Tải bản đầy đủ (.pdf) (69 trang)

Sự phê phán tôn giáo của c mác trong lời nói đầu – góp phần phê phán triết học pháp quyền của hegel

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.32 MB, 69 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
  

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
SỰ PHÊ PHÁN TƠN GIÁO CỦA C.MÁC TRONG
"LỜI NÓI ĐẦU - GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC
PHÁP QUYỀN CỦA HEGEL”

Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp

: ThS. Lê Đức Tâm
: Võ Thị Hạnh
: 12SGC

Đà Nẵng, 5/2016

1


LỜI CẢM ƠN
Kính thưa q thầy cơ!
Em nhớ có người đã từng hỏi: Thế gian này có ai khơng cần thầy dạy,
mà vẫn am tường tất cả hay không? Và em cũng đã tìm thấy, em đã được đọc,
đã được nghe câu trả lời, đó là: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Và em cũng đã suy
ngẫm, chiêm nghiệm về câu trả lời đó.
Tuy nhiên, sự chiêm nghiệm về hàm ý câu trả lời trên thì đến hơm nay,
khi bước vào những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời sinh viên, em mới


hiểu hơn bao giờ hết. Để có được kết quả như ngày hơm nay, bên cạnh sự
chăm lo của người thân trong gia đình, sự nỗ lực của bản thân mình, thì yếu tố
chính đưa đến bến bờ thành công là nhờ vào công dạy bảo của thầy cơ trong
suốt thời gian qua. Vì vậy, em xin dành trang đầu tiên của khóa luận để gửi
đến thầy cô những lời biết ơn sâu sắc nhất.
Em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Giáo dục Chính trị trường
Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng và Khoa Mác – Lênin trường Đại học
Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã giúp đỡ, dạy bảo em trong suốt quá trình học
tập, và thời gian viết khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy Lê Đức Tâm người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hồn thành khóa luận này.
Là sinh viên, mới bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa, mặc dù đã
có nhiều cố gắng, song khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.Vì vậy, em
rất mong nhận được sự góp ý của q thầy cơ và các bạn để khóa luận được
hồn thiện hơn, cũng như em tự hoàn thiện kỹ năng nghiên cứu khoa học và
trình bày khóa luận.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
2


Đà Nẵng, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Võ Thị Hạnh

3


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi thực hiện dưới
sự hướng dẫn của Th.S Lê Đức Tâm và chưa từng công bố trong bất cứ cơng

trình nào khác.
Tơi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của cơng trình này.

Đà Nẵng, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Tác giả

Võ Thị Hạnh

4


MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 7
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ................................................................ 10
3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu……………………………………………..4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................. 11
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ........................................................ 11
6. Cấu trúc đề tài ............................................................................................. 12
7. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................ 12
B. PHẦN NỘI DUNG ................................................................................... 15
Chương 1 “LỜI NÓI ĐẦU – GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC
PHÁP QUYỀN CỦA HEGEL” CỦA C.MÁC VÀ CHỦ ĐỀ PHÊ PHÁN
TÔN GIÁO CỦA C.MÁC TRONG TÁC PHẨM ...................................... 15
1.1. Về “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”
của C.Mác........................................................................................................ 15
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm ........................................ 15
1.1.1.1. Hồn cảnh ra đời tác phẩm................................................................. 15
1.1.1.2. Mục đích của tác phẩm ...................................................................... 16
1.1.2. Cấu trúc và chủ đề tư tưởng của tác phẩm “ Lời nói đầu – Góp phần

phê phán triết học pháp quyền của Hegel” của C.Mác ................................... 17
1.1.2.1. Cấu trúc của tác phẩm “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học
pháp quyền của Hegel” của C.Mác ................................................................. 17
1.1.2.2. Chủ đề tư tưởng của tác phẩm “ Lời nói đầu- Góp phần phê phán triết
học pháp quyền của Hegel” của C.Mác .......................................................... 24
1.2. Sự phê phán tơn giáo của C.Mác trong “Lời nói đầu – Góp phần phê phán
triết học pháp quyền của Hegel” ..................................................................... 28
5


1.2.1. Mục đích phê phán tơn giáo của C.Mác ............................................... 28
1.2.2. Phương pháp phê phán tôn giáo của C.Mác ........................................ 29
1.2.3. Tư tưởng đấu tranh giải phóng con người thốt khỏi sự tha hóa của tơn
giáo của C.Mác ............................................................................................... 32
Chương 2 ......................................................................................................... 37
SỰ PHÊ PHÁN TÔN GIÁO CỦA C.MÁC TRONG “LỜI NÓI ĐẦU – GÓP
PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HEGEL” ................ 37
2.1. C.Mác vạch rõ nguồn gốc, bản chất của tôn giáo .................................... 37
2.1.1. Nguồn gốc của tôn giáo ........................................................................ 37
2.1.1.1. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo .......................................................... 37
2.1.1.2 Nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lí của tơn giáo .................... 40
2.1.2. Bản chất của tôn giáo ........................................................................... 43
2.2. C.Mác chỉ ra cấu trúc của tôn giáo và nêu ra chức năng xã hội của tôn
giáo .................................................................................................................. 46
2.2.1. Cấu trúc của tôn giáo............................................................................ 46
2.2.2. Các chức năng xã hội của tôn giáo....................................................... 50
2.3. C.Mác đánh giá vai trị, ảnh hưởng của tơn giáo trong cuộc sống con
người và xã hội trong lịch sử........................................................................... 54
2.3.1. Vai trị của tơn giáo trong cuộc sống con người và xã hội trong lịch sử
......................................................................................................................... 54

2.3.2. Ảnh hưởng của tôn giáo trong cuộc sống con người và xã hội rong lịch
sử ..................................................................................................................... 58
C. PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................... 60
D. PHẦN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................... 65

6


A. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang sống trong những thập niên đầu của thế kỉ XXI, khi mà xã
hội lồi người có những biến đổi lớn trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
của thế giới cùng với những biến đổi phức tạp trong đời sống tín ngưỡng, tơn
giáo... Trong một xã hội như vậy thì có một bộ phận khơng thể thiếu được bởi
lẽ nó ln đóng vai trị nhất định trong đời sống tinh thần con người, đó chính
là tơn giáo.
Việc phê phán tôn giáo giờ đây càng trở nên phức tạp. Hiện tượng cuồng
tín tơn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để phục vụ cho các mục đích phi tín
ngưỡng, tơn giáo. Các tổ chức khủng bố Al-Qaeda, IS… Sự xuất hiện nhiều
dạng tín ngưỡng, giáo phái mới đã làm cho giới học giả và các tổ chức chính
trị trên thế giới lúng túng trong cách giải quyết vấn đề.
Ở phương Tây các nhà triết học nghiên cứu tôn giáo không chỉ phê phán
thế giới quan tôn giáo, chứng minh tính phi lý của nó hay luận chứng cho vấn
đề Thượng đế có tồn tại hay khơng, mà họ đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ
giữa tôn giáo và tính hiện thực, tơn giáo và đạo đức, tơn giáo và ý nghĩa cuộc
sống… Các vấn đề nghiên cứu cụ thể mà họ nêu lên không thỏa mãn với quan
điểm truyền thống về tôn giáo, đặc biệt quan điểm của họ về tôn giáo dường
như đối lập lại quan điểm của Triết học Mác. Họ không xem tôn giáo là một
hình thái ý thức xã hội, khơng xem tơn giáo là loại tư biện về những gì thốt

ra khỏi tư duy khoa học mà xem tôn giáo là tồn tại xã hội, là hiện thực. Ngoài
ra, để bảo vệ cho quan điểm của mình về tính chân lý của tôn giáo, các học
thuyết, các nhà triết học chứng minh rằng quyền uy của khoa học là ở tính
chân thực và khách quan, nhưng tính chân thực và khách quan đó khơng đủ để
tin cậy, nó chỉ gần đúng và do vậy, trong khoa học vẫn có dấu ấn của niềm tin,
7


về bản chất nó khơng khác gì niềm tin tơn giáo. Khi nghiên cứu tôn giáo, các
học thuyết, các nhà triết học có tham vọng đưa ra định nghĩa mới về nó, ít
nhất cũng thêm bớt nội hàm cho khái niệm với mong muốn giải thích những
diễn biến phức tạp của hiện tượng tôn giáo trong xã hội ngày nay. Do chưa
được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng nên quan niệm về tôn giáo của các nhà triết học trước Mác cịn
nhiều sai lầm, hạn chế. Nhiều khía cạnh về bản chất và chức năng của tôn
giáo chưa nhận thức đúng đắn, con đường khắc phục tôn giáo chưa được chỉ
ra một cách khoa học, sự phê phán tôn giáo thiểu tính thực tiễn.
Trong tình hình như vậy, việc tìm hiểu một cách đầy đủ và nghiên cứu về
vấn đề phê phán tôn giáo của C.Mác là một việc làm cần thiết, trước hết là
khẳng định những luận điểm về tôn giáo của ông được xem xét và đánh giá
trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Thứ đến, sau khi nghiên cứu đầy đủ những quan điểm của chủ nghĩa Mác về
tôn giáo, những người mác xít cần phải phát triển, bổ sung và hồn thiện nó
trong điều kiện hiện nay khi tơn giáo và thời đại đã có nhiều thay đổi.
Mặt khác, vai trị tơn giáo trong đời sống được thể hiện rõ nét, tôn giáo
tham gia vào nhiều lĩnh vực của đời sống tinh thần, nó khơng chỉ ảnh hưởng
sâu sắc trong một phạm vi quốc gia riêng lẽ mà tầm ảnh hưởng cịn mang tính
quốc tế. Tơn giáo đã và đang tự thể hiện như một bộ phận cấu thành quan
trọng của lịch sử xã hội loài người. Đối với Việt Nam tôn giáo như là một nhu
cầu của bộ phận nhân dân, góp phần duy trì đạo đức xã hội. Tơn giáo đề cao

tính nhân văn hướng thiện, khuyên con người yêu thương giúp đỡ nhau, tránh
điều ác phi nhân cách. Đạo đức tơn giáo có nhiều điều phù hợp với đạo đức xã
hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó tơn giáo biểu hiện mặt tiêu cực tơn giáo hướng
con người đến hạnh phúc hư ảo, hạn chế sự phát triển tư duy duy vật, khơng
tích cực chủ động sáng tạo trong việc tạo dựng hạnh phúc thật sự nơi trần gian
mà lại hi vọng hạnh phúc thật sự sau khi chết. Việc phê phán tôn giáo làm con
8


người thoát khỏi ảo tưởng để con người tư duy hành động, xây dựng tính hiện
thực của mình với tư cách là một con người đã thoát khỏi ảo tưởng đạt đến
tuổi có lý trí để con người vận động xung quang cái mặt trời thật sự của mình.
“Lời nói đầu - Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” của
C.Mác được viết trong thời kì đại cơng nghiệp cơ khí đã bước đầu phát triển,
có vị trí và tầm quan trọng thể hiện tư tưởng thiên tài của C.Mác trong đó
C.Mác đã nêu bật những tư tưởng có tính chất kinh điển về tơn giáo đó là
những luận điểm khách quan và khoa học. Từ chỗ tin theo tôn giáo C.Mác phê
phán tôn giáo rồi từ phê phán tơn giáo C.Mác tiến đến phê phán chính trị và
pháp quyền. Điều đó giúp cho C.Mác nhận thức được sự cần thiết phải biến
đổi các quan hệ chính trị trên cơ sở đó xây dựng và hồn thiện từng bước quan
điểm triết học của ông. Đây là bài viết đánh dấu sự chuyển biến hoàn toàn của
C.Mác từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản. Trong “Lời
nói đầu - Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” C.Mác chỉ rõ
không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn
giáo đồng thời triết học Mác phản đối quan điểm hạnh phúc mang tính chất ảo
tưởng cực đoan. C.Mác chỉ ra đặc trưng của tôn giáo là thế giới quan lộn
ngược hay tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Trong xu thế đổi mới hiện nay cùng với những chuyển biến căn bản
trong đời sống kinh tế xã hội, sự đổi mới trong tư duy lí luận trong nhận thức
về tôn giáo đã và đang diễn ra. Sự phê phán tơn giáo của C.Mác đối với thế

giới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn giúp con người có khả năng nhận thức một
cách đúng đắn về thế giới và họ có thể cải biến tự nhiên cũng như xã hội bằng
khả năng và tư duy của mình.
Là một sinh viên tơi nhận thấy tồn diện được tầm quan trọng về những
vấn đề trên có ý nghĩa trong việc học tập và nghiên cứu sau này. Vì vậy, tôi đã
mạnh dạn chọn đề tài: “Sự phê phán tôn giáo của C.Mác trong Lời nói đầu
9


– Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” để làm khóa luận
tốt nghiệp đại học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những quan điểm phê phán tôn giáo của C.Mác trong
“Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, đề tài
tiếp tục phân tích nguồn gốc, bản chất, cấu trúc và chức năng của tơn giáo, từ
đó đánh giá vai trị, ảnh hưởng của tôn giáo trong cuộc sống con người và xã
hội trong lịch sử. Qua đó, vận dụng quan điểm phê phán tôn giáo của C.Mác
vào quản lý hoạt động tôn giáo ở nước ta.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích đã đề ra đề tài tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, làm rõ bối cảnh lịch sử ra đời và mục đích của tác phẩm
“Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” của
C.Mác.
- Hệ thống hóa sự phê phán tơn giáo của C.Mác trong “Lời nói đầu –
Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”. Qua đó, thẩm định lại
giá trị khoa học và nhân văn trong các tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác về
tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu
Với điều kiện nghiên cứu và năng lực có hạn, tơi chỉ đi sâu tìm hiểu, làm
sáng tỏ vấn đề - Sự phê phán tơn giáo của C.Mác trong “Lời nói đầu – Góp
phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”. Nội dung chính trong “Lời
nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” cũng được đề
cập nhưng chỉ là cơ sở, tiền đề để tìm hiểu sâu sắc và đầy đủ hơn về sự phê
phán tôn giáo của C.Mác.
10


4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là những quan điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với
phương pháp luận của bộ môn tôn giáo học và với quan điểm đổi mới tư duy
của Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội VI đến nay.
* Phương pháp luận nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, tơi đã sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử. Đồng thời đề tài cũng sử dụng phương pháp phân tích
và tổng hợp, phương pháp miêu tả, phương pháp thống nhất giữa logic và lịch
sử, đánh giá để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề tài cũng có ý nghĩa thiết thực giúp cho người viết bước đầu làm quen
với công tác nghiên cứu. Từ đó, giúp bản thân người viết rèn luyện, nâng cao
kiến thức đồng thời thông qua tác phẩm này càng thấm thía giá trị của hoạt
động thực tiễn và học được phương pháp luận sắc bén cũng như cách lý giải
vấn đề đầy sức thuyết phục của C.Mác để vận dụng vào q trình học tập và
cơng tác của mình.
- Đề tài cố gắng trình bày một cách cụ thể về sự phê phán tơn giáo của

C.Mác trong “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Heghel”. Vì vậy, kết quả của đề tài nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập các môn lý luận như: Triết học, Tôn
giáo học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Giáo dục công dân… của các bạn sinh
viên, học sinh và cho những ai quan tâm tới đề tài này.

11


6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội
dung khóa luận gồm 2 chương, 5 tiết.

7. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu tôn giáo, nhất là nghiên cứu vấn đề sự phê phán tôn
giáo của C.Mác được rất nhiều tác giả, tác phẩm, các cơng trình, nghiên cứu
một cách nghiêm túc.
Chúng ta có thể kể tới một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề
phê phán tơn giáo như L.Phoi-ơ-bắc với cuốn “Bản chất đạo Cơ Đốc” (1841)
trong đó ơng coi tơn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất
con người. Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu bất lực của con người dưới hình
thức thần bí. Song L.Phoi-ơ-bắc chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế xã hội
của vấn đề lí giải nguồn gốc và bản chất của tơn giáo.
Trong tác phẩm "Định nghĩa về hiện tượng tôn giáo và về tôn giáo" nhà
xã hội học, tôn giáo người Pháp - Durkheim - nhận xét rằng các nhà thần học
và tôn giáo học đều gán cho tôn giáo hay tư duy tơn giáo những tính chất
riêng biệt, những phương pháp riêng biệt phản ánh thế giới hiện thực, thoát
khỏi nhận thức tầm thường. Ơng viết: “Một khái niệm nói chung được coi là
đặc trưng cho tất cả những gì là tơn giáo đó là khái niệm về cái siêu tự
nhiên”. [23; tr.56].

Cuốn “Tôn giáo chỉ trong giới hạn đơn thuần của lý tính” của I.KANT
lần đầu tiên xuất bản vào năm 1793 ở Koenigsberg. Kant định nghĩa tôn giáo
như sau: “Tôn giáo là sự nhận thức tất cả những nghĩa vụ của chúng ta như
những điều răn của Chúa. Những điều gì mà trước đây tơi cần biết rằng cái gì
đó là một điều răn để nhận biết cái bổn phận của tơi thì đã được tơn giáo khải
huyền. Ngược lại những điều mà tơi có trách nhiệm phải biết trước đó là bổn
phận hơn là thừa nhận như một điều răn thì đó chính là tơn giáo tự nhiên”.
12


[28; tr.5]. Tuy nhiên, định nghiã tôn giáo của Kant có phần phiến diện vì mới
chỉ ra các khía cạnh thần học và đạo đức của tôn giáo. Sự khác biệt giữa tơn
giáo và các tín ngưỡng cũng như các khía cạnh văn hóa xã hội, thiết chế của
tơn giáo chưa được đề cập.
Một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam, trong một số bài viết cũng đã đề cập
đến sự phê phán của C.Mác đối với tôn giáo. Trước hết, cuốn sách C.Mác –
Ph.Ăngghen về vấn đề tôn giáo của Nguyễn Đức Đạt (chủ biên) nhà xuất bản
khoa học xã hội, xuất bản năm 1999, trong tác phẩm này tác giả đã tuyển chọn
những ý kiến của C.Mác và Ph.Ăngghen về tơn giáo, sưu tập và trích lục
những tác phẩm và những đoạn văn viết về tôn giáo trong C.Mác –
Ph.Ăngghen tồn tập. Những ý kiến của hai ơng về tơn giáo vừa có tính
ngun tắc, đúng đắn, vừa mang tính chất sắc bén với những luận điểm và
hành vi phản cách mạng, phản khoa học.
Tiếp đến, cuốn sách C.Mác và Ph.Ăngghen bàn về cơ sở tồn tại và biến
đổi của tôn giáo của TS.Nguyễn Phú Lợi, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh. Cuốn sách tập hợp những tác phẩm và những ý kiến
chủ yếu của C.Mác, Ăngghen về cơ sở tồn tại và mất đi của tôn giáo dựa trên
cơ sở quy luật phát triển của xã hội đương thời. Tuy nhiên, do sự hạn chế của
lịch sử, chủ nghĩa xã hội chưa xuất hiện và những điều kiện mất đi của tôn
giáo chưa có, nên các ơng chỉ mới nêu lên một cách tổng quát cơ sở xã hội

cần thiết cho sự tiêu vong của tôn giáo.
Năm 2005, tập thể tác giả TS.Đỗ Minh Hợp, TS.Nguyễn Anh Tuấn,
TS.Nguyễn Thanh, TS.Lê Hải Thanh xuất bản cuốn sách Tơn giáo lí luận xưa
và nay, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, trong chương II của phần thứ
nhất tập trung nghiên cứu các tiêu đề lịch sử triết học của tơn giáo học, trình
bày quan điểm các nhà triết học tiền bối trong lĩnh vực tôn giáo.

13


Các tác phẩm kinh điển: Nghiên cứu về tôn giáo được trình bày trong
C.Mác – Ph.Ăngghen tồn tập, các tập 1, 2, 3, 20, 21, 23, 42… và trong
V.I.Lênin toàn tập, các tập 11, 12, 17, 29, 37, 38...
Một số bài trong các Tạp chí, Tập san: Tơn giáo, thuốc phiện của nhân
dân và sự phản kháng chống lại khốn cùng thực tại – Các quan điểm của Mác
và Lênin – Sergio – Vuscovic Roto (Tạp chí Nghiên cứu Tơn giáo, số 2,
2000), C.Mác và Ăngghen với vấn đề xã hội học tơn giáo – Jean Paul
Willaime (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 1, 2002), Lutvich Phoiơbắc bàn về
tôn giáo – ThS. Nguyễn Hồi Sanh (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3,
2000), Từ quan điểm duy vật lịch sử của C.Mác xem xét vấn đề tôn giáo ở
nước ta – TS Nguyễn Hữu Thảo (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4, 2004).
Các tác phẩm, bài báo, bài viết tuy có đề cập, nghiên cứu tới vấn đề phê
phán tôn giáo của C.Mác nhưng hầu hết chưa chỉ rõ bản chất, chức năng của
tôn giáo hay là phê phán tôn giáo một cách cụ thể. Đề tài nghiên cứu của
Khoá luận tốt nghiệp này tiếp tục đi sâu nghiên cứu để có một cái nhìn thất
đúng về sự phê phán tôn giáo của Mác, nhất là trong “Lời nói đầu – Góp phần
phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, trong bối cảnh của thế giới bước
sang thế kỷ XXI đã có nhiều thay đổi hiện nay.

14



B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
“LỜI NÓI ĐẦU – GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC PHÁP
QUYỀN CỦA HEGEL” CỦA C.MÁC VÀ CHỦ ĐỀ PHÊ PHÁN
TÔN GIÁO CỦA C.MÁC TRONG TÁC PHẨM
1.1. Về “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền
của Hegel” của C.Mác
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm
1.1.1.1. Hồn cảnh ra đời tác phẩm
Tác phẩm “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hegel” được C.Mác viết cuối năm 1843, tháng 1 năm 1844 và đã được đăng
trong Tạp chí “Niên giám Pháp – Đức” năm 1844, tác giả đã ký tên C.Mác.
Tác phẩm này đã được Liên Xơ dịch từ ngun văn tiếng Đức trên Tạp chí
“Niên giám Pháp – Đức” và đăng trong bộ “Toàn tập C.Mác và Ph.Ăngghen”, tập 1 do Nhà xuất bản sách chính trị quốc gia Liên Xơ xuất bản tại
Mát-xcơ-va năm 1955.
Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt
Nam, Hội đồng xuất bản toàn tập C.Mác và Ăngghen đã dựa theo bộ sách
nguyên bản bằng tiếng Nga nới trên”, dịch sang tiếng Việt và in trong bộ
“Toàn tập C.Mác và Ăngghen”, tập 1 do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự
thật xuất bản năm 1995, từ trang 569 đến trang 590.
C.Mác viết tác phẩm này trong thời kì đại cơng nghiệp cơ khí đã bước
đầu phát triển, giai cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử, song các cuộc đấu
tranh của họ còn phân tán, lẻ tẻ, có tính chất tự phát vì chưa được một lí luận
cách mạng khoa học soi đường.

15



Lúc này ở nước Đức triết học pháp quyền của Hegel đã được chính
quyền thừa nhận, tơn giáo được xem là nền tảng tinh thần của chế độ chính trị
Phổ, tình hình trong nước đang dấy lên phong trào đấu tranh phê phán tơn
giáo một cách nhằm giải phóng nước Đức khỏi sự tha hóa về tơn giáo và tha
hóa về chính trị do khơng dám đấu tranh trực diện chống Nhà nước Phổ về
mặt chính trị, nên phải đấu tranh gián tiếp bằng cuộc đấu tranh phê phán tôn
giáo, vì thế nhà nước Phổ đã đề ra chế độ kiểm duyệt, cơng khai cấm các nhà
báo và báo chí viết và đăng các bài phê phán về tôn giáo.

1.1.1.2. Mục đích của tác phẩm
“Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”
không phải là một tác phẩm riêng của C.Mác mà chỉ là phần dẫn luận cho
“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, và nó được viết sau khi
tác phẩm chính hồn thành – tác phẩm chính do C.Mác viết năm 1843, thế
nhưng với những nội dung phong phú, tính bước ngoặt về cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận hàm chứa trong đó, là tác phẩm đánh dấu bước chuyển
lập trường của C.Mác, nên nó xứng đáng được giới thiệu như một tác phẩm
riêng của Người.
Sự lạ lùng về logíc thời gian của “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết
học pháp quyền của Hegel” của C.Mác có thể được giải thích bằng q trình
chuyển biến tư tưởng cơ bản của người sáng lập chủ nghĩa Mác. Lúc đó phái
Hegel trẻ đấu tranh phê phán bằng cách tiếp tục cách mạng hóa tư tưởng của
Hegel, thơng qua việc sữa chữa một số luận điểm của ông, nhất là về tơn giáo
và nhà nước. Theo C.Mác hình thức đấu tranh này chỉ dừng lại ở phê phán
“thuần túy”, mà không biến phê phán lý luận thành phê phán thực tiễn, phê
phán tôn giáo thành phê phán cõi trần, phê phán thần học thành phê phán
chính trị. Người cho rằng đó chỉ là những tiếng la ồn ào vơ nghĩa. Cùng lúc
đó, các nhà dân chủ cách mạng – một bộ phận cấp tiến trong tầng lớp tri thức
16



tư sản Đức có tư tưởng dân chủ, đấu tranh phê phán những hạn chế trong luật
pháp nhà nước, nhưng cuộc đấu tranh đó lại mang tính chất thỏa hiệp, địi hỏi
những cải cách nhỏ nhặt, khơng dám dùng biện pháp cách mạng và đấu tranh
triệt để.
Trước tình hình như thế, C.Mác viết tác phẩm này nhằm góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Hegel, thơng qua đó vạch trần chế độ quân chủ
chuyên chế phản động Phổ, phân tích cơ cấu giai cấp xã hội Đức và vai trị
thật sự của Nhà nước trong xã hội đó, đồng thời vạch ra tính chất nữa vời của
cách mạng Đức và chỉ rõ nguồn gốc kinh tế của các vấn đề chính trị - xã hội,
đặc biệt là đã nêu bật được vai trị của giai cấp vơ sản là lực lượng xã hội duy
nhất có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội
chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Đây là bài viết đánh dấu bước chuyển dứt khoát của C.Mác từ lập trường
dân chủ cách mạng với thế giới quan duy tâm sang lập trường chủ nghĩa cộng
sản với thế giới quan duy vật. Với bước chuyển biến này C.Mác đã đoạn tuyệt
với chủ nghĩa duy tâm, khắc phục được những quan niệm duy tâm của phái
Hegel trẻ cho rằng bản thân sự phê phán là động lực phát triển lịch sử.

1.1.2. Cấu trúc và chủ đề tư tưởng của tác phẩm “Lời nói đầu –
Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” của C.Mác
1.1.2.1. Cấu trúc của tác phẩm “Lời nói đầu – Góp phần phê
phán triết học pháp quyền của Hegel” của C.Mác
Bố cục tác phẩm gồm 3 phần:
Thứ nhất, phê phán triết học Hegel và phái Hegel trẻ, phủ định triết học
theo nghĩa cũ và khẳng định triết học theo nghĩa mới.
Để làm rõ quan niệm C.Mác về vấn đề tôn giáo trong tác phẩm này, cần
hiểu việc phê phán triết học pháp quyền của Hegel và phê phán tôn giáo của
phái Hegel trẻ.
17



- Triết học pháp quyền của Hegel là “triết học tư biện về pháp quyền
một sự tư duy trừu tượng, tách rời cuộc sống, về nhà nước hiện đại”. “Triết
học pháp quyền” là tên gọi ngắn gọn và quen thuộc dành cho tác phẩm lừng
danh mang đến hai nhan đề: “Các nguyên lý của triết học pháp quyền”
(Grundlinien der Philosophie des Rechts) và “Đại cương pháp quyền tự nhiên
và khoa học về Nhà nước” (Naturrecht und Staatswissenschaft im
Grundrisse) của Hegel sau khi tác giả của nó đã qua đời. Hơn thế nữa, tên
gọi “triết học pháp quyền” còn trở thành “sở hữu” riêng của Hegel, đánh dấu
sự thắng lợi của ông về mặt thuật ngữ khi nó thay thế và bao hàm cả hai môn
học truyền thống ở phương Tây: học thuyết về pháp quyền tự nhiên và học
thuyết về Nhà nước.
Phái Hegel trẻ mong muốn cách mạng hóa tư tưởng của thầy Hegel một
cách triệt để. Sự khác nhau giữ những đại biểu của phái Hegel trẻ với chính
Hegel thể hiện trước hết ở tinh thần phê phán mạnh mẽ của họ, đối tượng phê
phán: tơn giáo, mục đích phê phán: giải phóng nước Đức khỏi sự tha hóa tơn
giáo, cũng như tha hóa chính trị. Tuy nhiên những tiếng gào thét đó, theo
C.Mác vẫn chưa đáp ứng nhu cầu giải phóng con người hiện thực. Phải đi từ
“phê phán thượng giới” đến “phê phán cõi trần”, biến phê phán tôn giáo
thành phê phán pháp quyền, biến phê phán thần học thành phê phán chính trị.
Điều này cho thấy rõ sự dứt bỏ của C.Mác đối với Hegel trẻ. Theo C.Mác,
không cần phải phê phán tôn giáo nữa, việc làm đó khơng giải quyết được
tình cảnh của hiện thực lúc đó, vấn đề là ở chỗ cần quay trở lại với hiện thực,
xem xét hiện thực và phê phán chính cái hiện thực đang nhấn chìm con người
xuống cuộc sống khổ ải lầm than, là đi tìm lời giải đáp cho cái hiện thực ấy.
Những tư tưởng sâu sắc đó của C.Mác chuyển sự phê phán tơn giáo trên
thượng giới thành sự phê phán chính trị và pháp quyền dưới cõi trần, gắn liền
sự phê phán này với cuộc đấu tranh thực tiễn của giai cấp cơng nhân, giải
phóng con người đã thể hiện rõ quan niệm duy vật về lịch sử của ông.

18


Thơng điệp của C.Mác: “Khơng thể xóa bỏ được triết học nếu khơng
thực hiện nó trong hiện thực”. Khơng phải xóa bỏ, hay phủ định triết học nói
chung, mà xóa bỏ triết học theo nghĩa cũ tại Đức, thứ triết học đã hồn thành
nhiệm vụ của mình ở giai đoạn trước, nhưng giờ đây không đáp ứng được nhu
cầu của thời đại mới, nó phải được thay thế.
- Thứ hai, phần phê phán tơn giáo
Cần có thái độ rõ ràng đối với tôn giáo, không phải thay thế Cơ Đốc giáo
bằng tơn giáo của tình u hay những gì tương tự, mà cần vạch ra cơ sở thực
hiện của tôn giáo, khắc phục những ảo tưởng tôn giáo, vươn tới những giá trị
thực sự của con người. “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải tôn
giáo sáng tạo ra con người”. [31; tr.13]. Con người không hiểu theo nghĩa nào
khác hơn là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Tôn giáo là sản phẩm
của những quan hệ xã hội. Tính chất hai mặt của tơn giáo trong nhận định của
C.Mác, sau khi ông chỉ ra cơ sở xã hội của nó: “Sự nghèo nàn của tôn giáo
vừa là biểu hiện nghèo nàn của hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự
nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là
trái tim của thế giới khơng có trái tim cũng giống như là tinh thần của những
trật tự khơng có tin thần”. [31; tr.14].
Phải hiểu ý này như thế nào?
Một là, tơn giáo đóng vai trị là “liệu pháp tinh thần của con người”
[32; tr.86] có nghĩa là “tơn giáo vừa có mặt tích cực của nó”. Tơn giáo nào
cũng nói lên cái khổ của chúng sinh. Tơn giáo kêu gọi tình thương giữa người
với người trong một xã hội áp bức bóc lột lẫn nhau. Tơn giáo đề cao tinh thần
trong xã hội người ta coi trọng vật chất tầm thường.
Hai là, “Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo
tưởng”. [32; tr.86]. C.Mác nói về tính chất 2 mặt của tơn giáo như vậy.


19


Một tư tưởng của C.Mác về tôn giáo đã gây ra tranh cãi nhiều những tư
tưởng coi “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. [31; tr.14]. Nhiều người
chỉ trích do cố tình hay thật sự chưa hiểu hết ý tưởng thâm thúy của C.Mác.
Xét về nghĩa đen “Thuốc phiện” có tác dụng 2 mặt: Một mặt, thuốc phiện là
thuốc giảm đau về thể xác và tinh thần, không chỉ trong phẩu thuật họ dùng
thuốc phiện ngay khi có sự đâu khổ tuyệt vọng về tinh thần nhiều người cũng
dùng thuốc phiện. Nhưng thuốc phiện chỉ làm giảm đau tinh thần một cách ảo
tưởng mà thôi. Người dùng thuốc phiện lẫn tránh sự đau khổ hiện thực đến
một hạnh phúc ảo tưởng. So sánh tôn giáo với thuốc phiện, tiếp cận tơn giáo ở
2 phương diện:
Phương diện tích cực: Làm giảm bớt đau khổ của con người bằng sự
đền bù hư ảo
Phương diện tiêu cực: Tạo ra ảo tưởng có hại. Xét ở khía cạnh này tơn
giáo là có hại làm cho con người ảo tưởng xa rời hiện thực thủ tiêu tinh thần
đấu tranh cãi tạo tự nhiên. Người mang ảo tưởng tơn giáo nghĩ rằng mình có
thể được giải thoát khỏi sự đau khổ hiện thực, nhưng cuối cùng cũng khơng
tránh khỏi đối diện với hiện thực.
Để có hạnh phúc thật sự của nhân dân, đòi hỏi việc xóa bỏ tơn giáo,
hạnh phúc ảo tưởng của họ. u cầu từ bỏ những ảo tưởng về hồn cảnh của
mình cũng là yêu cầu từ bỏ cái hoàn cảnh đang cần có ảo tưởng. Do đó, việc
phê phán tơn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cộng sống khổ ải
mà tơn giáo là vịng hào quang thần thánh của nó.
Những người Hegel trẻ chỉ mới vạch ra và vạch ra chưa đầy đủ bản
chất của tôn giáo. Lý luận triết học mới đi từ phê phán lý luận đến chỗ phê
phán hiện thực; lý luận chỉ phát huy sức mạnh một khi nó được vật chất hóa:
“Vũ khí của sự phê phán cố nhiên khơng thể thay thế được sự phê phán của
vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất;

20


nhưng lý luận cũng sẽ trở thành vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần
chúng” [31; tr.15] khi nó trở thành triệt để. Triệt để có nghĩa là nắm bắt được
sự vật đến tận gốc rễ của nó. Nhưng gốc rễ của con người chính là bản thân
con người. Bằng chứng rõ rệt cho tính triệt để của lý luận Đức và năng lực
thực tiễn của nó, là ở chỗ điểm xuất phát của nó là việc xóa bỏ tơn giáo một
cách kiên quyết và tích cực.
- Thứ ba, phê phán trật tự chính trị xã hội Đức đương thời.
Việc phê phán triết học Đức về nhà nước và pháp quyền, cái triết học đã
được trình bày một cách nhất quán, phong phú nhất và hoàn chỉnh nhất trong
tác phẩm của Hegel vừa là sự phân tích phê phán đối với nhà nước hiện đại và
đối với hiện thực gắn liền với nhà nước ấy, vừa là một sự phủ định kiên quyết
nhất đối với tồn bộ hình thức đã tồn tại từ trước đến nay của ý thức chính trị
và ý thức pháp quyền của Đức, ý thức mà biểu hiện chủ yếu nhất, phổ biến
nhất được đề lên thành khoa học của nó chính là bản thân triết học tư biện về
pháp quyền. Nếu như chỉ ở nước Đức, mới có triết học tư biện về pháp quyền
tức là “một tư duy trừu tượng, tách rời cuộc sống, về nhà nước hiện đại”,[32;
tr.83] nhà nước mà hiện thực của nó vẫn là thế giới bên kia tuy cái thế giới
bên kia ấy chỉ nằm phía bên kia sơng Ranh, thì ngược lại cũng thế, cái hình
tượng ấy trong ý niệm của người Đức về nhà nước hiện đại được trừu tượng
ra từ con người hiện thực, cũng chỉ có thể có được chừng nào bản thân nhà
nước hiện thực được trừu tượng ra từ con người hiện thực hoặc chỉ thỏa mãn
toàn bộ con người trong tưởng tượng mà thơi.
C.Mác vạch ra tính chất nửa vời của cách mạng Đức. Nói chung người
Đức tư duy sắc bén, nhưng “trong chính trị người Đức suy nghĩ điều mà các
dân tộc khác đã làm”. [32; tr.83]. Nước Đức là lương tâm lý luận của những
dân tộc đó. Tính trừu tượng và sự kiêu ngạo trong tư duy không che giấu nổi
sự yếu đuối trong thực tiễn chính trị - đó là nước Đức hiện đại. Nếu về mặt lý

21


luận, nước Đức có thể đạt tới đỉnh cao so với những dân tộc khác trước và
cùng thời đại, thì về mặt thực tiễn nó vần cịn cách nấc thang phát triển tất yếu
khá xa. “Ngay cả cái lòng tự tôn về mặt tinh thần của giai cấp tư sản Đức
cũng chỉ dựa trên ý thức thấy mình là đại biểu chung của tính tầm thường
philixtanh của tất cả giai cấp khác”. [32; tr.83]. Thiếu hẳn tiền đề vật chất,
sức mạnh tư duy của người Đức cũng chỉ biểu thị một cách phiến diện. Khơng
phải chỉ có những ơng vua Đức mới bước lên ngôi, mỗi lĩnh vực xã hội của
công dân đều ném mùi thất bại trước khi kịp ăn mừng thất bại của mình, ngay
cả có một khả năng đóng một vai trị lớn bao giờ cũng đi qua trước khi kịp thể
hiện ra và mỗi giai cấp vừa mới bắt đầu đấu tranh với một giai cấp cao hơn nó
thì đã bị lơi cuốn vào cuộc đấu tranh thấp hơn nó. Nếu chế độ nhà nước Đức
biểu hiện sự hoàn thiện tức là “cái gai” trong cơ thể của nhà nước hiện đại thì
học thuyết của Đức về nhà nước biểu hiện sự chưa hoàn thiện của nhà nước
hiện đại, khuyết điểm trong bản thân cơ thể nhà nước hiện đại.
- Các triết gia Đức, từ Cantơ đến Hegel, sở dĩ không thể làm cách mạng
như người Pháp, mà buộc phải nếp mình trong vị trí của “những giáo sư”,
viết sách theo đơn đặt hàng của chính phủ hiện tại để giáo dục thanh niên và
đảm bảo “ổn định xã hội”, vì họ khơng thể vượt qua khỏi khuôn khổ đã quy
định họ, cái khuôn khổ của “hiện thực hiện đại chính thống” mà họ buộc phải
gia nhập vào.
- Ngay từ đầu, C.Mác khẳng định những quan điểm đã được xác định
của ông. C.Mác chỉ rõ thái độ phê phán có tính chất cách mạng đối với chế độ
xã hội đương thời lúc đó hồn tồn khơng phải chỉ là sự biểu hiện trong sự
phê phán tôn giáo. Sự phê phán tôn giáo chỉ nhằm chống lại một cách không
trực tiếp cái hiện thực mà tôn giáo là sự phản ánh về mặt tinh thần. Trong sự
nhìn nhận của C.Mác, việc phê phán tôn giáo đối với hiện thực Đức lúc đó
khơng mang lại một ý nghĩa gì nữa, sự phê phán đó đã có từ lâu, mọi sự vạch

trần bản chất tiêu cực của tôn giáo có thể rõ ràng và đến nay có thể kết thúc.
22


Theo C.Mác:“Đối với nước Đức thì việc phê phán tơn giáo, về thực chất, đã
kết thúc và việc phê phán tôn giáo là tiền đề của mọi sự phê phán khác”. [32;
tr.84]. Do đó, nhiệm vụ của lịch sử sau khi cái chân lí của thế giới bên kia mất
đi là xác lập cái chân lí của thế giới bên này. Sau khi cái thần tượng thần
thánh của sự tự tha hóa của con người đã bị bóc trần thì nhiệm vụ cấp thiết
của cái triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần sự tự tha hóa trong những
hình tượng khơng thần thánh của nó.
Trong những cuộc đấu tranh chống trật tự đó, sự phê phán khơng phải sự
hăng say của lý tính, mà là lý tính của sự hăng say. Sự phê phán không phải là
con dao mổ, mà là vũ khí. Đối tượng của nó là kẻ thù của nó, kẻ thù nó muốn
khơng phải là bác bỏ mà là tiêu diệt đi. Vì tinh thần của những trật tự đó đã bị
bác bỏ. Tự bản thân chúng, những trật tự đó khơng đáng để trở thành những
đối tượng để suy nghĩ, chúng tồn tại như những cái bị coi khinh theo mức độ
chúng đang bị coi khinh. Sự phê phán chẳng cần làm sáng tỏ thái độ của mình
đối với đối với đối tượng ấy – nó đã thanh tốn xong đối tượng ấy. Sự phê
phán khơng cịn thể hiện ra là mục đích tự nó nữa mà chỉ là một phương tiện.
Xúc cảm chủ yếu của nó là phẫn nộ, cơng việc chủ yếu của nó là vạch trần.
Đây là nói về việc mơ tả sức ép nặng nề giữa các lĩnh vực xã hội đối với nhau,
mô tả sự bất mãn tiêu cực phổ biến, một sự hẹp hòi vừa thể hiện trong sự tự
đề cao, vừa thể hiện trong sự tự hạ thấp.
Triết học mới, với tính cách là chủ nghĩa nhân văn, khơng giải phóng
con người nói chung, mà hướng đến một lực lượng xã hội hiện thực, “giai cấp
vô sản là kết quả của sự phát triển công nghiệp”, “sự nghèo khổ được tạo ra
một cách nhân tạo”. [32; tr.86]. Phân tích tính chất của triết học mới, C.Mác
viết:“Giống như triết học giai cấp vơ sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp
vơ sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình”. [32; tr.86-87]. Con

người là điểm xuất phát, và giải phóng con người là mục đích cuối cùng của
triết học.
23


“Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” là
một bài viết ngắn, nhưng lại chứa đựng nội dung lớn: sự chuyển tiếp cách
mạng, triệt để của C.Mác sang thế giới quan triết học duy vật, nêu ra những
phác thảo đầu tiên của chủ nghĩa nhân văn cộng sản.
“Lời nói đầu - Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” viết
sau tác phẩm chính sáu tháng (cuối năm 1843 – tháng giêng 1844). Vào thời
điểm lịch sử ấy, “Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hegel” đã đặt ra mốc lịch sử quyết định đến toàn bộ diễn biến tư tưởng tiếp
theo của C.Mác. Những vấn đề được nêu ra ở đây với sự cô đọng và hàm súc,
được làm sâu sắc thêm trong quá trình hoạt động sáng tạo của những người
sáng lập chủ nghĩa Mác thế kỉ XIX. Tuy nhiên, ý nghĩa phương pháp luận của
“Lời nói đầu – Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel” không
phụ thuộc vào điều kiện thời gian.
Bài viết giúp chúng ta nhận thức sâu sắc thêm phương pháp phân tích
khoa học của C.Mác về vấn đề chính trị.

1.1.2.2. Chủ đề tư tưởng của tác phẩm “Lời nói đầu - Góp phần
phê phán triết học pháp quyền của Hegel” của C.Mác
Trước C.Mác đã từng xuất hiện nhiều nhà triết học duy vật, vô thần dựa
vào thành tựu phát triển khoa học tự nhiên trong lịch sử nhân loại để nghiên
cứu về tôn giáo và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau . Trong đó, L. Phoi-ơbắc, nhà triết học duy vật cổ điển Đức đã nghiên cứu và đưa ra quan điểm khá
sâu sắc về tôn giáo trong tác phẩm “Bản chất đạo Cơ Đốc”, được MácĂngghen-Lênin đánh giá rất cao, tuy nhiên là một nhà duy vật trực quan,
không triệt để duy vật về tự nhiên và duy tâm về lịch sử nên L.Phoi-ơ-bắc vẫn
còn nhiều hạn chế trong giải quyết các vấn đề về tôn giáo. Tiếp thu, kế thừa
những tư tưởng duy vật, tiến bộ về tôn giáo của các nhà triết học trong lịch

sử, C.Mác là người đầu tiên đã đưa ra những quan điểm đúng đắn về các vấn
24


đề của tôn giáo trong tác phẩm. Xuất phát từ sự phê phán quan niệm về tôn
giáo của Hegel trẻ cũng như của L.Phoi-ơ-bắc, cùng với việc đi sâu vào hoạt
động thực tiễn và nghiên cứu hiện thực, C.Mác đã viết “Lời nói đầu - Góp
phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”, trong đó ơng nêu rõ ba vấn
đề chính, đó là vấn đề tơn giáo, vấn đề hiện thực của nước Đức và con đường
làm cách mạng hiện thực Đức.
Trong vấn đề tơn giáo C.Mác đã nói lên sự phê phán nhằm giúp con
người vứt bỏ xiềng xích của những bơng hoa giả để giơ tay hái những bơng
hoa thật, thốt khỏi ảo tưởng để con người suy nghĩ, hành động, xây dựng
tính hiện thực của mình.
“Sự phê phán đã vứt bỏ khỏi những xiềng xích các bơng hoa giả trang
điểm cho chúng, khơng phải để lồi người tiếp tục mang xiềng xích ấy dưới
cái hình thức chẳng vui thích và thú vị gì, mà để lồi người vứt bỏ chúng đi
và giơ tay hái lấy bông hoa thật. Việc phê phán tôn giáo làm cho con người
thoát khỏi ảo tưởng, để con người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện
thực của mình với tư cách là con người thốt khỏi ảo tưởng, trở nên có lý
tính; để con người xoay quanh bản thân mình và cái mặt trời thật sự của mình.
Tơn giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay quanh con người chừng nào con
người chưa bắt đầu xoay quanh bản thân mình”. [31; tr.15].
Từ sự phê phán tôn giáo, C.Mác chuyển sang phê phán trật tự xã hội
nước Đức. Triết học Hegel là triết học duy tâm, bào chữa, bảo vệ cho cái chế
độ xã hội đã lỗi thời đang tồn tại ở Đức. Trong triết học về nhà nước và pháp
quyền, Hegel đã xuất phát từ ý niệm tuyệt đối để chứng minh cho tính tất yếu,
tính hợp logic của chế độ quân chủ Phổ. Do đó, cần phải phê phán triết học về
nhà nước pháp quyền của Hegel, qua đó phê phán chế độ chính trị của nước
Đức.


25


×