gì.
GV có thể đặt HS vào một vị trí thích hợp để khơng có câu trả lời sai thay
vì đặt những câu hỏi chung chung. Ví dụ, giáo viên hỏi: “Làm thế nào mà em cảm
nhận được điều đó?” hoặc “đối với em cái này trơng như thế nào?”.
GV đặt một câu hỏi cho lớp trước khi thảo luận và yêu cầu sinh viên viết
câu trả lời gồm có một ví dụ về kinh nghiệm bản thân hoặc có thể yêu cầu HS
chuẩn bị một câu hỏi để thảo luận ở lớp. Hoặc là đặt hS vào một vị trí thích hợp
hơn là đặt những câu hỏi chung chung để khơng có câu trả lời sai. Ví dụ, GV hỏi:
“làm thế nào mà em cảm nhậ được điều đó?” hoặc “ đối với em vấn đề này như
luận tốt hơn và giúp HS học cách đặt câu hỏi, đồng thời đưa ra ý kiến phản hồi cho
GV.
Cuối cùng nên nhớ rằng, học tập ngoại khóa cũng rất quan trọng, gửi thư
điện tử, trao đổi qua mạng và các công nghệ khác đều có thể giúp cho việc học tập
tích cực, thảo luận, tranh luận để tìm đến tri thức bổ ích.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO
LUẬN NHĨM TRONG DẠY HỌC BÀI 12,13 MƠN GDCD LỚP 10 Ở
TRƯỜNG THPT MỸ QUÝ- THÁP MƯỜI
<b>2.1. Thực trạng dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Mỹ </b>
<b>Quý-Tháp Mười</b>
Mơn GDCD có vị trí, vai trị và nhiệm vụ rất quan trọng trong trường
THPT đối với việc hình thành và phát triển nhân cách góp phần xây dựng tư
cách và trách nhiệm cộng dân cho học sinh là những người chủ tương lai của
đất nước. Nhưng trong thực tế hiện nay thì việc dạy học mơn học này ở các
trường THPT cịn gặp nhiều khó khăn bất cập vì từ trước đến nay nó vẫn được
xem là mơn học phụ có vai trị thứ yếu và mờ nhạt trong nhà trường. Việc
giảng dạy thường diễn ra một cách khơ khan, nặng nề, đơn điệu ít gây hứng thú
cho học sinh. Do đó chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp chưa đem lại
cho học sinh những điều bổ ích rõ rệt, việc học tập chưa gắn với thực tiễn
đặc biệt là những thay đổi mau lẹ đang diễn ra trong cuộc sống hiện nay.
Thực trạng trên đây là do nhiều nguyên nhân, trong đó có những
nguyên nhân chủ yếu sau:
đem vào thi tốt nghiệp ở THPT hay thi vào các trương đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp) vì vậy phụ huynh học sinh cũng khơng quan tâm va øchu ùý
động viên con em tích cực học tập bộ môn naỳ.
Đội ngũ những người giảng dạy bộ mơn GDCD một số cịn chưa được
đào tạo một cách khoa học và có hệ thống nên cịn non về tri thức chuyên
ngành và nghiệp vụ giảng dạy. Nhiều người là giáo viên ở bộ môn khác
chuyển qua đảm nhiệm môn GDCD, coi môn học này là môn học trái chuyên
môn nên chỉ giảng dạy cho đủ số tiết qui định. Vì thế họ cịn xem nhẹ chưa
chú trọng đầu tư cơng sức, thời gian học hỏi tìm tịi các phương pháp dạy học
để dạy tốt mơn học này.
Nhà trường cịn bng lỏng quản lí việc dạy học mơn GDCD, cịn có
tình trạng cắt xén giờ học một cách tùy tiện nhất là về cuối kì , cuối năm
( một số giáo viên GDCD còn lấy giờ mình cho giáo viên khác để tập trung
vào các mơn học chính )làm ảnh hưởng khơng tốt đến tâm lí của cả thầy và
trò. Trường còn thiếu những biện pháp phù hợp . Có hiệu quả nhằm động
viên khuyến khích giáo viên tích cực đầu tư thời gian công sức để khai thác
làm phong phú nội dung bài học và cải tiến phương pháp dạy học do vậy giáo
viên GDCD còn thiếu tâm huyết, sự nhiệt tình để dạy tốt mơn học này .
Môi trường xã hội mà học sinh đang sống cịn có nhiều tiêu cực ảnh
hưởng không tốt đến suy nghĩ, hành động và nhận thức của các em.
<b>2.2. Thực trạng sử dụng phương pháp thảo luận trong dạy học môn</b>
<b>GDCD lớp 10 ở trường THPT lớp 10 ở trường THPT Mỹ Quý- Tháp</b>
<b>Mười</b>
Trường THPT Mỹ Quý tọa lạc tại ấp Mỹ Tây 2, xã Mỹ Quý, huyện Tháp
Trường được thành lập vào năm 2003 theo quyết định của UBNND tỉnh Đồng
Tháp, tính đến nay đã gần 7 năm. Tuy mới được thành lập trong thời gian gần đây
nhưng sự phát triển của trường ngày càng lớn mạnh. Nếu như trong năm học đầu
tiên (niên khóa 2003-2004) tổng số học sinh của trường là 672 (thuộc khối lớp 10 và
11, do mới thành lập nên chưa có khối 12) với số lượng giáo viên là 30, trong đó có
1 hiệu trưởng, 1 hiệu phó, 4 cơng nhân viên. Đến năm học 2009-2010 số học sinh và
giáo viên của trường tăng lên đáng kể (1032 học sinh thuộc 3 khối lớp, 60 giáo viên)
và dự đốn trong những năm tới, quy mơ của trường khơng ngừng phát triển. Hàng
năm, trường đều có những học sinh đạt giải các kì thi học sinh giỏi vòngtỉnh và tỉ lệ
đỗ tốt nghiệp THPT thuộc hàng khá của tỉnh.
Về cơ sở vật chất: với tổng diện tích trường được trang bị 16 phòng học, 2
phòng mày chiếu, 4 phòng chức năng (phòng thư viện, phòng tin học, phịng thiết
bị, phịng thực hành-thí nghiệm). Nhìn chung về trang thiết bị phục vụ công tác
giảng dạy của trường tương đối đầy đủ.
Bên cạnh đó, cùng với sự đổi mới phương pháp dạy học nôi dung và đổi
mới trong bản thân phương pahps thảo luận trong giảng dạy GDCD ở THPT hiện
nay có bước tiến bộ nhất định. Từ chỗ quan niệm là môn học khô khan, khó hiểu,
ít được HS u thích thì thực tế cho thấy sự vận dụng phương pháp thảo luận GV
đã từng bước tạo nên sự hứng thú học môn GDCD ở HS, sự đơn điệu trong bài
giảng đang được khắc phục bởi GV sử dụng phương pháp thảo thuận và kết hợp
linh hoạt với các phương pháp khác trong giảng dạy nhằm góp phần tăng hiệu quả
trong việc truyền và tiếp nhận tri thức.
Sự tiến bộ tích cực đó là điều đáng ghi nhận và vận dụng để nêu cao hiệu
quả giảng dạy của bộ môn. Tuy nhiên sự tiến bộ đó chưa thật sự phổ biến ở mọi
giờ giảng, ở mọi GV mà nó dừng lại ở một bộ phận nhỏ GV.Qua thời gian thực
Trong giảng dạy GDCD phải đề cập đến nhiều khía cạnh, vấn đề đề cập ở
đây là về phương pháp giảng dạy, bởi lòng tin, say mê tri thức HS chịu ảnh hưởng
phần lớn từ phương pháp dạy của giáo viên. Từ thực tế khách quan, toi nêu lên
mọt số nhận xét về thực trạng GV sử dụng hạn chế phương pháp thảo luận trong
giảng dạy GDCD THPT: Sự nghèo nàn, đơn độc trong bài giảng, HS khơng phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập.
được tiến hành một cách đơn điệu- GV đặt câu hỏi và HS trả lời một cách rụt rè,
thiếu tự tin, với việc sử dụng phương pháp thảo luận này GV chỉ mới tạo ra mối
quan hệ mang tính chất một chiều. Đồng thời Gv thiếu linh hoạt trong việc sử
dụng kết hợp phương pháp thảo luận cùng với những phương pháp khác.
Thảo luận là một trong những phương pháp phát huy tính tích cực của HS
và sáng tạo của GV. Tuy nhiên vẫn còn thấy một số trường hợp GV đưa ra câu hỏi
trùng vơi những đề mục của bài, những câu hỏi có đáp án sẵn trong SGK, hoặc
đưa ra câu hỏi thảo luận chỉ dựa vào sách hướng dẫn giảng dạy, sách thiết kế bài
giảng, những câu hỏi khơng kích thích tư duy sáng tạo cho HS.
Trên đây là thực trạng của việc sử dụng phương pháp thảo luận trong giảng
dạy GDCD ở THPT, tồn tại những ưu điểm và khuyết điểm. Vì thế cần có những
giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những hạn chế giúp cho việc giảng dạy đạ
<b> 2.3. Quy trình thực hiện phương pháp thảo luận nhóm theo hướng tích</b>
<b>cực GDCD lớp 10, bài 12,13 ở trường THPT Mỹ Quý- Tháp Mười</b>
<i><b>2.3.1. Những chuẩn bị cần thiết</b></i>
<i>2.3.1.1. Chuẩn bị của giáo viên</i>
Phải chuẩn bị kỹ nội dung bài để nắm bắt, hiểu lúc nào cần đưa câu hỏi
thảo luận nhóm, gợi ý khi câu hỏi tương đối khó với học sinh. Chia nhóm phải có
nhiều đối tượng: khá giỏi, trung bình, nhắc nhở các em phải hoạt động tập trung
tránh cãi vã ồn ào. Câu hỏi phải vừa sức học sinh, không nên đánh đố các em, cụ
thể chuẩn bị như sau:
Mục tiêu của hoạt động nhóm trong bài này là gì? Những vấn đề thảo luận
trong nhóm là những vấn đề gì? ( Nên chọn các vấn đề dễ gây hứng thú cho học
sinh, tiếp cận được với những vấn đề của cuộc sống giáo viên nên chọn bài vừa
sức, có nhiều tài liệu tham khảo, có liên quan nhiều đến tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội ở địa phương trong nước và thế giới).
cần chuẩn bị kĩ càng. Trong đề cương nêu ra các câu hỏi từ dễ đến khó, hướng vào
trọng tâm của vấn đề giúp học sinh nêu ra ý kiến của bản thân.
Giáo viên phải dự kiến tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết. Vì trong
quá trình thảo luận có thể có những ý kiến nêu lên thành đề tài tranh luận sơi nổi
khó có thể giải quyết nếu khơng có sự chuẩn bị đọc tài liệu trước, cũng có thể là
các học sinh khơng phát biểu ý kiến hoặc ý kiến đi quá xa đề tài bị lạc đề…Dự
kiến sẽ giúp cho giáo viên tự tin và giải quyết tốt các vấn đề đặt ra nhanh chóng
làm và tăng lịng tin đối với học sinh.
Đặc biệt, sau khi kết thúc thảo luận giáo viên nêu lên những kết luận chính,
Giáo viên cần thông báo cho học sinh đề tài sẽ thảo luận. Thông báo cho
học sinh cần tiến hành ít nhất trước một tuần khi thảo luận. Trong thông báo cần
nêu rõ các bài học cần phải ôn tập, các tài liệu cần đọc, những thực tế địa phương
cần tìm hiểu…Có thể nêu câu hỏi trước cho học sinh chuẩn bị.
<i>2.3.1.2. Chuẩn bị của HS:</i>
Trước giờ học, các em phải chuẩn bị bài tốt, gạch dưới những phấn khó
hiểu để chú ý kỹ khi nghe cô giáo giảng bài. Khi thảo luận phải trật tự và tập trung
suy nghĩ, từng thành viên đều đưa ra những ý kiến của mình. Nhóm trưởng và thư
ký phải chọn lọc ghi đáp án để trả lời khi GV u cầu. Qua đó, phát huy tính tích
cực của học sinh, lớp học sẽ sôi nỗi hơn, tạo hứng thú cho học sinh tiếp thu bài
mới một cách dễ dàng nhất.
Làm được những điều này, nhất định chất lượng mơn GDCD sẽ được nâng
cao, tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách cho học sinh.
nghe hết được ý tưởng của các em. Nhưng, trong q trình đổi mới chúng ta khơng
thể ngồi chờ có đủ điều kiện mới làm mà phải vận dụng phù hợp, tận dụng hết lợi
thế đang có để chí ít thầy trò làm quen với cách dạy học GDCD khơng thụ động,
bỏ hẳn cách dạy một chiều, thuộc lịng – cái bóng của cách dạy cũ mà chúng ta cần
thay đổi.
<i><b>2.3.2. Cách thực hiện phương pháp thảo luận và một số vấn đề đặt ra trong</b></i>
<i><b>quá trình thảo luận</b></i>
<i> 2.3.2.1. Cách thức thực hiện</i>
<i>a. Chia nhóm:</i>
- Có thể chia nhóm theo số điểm danh, theo màu sắc, theo biểu tượng , theo giới
tính, theo vị trí chổ ngồi…
- Quy mơ nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo vấn đề thảo luận, nhóm từ 6 đến 8
em là tốt nhất. Phải đảm bảo có đủ trong nhóm gồm học sinh giỏi, trung bình, yếu
để “ Hổ trợ nhau”.
<i>b. Nội dung thảo luận:</i>
- Các nhóm chuẩn bị nội dung thảo luận có thể giống hoặc khác nhau, chỉ
yêu cầu học sinh phải chuẩn bị trước nội dung bài học, tìm hiểu những vấn đề sẽ
đưa ra thảo luận.
- Quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận của các
nhóm từ 3 đến 7 phút.
- Tiến hành cử nhóm trưởng, thư ký của nhóm. Yêu cầu học sinh phải hết
sức tập trung, khơng làm việc riêng, có ý thức kỷ luật.
<b>Bước 2: Giao nhiệm vụ cho từng nhóm.</b>
- Nhóm trưởng điều khiển dịng thảo luận của nhóm, gọi tên các thành viên lên
phát phát biểu, chuyển sang câu hỏi khi thích hợp, đảm bảo rằng mỗi người đều có
cơ hội phát biểu như nhau.
- Yêu cầu trong quá trình thảo luận phải trật tự tuân theo cách điều hành của nhóm
<b>Bước 3: Tiến hành thảo luận.</b>
- Học sinh tiến hành thảo luận nhóm, GV khơng giải đáp thắc mắc ngay mà chỉ
giúp học sinh hướng thảo luận hoặc gợi ý các nguồn dữ liệu hoặc cho học sinh
xem lại các tình huống ở trong GAĐT để học sinh không đi lệch vấn đề, điều
chỉnh đúng hướng thảo luận. GV nên chú ý phát hiện những điều thống nhất và
chưa thống nhất vẫn còn tranh chấp ở các nhóm.
- Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức: bằng lời, đóng vai,
viết hoặc vẽ trên giấy to…có thể do một người thay mặt nhóm trình bày, nhiều
người trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau.
- Trong quá trình học sinh thảo luận, GV cần quan sát, lắng nghe các ý kiến của
học sinh. Đối với những đề tài nhạy cảm, thường có những tình huống mà học sinh
cảm thấy xấu hổ, bối rối khi phải nói trước mặt GV, nên tránh khơng xen vào hoạt
động của nhóm khi thảo luận.
<b>Bước 4: Tổng kết thảo luận.</b>
- Tổ chức chung cho cả lớp.
- Các nhóm cử đại diện lên trình bày trước lớp kết quả thảo luận của nhóm mình
hoặc nêu các ý kiến khác, các đề xuất hợp lý khác…
- GV tổng kết các nhận xét, đi sâu làm rõ các nội dung nhận thức kèm theo sự uốn
nắn các sai sót, sửa chữa lệch lạc, giải đáp thắc mắc hoặc làm sáng tỏ các vấn đề lý
thú nảy sinh trong quá trình thảo luận.
<i>2.3.2.2. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thảo luận:</i>
Thơng qua q trình thảo luận, chúng tơi có thể nhận thấy một số vấn đề
cần chú ý để giúp buổi thảo luận tốt hơn:
Phương pháp thảo luận chỉ thành cơng khi các nhóm được giao nhiệm vụ rõ
ràng kèm theo khoảng thời gian nhất định để thực hiện nhiệm vụ. Câu hỏi tình
huống mà GV đưa ra cũng dễ hiểu nhưng phải xoáy vào những trọng tâm khó
nhất, hay nhất của bài học để học sinh phát huy được hết trí tuệ tập thể, cũng như
sự tư duy của tất cả học trò trong nhóm.
Các thành viên phải quan tâm đến mọi người trong nhóm mình, tránh tình
trạng người làm việc ít mà cũng có cùng số điểm của nhóm.Q trình học sinh
thảo luận là thời gian mà Gv phải quan sát, theo dõi để nhận xét đánh giá chính
xác điểm cho học sinh, tránh làm thiệt thòi quyền lợi cho bất cứ một học sinh nào
vì lý do GV khơng bao qt hết trong giờ học sinh đang thảo luận.
Nội dung phương pháp trong thảo luận nhóm: Lựa chọn vấn đề cần thảo
luận: Thành viên nhóm nên cùng bàn bạc và lựa chọn vấn đề thảo luận. Trong
trường hợp có quá nhiều vấn đề hoặc phạm vi vấn đề quá rộng, theo đề xuất gợi ý
nhóm trưởng, cả nhóm nên cùng quyết định chọn hoặc giới hạn phạm vi vấn đề
theo đa số.
Thảo luận và phân tích các vấn đề để đi đến thống nhất về nhận thức:
Chuẩn bị tài liệu, hiện vật, hình ảnh, nhân chứng... làm minh họa, nêu bật nội dung
vấn đề cần phân tích. Yêu cầu này phải làm cho cả nhóm cùng thống nhất về mặt
nhận thức các vấn đề đưa ra thảo luận, phân tích. Để thống nhất, vai trị người
trưởng nhóm rất quan trọng, phải biết hệ thống, tổng hợp, phân tích đưa ra kết luận
về các nội dung phát biểu trong nhóm.
Quyết định các giải pháp, chương trình hành động của nhóm nhằm giải quyết
hành động sau thảo luận, từ đó có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của 1 nhóm.
Thơng thường các hình thức như phiếu thu hoạch, phiếu khảo sát, hoặc nhóm tái
họp sau một thời gian định kỳ (tuần, tháng, quý, năm…) để nhận xét, đánh giá
mức độ phấn đấu, hồn thành các cơng việc chung của nhóm và từng thành viên.
Đơi khi trong q trình kiểm tra, những vấn đề trong thảo luận và tổ chức
thực hiện trong thực tế vẫn chưa đi đến thống nhất trong nhận thức và hành động
hoặc nảy sinh những vấn đề mới thì quá trình thảo luận tại nhóm lại tiếp tục diễn
ra.
Về phương pháp trong thảo luận nhóm : Phương pháp thảo luận nên chú
trọng đối thoại, phát huy dân chủ rộng rãi, thông tin đa chiều nhưng cũng cần
hướng vào trọng tâm, mục đích yêu cầu chủ đề thảo luận tránh nói lan man, dài
dịng. Lưu ý người chủ trì, nhóm trưởng phải chuẩn bị đầy đủ thơng tin cho nhóm,
có năng lực khái qt tổng hợp, kết luận những vấn đề trong thảo luận nhóm.
Người chủ trì cần tuyệt đối tránh 2 xu hướng thường xảy ra trong thảo luận nhóm,
đó là xu hướng độc thoại, độc diễn và xu hướng phát biểu vô tổ chức, vô kỷ luật,
phát biểu linh tinh, lan man. Cả 2 xu hướng này đều tác động không nhỏ đến hiệu
quả của hoạt động của nhóm và chất lượng trong thảo luận nhóm.
<i><b>2.3.3. Kết quả đạt được</b></i>
<i>2.3.3.1. Ưu điểm</i>
- Giáo viên:
+ Rút ra được những kĩ năng cần thiết trong khi tổ chức và quản lí điều hành hoạt
+ Biết được đặc điểm của mỗi học sinh, ghi nhận thành tích của học sinh tích cực
nhất;
+ Khi tiến hành thảo luận nhóm, giáo viên và học sinh cùng lúc có thể giải
quyết được nhiều vấn đề mà nếu như hoạt động cá nhân thì sẽ mất nhiều thời
gian.
+ Giáo viên có cơ hội gần gũi với học sinh hơn qua thời gian hướng dẫn học
sinh thảo luận. Giáo viên có thể nắm bắt những khó khăn mà học sinh gặp phải
và giáo viên có thể giải quyết hiệu quả và kịp thời, Giáo viên thực hiện vai trị
trợ giúp.
+ Tạo ra sự cởi mở, thân thiện giữa giáo viên và học sinh.
+ Giáo viên có cơ hội thể hiện kiến thức về thực tế của mình khi giải đáp
những thắc mắc của HS.
+ Giáo viên tổng kết kiến thức giúp HS hiểu vấn đề toàn diện hơn.
- Học sinh:
+ Bằng hoạt động thảo luận trong nhóm nhỏ, nội dung bài học được nắm vững hơn
hoàn toàn qua con đường độc lập suy nghĩ và hợp tác hoạt động có cọ xát trong
trao đổi, thảo luận với các thành viên khác
+ Học sinh nắm vững nội dung bài học, vừa bổ sung các câu trả lời của bạn, thích
được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề của nhóm mình đang làm và của cả
nhóm bạn
+ Khơng nản, kiên trì làm cho xong bài tập (có phần thi đua giữa các nhóm);
+ Khi trình bày bài viết của nhóm, học sinh thường học theo cách nói của giáo
viên hay của những người dẫn chương trình trên truyền hình mà các em xem; từ
đó các em mạnh dạn, năng động hơn.
+Thích thú khi được quây quần bên nhau với các bạn.
+ Thể hiện được năng lực bản thân.
+ Bộc lộ được khả năng tổ chức, điều khiển, ghi chép…
<i><b>2.3.3.2. Hạn chế </b></i>
- Đối với GV:
+ Nếu giáo viên sử dụng nhóm một cách tuỳ tiện, khơng có sự lựa chọn phù
hợp thì sẽ thảo luận khơng hiệu quả.
+ Nếu tổ chức khơng khoa học thì sẽ mất thời gian và có thể bị “cháy giáo án”.
+ Giáo viên dễ bị cuốn vào hoạt động của học sinh mà quên nhắc nhở hết thời
gian thảo luận của học sinh.
+ Giáo viên có thể bị sa vào rườm rà với nội dung trả lời dài dòng của một
nhóm nào đó. Cho nên giáo viên cần phải biết cắt ngang những câu trả lời dài
dòng của học sinh.
- Đối với HS:
+ Nhiều em học sinh yếu nên cịn nhút nhát, tự ti nên khơng tham gia thảo
luận. Trong nhóm chỉ có một số em làm việc.
+ Nhiều em nghịch ngợm xem đây là cơ hội tốt để đùa giỡn, phá phách.
+ Học sinh cịn ngại đứng trước đám đơng đặc biệt khi đứng trước lớp để diễn
tiểu phẩm nên chưa thể lột tả hết ý nghĩa của bài học.
+ Học sinh chưa tự giác khi giáo viên phân công nhiệm vụ để chuẩn bị cho tiết
học sau như chuẩn bị trang phục để đóng vai, phân cơng vai để hoàn thành tiểu
phẩm.
Để tổ chức hoạt động nhóm nhỏ có hiệu quả, có nhiều phương tiện giúp
giáo viên kích thích học sinh tham gia thảo luận. Do đó, tuỳ theo nhu cầu và mục
tiêu của mình, giáo viên có thể chọn các phương tiện phù hợp. Sau đây là một số
gợi ý về phương tiện khuyến khích sự thảo luận của sinh viên mà giáo viên có thể
dùng:
- Bài kiểm tra trắc nghiệm ngắn (về các nội dung còn chưa rõ ràng…).
- Giải quyết bằng một tình huống.
- Các tài liệu trực quan như hình ảnh,….
- Băng ghi âm hoặc hình (một cuộc phỏng vấn, âm thanh, …)
- Các tài liệu thu thập trên mạng internet.
- Các bản tóm tắt về một nội dung chủ đề theo trọng tâm bài học…
Tùy thuộc vào đối tượng học sinh, CSVC của nhà trường,…mà giáo viên có
thể sử dụng để kích thích q trình hoạt động của nhóm, tạo hứng khởi cho thành
viên trong mỗi nhóm tham gia thảo luận (Phải có định hướng thì học sinh mới có
Giáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp thảo luận khác nhau trong các
tiết học khác nhau để tránh trùng lắp dễ gây nhàm chán ở học sinh.
Chống tâm lý ỷ lại trong nhóm: Mỗi nhóm đều có một nhóm trưởng và cứ
thường thì nhóm trưởng phụ trách luôn cả việc phát biểu trước lớp về những ý
kiến của nhóm mình . Đây chính là cơ sở để cho những thành viên cịn lại trong
nhóm ỷ lại. Để khắc phục điều này, tôi đề nghị là thầy cơ nên thỉnh thoảng cử học
sinh khơng phải là nhóm trưởng phát biểu. Cứ làm thế vài lần là tâm lý ỷ lại sẽ
giảm bớt đi và buộc thành viên nào trong nhóm cũng phải chú ý.
Nếu lẻ thì có thể 5 vì 4 học sinh rất tiện lợi cho việc sinh hoạt vì sẽ ngồi
quay đầu vào nhau rất nhanh chóng. Nếu lớp 48 học sinh, sẽ có 12 nhóm nhỏ.
Trong 12 nhóm nhỏ này lại được phân công nghiên cứu những vấn đề mà thày cô
cho trên lớp. Nếu cần nghiên cứu 2 vấn đề thì 6 nhóm nhỏ cùng nghiên cứu một
vấn đề. Nếu cần nghiên cứu 3 vấn đề thì 4 nhóm nhỏ một đề tài v…v… Như vậy
thì dù cho bàn ghế được bố trí cố định như hiên nay cũng khơng gây ra trở ngại gì.
Về việc góp ý bổ sung cho nhau: Một vấn nạn phát sinh ngay từ khi giảng
dạy là khi các nhóm được phân cơng những vấn đề khác nhau thì nhóm đó chỉ có
đủ thì giờ để nghiên cứu đề tài của nhóm mình đã là một điều may mắn rồi. Vậy
thì vấn nạn đặt ra là “ làm thế nào để sau khi một nhóm trình bày ý kiến của mình
thì những nhóm khác có thể góp ý bổ sung?”
Khơng nên vận dụng phương pháp thảo luận quá 2 lần trong một tiết học
(nhiều lần quá chưa hẳn đã tốt vì thời gian trên lớp có hạn). Cũng khơng nên lạm
dụng thảo luận vì sẽ gây nhàm chán noi học sinh.
Về việc chọn đề tài: Đề tài thảo luận nên là những vấn đề mở (chưa có giải
<b>PHẦN KẾT LUẬN</b>
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học chính là tạo cơ hội
giúp cho mọi học sinh được tham gia một cách chủ động vào q trình học tập.
Đây cũng chính là phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, rèn luyện năng
lực giúp đỡ nhau, hợp tác với nhau thi đua với nhau trong q trình học tập.
Đây cũng chính là cơ sở để xây dựng tình bạn, xây dựng tập thể lớp đồn kết
gắn bó, cùng nhau học tốt.
Với các nội dung trên đề tài góp phần khắc phục tình trạng xem nhẹ
mơn GDCD hiện nay nên dẫn đến tình trạng khơng chú ý đến phương pháp dạy
học GDCD, tình trạng sử dụng các phương pháp một cách tuỳ tiện không phù
hợp với nội dung bài học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Từ đó gây
hậu quả là khơng lôi cuốn được người học làm giảm sút chất lượng bộ môn.
Để giúp người giáo viên GDCD trong trường THPT say mê gắn bó với
bộ mơn, đầu tư sức lực, trí tuệ của mình trong giảng dạy hồn thành mục tiêu,
nhiệm vụ của môn học. Tôi xin đề nghị các cấp quản lý giáo dục phải có sự
nhìn nhận đúng đắn đối với bộ mơn. Từ đó động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện để giáo viên GDCD tránh được mặc cảm, có sự tự tin khơng ngừng rèn
luyện nâng cao nghiệp vụ. Bên cạnh đó, bản thân người giáo viên GDCD cũng
cần phải xác định được vị trí vai trị của bộ mơn mình đảm nhiệm đối với mục
tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện để có sự tự tin vượt qua mọi khó
kgăn cản trở bằng chính khả năng của mình thơng qua các phương pháp dạy
học đầy tính lơi cuốn thuyết phục đối với người học.
đây sẽ là người giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THPT,