Phạm Thị Thu Hồi
Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ
80(04): 25 - 30
HIỆN TƯỢNG LĨNG TRÊN BÁO CHÍ
NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA
Phạm Thị Thu Hoài*
Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Hiện nay, dư luận xã hội quan tâm nhiều đến tình hình phát triển ngơn ngữ, đặc biệt là cách dùng
tiếng Việt của giới trẻ. Để thích nghi được với sự năng động của cuộc sống, tiếng Việt buộc phải
mở rộng và phát triển vốn từ sẵn có. Đây là một xu hướng của ngơn ngữ nói chung. Hiện nay,
trong ngơn ngữ nói và ngơn ngữ viết có một dạng ngơn ngữ xuất hiện khá phổ biến đó là tiếng
lóng (Slang). Kể từ khi hình thành, tiếng lóng đã bị coi là “lệch chuẩn” khơng được khuyến khích
sử dụng. Nhưng đến nay lối nói “lóng hố” đang có cơ hội phát triển rộng rãi. Trong phạm vi bài
viết này, chúng tôi chỉ xin luận bàn về “hiện tượng lóng” nhìn từ bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa
xuất hiện trên báo chí dành cho giới trẻ.
Từ khóa: ngơn ngữ, báo chí, tiếng lóng, lệch chuẩn, ngữ pháp và ngữ nghĩa
1. Qua khảo sát các chuyên mục tin tức cập
nhật, văn học nghệ thuật, thơng tin giải trí,
…và các chun mục khác cho thấy: với số
lượng 165 số báo Hoa học trò và 85 số báo
Thế giới học đường đã thống kê được 602
hiện tượng lóng. Trong đó hiện tượng lóng
xuất hiện nhiều dưới dạng cấu tạo ngôn từ
bao gồm từ, cụm từ, câu với số lượng 551, và
dưới dạng mật mã là 23 ký tự ( tương ứng với
23 chữ cái trong tiếng Việt), và 28 ký hiệu lóng
biểu hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau.*
Bảng 1. Thống kê các dạng thức của hiện tượng lóng
Từ
Cụm
từ
98
Câu Mật mã
Hiện
431
22
23
tượng
lóng 71,6 % 16,3 % 3,65% 3,8 %
Ký
hiệu
28
4,65%
Việc các nhà báo trẻ sử dụng các hiện tượng
lóng với tần số khác nhau, điều này không phải
là một sự ngẫu nhiên mà là một việc làm có
chủ ý, nhằm đạt được mục đích diễn đạt. Qua
khảo sát, thống kê chúng tơi tiến hành tìm hiểu
cấu tạo ngữ pháp của hiện tượng lóng.
1.1 Hiện tượng lóng trên báo chí nhìn từ
bình diện ngữ pháp
1.1.1 Hiện tượng lóng có cấu tạo là từ, cụm từ
Qua số liệu khảo sát cho thấy, con số hiện
tượng lóng cấu tạo là từ, cụm từ lên tới 529,
*
trong đó hiện tượng lóng cấu tạo là từ chiếm
431 tương ứng với 71,5 %. Tiếp tục phân tích
chúng tơi nhận thấy trong 431 hiện tượng
khảo sát được có tới 262 hiện tượng được cấu
tạo bởi các từ đơn, chiếm 43,52%.
Bảng 2. Thống kê hiện tượng lóng cấu tạo là từ
Kiểu loại
từ vựng
Danh từ
Động từ
Tính từ
Đại từ
Tổng
Số lượng
khảo sát
Chiếm tỷ lệ (%)
59
103
89
11
262
22,5 %
39,3 %
34 %
4,2 %
100 %
Qua bảng khảo sát cho thấy, với cấu tạo là các
từ đơn, hiện tượng lóng là động từ có tỷ lệ %
cao nhất với 103 từ chiếm 39,3 %
Ví dụ: “Trong lúc hai đứa vẫn cịn đang tám
đủ thứ chuyện…”. (HHT,Số 732, T43,2007);
(tám: bàn tán đủ thứ chuyện khơng có chủ đề
rõ ràng).
Đứng ở vị trí thứ 2 là các hiện tượng lóng
được cấu tạo bởi các tính từ, với số lượng 89
từ chiếm tỷ lệ 34 %.
Ví dụ: “Nó khơng tồ, gà thì càng khơng”.
(HHT,Số 681, T15,2007); (gà = ngốc nghếch,
khơng biết gì).
Ví dụ: “Thầy cứ cật lực tua mặc cho những
khuôn mặt thẫn thờ mệt mỏi…”(TGHĐ,Số
69, T11, 2009) (tua = tốc độ nói khơng ngừng
nghỉ, không để ý đến đối tượng tiếp nhận).
25
Phạm Thị Thu Hồi
Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ
Hiện tượng lóng có cấu tạo là danh từ với số
liệu thống kê được là 59 từ chiếm 22,5 %.
Ví dụ: “ Dế càng xịn càng làm chủ máy dễ
xao nhãng trong lớp học”.(HHT,Số 725, T13,
2007); (dế : điện thoại di động).
Ví dụ: “ Theo sao vào quán…” (TGHĐ,Số 59,
T33,2009); (sao: người nổi tiếng).
Hiện tượng lóng là đại từ xuất hiện hạn chế
hơn cả, với số liệu thu thập được là 11 từ
chiếm 4,2 %.
Ví dụ: Chuyên mục “Sao sáng học đường” :“
…9x sống trẻ nghĩ lớn”. (TGHĐ,Số 59,
T6,2009); (9X: thế hệ sinh năm từ 1990 -1999).
Bên cạnh hiện tượng lóng được cấu tạo bởi
các từ đơn, trong cách diễn đạt của ngơn ngữ
báo chí hiện tượng lóng xuất hiện khá phong
phú dưới hình thức là những từ ghép. Kết quả
khảo sát thu được có 137 từ ghép, chiếm tỷ lệ
22,75%.
Ví dụ: “ Bạn đã từng bị gọi là quá nhạy cảm,
thậm chí là mít ướt hoặc mèo ướt”. (HHT,Số
728, T14,2007); (“mít ướt” hoặc “mèo ướt”:
hay khóc nhè).
- Xét về mặt hình thức cấu tạo, hiện tượng
lóng cịn được cấu tạo dưới dạng các phương
thức láy (có thể là láy bộ phận hoặc láy toàn
bộ). Qua khảo sát, trong 602 hiện tượng thu
thập được trên báo chí, có 32 từ được cấu tạo
bằng các từ láy chiếm 5,31 % và phổ biến là
láy phụ âm đầu.
Ví dụ: Chuyên mục Những trái tim đang lớn:
“Thực ra thì tý hon có hơi rung rinh một
tẹo”.(HHT,Số 733, T10,2007); (rung rinh =
thích thích).
Trường hợp láy tồn bộ như:
Ví dụ: “Nội dung cần điền xiêm xiêm nhau
mà”.(TGHĐ,Số107, T12,2010); (xiêm xiêm =
gần giống).
Cùng với hiện tượng lóng được cấu tạo là từ,
các hiện tượng lóng được cấu tạo là cụm từ
cũng được sử dụng phổ biến, tuy nhiên về số
lượng thống kê cụm từ lóng hiện đang tồn tại là
chưa cao. Các hiện tượng lóng này được cấu tạo
dưới hai hình thức: cụm từ lóng đẳng lập và
cụm từ lóng chính phụ. Trong đó cụm đẳng lập
chiếm 6,32 %, cụm chính phụ chiếm 9,97 %.
26
80(04): 25 - 30
Cụm từ ghép chính phụ:
Ví dụ: “Bạn đã có qn sư quạt điện mách
nước vui vui về những cơ hội thành công
chưa nhỉ? ”(TGHĐ,Số 86, T6,2009); (quân sư
quạt điện = người tư vấn). Trong đó: “qn
sư” là thành tố chính, “quạt điện” thành tố
phụ tạo nên từ ghép.
Cụm từ ghép đẳng lập:
Ví dụ: “ Những ai chạy theo xu hướng đã phải
rửa tay gác bút dành lại thị trường cho những
nhạc sĩ trẻ”.( TGHĐ,Số 47, T32,2009); “rửa
tay” và “gác bút” có quan hệ ngang hàng về mặt
ngữ pháp, mang ý nghĩa tạm dừng hành động).
Bảng 3. Thống kê hiện tượng lóng cấu tạo là từ, cụm từ
Từ
Cụm từ
Cụm
Cụm
Từ đơn Từ ghép Từ láy
đẳng lập chính phụ
Hiện
262
137
32
38
tượng
lóng 43,52 % 22,75 % 5,31% 6,32 %
60
9,97 %
1.1.2 Hiện tượng lóng có cấu tạo là câu
Dựa vào mục đích thơng báo, hiện tượng lóng
có thể tồn tại dưới nhiều hình thức: câu trần
thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm thán,
câu tỉnh lược.
1.1.2.1 Hiện tượng lóng có dạng câu trần thuật
Hiện tượng lóng dưới dạng câu trần thuật
chiếm tỷ lệ khá cao. Ngoài những câu trần
thuật thơng thường, cịn sử dụng kết hợp
nhiều phương thức khơng theo khn mẫu, để
nhấn mạnh; giải thích và tránh sự nhàm chán.
Tuyệt đại đa số các câu trần thuật có sử dụng
ngơn từ “lóng” thường ở dạng khẳng định,
phủ định là rất hiếm.
Ví dụ : Trang truyện ngắn, HHT,697
“Trường mới có thêm một hotboy học trên
Nam một lớp, hotboy trông siêu ku – te…”
(HHT,Số 697, T18,2007); (siêu ku-te = quá
dễ thương).
1.1.2.2 Hiện tượng lóng có dạng câu hỏi
Hiện tượng này xuất hiện trên báo chí với tần
xuất khơng nhỏ. Những câu hỏi này thường
có tính chất như một câu trần thuật khẳng
định, thể hiện niềm hy vọng, sự băn khoăn,
ngờ vực,... và thường xuất hiện ở các bài bình
luận hay phóng sự. Bao gồm các dạng:
Phạm Thị Thu Hồi
Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ
- Câu có sử dụng trợ từ tình thái đi kèm
Ví dụ: Chuyên mục “Những trái tim đang
lớn”, HHT,841
“…Tụi tui tính gần hết Tết sẽ viết thư pháp
bán
đó.
Bà
thấy
được
hơn?”
(HHT,841,T9,2010); (được hơn = được
khơng).
- Câu khơng sử dụng trợ từ tình thái đi kèm
Ví dụ: “ Các cậu ấm cơ chiêu của mình sẽ còn
khiến các bậc phụ huynh bị dắt mũi tới bao
giờ? (TGHĐ, Số 107, T9,2009)
(dắt mũi = tin theo, nghe theo)
1.1.2.3 Hiện tượng lóng có dạng câu mệnh lệnh
Đây là những câu biểu đạt yêu cầu, nguyện
vọng, khuyên bảo, sai khiến. Khi nói ngữ điệu
thường nhấn mạnh vào những từ mang nội
dung mệnh lệnh.
Ví dụ: “ Teen muốn toả sáng thì cịn chờ gì
nữa, xí ngay một tấm vé tham gia đi
nha!”(HHT,841,T21,2010); (xí = nhận ngay,
lấy ngay).
Trên văn bản báo chí dạng câu này thường
xuất hiện trong phong cách hội thoại, thường
bắt gặp ở các bản tin ngắn.
Ví dụ: Chuyên mục “Teen hãy chia sẻ để
sống cân bằng”, HHT, Số 788
“Lát nữa làm bài nhớ phím cho tao nhé!”
(HHT, 788,T 41, 2008); (phím = nhắc bài, ý
muốn nói thao tác nhanh như vi tính).
1.1.2.4 Hiện tượng lóng có dạng câu cảm thán
Câu cảm thán là câu ngoài biểu thị nội dung
còn đi kèm thể hiện cảm xúc. Câu cảm thán
thể hiện trạng thái vui mừng, sợ hãi, âu yếm,
nũng niu, ca tụng, tiếc rẻ, khinh bỉ, căm
giận,… được sử dụng với tần số khá cao trên
báo chí, góp phần biểu hiện tâm tư, tình cảm
của giới trẻ. Đối với ngơn ngữ có đi kèm hiện
tượng “lóng” thì nó là cách thể hiện tâm lý
lứa tuổi.
Ví dụ: Chuyên mục “Bạn đọc H2T đang làm
gì nhỉ?”, HHT, 671
“Trước mặt là chú búp bê đeo nơ mang biếng
cận vô cùng đẹp trai !…” (HHT, Số 671,
T9,2008); (biếng cận = kính cận).
80(04): 25 - 30
Ví dụ: “Phóng sự nóng”, HHT,743
“…Mỗi lần sạc cảm giác thôi rồi, phê phê,
bay bay (…) Cái cảm giác lúc bắn xong khó
tả lắm!” (HHT,Số 743, T10-11,2008); (sạc =
dùng ; bắn = hút)
1.1.2.5 Hiện tượng lóng có dạng câu tỉnh lược
Theo PGS.TS Phạm Văn Tình: Ở những câu
mà chủ ngữ, hoặc vị ngữ, hoặc có khi cả chủ
ngữ + vị ngữ đều bị tỉnh lược. Yếu tố hiện
diện trên văn bản chỉ là một ngữ, một từ. Bản
thân nó chưa đủ cơ sở để xác lập quan hệ cú
pháp nội bộ. Muốn hiểu được nghĩa, người
nghe bắt buộc phải tự tìm ra một cấu trúc giả
định khả dĩ đáp ứng được việc tiếp nhận phát
ngơn đó. Cấu trúc giả định như vậy, nhiều khi
đơn giản nhưng nhiều khi khá phức tạp, phụ
thuộc nhiều vào dụng ý phát ngơn của người
nói hoặc do tính mơ hồ đa nghĩa của cấu trúc.
Trong cấu trúc của một phát ngơn thì tỉnh
lược đồng sở chỉ và tỉnh lược đồng chức năng
được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều
nhất. Các ngữ đoạn tỉnh lược ở đây được gọi
là các ngữ đoạn hồi chỉ zéro. Hiện tượng này
thường bắt gặp trong giao tiếp, và gần đây nó
xuất hiện khá phổ biến trên báo chí, do nhu
cầu của giới trẻ phát ngôn nhanh gọn nhưng
vẫn đảm bảo nghĩa gốc. Việc giản lược không
những nhằm vào các từ loại giữ vai trị thứ
yếu, khơng có ý nghĩa từ vựng, mà nó cịn cả
những từ có chức năng như thành phần chính
trong câu.
Ví dụ: Chuyên mục “ Hot hifi 100 độ C”,
HHT, Số 685, “ [zero] cũng là dân 8X. Ngoại
hình [zero] đủ làm trái tim phe kẹp nơ rung
rinh…”. (HHT, Số 685, T32,2007) ; (phe kẹp
nơ = phái nữ ; rung rinh = thích thích).
Ví dụ: “ [zero] Học hành lớt phớt mà điểm
vẫn topten.[zero] Đáng mặt dân chơi học
đường.(TGHĐ, 2010).
Yêu cầu tất cả các câu đều đảm bảo đầy đủ
các thành phần chính và phụ là một điều khó
thực hiện với ngơn ngữ báo chí. Bởi u cầu
truyền tải một khối lượng thông tin lớn,
nhưng dung lượng cho một bài báo có hạn,
nên việc tỉnh lược thành phần là điều thường
xuyên bắt gặp.
27
Phạm Thị Thu Hồi
Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ
1.2 Hiện tượng lóng trên báo chí nhìn từ
bình diện ngữ nghĩa
1.2.1 Sử dụng từ tượng hình, tượng thanh
Từ tượng hình là những từ có tác dụng gợi tả
hình ảnh, dáng điệu của sự vật, sự việc: lom
khom, lừng lững, lụp xụp, lung linh,…
Ví dụ: “ Truyền hình thực tế” HHT, 753
“ Nhưng đến đây cả bọn bắt đầu liểng xiểng
xém té mấy lần vì các thành viên mỗi người
co chân một kiểu” (HHT,753,T31,2008);
(xém té = ngã, đổ nghiêng đổ ngả).
Ví dụ: “…Cười xịe xoẹt như bơng thược
dược…” (HHT,683,T20,2006); (xịe xoẹt =
xòe: tươi quá mức cho phép).
Từ tượng thanh là các từ dùng chất liệu ngôn
ngữ để mô phỏng, bắt chước các âm thanh có
trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, được
dùng để biểu hiện sự vật về mặt âm thanh như
các từ: ùng, ồng, khúc khích, leng keng,…
Ví dụ: “Đáng ngạc nhiên, phức tạp với ngăn
sau, ngăn trước xủng xoẻng với gần chục cái
khố khéo”. (HHT,675,T13,2006).
Ví dụ: …” Đi học lại đã hơn tuần nhưng dư
âm của ngày Tết vẫn đì đùng trong một số sân
trường ở thành phố Hồ Chí Minh”.
(HHT,846,T22,2010).
1.2.2 Sử dụng từ tồn dân với ý nghĩa khác
- Từ tồn dân hay cịn gọi là từ thường dùng
là những từ sử dụng hàng ngày, chung cho
mọi người trong một dân tộc, một quốc gia,
thường mang ý nghĩa từ vựng tích cực.
Ví dụ: “Ngày thứ 30...Vui nhưng mệt nhồi,
tính ra cịn vài (chục) đám nữa cần phải làm
lễ “rửa chân” trước khi “bước sang ngang”,
cấp I, cấp II, lớp Anh ngữ!”. (HHT,Số 663,
T10,2006). Nghĩa của từ tồn dân đã có sự
thay đổi: “rửa chân” (liên hoan), “bước sang
ngang” (lên lớp, chuyển cấp)
1.2.3 Sử dụng từ Hán Việt với ý nghĩa hiện đại
Từ Hán Việt là kết quả của một quá trình tiếp
xúc Việt – Hán kéo dài ít nhất là hai thiên
niên kỉ. Trước mắt chúng ta quá trình này
đang diễn biến trong một khung cảnh hết sức
phức tạp. Thực tế cho thấy hiện nay trên các
báo dành cho giới trẻ từ Hán Việt xuất hiện
khá phong phú, ẩn sau vỏ bề ngồi của ngơn
từ là nét nghĩa mang tính chất hiện đại.
28
80(04): 25 - 30
Ví dụ: Chuyên mục “Cá chép hóa rồng”
HHT, 710: “ Ngày 26/6 vừa qua, Sở GDĐT
TP.HCM cũng đã công bố kết quả chấm phúc
khảo kỳ thi tốt nghiệp THPT. Theo đó, có
16/211 trường hợp được thêm điểm sau phúc
khảo, trong đó có 3 teen rớt thành đậu xếp
loại trung bình, 3 trường hợp khác được nâng
từ khá lên giỏi, 5 trường hợp từ trung bình lên
khá, 4 trường hợp khơng thay đổi kết quả tốt
nghiệp và 1 trường hợp dù thêm điểm nhưng
vẫn không qua được “vũ môn”. Xin chúc
mừng các teen đã vượt vũ mơn giờ chót thành
cơng nhé!” (HHT,710,T6,2007); (vượt vũ
mơn = đỗ tốt nghiệp).
Ví dụ: “Cấp cứu bạn bè bị virut 7 love tấn
công”.(TGHĐ,Số 80,T6,2009); (7 = thất;
“virut 7 love” có nghĩa là thất tình).
1.2.4 Sử dụng kèm từ tố với nghĩa của từ
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Giáo trình
Việt ngữ - tập 2” cũng đưa ra cách định nghĩa
của mình về từ tố: “ Từ tố là những yếu tố
chứa đựng ý nghĩa từ hội là ý nghĩa ngữ pháp
cấu tạo nên từ. Từ tố là yếu tố nhỏ nhất của
từ, nếu chia nhỏ các từ tố, ta chỉ gặp các âm
vị không biểu thị ý nghĩa nào hết…”
Ví dụ: Chuyên mục “5 TV - Một hiện tượng
tâm lý thú vị”
“Con trai bối rối: Hình như trái tim con trai
“lóng ngóng” và ngốc xít hơn trái tim con
gái…” (HHT, 683,T15,2006); (ngốc xít =
ngốc : ngốc nghếch khơng biết gì)
Ví dụ: “Thơng minh như bà mà khơng làm
được cái bài dễ ợt này à!”.“Thì cậu lại chu
môi lên và cạch te tớ”. “Tớ thề là tớ đang có ý
khen cậu mà”. (HHT,683,T15,2006); (cạch te
= cạch : khơng chơi cùng, khơng nhìn mặt)
Bản thân từ “xít”, “te” trong hai ví dụ trên
mang ý nghĩa từ vựng, song khơng có khả
năng đứng độc lập trong phát ngơn, chúng
được hiểu là những từ tố.
1.3. Một số biểu hiện thường gặp của hiện
tượng lóng
1.3.1 Hiện tượng đồng âm
Những đơn vị đồng âm là những đơn vị giống
nhau về hình thức ngữ âm nhưng lại khác
nhau về ý nghĩa. Tuy nhiên, ngơn ngữ khi có
Phạm Thị Thu Hồi
Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ
sự góp mặt của hiện tượng “lóng” thì những
quy chuẩn chung nhất cũng có sự biến đổi.
Một số biểu hiện cụ thể:
Dùng từ hoặc tổ hợp từ có sẵn, có chứa đơn vị
đồng âm với từ muốn nói như: a kay - chim cú
= cay cú, cá kiếm = kiếm, ca mơ run = run …
Ví dụ: “ Mỹ Xuân cười tít mít: cũng nhờ đều
đặn mị tới các triển lãm giáo dục mà chân tớ in
bóng hầu hết các khách sạn nổi tiếng rồi đấy
New World, Sheraton, Rex, Equatorial,
Duxton…oách - xà - lách chưa!”
(HHT,683,T15,2006); (oách - xà - lách = oách).
Ví dụ: Trang “Ẩm thực hẻm” HHT,853:
“Quang cảnh tuyệt cú mèo, chưa kể nếu bạn
biết chơi piano có thể chơi ngay tại
quán”(HHT,853,T18,2010); (tuyệt cú mèo =
tuyệt đẹp).
Tạo nên đơn vị từ ngữ mới có chứa các yếu tố
đồng âm với nhau.
Ví dụ: ghét như con bọ chét (ghét), ngất ngây
con gà tây (thích thú), tinh vi sờ ti con gà
ri…cách sử dùng ngơn từ như vậy nhằm mục
đích nhấn mạnh, mang sắc thái biểu cảm.
Ví dụ: “Từ chuyện xích mích nhỏ như con
thỏ lẽ ra có thể hịa giải bằng nụ cười…”
(TGHĐ, Số 107,T8,2010); (nhỏ như con thỏ
= chuyện nhỏ).
Ví dụ: “ …Táo Lê đã làm nên một cuộc bứt
phá ngoạn mục, trở thành 1 trong 3 thí sinh
giành giải nhất học sinh giỏi quốc gia môn
văn năm học 2009 với điểm số “ ngất ngây
con gà tây”: 18… ”. (TGHĐ, Số
64,T14,2009); (ngất ngây con gà tây = cao
đến khó tả).
Hiện tượng đồng âm con chữ với con số, đây
là một cách thể hiện sự linh hoạt, cá tính của
giới trẻ như “G9” = good night: chúc ngủ
ngon…
Ví dụ: Chuyên mục “Chuyển động học
đường”: “ Nhìn lại 6 sự kiện giáo dục “ nóng”
năm 2K9 ”.(TGHĐ, Số 98,T10,2010); (năm
2K9 = năm 2009).
1.3.2. Hiện tượng biến âm
Yếu tố phân biệt các âm có cùng một vị trí
trong vở âm thanh của một hình vị trong
những trường hợp sử dụng khác nhau. Đây là
biện pháp tạo ra các nghĩa khác nhau của từ
bằng cách biến đổi các nguyên âm bên trong
gốc từ của từ đó.
80(04): 25 - 30
Hiện tượng biến âm là hiện tượng phổ biến
trong ngơn ngữ lóng, được thể hiện sinh động
dưới nhiều hình thức như:
Dùng từ hoặc tổ hợp từ có sẵn theo lối nói
chệch âm.
Ví dụ: “ Cũng nhờ học quyền anh mà anh chàng
này chia tay luôn cái tính nhát hít” (HHT, Số
754, T16,2008); (nhát hít = nhút nhát).
Ví dụ: “ Mí lí, dù chữ có xấu thì đọc được là được”
(HHT, Số 675,T13,2006); (Mí lí = mới lại).
Dùng từ hoặc tổ hợp có sẵn đọc biến âm theo
cách nói của địa phương như: hết rồi - hết
rồi, thế nhé - ừ hén, khơng đâu mà – hem
đâu mừ, tơi bảo – tui biểu…
Ví dụ:
“Bả cứa ngồi trong nhà
hoài…”(HHT,Số 745,T27,2008); (Bả = bà)
1.3.3 Hiện tượng biến thể tự do
Hiện nay phổ biến trong ngôn ngữ, cách sử
dụng văn phong của của giới trẻ là biến cái
sai thành thói quen, sử dụng một cách có hệ
thống để trở thành cái đúng. Sự thay đổi tùy
tiện nguyên âm và phụ âm dẫn đến hiện tượng
lệch chuẩn ngôn ngữ biểu hiện ở một trường
hợp như: nguyên âm “i” biến đổi thành “j”,
phụ âm đầu “b” biến đổi thành “p”; hay “c”
biến đổi thành “k”…Ví dụ: hok bit gì mờ bì
đek = khơng biết gì mà bày đặt, teo mí đi lèm
dzìa = tao mới đi làm về,…
Ví dụ: “các teen đều cho rằng chương trình
này xem vơ cùng thú
dzị…”(TGHĐ, Số
686, Tr3, 2009); (thú dzị = thú vị).
Ví dụ: Tổng đài Teen: “ Tặng bạn một dấu
hỏi….kí rì?” (TGHĐ, Số 40, Tr4, 2008); (kí rì
= cái gì).
1.3.4 Hiện tượng pha tạp tiếng nước ngồi
(hình thức Việt hóa)
Từ của một ngơn ngữ này được nhập vào một
ngôn ngữ khác và được bản ngữ hố, tức là
thích nghi với các quy tắc hoạt động, hành
chức của các từ thuộc ngơn ngữ đó. Trên báo
chí hiện nay khơng chỉ có sự thâm nhập, vay
mượn tiếng nước ngồi, mà đã có sự pha tạp
trộn lẫn… tạo nên nên một cách thức mới
được gọi là hình thức Việt hố ngơn ngữ.
Ví dụ:“… Bọn con trai cũng chóng cả mặt
mày khi con gái chuyên văn cũng lừa bóng,
chuyền banh, đội đầu. Pro chẳng kém gì con
trai”. (HHT,671,T16,2008) (pro = đẳng cấp)
Ví dụ:” Khơng tốn một xu nào lại vừa được đi
29
Phạm Thị Thu Hồi
Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ
đây đi đó, vừa được bổ sung vốn kiến thức về
văn hóa, du lịch…thật kool”. (TGHĐ,Số
86,T3,2009) (thật kool = thật tuyệt).
Cách nói “ song ngữ Việt – Anh” hiện nay
đang là “mốt” của giới trẻ, được sử dụng phổ
biến, thể hiện “đẳng cấp” sự yêu chuộng
ngoại ngữ. Thực ra từ tiếng Anh được sử
dụng đều khá thông dụng, đơn giản kiểu như:
trận play off ( trận vòng loại), join vào (gia
nhập vào), cho die luôn (cho chết luôn),…
nhưng nếu quá lạm dụng rất có thể sẽ trở
thành lố bịch, gây phản cảm cho người tiếp
nhận.
2. Một trong những nguyên tắc của hoạt động
báo chí là “tính nhân dân, tính đại chúng”.
Ngơn ngữ báo chí là ngơn ngữ cần được tơi
luyện qua thời gian. Nó địi hỏi người làm báo
phải có đủ tầm để suy xét sự việc một cách kỹ
càng, biết hướng vào năng lực tiếp nhận và
nhu cầu thẩm mỹ của quảng đại quần chúng.
Cơng việc tìm hiểu hiện tượng “lóng” trên
báo chí của chúng tơi mới đang dừng lại ở
mức độ miêu tả trên bình diện ngữ pháp và
ngữ nghĩa. Kết quả cho thấy hiện tượng lóng
được sử dụng khá phong phú về mặt số lượng
và đa dạng về mặt chủng loại, tạo nên tính
sinh động cho ngơn ngữ.
Hiện tượng “lóng” đang mang tới “luồng gió
mới” trong ngơn ngữ giao tiếp của giới trẻ.
Có thể 10X sau này sẽ khơng cịn dùng ngơn
ngữ mà thế hệ 8X và 9X đang dùng nữa. Họ
sẽ tự gạn lọc, giữ lại những ngơn ngữ có sức
sống dai dẳng và tiếp tục sáng tạo ra hệ thống
ngơn ngữ lóng mới cho riêng mình. Những
80(04): 25 - 30
kết quả tìm hiểu bước đầu của chúng tơi cho
thấy, ngơn ngữ “lóng” mang tính đặc tả sinh
động, hạn chế được những câu văn nhàm
chán, nghèo nàn vốn từ, mang đến sự hứng
khởi cho người đọc. Chúng ta ý thức được sâu
sắc hơn vấn đề lý luận được G.V.Pospelov
khái quát: “Do bản chất của nghệ thuật ngôn
từ, chẳng những bất cứ loại lời nói thơ tục nào
mà ngay cả những dạng lời nói mang tính
khuynh hướng xã hội cũng có thể được phép
đi vào lời văn nghệ thuật. Vấn đề đặt ra với
những người cầm bút là phải thể hiện một
cách mực thước phù hợp trong sáng tác, phải
thể hiện một cái cảm giác về mức độ trong
việc vận dụng phương ngữ xã hội và thổ ngữ
các vùng trong văn bản của mình”. [5]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hồng Anh (2003), Một số vấn đề về sử
dụng ngơn từ trên báo chí, Nxb Lao động, H.
[2]. Vũ Quang Hào (2001), Ngơn ngữ báo chí,
Nxb ĐHQG, H.
[3]. Nguyễn Văn Khang (2001), Tiếng lóng Việt
Nam, Nxb KHXH, H.
[4]. Đinh Trọng Lạc (1995), 99 phương tiện và
biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb GD, H.
[5]. Pospelov (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn
học, Tập 2, Nxb GD,H.
[6]. Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi
Tất Thơm, Cao Xuân Hạo (chủ biên) (1999), Ngữ
pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 1, Câu trong
tiếng Việt - Cấu trúc – Nghĩa – Công dụng, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
[7]. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996) Từ điển giải
thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb GD, H.
SUMMARY
PHENOMENON ON “LONG” PRESS COMMENT FROM REPRESENTATIVES
GRAMMAR AND SEMANTICS
Pham Thi Thu Hoai*
College of Education - TNU
Currently, public opinion more concerned with the development of language, especially the use of
young Vietnamese. To adapt to the dynamics of life, Vietnamese forced to expand and develop the
capital available. This is a trend of language in general. Currently, the language spoken and written
language is a form of language appears that popular slang (Slang). Since its formation, slang has been
considered the "standard deviation" is not recommended to use. But now the way say "slang of" getting
the chance to develop extensively. Within the scope of this article, we would talk on "slang
phenomenon" seen from the aspects of grammar and semantics appear in journalism for young people.
Keywords: language, journalism, lingo, standard deviation, grammar and semantics
*
30