ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
LÊ THỤY XUÂN DƯƠNG
XU HƯỚNG THÔNG TIN
MANG TÍNH GIẢI TRÍ (INFOTAINMENT)
TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIN TỨC
TRÊN KÊNH VTV1 ĐÀI THVN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN BÁO CHÍ
Đà Nẵng, tháng 5 naêm 2016
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
XU HƯỚNG THÔNG TIN
MANG TÍNH GIẢI TRÍ (INFOTAINMENT)
TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIN TỨC
TRÊN KÊNH VTV1 ĐÀI THVN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN BÁO CHÍ
Người hướng dẫn:
ThS. TRẦN THỊ YẾN MINH
Người thực hiện:
LÊ THỤY XUÂN DƯƠNG
(Khóa 2012 - 2016)
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi: Lê Thụy Xuân Dương – sinh viên lớp 12CBC1, khoa Ngữ Văn,
trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng xin cam đoan cơng trình nghiên
cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Yến Minh.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là hồn tồn trung thực, chưa
từng được cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác.
Tơi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những nội dung khoa học trong
cơng trình này.
Đà Nẵng, ngày 27 tháng 04 năm 2016
Tác giả khóa luận
LÊ THỤY XUÂN DƯƠNG
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Trần Thị Yến
Minh, người đã tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên để em có thể hồn
thành tốt khóa luận này.
Tiếp theo, em xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy cơ trong khoa Ngữ
Văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em có thể hồn thành tốt khóa luận.
Cuối cùng là lời cảm ơn đến những người bạn đã giúp đỡ, đóng góp ý
kiến cũng như ủng hộ tinh thần cho khóa luận này.
Đà Nẵng, ngày 27 tháng 04 năm 2016
Sinh viên thực hiện
LÊ THỤY XUÂN DƯƠNG
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài .................................................................................. 1
2.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu .......................................................... 2
3.
Mục đích nghiên cứu ............................................................................ 4
4.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ......................................................... 4
5.
Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 5
6.
Cấu trúc đề tài ...................................................................................... 5
Chương 1 BÁO CHÍ VỚI XU HƯỚNG THƠNG TIN MANG TÍNH
GIẢI TRÍ ............................................................................................................
................................................................................................................. 6
1.1. Khái qt về xu hướng thơng tin mang tính giải trí ............................. 6
1.1.1. Khái niệm thơng tin mang tính giải trí (infotainment) ......................... 6
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển .......................................................... 8
1.1.3. Đặc trưng của thơng tin mang tính giải trí ........................................ 12
1.2. Những yếu tố chi phối hiện tượng thông tin mang tính giải trí ......... 14
1.2.1. Sự cạnh tranh thơng tin ...................................................................... 14
1.2.2. Đáp ứng nhu cầu của công chúng...................................................... 15
1.2.3. Sự hội tụ của công nghệ ..................................................................... 15
1.2.4. Sự chi phối của các tổ hợp truyền thông ............................................ 16
1.3. Một số đặc trưng của hiện tượng thông tin mang tính giải trí trên
truyền hình ................................................................................................ 18
1.3.1. Thương mại hóa các chương trình truyền hình ................................. 18
1.3.2. Đại chúng hóa chương trình truyền hình ........................................... 19
1.3.3. Gia tăng yếu tố thực tế (phi kịch bản) trong chương trình truyền hình 21
1.4. Xu hướng thơng tin mang tính chất giải trí trên truyền hình quốc tế .. 21
1.4.1. Truyền hình Âu Mỹ ............................................................................. 21
1.4.2. Truyền hình Châu Á ........................................................................... 24
1.5. Xu hướng thơng tin mang tính chất giải trí trên truyền hình Việt Nam 28
Chương 2 THƠNG TIN MANG TÍNH GIẢI TRÍ TRONG CÁC
CHƯƠNG TRÌNH TIN TỨC TRÊN KÊNH VTV1 – THVN .................. 31
2.1. Sự đa dạng hố của các chương trình tin tức ........................................ 31
2.2. Hiện tượng “mềm hóa” thơng tin ....................................................... 36
2.2.1. Sự gia tăng của nhóm thơng tin đại chúng (popular/ sensational news) 36
2.2.2. Sự mở rộng và đa chiều nguồn tin ..................................................... 39
2.2.3. Khai thác thơng tin từ góc nhìn “nhân cảm” (personal dimension) . 42
2.2.4. Cường điệu hố thơng tin................................................................... 47
2.3. Sự đa dạng của phương thức chuyển tải thông tin ............................. 50
2.3.1. Nâng cao tính tương tác trong phương thức chuyển tải thơng tin..... 50
2.3.2. Nâng cao tính cảm xúc trong phương thức chuyển tải thông tin ....... 55
Chương 3 TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA XU HƯỚNG THƠNG TIN MANG
TÍNH GIẢI TRÍ ............................................................................................ 70
3.1. Ưu điểm và hiệu ứng tích cực của xu hướng thơng tin mang tính giải
trí (infotainment) trên kênh VTV1 – THVN ............................................... 70
3.1.1. Ưu điểm .............................................................................................. 70
3.1.2. Hiệu ứng tích cực ............................................................................... 73
3.2. Nhược điểm và hiệu ứng tiêu cực của xu hướng thơng tin mang tính
giải trí (infotainment) trên kênh VTV1 – THVN ........................................ 77
3.2.1. Nhược điểm ........................................................................................ 77
3.2.2. Tác động tiêu cực ............................................................................... 80
3.3. Nâng cao chất lượng các chương trình tin tức ................................... 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Bảng 1.1
Tên Bảng
Những đặc trưng cơ bản để phân biệt tin cứng và tin
Trang
12
mềm
Bảng 2.1
33
Bảng 2.2
Số lượng tin – bài của nhóm thơng tin đại chúng
37
Bảng 2.3
Khảo sát tính chất của thơng tin
44
Bảng 2.4
Tương tác của biên tập viên trường quay
55
Bảng 2.5
Cách thức thể hiện thông tin
57
Bảng 2.6
Tỉ lệ tin, bài có sử dụng thơng tin đồ họa trong các
62
chương trình tin tức
Bảng 3.1
Bảng giá quảng cáo đài truyền hình VTV1 năm 2015
75
Bảng 3.2
Bảng giá quảng cáo chương trình chuyển động 24h
75
DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
Trang
Hình 1.1
Phong cách điểm tin trên báo của "Hayadoki" (TBS)
26
Hình 1.2
Phong cách bình luận tin trên "Hayadoki" (TBS)
27
Hình 2.1
Tin "Lễ trao giải The Oscars" trên chương trình "Thời
35
sự 19h"
Hình 2.2
Tin “Chiến thắng của Leonardo Discaprio tại lễ trao
35
giải Oscars” trên chường trình "Chuyển động 24h" cùng
ngày
Hình 2.3
Chính tổng thống Obama viết trên mạng xã hội xác
40
nhận chuyến thăm Cuba (“Chuyển động 24h” trưa ngày
09/03/2016)
Hình 2.4
Minh họa cho sự kiện Leonardo Discaprio chiến thắng
tại lễ
40
trao giải Oscar 2016 (“Chuyển động 24h”
ngày 29/02.2016)
Hình 2.5
Hình 2.6
41
Hình ảnh đặc tả tác động vào cảm xúc cơng chúng
45
(“Chuyển động 24h” 9/02/2016)
Hình 2.7
Chuyên mục "Cặp lá yêu thương" trực tiếp đánh vào
46
xúc cảm cơng chúng về những hồn cảnh đáng thương
trong xã hội (“Chuyển động 24h trưa ngày 09/03/2016)
Hình 2.8
Hình 2.9
48
Nội dung thể hiện sự tương tác, độ tin cậy của chương trình
51
đối với cơng chúng (“Chuyển động 24h trưa ngày
09/03/2016)
Hình 2.10
Chương trình là CẦU NỐI đáng tin cậy giữa "lá lành"
và "lá rách" (“Chuyển động 24h trưa ngày 09/03/2016)
51
Số hiệu
Tên hình
Hình 2.11
Trang
52
Hình 2.12
"Chuyền động 24h"
53
Hình 2.13
“Thời sự 19h”
53
Hình 2.14
"Chuyển động 24h"
54
Hình 2.15
BTV đã cầm ln tờ cơng văn cần được xác minh trên
56
tay trước khi chương trình trình chiếu cận cảnh tờ cơng
văn (“Chuyển động 24h” ngày 29/02/2016)
Hình 2.16
Hình 2.17
56
Sử dụng hiệu ứng hình ảnh để nhấn mạnh tính chất
58
quan trọng của thơng tin “Tiến tới đại hội lần thứ XII
của Đảng” (Chương trình “Thời sự 19h” ngày
12/01/2016)
Hình 2.18
59
Hình 2.19
59
Hình 2.20
60
Hình 2.21
61
Hình 2.22
61
Hình 2.23
Thơng tin đồ họa (Biểu đồ) trong chương trình "Vấn đề
62
hơm nay" ngày 28/3/2016
Hình 2.24
Thơng tin đồ họa (hộp) trong chương trình "Vấn đề
63
hơm nay" ngày 09/03/2016
Hình 2.25
Thơng tin đồ họa trong chương trình "Vấn đề hơm nay"
63
ngày 28/3/2016
Hình 2.26
Thơng tin đồ họa (hình ảnh) trong chương trình
64
"Chuyển động 24h" ngày 12/01/2016
Hình 2.27
Thơng tin đồ họa (biểu đồ) trong chương trình "Thời sự
64
Số hiệu
Tên hình
Trang
Thơng tin đồ họa (hình ảnh động) trong chương trình
65
19h" ngày 12/01/2016
Hình 2.28
"Thời sự 19h” ngày 05/03/2016
Hình 2.29
Thơng tin đồ họa (hình ảnh động) trong chương trình
65
"Thời sự 19h” ngày 05/03/2016
Hình 3.1
77
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Số hiệu
Trang
Biểu đồ 2.1
Thông tin trùng lặp
32
Biểu đồ 2.2
Sự áp đảo của tỉ lệ tin mềm so với tin trực thuật trên
38
truyền hình quốc tế
Biểu đồ 2.3
Nguồn tin
41
Biểu đồ 2.4
Phương thức tường thuật (News style)
47
Biểu đồ 2.5
Số lượng thông tin đồ họa được sử dụng trong
66
chương trình "Chuyển động 24h"
Biểu đồ 2.6
Số lượng thơng tin đồ họa được sử dụng trong
67
chương trình "Thời sự 19h"
Biểu đồ 2.7
Số lượng thông tin đồ họa được sử dụng trong
chương trình "Vấn đề hơm nay"
68
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện tượng thông tin mang tính giải trí (infotainment - sự kết hợp giữa
“thơng tin” (information) và “giải trí” (entertainment) là một trong những xu
hướng báo chí phổ biến trên thế giới. Xu hướng này còn được các nhà nghiên
cứu gọi là xu hướng “mềm” hóa thơng tin (soften news) [1, tr.362]. Với xu
hướng này, tính chính luận, thơng tin (informative) khơng cịn là yếu tố quan
trọng bậc nhất mà tính giải trí cùng sự hấp dẫn, thu hút (entertainment) của
thông tin và cách chuyển tải thông tin cũng được xem là yếu tố quan trọng
trong việc truyền tin đến với công chúng. Đối với các chương trình thời sự,
tin tức (news), nhiều nhà nghiên cứu cho rằng xu hướng giải trí hóa thơng tin
đã phá vỡ sự cứng nhắc, khuôn mẫu của lối làm tin tức truyền thống và thay
vào đó bằng sự đa dạng, đa chiều của tin tức cùng các hình thức chuyển tải
thông tin linh hoạt, mềm dẻo và hấp dẫn. Nhờ đó, xu hướng này vừa đáp ứng
nhu cầu tiếp nhận thơng tin vừa góp phần thỏa mãn tâm lý, thị hiếu của khán
giả hiện đại.
Cùng chung dòng chảy báo chí thời kì tồn cầu hóa, xu hướng thơng tin
mang tính giải trí cũng bắt đầu xâm nhập vào truyền hình Việt Nam. Nội dung
và hình thức thể hiện một số chương trình tin tức trên sóng truyền hình Việt
Nam đã manh nha những biểu hiện của xu hướng thơng tin mang tính giải trí
như: đa dạng hố các chương trình tin tức, tăng cường thơng tin mang tính
“nhân cảm” [5], nâng cao tính tương tác với khán giả xem đài, đa dạng hóa
các chun mục chính luận, thời sự,...
Nhằm bước đầu phác thảo diện mạo và đặc điểm của xu hướng thơng
tin mang tính giải trí (infotainment) trên truyền hình Việt Nam, khóa luận
“Xu hướng thơng tin mang tính giải trí (infotainment) trong các chương
trình tin tức trên kênh VTV1 Đài THVN” đã tiến hành khảo sát một số
2
chương trình tin tức trên kênh truyền hình VTV1, Đài truyền hình Việt Nam
trên các bình diện như số lượng, đặc điểm nội dung và hình thức xây dựng tác
phẩm truyền hình. Trên cơ sở so sánh với các chương trình tin tức trên thế
giới, đề tài cũng hướng đến phân tích những ưu điểm, nhược điểm, tác động
xã hội,… của xu hướng này, nhằm góp phần cập nhập những thay đổi mới
nhất, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng các chương trình
tin tức trên truyền hình Việt Nam.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Khái niệm thơng tin mang tính chất giải trí (infotainment) được đề xuất
lần đầu tiên vào 9/1980 bởi “Viện thông tin khoa học và hiệp hội thư viện
Sheffield” tại Hội nghị liên tịch Aslib (Vương quốc Anh). Kể từ đó, các nhà
nghiên cứu đã nhận định hiện tượng này sẽ trở thành một trong những xu
hướng phổ biến của báo chí thế kỉ XXI. Nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận vấn
đề thơng tin mang tính giải trí trên cả bình diện lý thuyết và thực tiễn, sản
phẩm và cơng chúng truyền thông, biểu hiện của xu hướng này trên các
phương tiện truyền thông truyền thống như báo in, phát thanh, truyền hình lẫn
các phương tiện truyền tin hiện đại như báo mạng, diễn đàn, mạng xã hội…
Xem xét từ góc nhìn của cơng chúng truyền thơng, Daya Kishan Thussu
trong“News as Entertainment: The Rise of Global Infotainment”(2009) đã thực
hiện những khảo sát và nghiên cứu về tỉ lệ công chúng tiếp nhận thơng tin
mang tính chất giải trí tại Châu Âu, Mỹ và Ấn Độ để đưa ra những nhận định
chung cũng như đánh giá về xu hướng này trên thế giới. Ơng cho rằng đang có
sự gia tăng mạnh mẽ của xu hướng thơng tin mang tính giải trí của báo chí
trên tồn thế giới gắn liền với sự gia tăng lợi nhuận truyền thông qua việc
thỏa mãn nhu cầu về “sức hút” của thông tin đối với công chúng như một
hình thức “sản xuất văn hóa” [3].
3
Trong bài báo “Hard news and soft news: A review of concepts,
operationalizations and key findings” (2011), các tác giả Reinemann, Stanyer,
Scherr và Legnate đã phân tích những khác biệt giữa tin cứng và tin mềm để
xác lập đặc điểm của từng tiểu loại. Tuy nhiên, khi phân biệt hai tiểu loại này,
nhóm tác giả đã nhận thấy việc phân định tính chất trực thuật và diễn cảm của
thể loại tin là rất khó khăn. Nguyên nhân là do sự chi phối của hiện tượng
thơng tục, bình dân (tabloidization) và thơng tin kết hợp với giải trí
(infotainment) [6]. Như vậy, có thể thấy các nhà nghiên cứu đã bước đầu xác
lập thơng tin mang tính giải trí là một kiểu tin/ làm tin giao thoa giữa tin cứng
và tin mềm, vừa thoả mãn những gì cơng chúng cần biết (thơng tin) và muốn
biết (giải trí).
Một trong các hướng tiếp cận xu hướng thơng tin mang tính giải trí khá
phổ biến là khảo cứu biểu hiện của xu hướng này trên truyền hình – một
phương tiện thể hiện rõ tính đại chúng của truyền thông hiện đại. Bonnie M.
Anderson – một nhà báo kì cựu của hai kênh truyền hình nổi tiếng CNN và
NBC đã dành nhiều chương trong cuốn sách “News Flash: Journalism,
Infotainment and the Bottom-line business of Broadcast News” (2004) để
phân tích ưu điểm và hạn chế, giá trị tin tức (news value) và lợi ích kinh tế
(news profit), sự thật và các giá trị đạo đức, cũng như chia sẻ những kinh
nghiệp thực tiễn trong quá trình tác nghiệp tại CNN và NBC. Ông cũng nhấn
mạnh rằng sự ra đời những mạng lưới truyền thơng mang tính tập đồn, chú
trọng vào tính thương mại của truyền thơng là nguồn gốc của hiện tượng còn
gây nhiều tranh cãi này [1].
Ở Việt Nam, trong phạm vi tìm hiểu của khóa luận, hiện vẫn chưa có
những nghiên cứu cụ thể về xu hướng thơng tin mang tính giải trí. Tuy nhiên,
một số bài báo khoa học có bàn đến hiện tượng thơng tục, “lá cải” của thơng
tin trên báo chí. Đáng chú ý, trong bài báo “Truyền hình bình dân ở Việt
4
Nam: Giữa dân chủ hoá và thị trường hoá”, tác giả Trần Thu Giang có giới
thiệu về khái niệm truyền hình bình dân (ordinary television). Cụ thể, tác giả
cho rằng truyền hình bình dân là một nhóm các thể loại truyền hình với ba
đặc điểm chính: đề cập một cách phi hư cấu tới các vấn đề dân dã hàng ngày;
phong cách truyền tải có tính giải trí bình dân; nội dung lệ thuộc chủ yếu vào
sự tham gia của những người “bình thường”, tức là những người khơng có
chun mơn về truyền hình [7]. Nghiên cứu này chỉ tập trung khảo sát các
chương trình giải trí chứ khơng đi sâu vào chương trình tin tức, thời sự. Tuy
nhiên, nghiên cứu của Trần Thu Giang và các tác giả đi trước là nền tảng để
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.
3. Mục đích nghiên cứu
- Phác thảo đặc điểm thơng tin mang tính giải trí (infotainment) trên
các chương trình tin tức của truyền hình Việt Nam mà cụ thể là kênh VTV1 –
THVN.
- Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của xu hướng này
- Tác động của xu hướng thông tin mang tính chất giải trí đến dư luận
xã hội.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khố luận là các chương trình tin tức trên
kênh VTV1. Trong đó, chúng tơi tập trung khảo sát 364 chương trình
“Chuyển động 24h”, “Thời sự 19h”, “Vấn đề hơm nay” được phát trong quý 1
năm 2016. Đây là những chương trình tin tức, thời sự, chính luận nổi bật tại
Việt Nam, được phát sóng vào khung giờ vàng và nhận được đông đảo sự
quan tâm của công chúng.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: biểu hiện của xu hướng thơng tin
mang tính giải trí trong các chương trình trên.
5
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng, mà cụ thể là phương pháp phân
tích nội dung được chúng tôi sử dụng để khảo sát sự biểu hiện của yếu tố
thơng tin mang tính giải trí trong các chương trình tin tức trên kênh VTV1 –
THVN.
Ngồi ra, để làm rõ ưu nhược điểm cũng như tác động xã hội của xu
hướng này, khoá luận sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, cụ
thể là phương pháp phỏng vấn nhóm trọng điểm với ba nhóm cơng chúng
thuộc các độ tuổi và tâm lý tiếp nhận khác nhau. Đồng thời, khóa luận cịn
tham khảo những bình luận, ý kiến của cơng chúng từ trang quảng bá chính
thức của chương trình trên facebook.
6. Cấu trúc đề tài
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo và các phụ lục,
khố luận bao gồm ba chương chính:
Chương 1: Báo chí với xu hướng thơng tin mang tính giải trí
Chương 2: Thơng tin mang tính giải trí trong các chương trình tin tức
trên kênh VTV1
Chương 3: Tác động xã hội của xu hướng thơng tin mang tính giải trí
6
Chương 1
BÁO CHÍ VỚI XU HƯỚNG THƠNG TIN MANG TÍNH GIẢI TRÍ
1.1. Khái qt về xu hướng thơng tin mang tính giải trí
1.1.1. Khái niệm thơng tin mang tính giải trí (infotainment)
Hiện tượng thơng tin mang tính giải trí (infotainment) là một trong
những hiện tượng báo chí phổ biến trên thế giới hiện nay. Đó là sản phẩm của
sự phát triển công nghệ, thương mại truyền thông và đáp ứng thị hiếu cơng
chúng trong thời kì tồn cầu hố và bùng nổ thơng tin. Một số nhà nghiên cứu
gọi đó là sản phẩm của văn hố truyền hình đại chúng (tabloidization of
television news culture).
Về mặt từ nguyên, khái niệm thông tin mang tính giải trí infotainment
là sự kết hợp giữa “thơng tin” (information) và “giải trí” (entertainment).
Cách chơi chữ này cũng phản ánh chân xác bản chất của hiện tượng này. Từ
điển “Oxford advanced learner’s Dictionary” (tái bản lần thứ 8) định nghĩa
hiện tượng thơng tin mang tính giải trí (infotainment) là những chương trình
truyền hình thể hiện tin tức, chủ đề quan trọng dưới hình thức có tính giải trí1.
Ở góc độ học thuật, trong cơng trình “News as Entertainment: The Rise
of Global Infotainment”(2009), Daya Kishan Thussu khẳng định rằng thơng
tin mang tính giải trí (infotainment) là một khái niệm mới, được sử dụng phổ
biến từ cuối những năm 1980, sau đó bắt đầu trở thành một từ thơng dụng chỉ
các những chương trình tin tức truyền hình đương thời có sự trộn lẫn giữa
“thơng tin” (information) và “giải trí” (entertainment). Dựa trên giải thích
của “Oxford English Dictionary”, ơng nhấn mạnh đây là những chương trình
có chất liệu nhắm đến cả mục đích giải trí và cung cấp thơng tin, trong đó
thơng thường hình thức thể hiện chiến thắng nội dung bên trong nó. Hay nói
cách khác, chính phương thức chuyển tải thơng tin đóng vai trị quyết định,
1
Televison programmes, ect, that present news and serious subjects in an entertaining way
7
trở nên quan trọng hơn cả nội dung thông tin cần truyền đạt đến công chúng.
Đây là thể loại chương trình tin tức mới, mang hình thái tươi mới, với phong
cách vay mượn từ xu thế mới của thời đại chương trình truyền hình mang tính
thương mại và những thị hiếu thẩm mỹ mang phong cách MTV, Holywood.
Một cách cụ thể hơn, có thể hình dung đó là những chương trình tin tức cập
nhật liên tục, đa chiều và sát gần với những sự kiện nóng hổi vừa mới xảy ra
thơng qua những hình ảnh bắt mắt, sinh động đánh vào thị giác cơng chúng
kết hợp với những tít, tiêu đề nhắm vào cảm xúc của con người. Thậm chí,
những yếu tố này còn xuất hiện với tần suất lớn và rõ hơn cả việc chứng tỏ
hay xác minh độ tin cậy của nguồn tin [1]. Một số nhà phê bình cịn nhấn
mạnh trong các chương trình có dấu ấn của thơng tin mang tính giải trí, việc
biên tập viên xuất hiện như thế nào trước ống kính máy quay, cách họ trình
bày tin tức như thế nào cịn quan trọng hơn các kĩ năng báo chí khác. Bên
cạnh đó, khi khán giả có thể xem truyền hình mọi nơi bằng hình thức trực
tuyến hay điện thoại thơng minh, hiện tượng này cịn xuất hiện những thơng
tin mang câu hỏi mở tấn công vào cái “tôi” của công chúng và trông chờ sự
tương tác giữa công chúng và người làm báo.
Có thể thấy rằng, ngay từ đầu, các nhà nghiên cứu đã định hình thơng
tin mang tính giải trí với phương tiện truyền hình. Mặc dù hiện tượng này
cũng phổ biến trên báo in hay phát thanh nhưng với nguồn gốc từ văn hóa
thương mại hóa truyền hình của Mỹ, thơng tin mang tính giải trí đã trở thành
một đặc điểm độc đáo của truyền hình hiện đại và ngày đang càng trở thành
xu hướng chung của tồn cầu. Chính hiện tượng này đang góp phần làm mơi
trường truyền hình trở nên tự do hơn, đời tư hơn (non-fiction) và đang tạo nên
một xu thế chung của thời đại, một cơ sở hạ tầng mang tính quốc tế của vũ khí
truyền thơng.
8
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển
Khái niệm thơng tin mang tính chất giải trí (infotainment) lần đầu được
nhắc đến trong một cuộc hội nghị của “Hội liên hiệp các trạm phát thanh Hoa
Kì” diễn ra vào tháng 7/1974 tại khách sạn Statler Hilton, mà hiện nay là
khách sạn Pennsylvania. Khái niệm này đương thời được hiểu như “mối quan
hệ giữa thơng tin và giải trí” và được mang ra thảo luận như một chủ đề mới.
Nhưng thực tế, thế giới chỉ bắt đầu ghi nhận khái niệm thông tin mang tính
chất giải trí (infotainment) khi khái niệm này được đề xuất bởi “Viện thông
tin khoa học và hiệp hội thư viện Sheffield” tại Hội nghị Liên tịch Aslib
(Vương quốc Anh) tổ chức vào tháng 9/1980. Từ đó, khái niệm này được sử
dụng phổ biến như một từ chỉ xu hướng báo chí và truyền hình hàm chứa cả
hai yếu tố thơng tin và giải trí.
Mặc dù khái niệm này chỉ mới xuất hiện trong khoảng thời gian được
đề cập trên nhưng thực tế, hiện tượng thông tin mang tính giải trí
(infotainment) đã có một q trình hình thành và phát triển lâu dài song song
với sự phát triển của những khái niệm “giật gân” và “tin lá cải” của lịch sử
báo chí thế giới. Nói một cách khác, xu hướng giải trí này phát triển như một
hệ quá tất yếu của xu thế thị trường.
Hoa Kỳ có thể được xem như cái nôi của nền công nghiệp thông tin
mang tính giải trí (infotainment) với những tờ báo giá một xu vào những năm
1930. Chẳng hạn như tòa soạn “Sun” đã xuất bản từ “New York” (1962)
chuyên cung cấp những câu chuyện thỏa mãn trí tịa mị của độc giả chỉ với
một xu trong khi, những tờ báo khác ở thời điểm này có giá sáu xu. Theo Neal
Gabler, chính những ấn phẩm một xu này đã trở thành món ăn tinh thần giải
trí khơng thể thiếu với người dân đang làm việc trong khu vực: “Một tội ác vô
nghĩa, những trang tiểu thuyết đẫm máu hay những câu chuyện hấp dẫn như
phim,… những tin tức tuy vớ vẩn như thế lại là thứ khiến đa phần công chúng
9
thích thú. Những nội dung này có tính tiêu khiển cao. Bóp méo một chút
thơng tin trên những trang báo và ta có được những câu chuyện giật gân nhất
với khả năng gây xúc động mạnh với công chúng”. Không chỉ dừng lại ở đó,
ơng cịn cho rằng “Có khi, những chủ bút sẽ tự mình “phát minh” ra vài dạng
tin tức vì đó là cách bán báo nhanh nhất trong mơi trường giải trí này” (2002).
Schudson (1978) trong lịch sử phát triển của nền báo chí Mỹ, đã nhấn
mạnh rằng thế kỷ XIX là thời kì “nền báo chí của sự giải trí” đi lên, thể hiện
rõ qua các thể loại và phong cách – dễ bị ảnh hưởng bởi ngơn ngữ và sử dụng
nhiều hình ảnh hơn – ngày càng trở nên phổ biến. “Ngành báo chí của sự giải
trí” là nền tảng cho sự phát triển của nền công nghiệp quảng cáo tại Mỹ rồi
lan dần sang Châu Âu và sau đó là phần cịn lại của thế giới. Đây cũng là một
trong những nhân tố góp phần lan truyền nền văn hóa đa dạng của Mỹ vào
giữa thế kỷ XIX. Cuối thế kỷ này, quảng cáo trở trở thành một yếu tố tích cực
thúc đẩy sự hình thành chủ nghĩa tiêu thụ. Vào năm 1899, cơng ty quảng cáo
J. Walter Thompson (Hoa Kỳ) đã thành lập một “cục bán hàng” tại London.
Trước những năm 1920, Hoa Kỳ thực sự tự hào về mạng lưới những nền cơng
nghiệp văn hóa đồ sộ của mình, bao gồm cả những nhà máy với các cỗ máy
sản xuất tranh ảnh khổng lồ, góp phần gia tăng giá trị tiêu thụ. Từ sự khởi đầu
đó, những chương trình phát thanh của Hoa Kỳ đã chuyển sang hướng thương
mại hóa: chương trình “US Radio Act” vào năm 1972 đã trở thành định nghĩa
cho quảng cáo trên sóng phát thanh như một hành động táo bạo có tính
thương mại: kiếm nguồn thu từ quảng cáo. Điều này chứng tỏ những hứng thú
của công chúng toàn thế giới sẽ được đáp ứng tốt nhất bằng những chương
trình phát thanh riêng, tự do với độ phủ sóng rộng. Vì vậy, tập đồn Act hồn
tồn khơng có sự chuẩn bị nào cho việc ủng hộ và phát triển của những
chương trình phát thanh phi thương mại sau đó.
10
Truyền hình cũng thế, chạy theo xu thế thị trường chung, cũng chịu sự
chi phối của quảng cáo và tỉ lệ người xem – CBS (Columbia Broadcasting
System), NBC (National Broadcasting Corporation) và ABC (American
Broadcasting Corporation) – đã cung cấp cùng lúc cả sự giải trí và thơng tin.
Vì doanh thu của những mạng lưới này đều phụ thuộc vào tỉ lệ khán giả nên
sự giải trí trở thành một nhân tố quan trọng trong những chương trình của họ.
Hồn tồn khơng ngẫu nhiên khi một trong những chương trình tọa đàm lâu
đời và nổi tiếng nhất thế giới, “The Tonight Show”, hồn tồn thành cơng trên
sóng NBC từ năm 1954.
Trong nền văn hóa truyền hình, việc xem cơng chúng như khách hàng
ngày càng trở nên phổ biến. Sự hứng thú của cộng đồng trở thành tiêu chí
quan trọng trong việc xây dựng các chương trình truyền hình. Vào năm 1982,
chủ tịch Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ, Mark Fowler nhấn mạnh:
“Truyền thơng chính trị nên hướng đến việc tăng tối đa những dịch vụ đáp
ứng yêu cầu cộng đồng. Thay vì định nghĩa nhu cầu và chi tiết các thể loại
chương trình để đáp ứng nhu cầu đó, Ủy ban nên dựa vào khả năng của những
phát thanh viên để xác định rõ những mong muốn của công chúng thông qua
cơ chế thị trường”. Và khán giả Hoa Kỳ ở thập niên 80 của thế kỉ XX có xu
hướng ưa chuộng những bài báo “mềm” hơn những tin tức “cứng”. Minh
chứng cho xu hướng này chính là chuyên đề nghiên cứu được thực hiện vào
năm 1997 bởi “Project for Excellence in Journalism”. Chuyên đề này khảo sát
những phương tiện truyền thông đa phương tiện của Mỹ hơn hai thập kỉ trước.
Nghiên cứu lưu ý: “Có những sự thay đổi trong lối sống, sự nổi tiếng, giải trí
và tội ác hay các vụ bê bối thu hút sự quan tâm của công chúng trong nội
dung tin tức và tránh xa những vấn đề liên quan đến chính phủ hay nước
ngồi. Theo một phân tích của một mạng lưới truyền hình có đề cập: “Sự thay
đổi mới mẻ nhất trong sự nhấn mạnh mạng lưới tin tức là tô đậm sự gia tăng
11
của những câu chuyện về các scandal, tăng lên từ 0,5% vào năm 1977, và
năm 1997 đạt mức 15%. Sự thay đổi lớn tiếp theo trong sự nhấn mạnh của
mạng lưới thơng tin chính là gia tăng sự hứng thú của cộng đồng và chất
lượng những câu chuyện đời sống. Trên một kênh truyền hình, sự hứng thú
của cộng đồng và chất lượng những câu chuyện đời sống đã tăng gấp đôi từ
8% câu chuyện xuất hiện vào năm 1977 và đến năm 1997 đã tăng đến 16%
(Project for Excellence in Journalism, 1998).
Sự thương mại hóa của các phương tiện truyền thông tin tức Mỹ đã
tăng lên trong suốt những năm 1990, đánh dấu “giai đoạn của thập niên chưa
hề thấy trong nền báo chí phát sóng”, khi những mạng lưới “bơi trơn các vấn
đề với điểm nhìn ở những câu chuyện thơng tin có một ít sự thúc đẩy của
những chương trình giải trí đang lên”. Các nhà chun môn trong lĩnh vực
marketing và quảng cáo bắt đầu được những kênh truyền hình thuê về để
“thêm mắm dặm muối” vào những chương trình tin tức như: “tăng cường
những câu chuyện mềm, những hình thức chuyển tải tác động vào xúc cảm;
sử dụng nhiều hơn đồ thị và thu hút sự chú ý đến tuổi trẻ, sự hấp dẫn về mặt
ngoại hình (phái nữ) khi lên sóng”. Một chun đề lấy ví dụ về sự xâm lấn
của giải trí trong tin tức là “câu chuyện không hề nổi tiếng” O. J. Simpson đã
đánh dấu “sự tráo đổi chức năng từ báo chí đến xu hướng thơng tin mang tính
giải trí” như Kellner (2003) đã nói. Giữa ngày 01/01 đến 29/09/1995, Keller
nhấn mạnh những chương trình tin tức ban đêm trên sóng ABC, CBS và NBC
dành hẳn 1392 phút để mơ tả lại vụ án Simpson, phóng đại những chuyện cịn
mập mờ của tin tức về chiến tranh ở Bosnia.
Như vậy, có thể thấy rằng mặc xuất phát từ cái nơi Vương quốc Anh
nhưng chính Hoa Kỳ với mơi trường truyền thông hiện đại mới là vùng đất
màu mỡ, tạo đà phát triển cho hiện tượng thơng tin mang tính giải trí. Cùng
với chức năng nhận thức, định hướng tư tưởng, thẩm mỹ thì chức năng giải trí
12
đã được khẳng định là một trong những đặc tính cơ bản của báo chí nói chung
và truyền hình nói riêng.
1.1.3. Đặc trưng của thơng tin mang tính giải trí
Thực chất, những thơng tin mang tính giải trí chính là những thông tin mềm
(soft news). Trong bài báo “Hard news and soft news: A review of concepts,
operationalizations and key findings” (2011), các tác giả Reinemann, Stanyer,
Scherr và Legnate đã phân tích những khác biệt giữa tin cứng và tin mềm để
xác lập đặc điểm của từng tiểu loại thông qua ba khía cạnh cơ bản của thơng
tin như bảng sau:
Bảng 1.1: Những đặc trưng cơ bản để phân biệt tin cứng và tin mềm
(1) Vấn đề được đề cập (Topic dimension): mang tính chính trị (tin
cứng) – phi chính trị (tin mềm)
(2) Nội dung thông tin được nhấn mạnh (Focus dimension): mang tính
xã hội (tin cứng) – mang tính cá nhân (tin mềm)/ có tính chun đề
(tin cứng) - những vấn đề riêng lẻ (tin mềm)
(3) Phong cách chuyển tải (Style dimension): khách quan (tin cứng) –
chủ quan (tin mềm)/ không cảm xúc (tin cứng) – đánh vào nhân cảm
(tin mềm). [6]
Từ đó ta có thể khái quát được những đặc trưng cơ bản của thơng tin
mang tính giải trí nhằm thu hút sự qua tâm, hứng thú đối với cơng chúng, đó
là:
Thứ nhất, ở chủ đề được đề cập là những thơng tin ít liên quan đến các
vấn đề chính trị, thường là những sự kiện phi chính trị, có tính đại chúng cao.
13
Chính khía cạnh này đã phần nào dẫn đến hiện tượng “mềm hóa” những tơng
tin chính luận truyền thống. Hay có thể hiểu theo một cách khác là những yếu
tố giải trí bắt đầu xâm nhập và chi phối thơng tin chính luận.
Thứ hai, người làm báo phải thu nhận, khai thác và xử lý thơng tin dưới
góc nhìn đời tư – thế sự. Tập trung nêu rõ và phân tích những ảnh hưởng của
sự kiện đối với một tập thể hoặc cá nhân cụ thể trong xã hội. Chính việc thay
đổi góc nhìn này đã đưa thơng tin đến gần hơn với công chúng. Giờ đây,
những sự kiện vĩ mơ có tính ảnh hưởng rộng lớn đối với xã hội đã được cụ thể
hóa thành những ảnh hưởng chân thật lên từng cá nhân. Điều này đã giúp
thông tin trở nên có ích hơn, thiết thực hơn với từng đại bộ phận cơng chúng
bởi chính họ sẽ tìm thấy chính bản thân mình trong phần thơng tin được
chuyển tải.
Thứ ba, phong cách chuyển tải thường nhắm vào xu hướng thể hiện ý
kiến, cảm xúc chủ quan của người làm báo hoặc sử dụng những yếu tố tác
động mạnh vào xúc cảm của công chúng như ngôn ngữ trần thuật mang tính
cá nhân, bộc lộ cái tơi chính kiến; gây kích thích sự hứng thú, thỏa mãn trí tị
mị khi nhắm vào những thơng tin có tính chất nhạy cảm, thể thao, giải trí,
những vấn đề liên quan đến tính dục,…
Từ những đặc trưng này, ta có thể thấy xu hướng của thơng tin báo chí
hiện nay chính là gia tăng nhanh về mảng thơng tin mang tính đại chúng;
những thơng tin chính luận đang dần bị xâm nhập và chi phối bởi thơng tin
giải trí; thơng tin ngày càng được mở rộng, đa chiều trên xu thế toàn cầu hóa
thơng tin; tin tức đang trở thành một món hàng đắt giá dẫn đến hiện tượng
thương mại hóa thơng tin toàn cầu qua sự chi phối – sở hữu của các tập đồn
truyền thơng;…