Tải bản đầy đủ (.docx) (4 trang)

Hoang Phu Ngoc Tuong

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (184.83 KB, 4 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Hoàng Phủ Ngọc Tường: Vẫn sống để viết </b>


Hoàng Phủ Ngọc Tường: Vẫn sống để viết15:04' 28/01/2009 (GMT+7) <b>- Nhưng biết đâu</b>
<b>chính nhờ viết mà anh cảm nhận cuộc sống vẫn gần gũi bên mình, nhờ viết mà trong khi bị </b>
<b>bệnh tật giam cầm trong căn phịng bé nhỏ, tâm trí anh vẫn vượt ra ngồi để hội nhập vào </b>
<b>cuộc sống đương thời: chính bằng cách viết anh đang níu giữ sự sống. </b>


Hồng Phủ Ngọc Tường (ngoài cùng hàng đầu, bên trái) nhân dịp mừng sinh nhật ông năm 2008
(Ảnh do tác giả cung cấp)


Trong bài Nhàn đàm viết về hoa ngũ sắc, Hồng Phủ Ngọc Tường đã ghi lại cảm xúc mình trước
ngày bỏ phố lên rừng gần bốn mươi năm trước.”Chào bầy hoa ngũ sắc ven đường, Cười sặc sỡ
<i>bên khung trời thơ ấu”. Bài viết nhắc đến cuộc gặp gỡ với Kiều Thái ở Kim Long – người bạn </i>
gái thời sinh viên, sau này là giáo sư Triết học tại Đại học Munich. Sau lần gặp nhau năm 1965,
hai người bạn một người lên rừng cầm súng, một người ra nước ngoài du học, hơn hai mươi năm
sau mới gặp lại.


Trước ngày lên rừng, anh Tường là giáo sư dạy triết tại trường Quốc học Huế. Giáo sư Trung
học thời ấy là một chức danh danh giá, có mức lương gấp hai viên chức thơng thường. Vì vậy
việc anh dứt áo ra đi khơng xuất phát từ bất mãn danh phận hay bức xúc về cơm áo, mà từ một
khát vọng mang màu sắc lý tưởng.


Khi lên rừng, anh mới chỉ có thơ. Khởi đầu là những tâm sự của người thầy giáo, trong đối thoại
tâm tư với học trò: “Đọc sử xưa, em hỏi,/ Lúc nước non lâm nguy,/Có phải chăng Nguyễn


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Hoàng Phủ Ngọc Tường và bạn bè thời trẻ (Ảnh do
tác giả cung cấp)Sau này, anh viết nhiều về các danh nhân: Nguyễn Trãi, Đặng Huy Trứ, Đào
Duy Từ... Tôi ngờ rằng danh nhân để lại ảnh hưởng sâu đậm nhất trên cuộc đời và hành trạng
của anh chính là Nguyễn Cơng Trứ, với ý tưởng tích cực về cơng danh “Đã mang tiếng đứng
<i>trong trời đất, Phải có danh gì với núi sơng.” Anh rất trọng chữ Danh “Chỉ có người chuộng hư </i>
danh mới đáng chê, còn người hiếu danh làm nên cái tên mình bằng cả một quá trình lao động


lâu dài thì đáng nể”. Cụ Nguyễn Cơng Trứ đã đề cao vai trò Kẻ sĩ ”Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt /
<i>Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên“. Bởi vậy trong đời anh Tường, lúc nào anh cũng muốn dấn bước lên </i>
trước, ý thức về người trí thức đi tiên phong ln dẫn dắt những lựa chọn lớn của anh.


Xuất thân là học sinh rồi giáo sư Quốc học, anh được đào tạo thực sự cơ bản về học vấn; Cái vốn
học vấn rất uyên thâm đó, đặc biệt là sự am tường về triết Tây và triết Đông, đã giúp anh đi vào
cuộc sống với những phân tích, mổ xẻ đầy sáng tạo, điều mà nhiều nhà văn bây giờ không làm
được vì thiếu sự tích lũy những kiến thức cơng cụ.


Mặt khác, nếu khơng có khoảng thời gian lặn lội trên Trường Sơn hay gắn bó với tuyến lửa Vĩnh
Linh thì anh sẽ thiếu hẳn một mảng vốn sống rộng lớn và chắc chắn sau 1975 anh không cầm bút
viết sớm như vậy (những tác giả miền Nam cùng xuất phát trong phong trào đấu tranh ở đô thị
với anh, như Trần Duy Phiên và các tác giả khác trong nhóm Việt, phải đến hơn mươi năm sau
mới trở lại văn đàn). Nếu như thế, có thể ta đã khơng có một Hồng Phủ Ngọc Tường với gia tài
tác phẩm phong phú như hiện nay.


Một nhà nghiên cứu văn học ở Pháp, anh Đặng Tiến, đã nhận định rằng văn chương Hoàng Phủ
Ngọc Tường là sản phẩm của chiến tranh cách mạng, bởi thời kỳ ở miền Nam, anh hầu như
khơng viết gì, tất cả tác phẩm đều ra đời sau khi anh thoát ly.


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

được định danh là một nhà văn chuyên viết ký, sau lời nhận xét rất nặng cân của Nguyễn Tuân:
”Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều ánh lửa. Ai đã đặt tên cho dịng sơng - viết về sơng
Hương, Ngọn núi ảo ảnh - viết về núi Bạch Mã, và nhiều bút ký về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên
và con người xứ Huế, cùng với những tác phẩm được tập hợp trong 15 cuốn sách đã làm cho anh
trở thành một tác gia kinh điển về thể loại ký trong văn học Việt Nam.


Vìvậy theo tơi, văn chương Hồng Phủ Ngọc Tường là sản phẩm của thời kỳ đất nước thống
nhất, với cảm hứng chủ đạo từ tâm thức người nghệ sĩ trong ba mươi năm qua: hàn gắn dân tộc
và đổi mới xã hội.



Hoàn cảnh xuất thân và quá trình sống làm cho anh, dù muốn dù không, đã thực sự là một cầu
nối hiệu quả nhất giữa giới trí thức từ hai miền Nam Bắc, giữa người cầm bút trong nước với trí
thức hải ngoại. Những năm từ bảy lăm cho đến trước khi anh bị tai biến não năm 1998, căn hộ
anh ở là nơi gặp gỡ của anh em văn bút trong nước, ngoài nước khi qua Huế.


Hoàng Phủ Ngọc Tường qua nét bút Đinh
CườngCó thể gặp ở đó những khuôn mặt quen thuộc trong Hội nhà văn Việt Nam: Thu Bồn,
Nguyễn Duy, Bùi Minh Quốc... Những khuôn mặt trí thức ở hải ngoại: Mai Ninh, Đặng Tiến,
Đinh Cường, Lê Bá Đảng, Điềm Phùng Thị... Khách đến chơi nhà anh có đủ từ ơng tiến sĩ mang
kính trắng dày cộp đến anh Phương Xích Lơ giang hồ chân đất, có cả nhà văn lão thành lẫn mầm
non văn nghệ vơ danh trên đường khăn gói quả mướp giang hồ từ Bắc vô Nam, ngẫu hứng ghé
lại rồi nương nhờ cả tháng nơi gác xép sau nhà.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

ấy đã liên tục diễn ra trong rất nhiều năm tháng, và cái căn hộ lầu hai gần Phú Cam ấy là nơi gặp
gỡ, tìm hiểu và kết thân, đã làm cho nhiều người xa lạ trở thành bạn hữu.


Như đã nói, cả đời anh, anh rất ngưỡng mộ Nguyễn Cơng Trứ, với anh thì cụ Nguyễn là một cầu
thủ siêu giỏi đã sút chính xác vào cầu mơn cuộc đời những đường bóng tuyệt vời. Cũng như
Nguyễn Công Trứ, cuộc đời anh có cả vinh quang và cay đắng, nói chính xác thì vinh quang
nhiều hơn cay đắng. Nhưng ở anh có một điều Nguyễn Cơng Trứ khơng bao giờ nói đến, đó là
nỗi buồn. Với anh, sau mọi thăng trầm của cuộc sống, anh hiểu: Rồi thi sĩ sẽ quay về với ngơi
nhà ở đời của mình là nỗi buồn.


Có những lúc anh hụt hẫng và rất cơ đơn, như đã thổ lộ trong thơ:
<i>Những chiều Bến Ngự giăng mưa,</i>


<i>Chừng như ai đó mơ hồ gọi tơi,</i>
<i>Tơi ra mở cửa đón người,</i>


<i>Chỉ nghe tiếng gió thổi ngồi hành lang. </i>



Người đọc thơ dễ dàng nhận ra hình ảnh anh trong căn hộ bên dịng sơng Bến Ngự. Một căn hộ
luôn đầy ắp tiếng cười, tiếng ngâm thơ, đọc truyện. Nhưng đây là những phút thăm thẳm một
mình:


<i>Nhà tơi ở phố Đạm Tiên,</i>


<i>Dưới dịng nước chảy, bên trên có cầu</i>
<i>Cây sầu đơng, cây sầu đau,</i>


<i>Thương tơi, cây cũng nở màu hoa râm.</i>


Sau những năm ra Quảng Trị làm báo, sức khoẻ anh xuống nhiều, hầu như năm nào cũng vào
viện vì căn bệnh xuất huyết dạ dày. Có một nhà chiêm tinh đã đốn anh khơng sống được qua
sáu mươi tuổi. Những tháng năm làm tập thơ “Người hái phù dung “, anh thường bị ám ảnh bởi
cái chết.


Nhưng như một phép lạ, sau cơn đột quỵ năm 1998, anh đã qua được và từ đó đến nay dù nằm
yên một chỗ, anh vẫn sống với tất cả ý nghĩa của sự sống: làm việc, cảm nhận và yêu thương.
Anh đã sống lâu hơn rất nhiều những người cùng thời mạnh khỏe. Và viết, vẫn giọng văn tinh tế,
uyên bác. Hãy tưởng tượng anh đã lao động vất vả như thế nào khi bàn tay khơng cịn cầm bút
được nữa. Hãy tưởng tượng anh đã khó khăn thế nào khi khơng còn được đi đến nơi này nơi kia
để thu thập thêm vốn sống, vậy mà tự rút ruột, anh vẫn còn vốn để viết.


Bây giờ anh đã rời bỏ căn hộ ở đường Nguyễn Trường Tộ để về ở vùng Nam Giao, trong một
ngôi nhà yên tĩnh hơn. Những ngày dài anh nằm trên giường, đọc sách, và viết - tức là đọc cho
chị Dạ ghi lại những ý tưởng của mình. Nhiều bạn bè lo lắng cho sức khoẻ của anh đã khuyên:
Bây giờ nên tập trung dưỡng bệnh, đừng viết mà đầu óc căng thẳng, nguy hiểm lắm.


Nhưng biết đâu chính nhờ viết mà anh cảm nhận cuộc sống vẫn gần gũi bên mình, nhờ viết mà


trong khi bị bệnh tật giam cầm trong căn phịng bé nhỏ, tâm trí anh vẫn vượt ra ngoài để hội
nhập vào cuộc sống đương thời: chính bằng cách viết anh đang níu giữ sự sống.


Cuộc đời anh lúc ba mươi tuổi bỏ thành phố lên rừng với giấc mơ hịa bình, năm mươi tuổi dấn
thân vào sự nghiệp làm báo với khát vọng đổi mới đất nước, và hơn ba mươi năm sau ngày hịa
bình làm cầu nối thân hữu giúp cho những người đang xa cách trở thành bè bạn. Giờ đây anh
đang chiến đấu với một hoàn cảnh cực kỳ khắc nghiệt để tồn tại, với vũ khí cuối cùng mà anh
cịn có được: bản năng sáng tạo.


</div>

<!--links-->
Ai đã đăt tên cho dòng sông? Hoàng Phu Ngọc Tường
  • 29
  • 985
  • 8
  • Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

    Tải bản đầy đủ ngay
    ×