Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Đi và viết (2)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (521.61 KB, 53 trang )

Đi và viết (2)
Những ý tưởng cho các bài báo môi trường về bản chất bao gồm cả những ý tưởng
tích cực và tiêu cực ln xoay quanh chúng ta. Bạn có thể tìm thấy chúng bằng
cách đi quanh một thành phố hay về nông thôn. Nếu quan sát một cách cẩn thận,
bạn có thể phát hiện những vấn đề môi trường làm mọi người quan tâm.
ĐI&VIẾT
CHƯƠNG I - NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀNG
I. Chuẩn bị
Những ý tưởng cho các bài báo môi trường về bản chất bao gồm cả những ý tưởng
tích cực và tiêu cực ln xoay quanh chúng ta. Bạn có thể tìm thấy chúng bằng
cách đi quanh một thành phố hay về nông thôn. Nếu quan sát một cách cẩn thận,
bạn có thể phát hiện những vấn đề môi trường làm mọi người quan tâm.
Thông thường, ý tưởng của bài báo nảy sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Có lẽ phổ
biến nhất là các thơng cáo báo chí, các báo cáo, các bản tuyên bố của các cơ quan
chính phủ và địa phương. Thơng cáo báo chí thường cung cấp những đầu mối hấp
dẫn để bám sát sự kiện nhằm giúp cho bài báo có chất lượng hơn. Nhiều khi chúng
có thể là những điểm khởi đầu cho nhiều bài báo nhưng chưađủ để là bài báo. Việc
sử dụng chúng gợi mở các ý tưởng cho bạn. Sau đó phát triển những ý kiến này
một cách đầy đủ hơn dựa trên những cuộc phỏng vấn và nghiên cứu trước khi viết
về vấn đề này.
Cũng có thể tìm ra ý tưởng cho các bài báo từ báo cáo của chính phủ. Mặc dù báo
cáo thường dài và tẻ nhạt nhưng chúng vẫn là chỉ dẫn tuyệt vời cho một bài báo.


Có lẽ bạn phải thật sự nỗ lực để có thể tiếp cận những báo cáo của chính phủ. Nếu
như chính phủ u cầu các cơng ty phải có giấy phép về nước, khơng khí và chất
thải nguy hại, bằng mọi cách, bạn phải được xem chúng. Thẩm tra những giấy
phép này và so sánh với báo cáo của thanh tra sẽ làm nảy sinh những vấn đề quan
trọng.
Trao đổi với các quan chức chính phủ cũng mang lại rất nhiều lợi ích. Những gì họ
nói góp phần và làm cho bài báo có thêm nhiều thơng tin tốt. Trong tình huống


khác, họ có thể kín đáo cho lời khun về một vấn đề để bạn có thể viết tốt hơn.
Thậm chí họ tiết lộ những thơng tin vì mục đích riêng của họ và có thể giúp bạn
viết được một bài báo quan trọng. Không nên cố gắng trao đổi chỉ với các quan
chức cấp cao nhất. Một phóng viên môi trường cho biết một số bài báo thành công
của anh ta thường xuất phát từ những thanh tra có cấp bậc thấp hoặc nhân viên
trong các cơng ty mơi trường. Họ có thể mách bảo về những gì cơng ty đang làm
và các áp lực chính trị họ phải chịu đựng như thế nào.
Những người làm việc ở các ban, phòng y tế địa phương và của nhà nước cũng có
thể cung cấp ý tưởng có giá trị như nguyên nhân cơ bản gây ung thư cũng như ảnh
hưởng của những chất gây ô nhiễm hay thuốc trừ sâu. Đơi khi quan chức các
nghiệp đồn cũng có thể cho biết những vấn đề sức khỏe, nghề nghiệp và mơi
trường ở một số nhà máy. Do đó, nên chú ý lắng nghe họ một cách cẩn thận.
Những tin tức đầu mối từ họ có thể rất có ích cho việc chuẩn bị bài báo.
Các tổ chức quốc tế cũng là những nguồn tin tốt cho bài báo khi họ thường xun
phát hành thơng cáo báo chí và báo cáo.
Một nơi lí tưởng khác để tìm kiếm thơng tin cho các bài báo là những ấn phẩm về
môi trường được xuất bản bởi nhiều tổ chức của Liên Hợp Quốc như ESCAP,
UNEP, FAO, và WHO. Những ấn phẩm như vậy không chỉ tập trung nhiều vấn đề


mà cịn cung cấp tồn cảnh từ đó có thể đánh giá hành động của chính phủ. Những
ấn phẩm này thường chứa đựng tên của các nguồn tin cho bài báo.
Một số tổ chức nhỏ khác hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, lao động, các
trường đại học, v.v..., cũng có thể cung cấp thơng tin và ý tưởng cho bài báo.
Không nên bỏ qua những nguồn tin về lĩnh vực cơng nghiệp nếu muốn viết một
cách chính xác về các hoạt động ở lĩnh vực này. Kinh nghiệm cho thấy các cơ sở
công nghiệp nhà nước thường ngại tiếp xúc với báo chí trong khi khu vực cơng
nghiệp có vốn đầu tư của nước ngồi, một số cơng ty đa quốc gia, chỉ cung cấp
thông tin khi được hỏi. Những cơng ty này có nhiều chun gia mơi trường giỏi và
họ có thể cung cấp những nguồn thơng tin có cơ sở hoặc giải thích khi cần.

Một nguồn ý tưởng tốt khác cho các bài báo môi trường là giáo sư ở các trường
đại học. Các nhà khoa học nghiên cứu về sinh học biển, sinh thái, ô nhiễm khơng
khí, địa chất học, lâm nghiệp, thủy học, sinh học và trong nhiều lĩnh vực khác.
Ngoài việc cung cấp những gợi ý cho các bài báo, các nhà khoa học cịn có thể
giải thích những định nghĩa kỹ thuật cho bạn và cung cấp những thông tin quan
trọng cho nhiều bài báo khác.
Những dự án nghiên cứu của họ có thể là nguồn tin duy nhất của một bài báo hoặc
có thể đáp ứng một phần của bài báo lớn hơn về một vấn đề mơi trường. Ngồi ra,
khi họ nắm vững những thông tin cập nhật trong lĩnh vực mà họ đang làm, họ có
thể giúp đánh giá những gì người khác đã thực hiện được hoặc phát ngơn về tình
trạng mơi trường hiện nay.
Một danh sách liệt kê các dự án nghiên cứu tại một trường đại học sẽ có thể làm
nảy sinh ý tưởng tốt cho khởi đầu một bài báo. Một số khoa hay trường đại học
cũng xuất bản những tạp chí nghiên cứu hay bản tin.


Những tạp chí khoa học cũng được các trường đại học xuất bản độc lập. Trên thế
giới có rất nhiều tạp chí khoa học nổi tiếng được các nhà khoa học và mơi trường
quan tâm. Những ấn phẩm này có thể cung cấp thơng tin có giá trị trong việc phát
triển các ý tưởng. Tuy nhiên độc giả chủ yếu của những ấn phẩm này là nhà khoa
học và chuyên gia kỹ thuật. Vì vậy nhà báo sẽ thấy những ấn phẩm này rất khó
"nhằn".
Nên nhớ những bài báo xuất hiện trong phần lớn tạp chí khoa học đã được xem xét
bởi những nhà khoa học khác trước khi chúng được đăng tải. Do đó có thể tin
thơng tin từ những bài báo đó có tính chính thống. Tuy nhiên, khơng nên sử dụng
chúng như những thơng tin chính trong bài báo của bạn. Để chắc chắn, nên tiếp
cận với các nhà nghiên cứu có liên quan cũng như nói chuyện với tác giả.
Những bài giảng và những sinh hoạt khoa học là nguồn hấp dẫn khác để khai thác
thông tin. Các cơ hội này không chỉ giúp bạn nghe những gì mọi người nói mà cịn
cho phép bạn xây dựng quan hệ.

Một nguồn ý tưởng khác là từ chính những bài báo được đăng trên báo quốc tế và
địa phương. Thông thường một bài báo chỉ tập trung vào một khía cạnh của vấn đề
trong khi nhiều khía cạnh khác bị bỏ qua do không phải là trung tâm của sự kiện
theoquan điểm của tờ báo đó. Đọc cẩn thận có thể phát hiện một hoặc vài thơng tin
quan trọng khác ẩn dưới thơng tin chính trong bài báo đã đăng. Hơn nữa, bài báo
về vấn đề môi trường ở một nước khác có thể khích lệ bạn kiểm tra những vấn đề
tương tự có tồn tại ở nơi bạn sống khơng.
Ví dụ, báo “Sức Khoẻ và Đời Sống” số cuối tháng 10- 2004 có bài viết về nạn rác
thải y tế. Bài báo nêu lên thực trạng về sự gây ô nhiễm môi trường sống của dân
đô thị. Sau đó báo “Người Lao Động” số đầu tháng 11-2004 cũng có bài viết về
vấn đề này nhưng dưới góc độ bảo vệ sức khoẻ cho người lao động trước nạn xả
rác thải y tế bừa bãi của các cơ sở y tế. Có thể tác giả của báo “Người Lao Động”


tham khảo và khai thác đề tài rác thải y tế của báo “Sức khoẻ & Đời sống”. Nhưng
họ có cách thể hiện khác, phù hợp với đặc trưng của báo mình. Bài báo cũng gây
được sự chú ý của dư luận.
Cũng với ý nghĩa trên, có thể khai thác đề tài, tìm tư liệu để thực hiện các bài viết
về môi trường qua các loại sách về đề tài môi trường, hoặc các đề tài gần gũi với
vấn đề mơi trường. Thậm chí ngay cả các loại sách vở, tạp chí về các lĩnh vực
khác như văn học, lịch sử, kinh tế, chính trị, v.v. vẫn có thể khai thác những ý
tưởng, đề tài để thực hiện những bài viết báo về mơi trường.
Ví dụ, qua cuốn truyện viết cho thiếu nhi “Mùa Hè Cuối Cùng” của nhà văn Đào
Hữu Phương, ta có thể thấy bối cảnh dịng sơng Mã chảy qua vùng q Thanh Hố,
đoạn sơng qua huyện Thọ Xn xưa kia là một dịng sơng rất trong xanh thơ mộng,
là nơi bọn trẻ chăn trâu có thể đằm mình tắm táp và bơi lội suốt ngày. Nhưng hiện
nay đoạn sông trên bị ô nhiễm khá nặng nề bởi nước thải của nhiều nhà máy, trong
đó có nhà máy đường, nhà máy giấy, v.v . đóng trên địa bàn địa phương. Bọn trẻ
từ lâu không dám bơi lội trên dịng sơng khơng cịn trong xanh như xưa. Những
đàn cá chết nổi lập lờ trắng bụng trên con sông là một lời cảnh báo nặng nề đối với

sự tàn phá của con người. Đọc qua cuốn truyện viết cho thiếu nhi, người cầm bút
có thể rút ra nhiều ý tưởng, đề tài cho các bài báo viết về môi trường của mình.
Cuối cùng, nhưng khơng phải là ít nhất, trong danh sách những địa điểm dễ thu
thập các thông tin cần thiết để viết báo chính là cặp cất giữ tài liệu của chính bạn.
Bạn có thể đưa ra những chủ đề cho bài báo của mình bằng cách đọc và lựa chọn
tài liệu về những đề tài môi trường mà bạn có thể sử dụng như tài liệu tham khảo.
Bạn cũng có thế sử dụng phương pháp này để chuẩn bị cho những tin tức và
những bài báo đặc tả môi trường tiềm tàng rất lâu trước khi bài viết được thực hiện.
Lựa chọn rất nhiều trong số những đề tài tin môi trường chung nhất để viết và hãy
nỗ lực tìm kiến tư liệu để đọc. Sau đó hãy lưu giữ tư liệu cho đến khi bạn cần đến


nó hoặc cho đến khi bạn có cơ hội ngồi xuống và bắt tay vào xây dựng ý tưởng
cho một bài viết mới. Hãy đảm bảo bổ sung thường xuyên kho tư liệu của bạn.
Ở Việt Nam, lâu nay tồn tại tình trạng phụ thuộc quá mức vào việc sử dụng nguồn
tin từ các quan chức chính phủ bởi có thể tìm kiếm được họ khá dễ dàng và họ
được coi là những nguồn tin đáng tin cậy. Do các quan chức chính phủ bận rộn với
việc điều chỉnh và thực thi các luật môi trường cũng như chỉ đạo các chương trình
mơi trường nên họ sẽ ln ln là những nguồn tin chính cho các bài báo của bạn.
Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu chỉ bị hút về một nhóm nguồn tin mà bỏ qua những
nguồn tin tức tốt khác nếu khơng muốn nói hơn. Nên nhớ các vấn đề môi trường
được bộc lộ ở rất nhiều phương diện. Vì vậy quan chức chính phủ khơng phải là
nguồn tin duy nhất mà bạn cần liên hệ.
Các tổ chức quốc tế có thể cung cấp những thơng tin giúp cho việc đưa vấn đề của
quốc gia vào bức tranh tồn cầu. Các thành viên, các nhà tư vấn, tình nguyện viên
của các tổ chức phi chính phủ có thể rất hiểu biểu về các vấn đề môi trường địa
phương và quốc gia.
Các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực cơng nghiệp có thể cung cấp phân tích
khoa học chính xác về các sự kiện. Khi một ngành cơng nghiệp công ty được nhắc
tới trong một bài báo về môi trường, hãy cân nhắc phỏng vấn các nhà khoa học và

những người đại diện của các công ty khác cùng một lĩnh vực sản xuất để tìm hiểu
một quan điểm khác.
Các giáo sư của các trường đại học thường có thể giải thích các phương diện khoa
học, xã hội, sức khỏe và chính trị của các sự kiện mơi trường những tác động của
nó sâu hơn là đại diện các cơ quan chính phủ bởi vì những nghiên cứu của họ đã
khiến họ trở thành những chuyên gia trong những lĩnh vực đặc biệt này. Khai thác
thông tin từ các nhà khoa học ở các trường đại học như những nguồn thơng tin địi
hỏi phải nỗ lực, nhưng nó lại rất đáng giá. Tìm ra một nguồn tin mong muốn nói


chuyện với bạn và sau đó họ có thể giới thiệu bạn tới một nguồn thứ hai, giúp bạn
phá bỏ đi những rào chắn mà tự bạn không thể vượt qua được. Cũng nên nhớ một
giáo sư đại học có thể là một nguồn tin vô tư nhất mà bạn có thể tìm được.
Ngồi nguồn tin tiêu chuẩn nói trên, nên tiến hành phỏng vấn những người có liên
quan vào sự việc mà bạn đang đề cập. Ví dụ, hãy nghĩ đến nạn nhân tiềm tàng của
một sự cố môi trường nào đó và liên hệ với họ.
Đơi khi những người biết rõ những gì đang diễn ra lại khơng xuất hiện ngay lập
tức. Chẳng hạn, đối với những bài báo viết về ơ nhiễm khơng khí, hãy kiểm tra với
các phi công, những người làm công tác lâm nghiệp (là những người biết việc cây
cối đang bị chết dần đi do ơ nhiễm bởi khí thải động cơ), những người làm vệ sinh
cửa sổ. Đối với những bài biết về ô nhiễm nước, cần phải kiểm tra với những
người đánh cá, các thuyền trưởng, v.v...
Đưa người dân bình thường hay những “nạn nhân” vào trong bài báo của bạn có
mối nguy hiểm của nó. Họ có thể cung cấp cho bạn những lời trích dẫn hoa mỹ,
khơng chính xác. Họ có thể khơng có ý định làm bạn sai nhưng chẳng qua họ
khơng biết tồn bộ tình hình. Tuy nhiên, nếu bạn biết rõ những thiếu sót của họ,
việc đưa những người bình thường vào bài báo chỉ làm cho bài báo tốt lên mà thơi.
Tóm lại, việc sử dụng các nguồn tin khác nhau bao gồm sách vở, tạp chí định kỳ
và con người là rất quan trọng. Tuy nhiên, phóng viên, đặc biệt là phóng viên tổng
hợp, chỉ sử dụng một hoặc hai nguồn tin cho các bài về môi trường.

Nguyên nhân của điều này thường do thời hạn ngắn. Nhưng nguyên nhân quan
trọng khác là bản thân phóng viên khơng biết tìm ra các nguồn tin có ích. Một nhà
nghiên cứu truyền thơng nói, một phóng viên khi xử lý vấn đề phức tạp dưới áp
lực thời hạn thường phải chấp nhận những gì nguồn tin đã cung cấp. Nếu những
nguồn tin này là khơng chính xác và có khuynh hướng lệch lạc, thành kiến, chúng
sẽ làm lạc hướng cả phóng viên lẫn độc giả.


Khi biên tập viên phân cho phóng viên chịu trách nhiệm rất nhiều việc ngồi mảng
mơi trường, phóng viên khơng có thời gian để gây dựng nguồn tin để giúp họ làm
sáng tỏ thông tin. Hầu hết những người viết về môi trường nhiều kinh nghiệm
thường nuôi dưỡng những nguồn để có thể giúp họ đánh giá tin tức và cung cấp
những trích dẫn hay cho các bài báo.
Tuy nhiên, chính điều này cũng gây phiền phức. Phóng viên mơi trường nhiều
kinh nghiệm cần phải thận trọng khi quá gần gũi với những nguồn tin yêu thích
của họ. Ví dụ, khi một giáo sư đại học hiểu biết nhiều trở thành một nguồn tin có
giá trị rất lớn đối với phóng viên. Nhưng một khi nguồn tin đó có quan điểm riêng,
phóng viên phải thận trọng, khơng nên truyển tải quá nhiều quan điểm đó. Thêm
vào đó, nếu phóng viên chỉ phụ thuộc vào một vài nguồn tin, họ có nguy cơ bảo vệ
những nguồn tin đó quá mức mà không kiểm tra đầy đủ thông tin được nguồn tin
cung cấp.
Một vấn đề nữa đối với những nguồn tin nay là phóng viên có xu hướng sợ hãi họ.
Một phóng viên nói:
Xu hướng đáng lo ngại là tin vào bất kỳ ai có học vị tiến sĩ hay bác sĩ. Nhiều
người tự cho rằng các "học hàm học vị" biết hết những gì họ đang nói. Rất
hiếm khi chúng tơi nghĩ rằng nhà khoa học hoặc là sai hoặc là tự thỏa mãn với
mình.
Chính vì lịng tin "đơn phương" này, phóng viên có thể bị lạc hướng.
II. Ngại hỏi- Cần cảnh giác
Khơng ít phóng viên thú nhận họ sợ phải hỏi những câu hỏi “ngớ ngẩn” vì họ

khơng muốn để lộ sự thiếu hiểu biết của mình và vì họ thiếu tự tin vào chính bản
thân mình. Điều đó dẫn đến tình trạng các bài báo chứa đựng thơng tin nghèo nàn,
đơn điệu, thiếu thuyết phục. Nhiều nhà hoạt động mơi trường buộc tội các phóng


viên mơi trường ít chất vấn các thơng tin do chính phủ hoặc ngành cơng nghiệp
đưa ra về mơi trường hay các dự án lớn. Cũng giống như vậy, các đại diện cơng
nghiệp than phiền phóng viên mơi trường sử dụng thông tin của các nhà hoạt động
môi trường thậm chí cả khi những thơng tin đó khơng sâu về mặt khoa học.
III. Mở bài
Câu hỏi thứ nhất cần quyết định là những chi tiết nào bạn sẽ cần đưa lên đoạn mở
đầu bài. Bạn muốn thể hiện sự quan trọng của bài viết nhưng không làm độc giả
nhàm chán với những chi tiết, con số hay tên tuổi không cần thiết, đặc biệt là
những tên tuổi không mấy quen thuộc.
Hãy tưởng tượng các bản tin sẽ sôi nổi đến mức nào nếu đội bóng Việt Nam lọt
vào trận chung kết Giải Tiger Cup 2004. Nước chủ nhà dũng cảm lần đầu tiên đối
đầu với cường quốc bóng đá mạnh khu vực trong trận trung kết. Việt Nam đối đầu
với Thailand. Kể cả những người khơng biết chút gì về bóng đá cũng khơng thể
dửng dưng.
Bây giờ hãy tưởng tượng bài viết của một phóng viên mơi trường :
40 000 người xem gồm cả Chủ tịch Liên đồn Bóng đá Châu Á có mặt tại sân vận
động quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội) để theo dõi trận chung kết quyết định nhà vơ
địch Tiger Cup 2004, một giải bóng đá có 10 nước trong khu vực tham gia và tổ
chức hai năm một lần.
Tơi nói hãy tưởng tượng. Và đấy là điều bạn sẽ phải sửa vì phần mở đầu không đề
cập đến cả chi tiết ai là người thắng cuộc.
Tại sao chúng ta phải sửa? Tại sao chúng ta lại nghĩ rằng vì chúng ta là phóng
viên mơi trường nên, khi viết về một lĩnh vực không phải là mơi trường, chúng ta
có thể qn những kỹ năng viết bài cơ bản nhất? Chúng ta quên đưa tin chính lên



đầu bài viết. Chúng ta quên mất rằng không được đưa những chi tiết không quan
trọng vào phần mở bài. Chúng ta quên mất là phải mở bài một cách ngắn gọn và
dùng những từ ngữ đơn giản. Trên hết, chúng ta quên mất rằng tuy chúng ta viết
về môi trường, chúng ta vẫn là những nhà báo.
Tất nhiên ở đây có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân quan trọng nhất có lẽ là
chúng ta khơng hiểu lắm về chủ đề chúng ta viết. Vì vậy chúng ta phụ thuộc vào
các quan chức chính phủ và các bộ phận phụ trách truyền thông của các cơ sở
công nghiệp.
IV. Thân bài
Tiếp theo, ngay trong đoạn mở bài hay đoạn tiếp theo đó hãy nói cho độc giả biết
ý nghĩa của bài viết và tại sao họ lại nên đọc bài này. Đây là lúc bạn giúp đỡ,
hướng dẫn và giải thích cho những độc giả bận rộn, những người có rất nhiều câu
hỏi trong đầu nhưng không đủ thời gian để sắp xếp các chi tiết theo trình tự.
Bây giờ, khi bài viết được mở ra, hãy cung cấp cho độc giả ngữ cảnh và bối cảnh
xuất phát cần thiết. Nhiều độc giả lần đầu tiên đọc về tin bạn viết – những người
lần đầu tiên dấn thân vào cuộc thám hiểm tin mơi trường hoặc những người mới ở
nước ngồi về, hoặc những bà mẹ mới quay lại văn phòng sau khi sinh nở, và
nhiều hồn cảnh khác nữa. Vì vậy bạn phải viết sao để bài của mình dễ hiểu nhất
cho tất cả mọi người. Hãy phát triển trực giác để đốn được đâu là đoạn độc giả có
thể khơng hiểu được do khơng biết được bối cảnh trước đó. Hãy nắm được kỹ
năng đưa những thơng tin tìm được trong kho lưu trữ và trong lúc đưa tin thành
những câu văn, những đoạn câu và những đoạn viết ngắn gọn để “nhắc” độc giả về
những gì đã xảy ra, rồi lồng vào bài trong khi bạn viết. Thông tin cơ bản thường là
những phần “nhắc” cho độc giả nhớ những sự kiện đã xảy ra. Còn bối cảnh là
khung thời gian rộng hơn.


Tiếp theo hãy đảm bảo là bài viết có sự sống, có nghĩa là dùng những câu trích dẫn
trực tiếp. Điều này sẽ mang lại cho bài viết có sự sống, có nghĩa là dùng những

câu trích dẫn trực tiếp. Điều này sẽ mang lại cho bài viết cảm giác hiện thực và
xác thực vì câu trích là đối thoại trực tiếp giữa những người thật trong những câu
chuyện phi tiểu thuyết. Những câu trích thường làm thay đổi nhịp độ bài viết và
làm cho độc giả cảm thấy mình được “nghe” khi họ đọc bài. Câu trích dẫn cịn
thâu tóm được những lời nói đời thường ít khi có thể chuyển tải được vào các bài
viết kinh tế.
Trách nhiệm cuối cùng của bạn là nắm tay hướng dẫn độc giả vượt qua những rào
cản kỹ thuật. Khó khăn ở đây là quyết định cần phải giải thích những gì và những
gì nói chung là dễ hiểu cho đa số độc giả. Điều này khá khác biệt giữa các ấn
phẩm. Tuy nhiên theo kinh nghiệm, phần lớn phóng viên mơi trường chọn nhầm
phía. Họ thường cung cấp ít lời giải thích hơn yêu cầu của độc giả.
Hướng dẫn độc giả không nhất thiết phải thể hiện dưới dạng những câu viết vụng
về, khơng thốt ý. Có vài cách khắc phục :
* Hãy chèn một định nghĩa ngắn gọn, súc tích vào đúng phần viết mà bạn cảm
thấy có thể làm độc giả muốn lật sang trang khác vì họ nghĩ là họ đang tiến vào
lãnh địa xa lạ và sự thiếu hiểu biết có thể làm họ thấy khơng thoải mái. Việc bạn
làm ở đây là cho độc giả biết họ khơng nhất thiết phải biết điều này có nghĩa là gì,
đặc biệt là đối với những khái niệm kỹ thuật khó và mới. Hãy dừng câu chuyện
đang viết lại và hãy định nghĩa phần khó hiểu.
* Thay vì ngưng hẳn câu chuyện đang viết lại để chèn vào đó một định nghĩa, hãy
dùng một đoạn câu để giải nghĩa từ kỹ thuật, coi đây là một phần dòng văn. Ví dụ,
thay vì viết hẳn một câu mới sau khi sử dụng khái niệm “ thâm hụt thương mại”
như sau : “ thâm hụt thương mại” có nghĩa là khi nhập khẩu của một nước cao hơn
xuất khẩu củ nước này, hãy thiết kế toàn bộ phần này làm sao để giải thích rõ ràng


thâm hụt thương mại nghĩa là gì. Ví dụ, “Thâm hụt thương mại tăng thêm 65 phần
trăm lên tới mức kỷ lục là $271 tỷ năm 1999 khi nền kinh tế đang tăng trưởng
mạnh này thu hút hàng nhập khẩu có giá trị tăng nhanh hơn giá trị hàng hóa xuất
khẩu.” Kỹ năng này giúp chuyển định nghĩa thành một phần của thông tin bạn

cung cấp cho độc giả.
* Hãy sử dụng từ kỹ thuật trong một câu văn bình thường. Sau đó trong câu tiếp
theo hãy dùng một đoạn câu giải thích thay thế vào từ này để cung cấp thêm thơng
tin. Ví dụ : “Lạm phát là sáu phần trăm năm 1999. Đây là lần đầu tiên sự thay đổi
về giá cả hàng hóa và dịch vụ theo cách tính của chính phủ vượt quá năm phần
trăm một năm trong vòng mười năm qua ”. Một lần nữa, việc bạn đang làm ở đây
là chèn thêm thông tin hoặc khái niệm cơ bản vào mà không phải ngừng viết bài
lại để giải thích độc giả.
* Hãy cung cấp một bài giảng ngắn. Đôi khi độc giả cần sự giúp đỡ khơng chỉ là
giải thích thuật ngữ, mà là để hiểu được một q trình nào đó. Lấy ví dụ là khi giá
cổ phiếu rớt do thị trường sự lãi suất sẽ tăng. Kể cả khi đây được coi là một q
trình được nhiều người hiểu, bạn vẫn có thể giải thích đơi chút – rằng “Các nhà
đầu tư sợ tăng lãi suất vì điều này sẽ làm giảm nhu cầu mua hàng hóa do các cơng
ty đang đầu tư sản xuất và như vậy sẽ làm tăng gánh nặng nợ nần cho những cơng
ty này. Vì vậy giá cổ phiếu giảm ngay khi cảm giác là lãi suất có khả năng sẽ tăng
bắt đầu lan ra trong cộng đồng các nhà đầu tư”.
Viết đơn giản và rõ ràng khó hơn là sử dụng hàng loạt thuật ngữ và khơng bỏ chút
cơng sức nào để giải thích chúng. Nếu có dịp, hãy đọc ở Nhật Báo Phố Wall – tờ
báo kinh tế được bán rộng rãi nhất trên thế giới. Các bài báo ở đây được trình bày
theo phong cách đơn giản và ngắn gọn, giải thích những gì phóng viên nghĩ rằng
độc giả sẽ gặp khó khăn khi đọc và ln nhớ rằng họ có vai trị giải trí cũng nh
cung cấp thơng tin. Đây là báo hàng ngày cho mọi người, khơng phải là tạp chí
hàn lâm hay tạp chí chun ngành thương mại. Có nghĩa là những thử nghiệm


được áp dụng cho các phóng viên khác cũng phải được áp dụng cho phóng viên
mơi trường : tin này có mới, có khác biệt, có hấp dẫn, có quan trọng và đơi khi vẫn
mang được tính giải trí khơng? Đó chính là cơng việc chúng ta phải làm.
V. Thuật ngữ kỹ thuật
Họ nói cho chúng ta về những gì chúng ta cần viết và cung cấp cho chúng ta các

thuật ngữ chúng ta cần. Khi nghe một quan chức nói về Bộ mơn Vi Khí hậu,
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, dưới sự chủ trì của GS.TS Trần Ngọc Chấn,
nghiên cứu và xây dựng thành công "phần mềm tính tốn khuyếch tán ơ nhiễm
theo mơ hình Gauss", cách an tồn nhất là sử dụng chính những sáo ngữ này thay
vì phải đau đầu để cố tìm ra những từ ngữ mà độc giả có thể hiểu được.
Đối khi sếp hay các biên tập viên ngồi bàn giấy thường khơng hét lên với bạn rằng
“Này cơ này cậu, “tính tốn khuyếch tán ơ nhiễm theo mơ hình Gauss” có nghĩa là
gì?” (đây là mơ hình được sử dụng rộng rãi để tính khuyếch tán ơ nhiễm trong khí
quyển từ nguồn điểm cao. Mơ hình được ứng dụng rất hiệu quả trong đánh giá tác
động môi trường của nhiều công trình, nhiều dự án ở nước ta). Khơng ít sếp khơng
thích bị lộ ra là khơng biết gì. Vì vậy họ cũng sẽ cùng tham gia vào âm mưu để
cho độc giả tự mị mẫm tìm hiểu những thuật ngữ họ không biết.
Một nguyên nhân khác dẫn đến việc chúng ta dùng rất nhiều các con số và thuật
ngữ trong bài viết là do chúng ta nghĩ rằng độc giả môi trường không giống như
đại đa số các độc giả khác, rằng họ có thể tiếp nhận nhiều thơng tin phức tạp và họ
đã biết các thuật ngữ. Đôi khi chúng ta dùng những từ ngữ đao to búa lớn vì muốn
khoe khoang với các đồng nghiệp là chúng ta cũng biết sử dụng những từ này.
Nếu tiếp cận đúng cách, chúng ta có thể làm cho chủ đề của chúng ta trở nên hấp
dẫn hơn và xứng đáng hơn với công sức chúng ta bỏ ra đồng thời làm cho bài viết
dễ hiểu và có ích hơn cho độc giả, những người thường không khác mấy so với
độc giả của các trang báo khác.


Rất nhiều phóng viên mơi trường cịn tin rằng độc giả của họ biết những thuật ngữ
ta đang sử dụng. Họ không biết đâu. Nhiều độc giả mua báo môi trường và đọc
lướt qua các trang. Họ thường chỉ đọc lướt để chọn ra những tin tức liên quan trực
tiếp đến họ. Họ khơng đọc những phần cịn lại, kể cả khi họ có thời gian. Điều này
là vì tuy họ có thể được một ngành cơng nghiệp hay một cơ quan chính phủ trả
lương rất cao cho chun mơn của họ, họ vẫn chỉ là chuyên gia trong một lĩnh vực.
Một chuyên gia môi trường trong ngành công nghiệp hóa chất khong nhất thiết

biết được những gì đang xảy ra hoặc những thuật ngữ chun mơn về chính sách
thương mại. Một nhà nông nghiệp giỏi không nhất thiết phải biết về việc quỹ
lương hưu đã đầu tư tiền tiết kiệm hưu trí của anh ta như thế nào. Một nhà quản lý
giỏi trong lĩnh vực môi trường đô thị không nhất thiết phải biết tầng ozone hoạt
động ra sao.
Nếu chúng ta giúp độc giả hiểu được những lĩnh vực họ ít biết đến, họ sẽ tiếp tục
muốn đọc những gì chúng ta viết và như vậy sẽ giúp cho tờ báo của chúng ta bán
chạy hơn và đứng vững hơn trên thị trường. Cả độc giả và phóng viên đều là người
thắng cuộc.
Làm gì để được như vậy?
* Hãy biến bài viết thành của riêng ta. Điểm yếu nhất của một phóng viên là
thói quen chỉ dựa vào một nguồn tin duy nhất để viết bài. Các chính phủ, các cơng
ty và các tổ chức phi chính phủ đưa ra một số lượng lớn các thơng cáo báo chí và
các tài liệu tự tiếp thị cho bản thân. Thường những nội dung này được đưa nguyên
xi lên báo mà khơng hề được bàn tay phóng viên đụng vào.
Phóng viên khơng hề cảm thấy xấu hổ với mình khi làm như vậy trong khi lẽ ra
những thông tin này chi ược xem là điểm xuất phát cho bài viết. Hãy tìm thêm
những thơng tin khác, tìm các nguồn tin mới, tìm các góc độ khác nhau của vấn đề,
ta sẽ cảm thấy mình đạt được một điều gì đó. Và nếu như sau bao thời gian


nghiên cứu, tìm tịi, kết quả lại là những thơng tin cũ rích, nhàm chán hoặc khơng
quan trọng, hãy lấy đủ dũng cảm để tự nói rằng “đây khơng phải là tin hay để viếti.
Mình sẽ khơng tốn thêm thời gian vào vấn đề này”.
* Hãy tìm tới tận đáy của vấn đề. Hãy đào hết chiều sâu của vấn đề. Trong thời
đại những thông tin cơ bản hoặc đơn giản có thể thấy nhan nhản trên các kênh
truyền hình 24 giờ một ngày, trên mạng Internet hay trên điện thoại di động, cái
độc giả cần là hiểu được ý nghĩa của vấn đề. Vì vậy trong các bài viết của chúng ta
ý nghĩa của sự việc phải được làm sáng tỏ và đưa lên đầu bài.
* Hãy tự tạo niềm vui cho mình. Hãy ra khỏi bàn giấy văn phòng. Hãy đi tới

những nơi sự việc đang xảy ra, những nơi chỉ được nhắc đến một cách trừu tượng
trên các thơng cáo báo chí và mang lại sự sống cho các bài viết về môi trường.
Bạn sẽ thấy niềm vui và sự hài lịng trong cơng việc đang tăng lên. Và độc giả của
bạn cũng sẽ thích các bài viết của bạn hơn và sẽ hiểu được vấn đề dễ dàng hơn.
Hãy hiểu vấn đề kỹ hơn. Điều này sẽ mang lại sự sống cho chủ đề bạn đang viết
bài. Nếu bạn thấy vấn đề này nhàm chán và khó hiểu, độc giả của bạn cũng sẽ cảm
nhận y như vậy khi đọc bài. Nhưng nếu bạn bắt đầu hiểu được sự năng động của
thị trường hay bị hấp dẫn bởi các hậu quả mơi trường do một chính sách kinh tế
gây ra, bạn sẽ hiểu được cuộc sống đang vận động như thế nào. Điều này cho phép
bạn kết nối với những sự việc mà bạn không nghĩ rằng chính bản thân mình cũng
có liên quan tới – như chính trị, giáo dục, tội phạm và pháp luật. Và cịn nhiều sự
việc khác có thể làm cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn hoặc khó
khăn hơn
* Hãy giải thích vấn đề kỹ càng hơn. Một trong những niềm vui của người làm
về truyền thông trong lĩnh vực môi trường là thấy mọi người hiểu ra được một vấn
đề trước đây họ không hiểu. (A, bây giờ thì tơi hiểu rồi). Nếu bạn có thể truyền
hiểu biết của mình cho người khác, bạn sẽ tự cảm thấy rất hài lịng. Điều này có


nghĩa là bạn sẽ phát triển được một trực giác để biết được khi nào độc giả cần giúp
đỡ để hiểu một khái niệm hoặc một quá trình kỹ thuật nào đó – và làm cách nào để
trau chuốt câu văn của mình để giúp các độc giả.
Đơi lúc bạn sẽ gặp khó khăn trong việc này. Những ơng sếp thiếu tự tin hoặc bảo
thủ sẽ khơng thích thú gì khi nghe bạn nói rằng: “Đây khơng phải là tin hay để viết
bài”. Nhiều người trong số họ lên được chức sếp bằng cách cho rằng những điều
nói trong một thơng cáo báo chí hoặc từ miệng một quan chức chính phủ là những
tin đáng được đưa. Những người khác chỉ muốn có đủ tin chất đầy vào trang báo
để họ được về nhà sớm.
Chiến thắng cuộc đấu tranh này khơng phải dễ. Tuy nhiên nếu có được tay nghề
làm báo cáo, chiến thắng là thứ có thể đạt được. Do vậy, hãy thử xem những gì

chúng ta có thể làm để đạt được điều này.
Để bắt đầu chúng ta phải đào sâu vào các câu hỏi tại sao, như thế nào, ở đâu, bằng
cách nào và ai. Phần lớn chúng ta quen với ý tưởng rằng các bài viết phải trả lời
được những câu hỏi trên cho các độc giả. Chúng ta phải tiếp tục làm như vậy. Tuy
nhiên chúng ta còn phải đi xa hơn thế.
Trước hết chúng ta phải tự hỏi độc giả cần biết những gì để có thể tự phán xét ý
nghĩa của sự việc vừa xảy ra. Chúng ta phải đo mức độ của vấn đề. Đây là sự việc
lớn nhất hay là sự vật dài nhất hoặc cao nhất? Con số này tương đương 10%, 50%
hay gấp đôi? Đây là lần đầu, lần duy nhất, hay lần cuối ? Hãng máy bay lớn nhất
thế giới sa thải giám đốc điều hành là tin quan trọng hơn hay là tin về hãng hàng
không lớn thứ năm đuổi việc một kỹ sư chỉ vì anh này tiết lộ xưởng sản xuất của
hãng đổ ra môi trường một loại chất thải dộ hại chưa được xử lý. Hãy cân nhắc
mọi chi tiết trong một bản tin – các cơng ty, người có liên quan, những sự việc đã
xảy ra – và giúp độc giả hiểu rõ mức độ của sự việc. Điều này giúp cho bạn có thể
giải thích được tầm quan trọng của tin đang viết.


Bí quyết để nắm được điểm mấu chốt cho bài viết là tạm thời phải lờ đi những chi
tiết mà tài liệu của doanh nghiệp nào đó cung cấp như tên doanh nghiệp, tên
những người giữ chức vụ chủ chốt trong doanh nghiệp, các cố vấn môi trường, các
phương pháp xử lý ô nhiễm, tên sản phẩm, tỷ lệ doanh thu dành cho bảo vệ môi
trường, và những chi tiết tương tự như vậy. Từ những phần còn lại hãy tổng hợp
thành một lời tuyên bố.
Bước tiếp theo là suy nghĩ để mở rộng bài viết. Đây là lúc bạn biến bài viết thành
của mình. Bạn bắt đầu đưa ra những câu hỏi phát sinh từ bài viết nhưng lại chưa
đủ thông tin để giải đáp. Việc đầu tiên là phải mở rộng bài viết ra ngoài phạm vi
một cá nhân hay một doanh nghiệp cụ thể (hoặc một nước cụ thể nếu bạn đang
viết về mơi trường). Ngồi ra cịn các doanh nghiệp cùng ngành khác, những
người phân tích môi trường, các nhà hàn lâm, các nhà quản lý mơi trường, và đừng
qn các đồng nghiệp (ví dụ như những người đã từng viết bài về lĩnh vực bạn

hiện đang đưa tin) và những biên tập viên. Cũng đừng quên các trữ liệu (trước kia
là thư viện nhưng hiện nay là những kho cơ sở dữ liệu trực tuyến và ngay cả
những trang cơng cụ tìm kiếm trên mạng Internet). Hãy vận dụng tất cả những nơi
này và bài viết của bạn sẽ không chỉ dựa trên một nguồn tin duy nhất.
Bước tiếp theo là phải quyết định mình cần những con số nào. Thường bạn được
các nguồn tin ban đầu cung cấp rất nhiều con số – quá nhiều là đằng khác nhưng
lại không phải là những con số bạn cần để “đo lường”. Bạn chỉ cần một vài con số
nhưng là những con số quan trọng. Và khi bạn chọn được những con số cần thiết,
hãy giúp độc giả hiểu chúng. Đừng nói “32,79 phần trăm lượng chất thải rắn được
đổ trực tiếp ra bờ sông” khi bạn có thể nói là “một phần ba”. Đừng nói “69,36
phần trăm dân số trên địa bàn có các bệnh về đường hơ hấp” khi có thể nói “bảy
trong số 10 người”.
VI. Đơn giản hố thơng tin phức tạp


Như đã đề cập ở phần trước, những vấn đề về môi trường bao giờ cũng hoặc là
liên quan đến những thông tin phức tạp hoặc là những thông tin về kỹ thuật. Đôi
khi những thông tin này lại rất quan trọng, có thể là mấu chốt của một vấn đề được
tranh cãi đã được phát triển. Rõ ràng bạn phải viết về vấn đề đó và bạn phải làm
sao cho độc giả có thể hiểu được một cách dễ dàng những gì mà bạn viết.
Do được chuẩn bị trước, bạn có thể được người, sách, từ điển thuật ngữ, những gì
có thể giúp bạn hiểu được các thơng tin. Và giờ đây, đã đến lúc bạn phải giải thích
những thông tin này cho độc giả của bạn.
Đầu tiên, bạn phải viết thật đơn giản và rõ ràng, bạn có thể dùng văn phong của
bất kỳ thể loại nào. nghe thì có vẻ đơn giản, nhưng lại khơng phải như vậy khi bạn
xử lý các thơng tin phức tạp. Nó địi hỏi bạn phải mất rất nhiều cơng sức. Khi viết,
bạn phải hình dung ra được người đọc và đặt mình vào vị trí đó, có như vậy độc
giả mới có thể hiểu được những gì bạn viết.
VII. Viết cho đối tượng nào
Một cách đơn giản để giúp bạn tránh được việc viết vượt quá xa so với trình độ

của độc giả là hãy tìm một người quen khơng biết gì về lĩnh vực bạn đang viết,
nhưng lại có cùng trình độ với độc giả của bạn. Sau đó hãy đưa bài viết của bạn
cho người đó xem. Người này có thể là mẹ của bạn, bạn em thậm chí có thể là biên
tập viên của bạn. Hình dung được một người cụ thể như vậy tốt hơn là bạn viết
cho một loạt các đối tượng mà bạn không biết rõ. Khi bạn không biết rõ về các đối
tượng độc giả, bạn chỉ có thể xác định chung chung mối quan hệ của họ. Viết cho
một người nào đó mà bạn biết rõ giúp bạn xác định được độc giả sẽ hiểu bài viết
của bạn ở chừng mực nào vì một khi bạn muốn họ hiểu được hết bài viết của bạn
thì trước hết bạn phải biết được một vài điều gì đó về trình độ học vấn và sở thích
của độc giả.


Trong cuốn Khoa học viết báo, John Foster có viết: “Đừng bao giờ đánh giá quá
cao sự hiểu biết của độc giả cũng như đừng bao giờ hạ thấp trí thơng minh của
họ”. ở vế đầu, tác giả muốn nói rằng bạn không nền thừa nhận là bạn hay ai đó có
cùng một hiểu biết về một vấn đề nào đó thì độc giả của bạn cũng như vậy. Ví dụ
như cá nhân bạn biết rằng một số kiểu đánh cá có thể hủy hoại san hơ, khơng có
nghĩa rằng độc giả của bạn cũng biết điều đó.
Ở vế thứ hai, foster chỉ ra rằng, thậm chí độc giả của bạn có thể khơng biết về cái
gì đó, nhưng anh ta hay cơ ta vẫn có thể hiểu được nếu bạn giải thích một cách đầy
đủ. Cũng đừng cho rằng một số người kém thông minh không thể hiểu được
những thông tin phức tạp. Đôi khi các nhà khoa học nói rằng những người kém
thơng minh khơng thể hiểu được những nghiên cứu của họ vì chúng rất phức tạp.
Chưa hẳn là như vậy, một nhà báo giỏi là một người đóng vai trị của một người
phiên dịch, có thể giảng giải những thơng tin kỹ thuật cao, thậm chí cho cả trẻ em.
Mặc dù chỉ là hiểu sơ qua về một vấn đề khoa học, chứ chưa hiểu thật sâu sắc,
nhưng trẻ em có thể học các số liệu phức tạp như nhiệt lực học khi mà sự giảng
giải đó đúng trình độ của chúng.
Người mà bạn chọn để viết thử cho đọc nên là người có trình độ tương đương với
độc giả về vấn đề môi trường. Nếu như độc giả của bạn có trình độ học vấn là cao

đẳng, thì người bạn cho đọc đầu tiên cũng nên có cùng trình độ. Tương tự như
vậy, nếu độc giả của bạn có trình độ phổ thơng trung học thì nên tìm một ai đó có
trình độ tương tự để giúp bạn.
Sau khi bạn đã chọn được người đọc dầu tiên rồi - nhớ kỹ rằng người đó nên là
bạn than của bạn - bạn nên tự hỏi mình ba câu hỏi mỗi khi bạn cố gắng giải thích
cho họ những thông tin kỹ thuật phức tạp,. Chúng tôi thường viết cho một người
bạn của mình tên là John, trình độ cao đẳng, nhưng anh ta lại khơng biết chút gì
về khoa học mơi trường. Cho nên mỗi lần khi chúng tôi giảng giải sự ảnh hưởng


của tình trạng ngập úng nước đối với đất trong bài báo viết cho độc giả có cùng
trình độ như John, chúng tơi thường tự hỏi mình:
1. Liệu Bưởi có hiểu gì khi ta giải thích khơng?
2. Liệu Bưởi có nhận thức được chính xác vấn đề này khơng?
3. Vấn đề này có tạo hứng thú cho Bưởi hay khơng?
Ba câu hỏi này giúp cho bạn đánh giá được đúng là bạn đang viết cho độc giả chứ
không phải là đang viết cho bạn. Đồng thời, nó cũng giúp cho bạn biết liệu bạn có
sử dụng quá nhiều thuật ngữ mà lại giải thích ít hay khơng vì nếu như vậy sẽ chỉ
có rất ít người hiểu được những gì mà bạn viết.
VIII. Tránh viết thụ động
Quá nhiều bài báo môi trường chỉ là sự thông báo các sự kiện như một số quan
chức vừa ra một tuyên bốn, hoặc một tổ chức vừa đưa ra một báo cáo. Đây là việc
làm thụ động khi những người khác quyết định việc nhà báo viết gì bằng việc quản
lý các sự kiện. Để viết được những bài báo mới trường có hiệu quả, các nhà báo
cần phải tự quyết định viết báo vào lúc nào và viết như thế nào.
Bạn phải vượt ra ngoài giới hạn của việc chỉ viết về các sự kiện. Không viết về
môi trường dựa trên hết báo cáo này đến báo cáo khác hay từ vụ tiêu cực này đến
vụ việc tiêu cực khác. Điều đó khơng phục vụ tốt cho bạn đọc bởi vì những vấn đề
môi trường không thể giải quyết được ngay sau khi một bài báo xuất hiện. Bạn
phải bám sát các sự kiện để viết sâu hơn trong một thời gian dài. Bạn cũng cần

khởi xướng và đề xuất người biên tập những bài viết mà những nghiên cứu cơ sở
của bạn chỉ ra là cần thiết. hãy cố gắng thuyết phục anh ta cho bạn thời gian để
nghiên cứu những vấn đề môi trường một cách sâu hơn.


Một phần quan trọng của việc có thể viết lâu dài là cơ hội điều tra những chi phí
và những lợi ích của một vấn đề hay một sự kiện mơi trường. Những lợi ích có
thể được xác định theo nhiều cách khác nhau. Lợi ích đầu tiên là bạn có thể đo
được những biến đổi trong hành vi, trong môi trường và trong chất lượng của cuộc
sống. Những biến đổi này có thể là tỷ lệ tử vong giảm, giảm những ca sinh khuyết
tật, hay giảm bớt ngày làm việc. Loại lợi ích thứ hai là loại lợi ích khơng nhìn thấy
được, nó là kết quả của một sự thay đổi nào đó trong hệ thống. Ví dụ, nếu sự phát
triển trong một quốc gia là bền vững, thì nó sẽ bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và phát triển kinh tế quốc gia lâu dài.
Bạn có thể chia các chi phí ra thành hai loại: những chi phí được biết trước là
những chi phí mà các nhà nghiên cứu và lập kế hoạch tính tốn đưa vào trong khi
tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề mơi trường. Nhưng cũng có rất nhiều chi phí
khơng tính tốn trước được hoặc “tác động kèm theo” như là một hệ quả, ví dụ
như
IX. Định nghĩa để giúp độc giả hiểu khái niệm
Định nghĩa là một sự giải thích về một sự vật, một khái niệm nào đó để có thể
phân biệt được nó với các sự vật, khái niệm khác. Định nghĩa có nghĩa là tạo ra
một giới hạn cho nó một từ hay một khái niệm. Một định nghĩa là một bản ghi rõ
cái gì thuộc về một sự vật nào đó và cái gì khơng thuộc về sự vật đó.
Có rất nhiều cách định nghĩa bao gồm cả cách thông thường bạn gặp trong các
cuốn từ điển. Một định nghĩa không theo quy định là định nghĩa sử dụng cách giải
thích đơn giản nhất, ngắn nhất để giải thích cho một sự vật. "Gió là khơng khí di
chuyển" là một kiểu định nghĩa như vậy.
Bạn có thể định nghĩa bằng cách sử dụng các từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. Chẳng
hạn để giải thích nghĩa của từ vật ni, bạn có thể dùng từ gia súc là một từ đồng

nghĩa. Bạn có thể dùng từ trái nghĩa của "lạnh" là "nóng" để giải thích nghĩa. Khi


bạn viết một bài báo về sự lạnh giá ở Nam Cực cho những độc giả ở vùng nhiệt
đới là những người chưa bao giờ nếm trải sự lạnh giá thì bạn có thể dùng cái nóng
ở đây để mơ tả cái lạnh ở Nam Cực bằng cách so sánh.
Ngoài ra, bạn cịn có thể sử dụng cách dùng định nghĩa triển khai bằng cách sử
dụng các ví dụ, các phân tích... để giải thích. Sự giải thích về độ PH ở trên là một
cách phân tích triển khai.
X. Miêu tả
Diễn tả là một kỹ năng quan trọng khác mà bạn có thể sử dụng để giúp cho độc giả
hiểu được ý của bạn. Miêu tả máy móc hoặc cơ thể là rất quan trọng để độc giả có
thể hiểu được về cách hoạt động và vai trò của chúng. Minh hoạ cũng có thể giúp
độc giả, song cần có sự giải thích bằng từ ngữ ngay cả khi có minh hoạ.
Một đoạn miêu tả về mưa gió mùa trong tạp chí National Geographic (12/1984,
tr.176) rất đơn giản và rõ ràng:
"Các mùa khác nhau đưa đến hai loại gió mùa khác nhau, bắt nguồn từ tiếng Arập
"mausin" có nghĩa là mùa. Từ tháng 5 đến tháng 9 gió từ hướng Tây Nam thổi đến
đem đến những trận mưa lớn cho hầu hết khu vực châu á. Vào mùa đơng, nó đem
khơng khí hanh khơ, lạnh, đến châu lục này và đem mưa đến Inđơnêxia, Ơxtrâylia
và các khu vực có vùng bờ biển phía Đơng Bắc".
Đoạn miêu tả này rất đơn giản và nó đi kèm với một tấm bản đồ đầy đủ các số liệu,
như thế là đầy đủ để giải thích. Những đoạn miêu tả khác, nhất là khơng có minh
hoạ cần phải miêu tả kỹ hơn nữa, thì mới đạt được kết quả tốt.
Để có thể miêu tả tốt, bạn phải được nhìn thấy tận mắt những gì mà bạn miêu tả và
đồng thời bạn còn phải biết tất cả những gì liên quan đến nó. Bạn cần phải biết các


thành phần liên quan đến nhau và quá trình diễn biến của các hoạt động. Cuối
cùng bạn phải biết mục đích của hoạt động đó là gì.

Miêu tả nhiều hay ít phụ thuộc vào việc độc giả của bạn biết về vấn đề bạn miêu tả
nhiều hay ít. Bạn khơng cần miêu tả nhiều về gió mùa - thứ gió mà một người dân
châu á đều rất quen thuộc, nhưng bạn lại cần phải miêu tả nhiều về các nguyên
nhân gây ra sự sụt lở ở vùng bờ biển.
Dù cho bạn cần phải miêu tả nhiều như thế nào đi chăng nữa - đôi khi bạn phải
miêu tả cả bài, nếu bạn miêu tả một cách trồng cây mới - bạn cần phải trả lời
những câu hỏi sau đây đê có được sự miêu tả tốt:
Vật hoặc sinh vật này đang làm gì?
Tại sao nó lại làm như thế và làm như thế nào?
Các hoạt động đó có ý nghĩa gì?
Các kỹ sư về máy tính gọi một điện năng cao đơn lẻ hoặc một thấp là một đơn vị
hay một bit và nó đại diện cho một đơn vị thông tin nhỏ. Một đơn vị không tượng
trưng cho nhiều thơng tin, nó chỉ có hai trạng thái duy nhất cho nên được sử dụng
cho hai số nguyên. Xếp nhiều đơn vị vào một hàng thì lượng thơng tin được chứa
đựng cũng tăng lên nhiều. Để hiểu được điều này, hãy nghĩ đến các số điện thoại.
Chỉ dùng bốn con số cơng ty điện thoại có thể tạo ra các con số điện thoại xác định
đủ dùng cho người dân ở một thị trấn nhỏ. Nhưng nếu công ty điện thoại muốn tạo
ra nhiều số điện thoại hơn trong một phạm vi rộng thì sao? Họ sẽ sử dụng bảy con
số thay cho bốn con số.
Cả hai cách sử dụng phép loại suy hay so sánh đều đạt được hiệu quả khi chúng
đều sử dụng các chủ đề quen thuộc và được diễn đạt tốt. Chúng đưa đến những


bức tranh giúp chúng ta liên tưởng đến các thông tin kỹ thuật mà người viết miêu
tả.
Ngồi ra, cịn khá nhiều cách thức viết có thể giúp bạn giải thích các thông tin kỹ
thuật và làm cho bài báo của bạn thêm sinh động. Một nhà báo quốc tế có tiếng,
Warrant Burkett, liệt kê một số cách như dàn cảnh chuyện vui, ẩn dụ, và so sánh.
Dàn cảnh là cách thường được dùng để lôi cuốn độc giả vào câu chuyện. Nó cũng
có tác dụng khi bạn cố gắng giải thích các hiện tượng mơi trường xảy ra như thế

nào. Đây là cách mà phóng viên nước ngồi, người đã đến Bhopal sau 30 giờ xảy
ra sự cố rò rỉ khí độc, miêu tả tình hình ở thành phố bị ảnh hưởng bởi khí độc.
Tại các nhà máy, các xác chết vẫn còn trên mặt đất, đang được chất lên những
chiếc xe tải. Ngưịi ta chạy ngược, chạy xi, nơn oẹ, đau đớn do các cơn ho dữ
dội hành hạ. Tất cả các cửa hiệu trong thành phố đều đóng cửa. Trên các phố
nhiều người nằm tại các máy nước. Người đã chết, người đang quằn quại trong
tư thế bị co rúm giống như những con chim bị bắn rơi. Nhưng giữa họ là
những con chim thực sự, những con kền kền. Khi đám kền kền bị đuổi đi, lũ
chó lại thay thế vào, giằng xé những mẩu thịt. Những người lính Ấn Độ và
những người tình nguyện đang cứu những người chết này ra khỏi bầy thú dữ.
Những đứa trẻ nhỏ bị ám ảnh, mắt trợn ngược, chạy ngược chạy xi, nhốn
nháo trong đêm mà khơng có một địa điểm xác định nào cả (Tình trạng mơi
trường ấn Độ, 1984-1985, tr.209-211).
Cảnh trong đoạn miêu tả này rất tàn nhẫn và người đọc cảm thấy mình đang chứng
kiến tận mắt thảm cảnh này. Việc sử dụng động từ nôn oẹ, đau đớn, quằn quại,
nhốn nháo, làm tăng sức truyền cảm của bài tường thuật.
Giai thoại và chuyện cười là những mẩu chuyện nhỏ ở trong một câu chuyện được
dùng để minh hoạ cho một ý nào đó trong bài báo hoặc được dùng để làm một ý
dẫn. Có một chuyện cười trong một chuyến đi của chúng tôi tới Singapo để cập


đến những người bán hàng rong và sự nhận thức khác nhau của con người về
những gì quan trọng đối với mơi trường. Cục Mơi trường Singapo đã khuyến
khích những người bán hàng rong sử dụng các loại đĩa giấy và dụng cụ ăn uống
bằng nhựa để cải thiện điều kiện vệ sinh, nhưng một số người lại phản đối việc
này vì họ cho rằng như vậy sẽ lãng phí nhựa và tạo ra nhiều rác thải bừa bãi. Câu
chuyện vui này có thể được sử dụng để giải thích về các quan niệm, nhận thức
khác nhau về môi trường, hoặc giải thích về giải pháp cho một vấn đề về mơi
trường có thể dẫn tới các vấn đề khác như thế nào.
Ẩn dụ và phép so sánh cũng đều có chung một mục đích. ẩn dụ là cách miêu tả

một sự vật, hiện tượng, cách suy nghĩ, bằng một sự vật, hiện tượng, cách suy nghĩa
khác. Burkett phân biệt sự khác nhau giữa ẩn dụ và phép so sánh bằng cách nói
rằng ẩn dụ thì ngụ ý nhiều hơn, cịn so sánh chính xác hơn nhiều. Burkett giải
thích nó cũng giống như ẩn dụ khi nó ngơi đền của khoa học là tạo cho ta một cảm
giác rằng nó cao vút tận trời xanh và ngơi đền đó được xây dựng bằng những viên
gạch và những mảnh đá kiến thức. Một cây hoa huệ tây mỗi ngày mọc thêm hai
cái lá là một phép ẩn dụ môi trường được Lester R. Brown dùng để miêu tả sự
tăng cường dân số (xem Chương I).
Phép so sánh đặc trưng bởi các từ "giống", "như" và nó thường ngắn gọn, chặt chẽ.
Ví dụ như: "Trái đất giống như một quả bóng cơ đơn bồng bềnh trong khoảng
không". Ngược lại, phép loại suy lại đòi hỏi sự so sánh dài hơn giữa hai tình huống
có vài điểm tương đồng. Nếu theo như định nghĩa này thì đoạn miêu tả dầu bám
trên cát phải là phép so sánh nhiều hơn là phép loại suy, nhưng cách này hay cách
khác không quan trọng, điều quan trọng ở đây là giúp độc giả hiểu được những
thông tin kỹ thuậ mà bạn viết, và những phương thức này sẽ giúp bạn làm được
điều đó.
Burkett cịn khun bạn nên dùng các con số, mặc dù đây là thứ mà các nhà khoa
học rất thích, nhưng Burkett lại khuyên bạn nên dùng chúng một cách tiết kiệm.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×