Chương 3. HỆ THỐNG PHƯƠNG TIỆN TRỢ THỊ
3.1. Phương tiện trợ thị quang học
* Các phương pháp phóng đại
Sự phóng đại tăng kích thước ảnh mà mắt nhận được bằng cách làm tăng vùng nhận
ảnh trên võng mạc mắt. Đối với những người khiếm thị những hình ảnh quá nhỏ để nhận
biết có thể được phóng lớn hơn qua sự phóng đại.
Phóng đại bằng máy chiếu: sự phóng đại bằng máy chiếu làm tăng kích thước của
hình ảnh qua máy chiếu. Các dụng cụ điện tử như màn hình máy tính Tivi cũng có thể tạo
ra sự phóng đại qua hình chiếu.
CCTV là một dụng cụ dùng để phóng đại hình ảnh, chữ viết và đồ hoạ ra sự phóng
đại hình ảnh, chữ viết và đồ hoạ rồi chiếu cho người nhìn kém sử dụng.
Sự phóng đại liên quan đến khoảng cách
- 30 -
Sự phóng đại này đạt được khi một vật đem đến gần mắt hơn tạo ra hình ảnh của
vật trên võng mạc sẽ to hơn. Như vậy khoảng cách được kéo ngắn lại đã tạo ra sự phóng
đại. Đây là phương pháp đơn giản nhất.
Sự phóng đại liên quan đến kích thước
Tuy giữ ngun khoảng cách, nếu vật có kích thước lớn hơn sẽ làm hình ảnh của vật
trên võng mạc tăng theo. Loại phóng đại này gọi là phóng đại liên quan đến kích thước của
vật được làm lớn để tạo sự phóng đại, giống như dung cỡ chữ lớn; loại phóng đại này giới
hạn hơn loại trên vì nó địi hỏi kích thước cỡ vật.
Phóng đại liên quan đến góc nhìn
Kích thước biểu hiện của đồ vật có thể gia tăng việc sử dụng các loại kính hoặc
phức hợp kính. Phóng đại góc nhìn làm cho vật ở xa hiện ra gần mắt hơn, nên hình ảnh của
vật trên võng mạc cũng gia tăng. Các dụng cụ quang học là những ứng dụng của phóng đại
góc.
* Kính trợ thị gần
Thành phần cơ bản của kính trợ thị gần là thấu kính lồi. Nó có thể sử dụng đơn độc
hoặc phối hợp trong một hệ thống kính. Cơng suất của thấu kính lồi có thể đạt tới 80Diop
hoặc hơn, nhưng cơng suất của kính trợ thị gần thường dùng từ +^diop đến +40diop. Kính
trợ thị gần thơng dụng gồm 3 dạng cơ bản sau: kính gọng phóng đại, kính lúp cầm tay và
kính lúp có chân.
Kính gọng phóng đại
Kính gọng phóng đại làm gia tăng kích thước của hình ảnh ở mắt. Khi hình ảnh lớn
hơn ở võng mạc, ánh sáng sẽ kích thích các vùng võng mạc cịn hoạt động và chuyển tín
hiệu thần kinh về não bộ. Nói cách khác, nếu hình ảnh của mắt được phóng đại thì hỉnh ảnh
lên võng mạc lên gấp 3 lần bằng kích thước phóng đại thì hình ảnh trên võng mạc hay số tế
bào võng mạc bị ánh sáng kích thích cũng tăng lên 3 lần. Các trường hợp thơng thường
nhất cần thơng báo, kiểm tra tiền trong ví, xem giá đồ vật, kiểm tra địa chỉ số điện thoại
trong sổ tay. Kính phóng đại được chỉ định cho người nhìn kém trong các nhà sinh hoạt ở
nhà làm việc, học tập hay phục hồi chức năng.
Ưu điểm của kính phóng đại:
- Dễ dàng được chấp nhận
- Có thể lựa chọn kiểu dáng phù hợp thị hiếu thẩm mỹ
- Có sẵn trên thị trường, giá cả hợp lý.
- Cho trường nhìn rộng nhất trong các loại kính trợ thị gần
- 31 -
- Có thể sử dụng được thị giác hai mắt
- Cho phép hai tay tự do
- Thích hợp cho những bệnh nhân bị run tay
- Có thể dùng để đọc trong quãng thời gian kéo dài
- Có thể dùng để viết
- Có thể phối hợp với kính trụ để điều chỉnh tật loạn thị
Nhược điểm của kính phóng đại
- Với kính cơng suất càng cao thì khoảng cách từ kính đến vật càng gần, cản trở ánh
sáng chiếu vào vật, giảm khả năng sử dụng thị giác hai mắt, hiện tượng méo hình ở chu
biên kính càng tăng, chu vi của trường nhìn giảm và giảm tốc độ đọc.
- Cần giải thích kỹ cho trẻ khi sử dụng kính phóng đại có thể gây ra cảm giác mệt
mỏi, mỏi cổ, đau đầu, buồn nôn và lưu ý không được đeo kính khi đi lại.
Kính lúp cầm tay
Là một thấu kính lồi được lắp vào một cán cầm tay thấu kính có thể một mặt lồi và
một mặt phẳng hoặc cả hai mặt lồi, kính lúp cầm tay có thể khơng gắn đèn hoặc gắn đèn
Các ưu điểm của kính lúp cầm tay.
- Là một dụng cụ rất nhỏ, rất phổ biến trong xã hội và có tính thẩm mỹ nên người sử
dụng cảm thấy thoải mái khi sử dụng nơi cơng cộng.
- Nhẹ và có thể cầm tay dễ dàng
- Giá thành vừa phải và rẻ tiền
- Khi có một số kỹ thuật lắp đặt thích hợp, người sử dụng có thể duy trì cả thị giác
xa
- Có nhiều loại: cỡ nhỏ bỏ túi, cỡ lớn là cả trang giấy
- Nếu như yếu tố chiếu sang và cả độ tương phản là quan trọng đối với người sử
dụng, thì có thể dùng kính lúp cầm tay có gắn đèn.
- Kính lúp cầm tay linh hoạt hơn các dụng cụ khác trong việc sử dụng cho nhiều
mục đích của thị giác gần bởi vì có thể đặt ở mọi chỗ trong tầm tay và có thể dùng chung
với các loại kính khác.
- Cho phép di chuyển đầu
- Có thể sử dụng thị giác 2 mắt khi dùng kính có cơng suất thấp đường kính rộng.
- Có thể kết hợp với kính gọng phóng đại điều chỉnh tật khúc xạ
Các nhược điểm của kính lúp cầm tay
- Khoảng cách hội tụ phải giữ cố định
- 32 -
- Thị trường giới hạn, phụ thuộc vào độ phóng đại (độ phóng đại càng lớn thì thị
trường càng nhỏ)
- Khi sử dụng kính lúp cầm tay cần phải có sự kết hợp giữa tay và mắt, đầu nên
những người khơng có sự kết hợp tốt giữa ba bộ phận này như những người rối loạn vận
động sẽ gặp khó khăn.
- Phải sử dụng một hoặc hai tay
- Kính lúp cầm tay có gắn đèn địi hỏi thay bóng đèn và pin
- Cần giữ kính song song với bề mặt trang giấy để tránh gây ra méo hình
- Khi giữ kính cách xa mắt sẽ làm tăng mức độ quang sai ở chu biên của kính.
Kính lúp có chân
Là một thấu kính lồi được gắn lên một giá đỡ để giữ cho khoảng cách từ kính đến
vật khơng thay đổi khi sử dụng: có hai mẫu kính hay dùng là kính có chân cố định và kính
có chân có thể thay đổi được chiều cao. Hầu hết các kính có khoảng cách từ thấu kính tới
vật nằm trong khoảng tiêu cự của kính. Do đó sẽ giảm được mức độ quang sai ở chu biên
của kính, nhưng lại tạo ra các tia ló phân kỳ, bởi vậy khi dùng kính địi hỏi phải có kính
cộng thêm hoặc lực điều tiết để nhìn rõ vật.
Các ưu điểm của kính lúp có chân
- Cho phép cải thiện khoảng cách nhìn
- Dễ mang theo người
- Kính có cơng suất thấp, giá rẻ
- Sử dụng kính hữu hiệu cho những bệnh nhân run tay
- Cơng suất kính có thể từ thấp đến cao
- Kính có thể gắn đèn chiếu sáng
Các nhược điểm của kính lúp có chân
- Tư thế khơng thoải mái, phải cong lưng, cúi đầu để nhìn qua trọng tâm kính. Tư
thế như vậy gây mỏi và còn che mắt nguồn chiếu sáng từ trên xuống.
- Đòi hỏi người sử dụng phaỉ có khả năng điều tiết hoặc có kính cộng thêm vào
- Giảm trường nhìn so với kính gọng phóng đại có cơng suất tương đương
- Quang sai của kính gây ra bởi những tia sáng không chiếu thẳng vào tâm quang
học của kính.
- Rất khó duy trì ánh sáng thích hợp trừ khi nguồn sáng được gắn ngay ở kính.
Khung phóng đại
- 33 -
Khung phóng đại về tổng thể cũng là một loại kính phóng đại có chân đứng vì nó có
khoảng cách hội tụ cố định do kính được đặt trực tiếp lên trang giấy để đọc. Loại kính này
khơng có cơng suất lớn. Vì kính phóng đại một dịng chữ một lần, nên rất có lợi cho những
người gặp khó khăn trong việc cầm kính dị theo chữ.
Kính phóng đại có gắn đèn
Kính có gắn đèn đặc biệt cho những người sử dụng kính phóng đại có cơng suất
cao, cần có nguồn chiếu sáng phụ hay những người muốn tránh bóng phản xạ của đèn trần
nhà. Cấu trúc của kính cơng suất cao này hấp thụ tốt ánh sáng và ngăn cản ánh sang truyền
qua, vì vậy làm giảm chiếu sang ở bề mặt sách đọc.
Ở các quang cụ công suất cao cho thị giác gần, khoảng cách hội tụ giữa kính và bề
mặt đọc thường ngắn hơn ở các kính cơng suất thấp. Ví khoảng cách thấp mà người sử
dụng quang cụ có cơng suất cao cần có sự chiếu sáng tốt hơn, nhưng các nguồn sáng ngồi
thơng thường khơng đủ cung cấp ánh sáng mà khơng bị bóng phản xạ bất thường nên kính
phóng đại có gắn đèn được chế tạo ra để sửa chữa khiếm khuyết này.
Kính phóng đại có gắn đèn được thiết kế ở cả hai dạng cầm tay và có chân đứng.
Nguồn sáng có thể là ánh sáng thường, có thể cung cấp nguồn sáng cố định hay có thể điều
chỉnh lượng sang bằng một biến trở, nguồn năng lượng có thể là pin hoặc điện. Các kính
phóng đại có gắn đèn cung cầp nguồn chiếu sang vật xem, do đó có thể người khiếm thị có
thể sử dụng ở các mơi trường kém sáng tạo trong tự nhiện như nhà thờ, quán ăn, nhà hát,
cửa hiệu hay ngồi trời vào buổi tối.
* Kính trợ thị nhìn xa bao gồm:
Mục đích chính của kính viễn vọng là đem hình ảnh vật ở xa gần mắt. Như vậy vật
sẽ trở nên lớn hơn, các dụng cụ viễn vọng được sử dụng để định hướng, định vị trí các hoạt
động trong thời gian ngắn hoặc để di chuyển. Mặc dù có rất nhiều loại kính viễn vọng được
chế tạo cho thị giác xa nhưng để cho người khiếm thị thì các chun gia thường chọn loại
kính viễn vọng Gahlean, loại kính viễn vọng được tạo vằng hau kính: vật kính là kính cầu
lồi và thị kính là kính cầu lõm. Theo quy ước vật kính là kính gần vật hơn và thị kính là
kính ở gần mắt hơn. Hai kính này ở trong kính viễn vọng được đặt cách nhau một khoảng
tương ứng với tổng chiều dài tiêu cự của cả hai kính. Quang học và cơng suất của hai kính
trên cộng với chiều dài của Barrel kính viễn vọng xác định khoảng vật được nhìn rõ.
Một số kính viễn vọng được gọi là afocal, có thể nhìn ở vơ cực (vật ở khoảng cách
20m trở lên).
- 34 -
Có thể gắn thêm một kính cầu lồi ở phía trước kính viễn vọng tạo một hệ thống kính
gọi là telemicroscope giúp bệnh nhân có thể vừa nhìn xa vừa nhìn ở tầm vừa. Người sử
dụng hệ thống kính này có thể vừa nhìn chi tiết ở gần vừa nhìn bao quát được khoảng cách
lớn hơn vừa có hai tay tự do. Một đặc tính quan trọng của kính viễn vọng là khi độ phóng
đại càng tăng thì thị trường càng thu hẹp. Do vậy người sử dụng sẽ khó theo dõi vật di
chuyển nó ra khỏi thị trường giới hạn của kính và có cảm giác mất thăng bằng. Vì vậy trong
hướng dẫn sử dụng kính viễn vọng thấy thoải mái và an tâm khi sử dụng kính. Một điểm
đáng chú ý nữa là ánh sáng sẽ bị thay đổi và giảm đi qua kính viễn vọng. Do đó một số
người khiếm thị cần loại kính viễn vọng được gia tăng bề mặt kính để tăng lượng ánh sáng
đi qua. Như vậy nhu cầu của người sử dụng ứng với các loại kính có các độ chiếu sáng
khác nhau.
Kính viễn vọng một mắt cầm tay
Kính viễn vọng một mắt cầm tay là loại kính được chỉ định rộng rãi nhất và thường
được sử dụng cho các mục đích nhìn xa trong thời gian ngắn như đọc bảng chỉ đường, nhìn
bảng trong lớp học, nhìn các bảng trong cửa hàng siêu thị hay xem thể thao. Các kính viễn
vọng này thường có độ phóng đại 2.5x, 2.8x, 3x, 4x, 6x, 8x, 10x. Khi cơng suất kính gia
tăng thì thị trường thu hẹp, do đó người sử dụng có thể chấp nhận việc giảm thị trường tới
đâu để xác định bán kính thích hợp
* Các ưu điểm của loại kính viễn vọng
- Kính này nhỏ, nhẹ có thể bỏ trong ví hoặc đeo lên cổ bằng dây
- Rẻ hơn so với các kính có cùng cơng suất nhưng gắn trên gọng kính
- Có thể nhìn rõ vật ở khoảng cách 10inches tới vơ cực
- Có thể linh động sử dụng mắt chủ đạo hơn và tay thuận hơn và có thể điều chỉnh
độ hội tụ bằng tay phải hoặc tay trái
- Có nhiều loại kính cơng suất từ thấo đến cao từ 2.5x đến 10x hay hơn
- Thêm một thấu kính lồi có thể biến thành kính viễn vọng nhìn gần
- Đổi ngược kính có thể tạo một thị trường rộng giúp mở rộng thị trường ở người có
thị trường hẹp
* Các nhược điểm của kính viễn vọng
- Cần các hướng dẫn đặc biệt về cách hướng đúng trục kính qua vật kính mắt và
cách nhìn vật đứng n và di chuyển
- Chỉ dùng cho một mắt
- Ngăn cản sự truyền ánh sáng
- 35 -
- Không thể sử dụng trong các hoạt động cầm hai tay vì một tay phải chỉnh và điều
chỉnh kính
- Kính có cơng suất cao gây giới hạn thị trường và đòi hỏi phải phối hợp mắt với hai
tay
- Người sử dụng có thể bị mỏi khi phải giữ kính trong thời gian lâu
Kính viễn vọng một mắt gắn thêm vào kính gọng
Kính loại này là một dạng biến đổi thích ứng của kính viễn vọng một mắt cầm tay.
Có thể gắn vào họăc lấy ra khỏi kính gọng tuỳ ý người sử dụng, có thể gạt xuống để nhìn
qua hoặc gạt lên khi khơng sử dụng. Kính viễn vọng một mắt gắn thêm và kính gọng cho
phép người mang có hai tay tự do để làm việc.
* Ưu điểm:
- Kính rẻ tiền
- Thuận tiện cho người làm việc hai tay và người kém phối hợp vận động
- Cung cấp kính có độ phóng đại thấp để có thể làm thị trường rộng hơn
* Nhược điểm:
- Mặc dù có các loại kính phóng đại nhưng kính có độ phóng đại trên 3x hiếm. Kính
này làm nặng thâm gọng nên đơi khi làm người đeo khơng thoải mái
- Vì kính được gắn trên gọng nên khoảng cách giữa kính và mắt xa hơn là giữa kính
viễn vọng cầm tay với mắt nên nó giới hạn thị trường hơn
- Một số người khác phải che mắt khơng thêm kính viễn vọng trong giai đoạn đầu
mới sử dụng, để tránh lẫn lộn hình giữa hai mắt
Kính viễn vọng có gọng kính
Full-field Telescope system
Loại kính này được gắn trên gọng kính cố định và đặt trường đồng tử mắt. Giống
kính viễn vọng gắn thêm vào kính gọng, kính viễn vọng có gọng cho phép người sử dụng
có hai tay tự do khơng phải giữ kính và khơng địi hỏi sự phối hợp mắt tay. Kính loại này
có độ phóng đại trên tồn bộ kính gắn trong trịng mắt kính thích hợp cho người cần thiết
một thị trường rộng trong sinh hoạt, tập luyện như xem tivi. Kính loại này có cơng suất cao
và có thể có kính dạng lăng kính, kính có thể cố định trong gọng hay gắn thêm vào, có thể
kết hợp với các loại kính điều chỉnh tật khúc xạ, có thể tạo kính ở dạng nửa trịng thích hợp
cho loại kính vừa để nhìn gần và nhìn xa.
Trong khi đeo loại kính này người sử dụng khơng thể tập đeo loại kính khác, người
sử dụng chỉ có thể nhìn hình được phóng đại.
- 36 -
Trong khi đeo loại kính này người sử dụng sẽ bị quang sai chu biên nhiều, do đó
khó di chuyển cộng thêm giá thành loại kính này đắt so với các loại kính khác, đeo trịng
nặng nề, khi sử dụng thay vì liếc mắt phải quay đầu khi nhìn xung quanh nên kính này ít
khi được sử dụng.
Biotric Telescope system
Loại kính này được gắn trên hai trịng trên gọng kính đeo mắt thông thường được
đặt cao hơn hay thấp hơn trục nhìn của mắt.
Chỉ định gắn kính này tuỳ thuộc vào tính chất cơng việc của người sử dụng. Phần
lớn hệ thống loại kính này, người sử dụng sẽ nhìn qua kính với một tư thế đầu đặc biệt:
ngẩng cao lên hoặc cúi xuống, còn tư thế ngược lại để nhìn qua kính điều chỉnh khác phục
vụ mục đích nhìn qua của người sử dụng.
Đối với người có tồn tại thị giác hai mắt tiềm tàng, kính sẽ được gắn thêm hai trịng
kính. Đối với người có thị lực tương đương, kính đeo trên hai mắt sẽ cho phép người sử
dụng phát triển phần nào thị giác hai mắt, phát triển thị giác chiều sâu.
Kính loại này cũng gây giới hạn thị trường. Ngồi ra kính nắng và cồng kềnh hơn
các kính viễn vọng khác và khi sử dụng địi hỏi phải huấn luyện.
Kính viễn vọng gắn sau kính
Là một dạng kính viễn vọng vũ trụ trong đó có hai kính cầu lồi và một lăng kính.
Trong hệ thống này kính viễn vọng được gắn thêm một khung phía sau gọng kính ngay
trước giác mạc. Vì kính được đặt sau kính điều chỉnh nên nó khơng giới hạn chức năng thị
giác trung tâm và giảm thiểu méo hình trung tâm.
Do hệ thống viễn vọng gắn sau kính trên hai mắt nên hai mắt ở vị trí nhìn xuống và
qua kính. Hiện tại chỉ có loại kính cơng suất 3x và 4x khi sử dụng phải qua huấn luyện.
* Hướng dẫn sử dụng các thiết bị trợ thị quang học
Kính gọng phóng đại
- Ngồi vào vị trí đọc sách, đeo kính vào
- Cầm sách bằng hai tay
- Ngồi tư thế thằng người
- Cầm sách cách mặt một khoảng bằng chiều dài cánh tay, di chuyển sách từ từ gần
lại mắt cho tới khi các chữ số nét nhất. Xác định được khoảng cách đúng là rất quan trọng.
- Bắt đầu đọc sách bằng cách di chuyển sách chậm từ phải sang trái một cách đều
đặn sao cho giữ khoảng cách không đổi.
- 37 -
- Đến cuối dòng chữ, di chuyển sách quay trở lại bên trái của chính dịng chữ đó, di
chuyển mắt xuống chữ đầu tiên của dòng tiếp theo.
- Lại đọc dòng theo cách thức trên
Chú ý: cố định đầu và chỉ được di chuyển sách
Kính lúp cầm tay
- Đặt kính ở đầu trên của trang giấy, ở vị trí bắt đầu của đoạn văn
- Từ từ nâng kính lên dần về phía mắt cho tới khi đạt được khoảng cách mà qua đó
thấy chữ rõ nét nhất.
- Di chuyển dần tới vị trí thích hợp nhất ở phía trên kính.
- Cố gắng tìm tư thế thoải mái nhất
- Dịch chuyển kính từ từ, từ trái sang phải. Trong khi đọc lưu ý khoảng cách giữa
trang giấy và kính khơng được thay đổi.
- Khi đọc đến cuối dòng trước, di chuyển kính ngược lại đầu của dịng chữ đó.
- Chuyển kính xuống đầu dịng tiếp theo và lại bắt đầu đọc
Kính lúp chân đứng
- Đặt kính lên phía trước của trang giấy ở vị trí bắt đầu của đoạn văn
- Di chuyển đầu về phía kính tới vị trí sao cho nhìn hình ảnh rõ nét nhất
- Từ từ dịch chuyển kính từ trái sang phải lưu ý khơng được nhấc kính lên khỏi mặt
giấy
- Đến cuối dịng chữ thì dịch chuyển kính ngược trở lại đầu của dịng chữ ấy
- Chuyển kính xuống dịng tiếp theo và bắt đầu đọc theo quy trình trên
Kính viễn vọng
- Đầu tiên phải tìm hướng của vật. Ví dụ như chữ trên bảng mà mình muốn tìm lúc
này chưa dùng tới kính
- Trong khi nhìn về hướng bảng nâng dần kính lên trước mắt (dùng mắt tốt hơn)
- Lia kính từ từ để tìm dịng chữ ở trên bảng
- Lia kính từ trái sang phải của dịng chữ trên bảng
Lưu ý: có thể dùng kính viễn vọng đồng thời cùng với kính đeo của mình.
3.2.
Phương tiện trợ thị phi quang học
Chiếu sáng
Độ chiếu sáng là số lượng ánh sáng trên bề mặt được chiếu sáng. Độ chiếu sáng này
được đo bằng độ sáng của ngọn nến. Độ chiếu sáng là lượng ánh sáng được chiếu trên vật
tiêu bề mặt hoặc điểm hội tụ của mắt đi vào mắt, ánh sáng phản xạ là lượng ánh sáng mà
- 38 -
mắt đáp ứng. Ánh sáng phản xạ được đo foot Lamberts. Các bề mặt khác nhau tạo ra các
ánh sáng phản xạ khác nhau. Một dụng cụ đo sáng đo được lượng ánh sáng trên bề mặt của
vật tiêu hoặc các bề mặt quanh nó.
Ánh sáng thích hợp cho từng cá nhân thay đổi theo từng người
Ngành kỹ thuật chiếu sáng có đưa ra một danh sách có độ chiếu sáng tính bằng
ngọn nến cho từng bề mặt khác nhau.
Loại ánh sáng
Độ chiếu sáng có liên quan đến loại ánh sáng được sử dụng nguồn sáng tự nhiên
như ánh sáng mặt trới có thể cần kết hợp với ánh sáng đèn để đủ cho thị giác gần. Đối với
một số người nhìn kém, ánh sáng mặt trời đủ để nhìn cánh vật xung quanh, nhưng lại có
một số khác khơng thể chịu được ánh sáng mặt trới vì quá nhạy cảm với sáng.
Gần tương tự với ánh sáng trời là ánh sáng đèn, thường được chiếu sáng trong nhà,
lượng ánh sáng này dịu, ít gây kích thích nhưng khơng cung cấp độ tương phản cao, nên
khơng thích hợp với một số người nhìn kém.
Vì điều kiện ánh sáng thích hợp rất cần thiết cho người nhìn kém phát huy thị giác
tốt nhất.
Vị trí chiếu sáng
Khơng có cơng thức để xác định vị trí chiếu sáng thích hợp cho từng cá nhân, do đó
khi tìm vị trí thích hợp phải xem xét tình trạng bệnh lý của mắt, loại vật liệu, loại nguồn
sáng, thời gian trong ngày và qua vai, ở phía ngược với tay thuận. Ví dụ nếu người thuận
tay phải thì nguồn sáng ở phía sau vai trái để tránh đổ bóng trên vùng cần nhìn rõ. Nếu
người chỉ có một mắt thì nguồn sáng phải phải đặt ở chỗ có thể chiếu qua vai phía mắt cịn
nhìn được. Đối với người có nguồn sáng phụ thì nguồn sáng phải đặt càng gần mắt càng
tốt, vì càng xa vật ánh sáng càng yếu.
Trong nhiều trường hợp, giá đọc sách tránh bị đổ bóng lên vùng đọc và giúp người
đọc có vị trí thoải mái hơn, đặt giá đúng chỗ giúp người đọc đỡ mỏi cổ, lưng và cổ tay. Với
một số giá đỡ có cần điều khiển ta có thể điều chỉnh giá đỡ chứ không cần thay đổi tư thế
khi đọc từ đầu đến cuối trang sách. Một số giá đọc có gắn thêm đèn cổ ngỗng cho phép
thay đổi vị trí chiếu sáng thích hợp.
Giá đỡ hiện nay có hai loại: để bàn, để trên sàn nhà và loại có gắn thêm
Sự đáp ứng với sáng và tối
Khi di chuyển từ vúng sáng tới vùng tối, cần 10 đến 20 phút để các tế bào võng
mạc, đặc biệt là tế bào que thích ứng với mức sáng thấp. Vì tế bào nón đáp ứng nhanh hơn
- 39 -
tế bào que nên chỉ cần từ 2 đến 6 phút là thích ứng cho người từ vùng tối ra vùng sáng. Do
đó cần xem xét khi chỉ định các trợ giúp cho người nhìn kém giúp họ thích ứng với các môi
trường ánh sáng khác nhau và cân nhắc khi chỉ định các dụng cụ trợ giúp như kính đỏ hoặc
kính màu hổ phách
Lố sáng
Một yếu tố quan trọng cần xem xét trong vấn đề chiếu sáng là loá sáng. Có 3 loại
lố sáng: lố sáng gây khó chịu, lố sáng mơi trường và lố sáng giảm chức năng
Lố sáng gây khó chịu là tia sáng làm khó chịu khi nhìn nhưng khơng ảnh hưởng
đến hình ảnh trên võng mạc. Lố sáng mơi trường có can thiệp vào sự tạo ảnh trên võng
mạc. Loại loá sáng này gây ra cho các phần tử nhỏ trong khơng khí hay trên bề mặt nhìn
phản xạ ánh sáng. Loại sáng quá nhiều như mặt giấy đọc q bóng. Lố sáng giảm chức
năng gây nên do những khiếm khuyết của mắt như sẹo giác mạc, đục thuỷ tinh thể.
Để làm giảm sự loá sáng nên làm giảm lượng sáng từ môi trường xung quanh hoặc
trên bề mặt làm việc hơn là làm phản chiếu ánh sáng đi. Có thể khắc phục bằng cách là thu
nhỏ kích thước các vật trên trần nhà, đặt một tấm thảm dưới bề mặt làm việc, cho đeo bớt
tấm che sáng.
Điều khiển độ chiếu sáng
Có thể gắn thêm các biến trở vào các nguồn sáng để giúp người nhìn kém tự điều
khiển lượng ánh sáng thích hợp với mình, nhất là những người có chứng sợ ánh sáng. Một
người có thể dùng biến trở điều khiển lượng ánh sáng thích hợp với mình trong thời gian
khác nhau trong ngày, khi đi làm các công việc khác nhau để tạo ra thị giác thoải mái nhất
tránh được mệt mỏi thị giác.
Các dụng cụ khác được dung để điều khiển lượng ánh sáng và tránh lố sáng là kính
mát đeo mắt hay kính lọc ánh sáng. Kính mát tạo sự dễ chịu và bảo vệ mắt khỏi ánh sáng
quá mức và lố sáng cho những người có độ nhạy cảm ánh sáng trung bình. Tuy nhiên ở
người đục thuỷ tinh thể, sẹo giác mạc, xuất huyết thuỷ tinh dịch ngay cả ánh sáng mức
trung bình cũng là quá nhiều gây ra khó chịu trong trường hợp này nên dùng kính mát hay
dùng kính lọc để tạo thị giác khó chịu.
Để chọn kính mát thích hợp phải chú ý đến các yếu tố: sự truyền sáng, sự tạo loá
mắt kiểm soát tia cực tím, màu sắc kính thích hợp, dạng gọng kính và sự kết hợp giữa kính
mát và kính điều chỉnh độ khúc xạ. Bởi vì mỗi người đều có ngưỡng nhạy cảm riêng với
ánh sáng trong nhà và ngoài trời nên cần thử nghiệm trước trong các môi trường sẽ sử dụng
- 40 -
và yếu tố thẩm mỹ cũng cần được bàn luận với từng cá nhân. Khi một đứa trẻ còn nhỏ dễ bị
ảnh hưởng bởi những lời nói của bạn bè xung quanh hơn là một người lớn trưởng thành.
Sự phóng đại khơng liên quan đến quang học
Chữ được phóng lớn là một ví dụ về sự phóng đại khơng quang học, liên quan đến
kích thước, điều này cho phép người nhìn kém đọc được chữ ở khoảng cách thơng thường.
Tuy nhiên sách in chữ lớn không phổ biến ở khắp nơi và cồng kềnh vì độ dài của dịng chữ
bị kéo dài thêm. Phóng đại lien quan đến kích thước khơng hữu dụng ở những người có thị
trường thu hẹp nhỏ hơn 5 độ bởi vì khi đó hình ảnh bị rơi ra ngoài vùng thấy được của võng
mạc, người này chỉ thấy một phần của hình ảnh. Để nhìn được tồn cảnh, phải đưa mắt nhìn
từng phâầ một, khi đó hình ảnh trở nên phức tạp và phải có kỹ năng phân tích hình.
Phóng đại liên quan đến khoảng cách là làm giảm khoảng cách giữa vật và mắt, khi
đem lại gần mắt sẽ giúp nhìn rõ chi tiết hơn. Trong phương pháp phi quang học, vật không
thật sự được phóng đại, nhưng khi vật đưa lại gần mắt thì hình ảnh trong võng mạc lớn hơn
và não cho là lớn hơn. Phương cách này khơng địi hỏi một thay đổi nào ở vật tiêu. Tuy
nhiên cần phải cân nhắc là một khi vật càng gần mắt lượng thông tin về vật rơi vào vùng
thấy được càng ít, do đó người nhìn kém phải học kỹ thuật phân tích hình ảnh từng phần để
tổng hợp ra tồn cảnh. Hai là việc giảm khaỏng cách nhìn và giới hạn khi thị trường hữu
dụng có thể gây mệt mỏi thị giác và một số người không muốn ở tư thế như vậy nơi cơng
cộng. Ba là có trường hợp liên quan đến khoảng cách không được thực hiện như trong cửa
hàng không thể đem bảng giá trên kệ cao lại gần mắt được.
Các hệ thống điện tử
Các hệ thống điện tử là các máy móc gíp phóng lớn hình ảnh. Mặc dù các máy
chiếu Overhead, máy chiếu slide, máy chiếu projeto có thể phóng lớn hình ảnh theo ngun
tắc trình chiếu, nhưng chúng có một số bất tiện khi áp dụng cho người nhìn kém. Với lí do
các mày này khơng thể xách tay được.
Khi sử dụng phải tắt đèn trong phịng để có độ tương phản thích hợp, vì vậy khơng
thể hoạt động ở ngồi trời.
Với máy chiếu Slide và Projector, khi hình ảnh phóng lớn độ phân giải và độ tương
phản giảm.
Ở một số máy như Overhead có thể tạo ra sự chiếu sáng quá lớn làm không thoải
mái khi xem trong thời gian lâu.
Tóm lại các dụng cụ này chỉ giúp người nhìn kém trong từng lúc nhất định với địi
hỏi phóng lớn hình ảnh nhưng khơng phải là phương pháp cho nhu cầu thường xuyên.
- 41 -
Chương 4. GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THỊ Ở VIỆT NAM
4.1. Tình hình giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam
Là một nước nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển, chịu hậu quả nặng nề của hai
cuộc chiến tranh tàn khốc và kéo dài, điều kiện tự nhiên có nhiều yếu tố không thuận lợi,
đây là những nguyên nhân gây trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới số lượng người
khuyết tật ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê của việc KHGD, Việt Nam có khoảng một
triệu trẻ khuyết tật. Trong đó, số đơng tập trung ở nơng thơn và miền núi, nơi có đời sống
vật chất, tinh thần cịn nhiều hạn chế. Điều đó càng làm trẻ khuyết tật vốn gặp nhiều khó
khăn trong cuộc sống, sinh hoạt lại ít nhận được sự quan tâm, chăm sóc, phục hồi chức
năng, học văn hóa, hướng nghiệp và dạy nghề. Đây là vấn đề mà Đảng, nhà nước, các lực
lượng xã hội quan tâm và đang tìm cách tháo gỡ.
Với truyền thống đạo lý nhân ái từ ngàn xưa, đặc biệt là mối quan hệ dòng tộc huyết
thống, người khuyết tật Việt Nam đã được quan tâm. Nhưng trong giai đoạn trước cách
mạng tháng Tám, do đời sống của người dân Việt Nam vơ cùng khó khăn nên vấn đề chăm
sóc và giáo dục trẻ khuyết tật chưa được quan tâm đúng mức. Ngày nay Việt Nam đang
tích cực triển khai những hoạt động trong cơng cuộc chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật.
Hàng năm trung tâm chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật đã được xây dựng, hàng nghìn trẻ
khuyết tật lần đầu tiên cắp sách tới trường. Đặc biệt vấn đề chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật
đã được bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào nhiệm vụ của năm học.
Nhìn lại lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật, nếu như thực tế giáo dục đặc biệt được hình
thành và phát triển khá sớm ở Châu Âu, thì ở Việt Nam xuất hiện muộn. Trường dạy trẻ
điếc đầu tiên ở Việt Nam được thành lập năm 1896 ở Thuận An (Bình Dương) do Linh mục
người Pháp tên là Azemar khởi xướng. Năm 1954, tại Hà Nội, thành lập một cơ sở dạy trẻ
điếc theo phương pháp thủ ngữ điệu bộ.
Đầu những năm 1970, tại viện Tai – mũi - họng bệnh viện Bạch Mai đã mở thêm cơ
sở dạy trẻ điếc do giáo sự - bác sỹ Trần Hữu Tước chủ trì.
Năm 1974, Ban nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật – tiền thân của Trung tâm nghiên
cứu giáo dục trẻ khuyết tật được thành lập với đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên môn sâu
về tật học thực hiện chức năng nghiên cứu lí luận và triển khai công tác giáo dục trẻ khuyết
tật trong cả nước.
Từ năm 1976 đến 1990, một số cơ sở dạy trẻ điếc, trẻ mù và trẻ chậm phát triển trí
tuệ hình thành theo hướng chun biệt thu hút khoảng 4000 trẻ khuyết tật vào học. Do
những hạn chế của mơ hình này nên số lượng trẻ đến trường rất hạn chế, đồng thời những
- 42 -
chi phí trong đào tạo là rất tốn kém. Như vậy, phần lớn trẻ khuyết tật không được đến
trường và nguy cơ trở thành gánh nặng cho gia đình, cộng đồng xã hội là dễ xảy ra.
Trường dạy học cho trẻ khiếm thị đầu tiên đã xuất hiện vào năm 1903 đặt tại bệnh
viện Chợ Rẫy – Sài Gòn. Năm 1926 trường học sinh mù Sài Gòn được thành lập, đến năm
1976 trường được đổi tên là trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu tp. Hồ Chí
Minh. Năm 1954 thành lập trường dành cho nữ sinh khiếm thị, vào năm 1958 thành lập
trường nam sinh khiếm thị. Ở miền bắc cũng thành lập một cơ sở dạy người khiếm thị ở số
55 Quang Trung vào năm 1943. Năm 1954 thành lập trường dạy chữ Braille cho thương
binh khiếm thị và năm 1960 có một cơ sở bổ túc văn hóa cho thanh niên khiếm thị.
Mục tiêu của các trường dạy trẻ khiếm thị giai đoạn này chủ yếu là dạy phục hồi
chức năng, các mơn văn, tốn và học nghề thủ công đơn giản.
Các trường áp dụng những phương pháp dạy học riêng biệt, không thống nhất. Hệ
thống chữ viết được dịch từ chữ Braille Pháp ngữ sang chữ Braille Việt ngữ. Khi sử dụng,
mỗi trường lại có sự thay đổi, do đó chữ viết Braille giữa các trường cịn tồn tại nhiều điểm
khơng thống nhất.
Về tổ chức: các trường thành lập trước năm 1954 chủ yếu do các tổ chức từ thiện,
các nhân đứng lên thành lập hoặc hình thức bán cơng. Giáo viên của các trường chủ yếu là
những người làm việc từ thiện (tu sĩ công giáo,..) và giáo viên hỏng mắt.
Năm 1992, ở Đà Nẵng, cũng thành lập trường Nguyễn Đình Chiểu dành cho trẻ
khiếm thị. Cho đến nay, cả nước ta đã có rất nhiều cơ sở dạy trẻ khiếm thị tại nhiều tỉnh
thành. Điều này tạo cơ hội cho trẻ khiếm thị được phát triển tồn diện, hịa nhập với cộng
đồng.
Mục tiêu của các trường không chỉ nhằm phục hồi chức năng mà mục tiêu quan
trọng là dạy văn hóa cho trẻ, dạy nghề cho các em, dạy các em cách sống độc lập trong
cộng đồng.
Chương trình dạy trẻ khiếm thị cũng đã được xây dựng phù hợp với mục tiêu và khả
năng của trẻ. Quá trình dạy học đã vận dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với học
sinh.
Thực trạng giáo dục trẻ khiếm thị của nước ta hiện nay
Về số lượng: do chưa có điều tra tổng thể về trẻ khuyết tật trong cả nước và những
quan niệm khác nhau của các ngành chức năng nên số liệu có nhiều khác biệt. Viện Chiến
lược và chương trình giáo dục, Bộ Đào tạo đã điều tra, khảo sát khoảng 40 huyện thuộc các
tỉnh trong cả nước, với xác xuất chung, nước ta hiện có khoảng 20.000 trẻ khiếm thị, trong
- 43 -
đó khoảng 850 trẻ mù đang học ở 20 cơ sở chuyên biệt hoặc trung tâm và khoảng 200 em
học tại các lớp hòa nhập, hội nhập. Như vậy số trẻ mù đi học rất thấp.
Về chất lượng giáo dục: hầu hết số trẻ khiếm thị có khả năng theo học chương trình
phổ thơng và đạt chất lượng giáo dục như trẻ em sáng mắt ở các bậc tiểu học. Nếu được
giáo dục đúng phương pháp thì các học sinh khiếm thị sẽ phát huy được hết tiềm lực của
mình. Một số em đang theo học ở các trường Cao đẳng và Đại học.
Trẻ khiếm thị được đánh giá cao về mặt đạo đức, ý chí (ngoan, lẽ phép, có ý chí, tự
giác vượt khó trong học tập và những hoạt động khác.)
Tuy nhiên, khơng ít trẻ mù sau khi học xong phổ thông lại trở về sống phụ gia đình.
Đội ngũ giáo viên: được đào tạo dạy trẻ khiếm thị qua các hình thức chủ yếu dưới đây:
- Tập huấn ngắn ngày cho giáo viên tiểu học, mầm non ở các tỉnh do Viện chiến
lược và chương trình giáo dục và các tổ chức quốc tế tổ chức;
- GV đang dạy trẻ khiếm thị ở các trường chuyên biệt hoặc các trung tâm hướng dẫn
cho giáo viên mới;
- Một số ít giáo viên thuộc các trường Nguyễn Đình Chiểu đã được đi thăm quan, tu
nghiệp ở nước ngoài về dạy trẻ mù.
Hình thức giáo dục: ở Việt Nam đang tồn tại những hình thức giáo dục trẻ mù như
chuyên biệt, hội nhập, hịa nhập thơng qua sự quản lý của các ngành, các tổ chức quần
chúng xã hội và cá nhân.
Những khiếm khuyết đang tồn tại:
- Chưa có hệ thống trường đào tạo giáo viên dạy trẻ khiếm thị thuộc các bậc học.
Mới có khoa Giáo dục đặc biệt ĐHSP Hà Nội, tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và 3 trường Cao
Đẳng mẫu giáo trung ương. Tuy nhiên, số lượng đào tạo cịn rất hạn chế và chương trình
đào tạo còn chưa phù hợp;
- Hệ thống ký hiệu Braille đang sử dụng đã được thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
Nhưng cần phải bổ sung và điều chỉnh thêm một số ký hiệu.
- Thiếu các tài liệu về lí luận giáo dục và dạy học chuyên ngành;
- Thiếu những thông tin về kinh nghiệm giáo dục trẻ khiếm thị của các nước trên thế
giới và khu vực;
- Vấn đề đánh giá và điều chỉnh chương trình, hình thức thi tuyển đối với học sinh
mù chưa được tính đến;
- Hệ thống quản lý nhà nước từ trên xuống cơ sở chưa đủ mạnh, thậm chí có địa
phương cịn bỏ ngỏ.
- 44 -
- Vấn đề giáo dục cho trẻ nhìn kém, can thiệp sớm chưa được chú ý đúng mức;
Định hướng chăm sóc và giáo dục trẻ khiếm thị của Bộ GD – ĐT
Mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản:
- Đảm bảo phần lớn trẻ khiếm thị được chăm sóc sức khỏe và dạy nghề. Phấn đấu
đến năm 2005 huy động được 60-70% (vùng đô thị, đồng bằng đông dân cư), 50-50%
(vùnh khó khăn) trẻ khuyết tật được đi học.
- Định hướng giáo dục trẻ khiếm thị là giáo dục hòa nhập
- Xây dựng hệ thống quản lý, chỉ đạo chuyên môn ngành giáo dục trẻ khiếm thị, cơ
cấu: quản lý, chỉ đạo chuyên môn và phát triển ngành học; nghiên cứu khoa học; đào tạo
bồi dưỡng giáo viên, tiến tới có đội ngũ giáo viên chuyên ngành tật học từ Bộ đến các địa
phương.
Nhiệm vụ trước mắt:
- Năm học 2005-2006, các sở Giáo dục Đào tạo có kế hoạch biện pháp chỉ đạo phát
triển giáo dục trẻ khiếm thị, phấn đấu đến năm 2010 thực hiện chỉ tiêu 70% trẻ khiếm thị
được giáo dục hịa nhập;
- Hình thành hệ thống quản lý chuyên môn, gồm giáo dục trẻ khiếm thị ở lứa tuổi
mầm non, tiểu học. Các cụ chức năng của Bộ làm tham mưu cho Bộ về quy chế tuyển sinh,
đào tạo và hướng nghiệp cho trẻ khiếm thị;
- Thực hiện thí điểm và từng bước triển khai rộng chương trình sư phạm tật học
trong hệ đào tạo giáo viên tiểu học trình độ Cao đẳng. Tiếp tục thực hiện chương trình tập
huấn các khóa học ngắn hạn. Đào tạo giáo viên trình độ cử nhân tại các trường sư phạm.
- Phối hợp với các Bộ, Ngành tổ chức cán bộ xây dựng và ban hành các chế độ,
chính sách, hình thành mã số tài chính, các định mức chi và quy chế trang thiết bị cho
ngành tật học;
- Các sở GD –ĐT cần triển khai điều tra, thống kê số lượng trẻ khuyết tật, đưa công
tác giáo dục trẻ khuyết tật vào nhiệm vụ năm học;
- Giáo dục trẻ khuyết tật là trách nhiệm của cộng đồng, của toàn xã hội. Tuy nhiên
giáo dục trẻ khuyết tật trước hết là của ngành giáo dục. Ngành giáo dục sẽ làm mọi việc để
tất cả trẻ khuyết tật đều được đến trường và có cơ hội, điều kiện phát triển, và được hưởng
sự bình đẳng giáo dục.
Một số giái pháp cho giáo dục trẻ khiếm thị Việt Nam
- Cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng xã hội đối với trẻ khuyết tật nói
chung và trẻ khiếm thị nói riêng
- 45 -
- Thực hiện xã hội hóa giáo dục;
- Thực hiện luật giáo dục của nhà nước và Công ước về quyền trẻ em;
- Đào tạo giáo viên dạy trẻ khiếm thị trên toàn quốc (trước mắt là đào tạo đội ngũ
giáo viên cho các trường CĐSP;
- Tạo cơ sở vật chất và phương tiện dạy học cần thiết cho thầy, trò, thực hiện mục
tiêu giáo dục cho trẻ khiếm thị;
- Có cơ chế, chính sách cho việc dạy và học cho trẻ khiếm thị tương xứng với các
loại hình giáo dục chun biệt và hịa nhập;
- Cần có hệ thống tổ chức, quản lý nhà nước về giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và
trẻ khiếm thị nói riêng.
4.2. Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị tại Việt Nam
4.2.1. Các hình thức giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam
Hiện nay, giáo dục cho trẻ khiếm thị ở Việt Nam đi theo hai mơ hình chính:
Giáo dục chun biệt
Giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ khiếm thị là phương thức giáo dục tách biệt trẻ khiếm thị
với các mức độ khác nhau vào cơ sở giáo dục riêng.
Mục tiêu của giáo dục chuyên biệt:
- Mục tiêu nhân đạo
- Mục tiêu chăm sóc, giáo dục
- Mục tiêu giám sát, quản lý
Những tồn tại của giáo dục chuyên biệt đối với trẻ khiếm thị
- Là quan điểm đánh giá trẻ khiếm thị, coi trẻ là những trẻ thấp kém, khơng có khả năng
sống và học tập như những trẻ khác. Điều này dẫn đến cách tổ chức giáo dục: tách trẻ ra khỏi cộng
đồng, phương pháp giáo dục đặc biệt gây nên những hạn chế trong quá trình nhận thức
- Sự giáo dục tách biệt sẽ mang lại cho trẻ mặc cảm tự ti là những cản trở to lớn làm trẻ
không phát triển hết khả năng của mình.
- Mơi trường giáo dục chuyên biệt là môi trường hạn chế về nhiều mặt
- Là mơ hình tốn kém
Một số cơ sở giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ khiếm thị tại Việt Nam
- Trường phổ thơng chun biệt Nguyễn Đình Chiểu Đà Nẵng
- Trường phổ thơng chun biệt Nguyễn Đình Chiểu thành phố Hồ Chí Minh
- Trung tâm ni dạy trẻ em thiệt thịi Thái Ngun
- Trung tâm ni dạy trẻ khiếm thị Hải Phòng
- 46 -
-…
Giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thị là phương thức giáo dục trong đó trẻ khiếm thị
cùng học với trẻ bình thường trong trường phổ thơng ngay tại nơi trẻ sinh sống.
Tính tất yếu của giáo dục hòa nhập:
- Đáp ứng mục tiêu giáo dục
- Thay đổi quan điểm giáo dục
- Có tính hiệu quả của giáo dục hịa nhập
- Cơ sở pháp lý
- Tính kinh tế
- Giáo dục hịa nhập là mơ hình hồn thiện nhất trong các mơ hình giáo dục cho trẻ
khiếm thị.
Giáo dục hòa nhập dựa trên quan điểm xã hội, coi trẻ khiếm thị có khả năng phát
triển bình thường như mọi trẻ em khác. Trong môi trường này, trẻ khiếm thị được học tập,
vui chơi và phát huy hết điểm mạnh của mình. Đây là xu thế tất yếu của thời đại, khi mà
các phương tiện trợ giúp cho người khiếm thị ngày càng hiện đại.
4.2.2. Hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho trẻ khiếm thị ở Việt Nam
Nhóm cộng đồng hỗ trợ GDHN trẻ khiếm thị
* Mục tiêu hoạt động: Giúp kích thích phát huy hết khả năng của mình và đáp ứng nhu cầu được
chăm sóc, giáo dục như mọi trẻ em trong xã hội một cách thiết thực và có hiệu quả.
* Nguyên tắc hoạt động của nhóm cộng đồng hỗ trợ trẻ khiếm thị
- Chấp nhận trẻ và gia đình trẻ khiếm thị
- Để trẻ và gia đình trẻ khiếm thị được tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến nhu
cầu được đáp ứng
- Quyền tự quyết của trẻ và gia đình trẻ
- Tơn trọng trẻ và gia đình trẻ khiếm thị
* Thành phần tham gia nhóm cộng đồng hỗ trợ trẻ và gia đình trẻ khiếm thị
- Chủ tịch/ phó chủ tịch xã/ phường/ thơn
- Hiệu trưởng/ phó hiệu trưởng trường phổ thông
- GV trực tiếp dạy trẻ khiếm thị
- Phụ huynh/ người chăm sóc trẻ khiếm thị
- Đại diện các hội (thanh niên/ phụ nữ…)
- Đại diện những người tình nguyện trong xã/ phường/ thôn
- 47 -
- Đại diện bạn bè cùng lớp
* Các bước tiến hành thành lập nhóm cộng đồng hỗ trợ GDHN trẻ khiếm thị
Bước 1: Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về lợi ích của GDHN trẻ khiếm thị.
Trong đó cần nêu rõ quyền được học tập của trẻ khiếm thị, quyền được tham gia mọi hoạt động của
cộng đồng và nêu rõ khả năng và nhu cầu của trẻ khiếm thị khơng thua kém trẻ bình thường.
Bước 2: Phát hiện những nhân tố tích cực để vận động vào nhóm hỗ trợ cộng đồng trẻ khiếm thị
Người có uy tín
Người có kỹ năng truyền thơng, giao tiếp tốt
Người có khả năng phát biểu, nói lên tiếng nói thay cho trẻ và gia đình trẻ
Người giám đấu tranh vì lợi ích của trẻ và gia đình trẻ khiếm thị
Người có nhiều thời gian rảnh rỗi và có lịng từ thiện, bác ái
Bước 3: Thành lập nhóm cộng đồng hỗ trợ trẻ khiếm thị dựa trên cơ sở phát hiện những
nhân tố tích cực trong các thành phần nêu trên. Sau đó báo cáo chính quyền ra quyết định
cơng nhận
Cách theo dõi sự tiến bộ của trẻ
Trao đổi kinh nghiệm ni dạy con với các phụ huynh khác có con cùng cảnh ngộ
Tìm nguồn lực hỗ trợ trẻ em và gia đình trẻ khiếm thị
Qun góp gây quỹ từ thiện giúp đỡ trẻ khiếm thị
Qun góp quần áo cũ, bìa vở, lịch cũ giúp trẻ khiếm thị
Vận động người tham gia đưa đón và luyện tập định hướng di chuyển trong khơng
gian.
Tổ chức vịng bạn bè hỗ trợ trẻ khiếm thị
* Mục tiêu hoạt động của vòng bạn bè: giúp trẻ em bình thường và trẻ khiếm thị hỗ trợ,
giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động ở trường và ở nhà như: học tập, rèn luyện kỹ năng
lao động, định hướng di chuyển và vui chơi…
* Xây dựng vòng bạn bè:
- Nguyên tắc xây dựng vòng bạn bè:
Các thành viên tự nguyện tham gia hoạt động (có sự giải thích, thuyết phục của giáo
viên chủ nhiệm lớp về mục đích giúp bạn khiếm thị)
Mọi thành viên cùng chịu trách nhiệm khi nhận giúp bạn, cùng chia sẻ và hợp tác
với nhau trong mọi hoạt động.
- Thành phần tham gia vòng bạn bè
- 48 -
Qua thực tiễn cho thấy vòng bạn bè của mỗi học sinh khiếm thị nên có từ 2 đến 5
bạn, với thành phần: bạn cùng lớp hoặc bạn cùng trường, cùng xóm, ngõ. Trong số trẻ tham
gia vịng bạn bè cử một trẻ làm nhóm trưởng.
Một số gợi ý lựa chọn thành viên tham gia vòng bạn bè hỗ trợ trẻ khiếm thị do giáo
viên chủ nhiệm lớp quyết định. Đồng thời có tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, của trẻ và
phụ huynh trẻ khiếm thị, của học sinh trong lớp.
* Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giúp đỡ bạn
Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giúp thực hành cho cả nhóm theo những nội dung
cơ bản sau:
- Cách dẫn bạn khiếm thị đi đường
- Cách đọc và viết hệ thống kí hiệu Braille sử dụng trong mơn Tiếng Việt và Toán
- Kỹ năng giúp đỡ bạn khiếm thị đi đường
- Hướng dẫn bạn khiếm thị tham gia một số trò chơi tập thể như: bịt mắt bắt dê,
tranh ghế, đá bóng có chng,…
* Biện pháp duy trì và nâng cao tính hiệu quả của vịng bạn bè
- Phân công nhiệm vụ cho các thành viên phù hợp với các khả năng
- Tổ chức nhiều hành động, đa dạng để tạo cơ hội cho trẻ thể hiện sự giúp nhau
- Động viên kịp thời những hành vi tốt
- Tuyên truyền phổ biến những điển hình giúp đỡ bạn khiếm thị
- Giáo viên và các thành viên thường xuyên kiếm tra, giám sát các hoạt động của
nhóm.
* Lập kế hoạch giúp đỡ bạn khiếm thị
- Cơ sở lập kế hoạch hỗ trợ bạn khiếm thị
Căn cứ vào nhu cầu đáp ứng của bạn khiếm thị
Khả năng của các thành viên trong nhóm bạn bè
Đặc điểm của nhà trường và gia đình (mơi trường giáo dục, cơ sở vật chất, đội ngũ
giáo viên…)
- Lập kế hoạch hỗ trợ bạn khiếm thị: bản kế hoạch hỗ trợ bạn khiếm thị bao gồm
các thành phần cơ bản sau: thời gian, hoạt động, biện pháp thực hiện, người chịu trách
nhiệm, kết quả mong đợi và đánh giá
* Đánh giá hoạt động của cả nhóm
- Đánh giá định kì: hàng tháng, học kỳ, cả năm
- Đánh giá theo chủ đề hoạt động của nhóm
- 49 -
- Phương pháp đánh giá:
Kiểm điểm trách nhiệm của từng thành viên đối với nhiệm vụ được phân công
Kiểm điểm các hoạt động chung của cả nhóm
Nhận định về sự tiến bộ của trẻ khiếm thị ở trường, lớp và ở nhà
Từ việc đánh giá kết quả hoạt động của nhóm, giáo viên chủ nhiệm cùng với cả
nhóm điều chỉnh hoạt động cho các giai đoạn tiếp theo.
III. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Geert Wiliam van Delden, Bài giảng về Đại cương giáo dục trẻ khiếm thị, Khoá
đào tạo cử nhân về giáo dục trẻ khiếm thị 2001 –2003.
2. Geert Wiliam van Delden, Bài giảng về môi trường công nghệ và các phương tiện trợ
thị, Khoá đào tạo cử nhân về giáo dục trẻ khiếm thị 2001 –2003.
3.Đặc điểm nhận thức của trẻ khiếm thị, Trung tâm nghiên cứu trẻ có tật, Viện
Khoa học giáo dục, 1999.
4. Phạm Minh Mục, Giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thị, Tài liệu bài giảng, Viện
CL & CTGD.
5. Nguyễn Hiệp Thương, Định hướng di chuyển, Tài liệu bài giảng, Đại học Sư
phạm Hà Nội6
6. Phạm Thị Bền, Hình thành các kỹ năng và phát triển các giác quan, Tài liệu bài
giảng, Đại học Sư phạm Hà Nội.
7. Buultjens, Marianne (2000). Low vision in early intervention services for
children with visual impairment in Europe. In: Vision and Strategies for the New Century.
- 50 -
International Council for Education of People with Visual impairment, Cracow, Poland
9.13 July 2000.
8. Fuchs, Eberhard (2000) The School for Visually Impaired is Changing. In: Vision
and Strategies for the New Century. International Council for Education of people with
visual impairment, Cracow, Poland 9 - 13 July, 2000.
9. Goodrich, Gregory L. and lan L. Bailey (2000) A History of the Field of Vision
Rehabilitation from the Perspective of Low Vision. In: The Lighthouse Handbook on Vision
Impairment and Vision Rehabilitation, B. Silverstone. M.A. Lang, B.P. Rosenthal, and E.E.
Faye (editor), Oxford: University Press.
10. Zambone Alana M and S.C. Suares (2000) Service Delivery Systems, In: The
Lighthouse Handbook on Vision Impairment and Vision Rehabilitation, B. Silverstone.
M.A. Lang, B.P. Rosenthal, and E.E. Faye (editor), Oxford: University Press.
- 51 -