Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

GS. HÀ MINH ĐỨC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (845.62 KB, 10 trang )

GS. HÀ MINH ĐỨC
I. Sơ lược lí lịch
 Năm sinh: 1935
 Nơi sinh: Thanh Hoá





Học hàm: Giáo sư
Chức danh: Giảng viên Cao cấp
Đơn vị công tác hiện nay: Khoa Văn học
Thời gian cơng tác tại Trường: từ 1958

Ơng tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 1957. Từ năm 1957 đến nay ông công
tác giảng dạy tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ
Trưởng bộ môn lý luận văn học; Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn; Chủ nhiệm Khoa Báo
chí. Từ 1995 đến tháng 2 năm 2003 ông kiêm nhiệm công tác tại Viện Văn học, là Viện
trưởng Viện Văn học kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn học. Ơng còn giữ các chức vụ như
thành viên Ủy ban Giáo dục toàn quốc (từ 1998); Ủy viên Hội đồng lý luận - phê bình
văn học nghệ thuật Trung ương (từ tháng 9 năm 2003); Hội viên Hội nhà văn Việt Nam;
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.
II. Các cơng trình khoa học
Các bài báo khoa học
1. Trần Đông, người chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ. Nghiên cứu Văn học, số 9/1960.
2. Nhân đọc Mấy vấn đề nguyên lí văn học của Nguyễn Lương Ngọc. Nghiên cứu Văn
học, số 3/1961.
3. Đọc Ánh sáng và phù sa. Nghiên cứu Văn học, số 9/1961.
4. Võ Huy Tâm và Những người thợ mỏ. Nghiên cứu Văn học, số 4/1962.
5. Những yếu tố tích cực trong văn học hiện thực thời kì 1939 – 1945. Tạp chí Văn học,


số 9/1963.
6. Về tập Trai làng Quyền của Nguyễn Đình Dũng. Tạp chí Văn học, 1965.
7. Về khả năng phản ánh hiện thực của hồi kí – nhân đọc Sống như Anh. Tạp chí Văn
học, số 10/1965.
8. Cần đánh giá cho sát đúng hơn giá trị của những tác phẩm văn học. Tạp chí Văn
học, số 11/1968.
9. Tiểu thuyết Miền Tây của Tơ Hồi. Tạp chí Văn học, số 2/1969.
10. Mấy suy nghĩ nhân đọc cuốn Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử
văn học Việt Nam hiện đại (1900 – 1945) của Vũ Đức Phúc. Tạp chí Văn học, số
2/1971.
11. Truyện ngắn miền Nam trên đã phát triển của cách mạng. Tạp chí Văn học, số
3/1972.


12. Đọc Vì một nền văn nghệ mới – Việt Nam của Xuân Trường . Tạp chí Văn học, số
2/1972.
13. Truyện và kí của Hồ Chủ tịch, tác phẩm làm mở đường cho nền văn học mới của
giai cấp vô sản. Tạp chí Văn học, số 3/1974.
14. Xuân Diệu và những chặng đường thơ cách mạng. Tạp chí Văn học, số 2/1975.
15. Những bài thơ của Bác viết về tuổi thơ. Tạp chí Văn học, số 1/1975.
16. “Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn” . Tạp chí Văn học, số 1/1976.
17. Thơ ca về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội . Tạp chí Văn học, số 2/1977.
18. Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ . Tạp chí Văn học, số 1/1987.
19. Tìm hiểu quan điểm của Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo của Đảng về thơ ca.
Tạp chí Văn học, số 2/1978.
20. Nghĩ về sức sáng tạo của một nền thơ (Nhân đọc Thơ Việt Nam 1945 – 1975). Tạp
chí Văn học, số 2/1979.
21. Nhân dịp Viện Văn học và Tạp chí Văn học 20 tuổi . Tạp chí Văn học, số 1/1979.
22. Văn học Việt Nam chống Mĩ cứu nước . Tạp chí Văn học, số 3/1980.
23. Nhớ mãi anh Hồng Trung Thơng . Tạp chí Văn học, số 1/1988.

24. Về một truyện ngắn nhất của Hồ Chủ tịch . Tạp chí Văn học, số 3/1981.
25. Nam Cao và đơi nét về nghệ thuật sáng tạo tâm lí. Tạp chí Văn học, số 6/1982.
26. Những bài thơ viết về chiến thắng Điện Biên Phủ. Tạp chí Văn học, số 3/1984.
27. Thơ Sóng Hồng. Tạp chí Văn học, số 1/1985.
28. Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về tính chân thực của nghệ thuật. Tạp chí Văn học, số
3/1986.
29. Xuân Diệu nói về hai tập: Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Tạp chí Văn học, số
12/1995.
30. Tế Hanh và những chặng đường thơ Cách mạng. Tạp chí Văn học, số 6/1996.
31. Điêu tàn và tâm hồn thơ Chế Lan Viên . Tạp chí Văn học, số 10/1996.
32. Một tiếng thơ hùng tráng vang vọng một thời. Tạp chí Văn học, số 12/1996.
33. Nhà thơ và cuộc đối thoại của thơ. Tạp chí Văn học, số 3/1997.
34. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn nghệ. Tạp chí Văn học, số 5/1997.
35. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí. Tạp chí Văn học, số 5/1998.
36. Cái đẹp và cảm hứng thơ ca của Hồ Chí Minh. Tạp chí Văn học, số 9/1998.
37. Tiểu phẩm văn học và báo chí của Ngơ Tất Tố . Tạp chí Văn học, số11/1998.
Các giáo trình, chun khảo, sách tham khảo
1. Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc. Nxb Văn hoá, 1961.
2. Tác phẩm văn học. Nxb Giáo dục, 1962.
3. Loại thể văn học,Nxb Giáo dục, 1962.
4. Nguyễn Huy Tưởng (nghiên cứu, viết chung với Phan Cự Đệ). Nxb Văn học, 1966.
5. Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại (viết chung với Bùi Văn Nguyên). Nxb
Khoa học Xã hội, 1968, 1971, 1999.
6. Nhà văn và tác phẩm (phê bình – tiểu luận). Nxb Văn học, 1971.
7. Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (lí luận). Nxb Khoa học Xã hội,
1974, 1997, 1998.
8. Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca(phê bình – tiểu luận). Nxb Văn học, 1977.
9. Nhà văn Việt Nam tập 1(nghiên cứu – viết chung với Phan Cự Đệ). Nxb Đại học,
1979.



10. Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc (nghiên cứu). Nxb Khoa học Xã hội,
1979, 1995, 1997, 2000.
11. Kỉ yếu về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội (nghiên cứu). Nxb
Quân đội Nhân dân, 1980.
12. C.Mac-Ph.Anghen – V.I.Lênin và một số vấn đề lí luận văn nghệ. Nxb Sự thật, 1982
– 1995 – 2000.
13. Nhà văn Việt Nam, tập II (nghiên cứu – viết chung với Phan Cự Đệ). Nxb Đại học,
1983.
14. Tác phẩm văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh(nghiên cứu). Nxb Khoa học Xã hội 1985,
1996, 1997, 2000.
15. Thời gian và trang sách (phê bình, tiểu luận). Nxb Văn học, 1987.
16. Mấy vấn đề lí luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới (chủ biên). Nxb Chính trị Quốc
gia, 1990.
17. Về một cuộc cách mạng trong thi ca (biên soạn – chủ biên cùng Huy Cận). Nxb Giáo
dục, 1991, 1997.
18. Lí luận văn học (chủ biên). Nxb Giáo dục, 1992 (đã tái bản lần thứ 7).
19. Báo chí – những vấn đề lí luận và thực tiễn (chủ biên). Nxb Giáo dục, 1993, 1997.
20. Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê (nghiên cứu). Nxb Giáo dục, H. 1994, 1996, 1997.
21. Thời gian và nhân chứng (3 tập, chủ biên). Nxb Chính trị Quốc gia, tập I (1994), tập
II (1997), tập III (2001).
22. Một thời đại trong thơ ca (nghiên cứu). Nxb Khoa học Xã hội, 1996.
23. Vị giáo sư và ẩn sĩ đường (bút kí). Nxb Văn học, 1996.
24. Nam Cao – đời văn và tác phẩm (nghiên cứu). Nxb Văn học, 1997.
25. Khảo luận văn chương (nghiên cứu). Nxb Khoa học Xã hội, 1997, tái bản 1997.
26. Văn học Việt Nam hiện đại (bình giảng và phân tích tác phẩm). Nxb Thanh niên,
1997. Nxb Khoa học Xã hội 1998, 1999, 2000.
27. Nhà văn nói về tác phẩm (biên soạn- chủ biên). Nxb Văn học, 1997, 1998, 2001.
28. Chặng đường mới của văn học Việt Nam (tiểu luận). Nxb Chính trị Quốc gia, 1998
(chủ biên).

29. Đi tìm chân lí nghệ thuật (tiểu luận phê bình). Nxb Văn học, 1998, 2000.
30. Đi hết một mùa thu (thơ). Nxb Văn học, 1999.
31. Báo chí Hồ Chí Minh – Chuyên luận và tuyển chọn. Nxb Chính trị Quốc gia, 2000.
32. Văn thơ Hồ Chí Minh (tiểu luận). Nxb Khoa học xã hội, 2000.
33. Sự nghiệp báo chí và văn học của Hồ Chí Minh (nghiên cứu). Nxb Giáo dục, 2000.
34. Cơ sở lí luận báo chí – Đặc tính chung và phong cách. Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2000.
35. Ba lần đến nước Mĩ (tập bút kí). Nxb Văn học, 2000.
36. Ở giữa ngày đông (thơ). Nxb Văn học, 2001.


GIÁO SƯ HÀ MINH ĐỨC VỚI CÁC
CƠNG TRÌNH VỀ VĂN HỌC VIỆT
NAM HIỆN ĐẠI
Cơng trình:
Cụm cơng trình về Văn học Việt Nam hiện đại và Lý luận văn học:
Về văn học hiện đại: 1. Nam Cao, đời văn và tác phẩm; 2. Khảo luận văn chương
Về lý luận văn học: 1. Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại; 2. C.Mác,
Ph.Ănghen, V.I.Lênin và một số vấn đề lý luận văn nghệ.
Tác giả:
GS Hà Minh Đức
Cụm cơng trình về Văn học Việt Nam hiện đại và Lý luận văn học này của GS Hà Minh
Đức gồm 4 công trình sau:
- “Nam Cao, đời văn và tác phẩm” (192 trang), nghiên cứu về đời sống và hoạt động văn
học của Nam Cao, tác phẩm của Nam Cao và con đường đi tới chủ nghĩa hiện thực (phần
I); sáng tác của Nam Cao thời trước và sau cách mạng tháng Tám (Phần II và III); nông
thôn trong sáng tác của Nam Cao (Phần IV). Từ năm 1961, tác giả đã phát hiện phong
cách một nhà văn tài năng là Nam Cao, và đưa ra khái niệm “Nhà văn hiện thực” khi nói
Nam Cao là cây bút hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.
- “Khảo luận văn chương” ra mắt vào năm 1998, là chuyên luận khái quát về phong trào

thơ mới, văn hoá lãng mạn (1930 - 1945), về kịch nói thời kỳ đầu hình thành và phát
triển, về quan điểm thơ văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về sự nghiệp văn chương của các
tác giả: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Tế
Hanh, Tơ Hồi. 10 bài nghiên cứu khoa học công phu, nội dung phong phú với những ý
kiến sâu sắc là rất có ích cho xây dựng cuốn lịch sử văn học Việt Nam từ năm 1930 đến
cuối thế kỷ XX.
- “Thơ và mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại” (402 trang) là cơng trình ơng hồn thành
cho xuất bản vào năm 1974, gồm 7 chương, với nội dung là xác định một quan điểm
đúng đắn về thơ; nhà thơ - cái tơi và nhân vật trữ tình trong thơ; tính khuynh hướng của
thơ ca; cảm xúc và suy nghĩ trong thơ; truyền thống và sáng tạo trong thơ; hình thức của
thơ. Các vấn đề, luận điểm nêu trong cơng trình này mang tính hệ thống chặt chẽ, tồn
diện, sâu sắc và có tính thuyết phục.
- “C.Mác, Ph.Ănghen, V.I.Lênin và một số vấn đề lý luận văn nghệ” được Nhà xuất bản
Sự Thật xuất bản năm 1982, đề cập tới các nội dung: Mác, Ănghen và một số vấn đề lý
luận văn nghệ; quan hệ giữa văn nghệ và đời sống xã hội; tính giai cấp, tính Đảng, tính
dân tộc và sự sáng tạo nghệ thuật; thế giới quan – thực tại và đời sống - quá trình phát
triển văn học; điều kiện lịch sử mới và những đóng góp của Lênin về lý luận văn nghệ;
nhận thức Macxit và những vấn đề đặc trưng của văn học nghệ thuật; nguyên tắc tính
Đảng trong văn học; nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá mới và vấn đề kế thừa di sản văn
hoá cũ. Có thể nói cơng trình này đã nêu lên những luận điểm cơ bản nhất của lý luận văn
nghệ, có tác động khơng nhỏ tới hoạt động văn nghệ của nước ta.


Trong toàn bộ tác phẩm của GS Hà Minh Đức, cụm cơng trình gồm 4 cơng trình nói trên
là một chùm hoa đẹp nhất, đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2000.
GS Hà Minh Đức sinh ngày 3.5.1935, quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, là Nhà giáo Nhân
dân.

GS. Hà Minh Đức tại văn phòng lúc là Viện trưởng Viện
Văn học



GS Hà Minh Đức: Một đời nghiên cứu
và giảng dạy văn chương Việt Nam
Ngày 18/02/2012 tới sẽ diễn ra Lễ trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà
nước đợt năm 2010, nhân dịp này USSH đăng lại bài viết của PGS.TS Nguyễn Thị Minh
Thái về GS.NGND Hà Minh Đức – một trong 12 nhà khoa học được nhận Giải thưởng
Hồ Chí Minh trong đợt này.

GS.NGND Hà Minh Đức. Hà Nội, tháng 02/2012. Ảnh: Thành Long
Cả đời ông, ông hiểu rất rõ rằng muốn giảng dạy thật tốt văn chương Việt thì phải nghiên
cứu thật kĩ lưỡng những vấn đề được đặt ra từ quá trình phát triển thực tiễn của chính văn
chương Việt – đó chính là q trình hiện đại hố đã diễn ra trong lịng văn chương Việt từ
hàng trăm năm nay.
Việc nghiên cứu của nhà nghiên cứu phải được diễn giải sâu sắc bằng cái viết – cũng thật
sâu sắc, mới hòng mong cái dạy trên bục giảng đại học thật lơi cuốn, và có chiều sâu
thông tuệ, nhất là với đối tượng sinh viên đại học của khoa Ngữ văn, lại thuộc một trường
đại học lớn nhất và duy nhất nước Việt Nam dân chủ cộng hoà lúc bấy giờ: Trường Đại
học Tổng hợp Hà Nội. Lại đúng vào thời điểm ông tốt nghiệp xuất sắc ngôi trường này,
được giữ lại làm thầy giáo, ngay khi cịn đầu xanh tuổi trẻ.
Đó quả là cách nghĩ và cách quan niệm chính xác nhất trong trường hợp ấy của cá nhân
ông. Và không thể không thấy, bên trong đó, hiện diện những ảnh hưởng rất lớn từ những
bậc thầy mà ông thụ giáo, và cả đời ơng ln kính trọng: Hồi Thanh, Đặng Thai Mai,
Nguyễn Khánh Toàn…


Trong một lần tự sự về công việc nghiên cứu văn chương Việt Nam hiện đại, vốn đòi hỏi
rất nhiều tâm huyết của mình, ơng cho rằng ơng ln muốn tìm ra và nghiên cứu những
vấn đề đích thực của văn học Việt Nam, vừa mang ý nghĩa thời sự, lại vừa phải đảm bảo
chiều sâu khoa học lâu dài.

GS Hà Minh Đức sinh năm 1935 tại Thanh Hố. Ơng ngun là Chủ nhiệm Khoa Báo chí
và Truyền thơng – Trường ĐHKHXH&NV. Ơng được xét giải thưởng Hồ Chí Minh về
KH&CN năm 2010 cho cụm cơng trình: Sự nghiệp văn học, báo chí Hồ Chí Minh và một
số vấn đề lí luận, thực tiễn văn hố, văn nghệ Việt Nam, bao gồm nhóm cơng trình Sự
nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh, báo chí Hồ Chí Minh (chuyên luận và tuyển chọn) và nhóm
cơng trình Tự lực văn đồn: trào lưu và tác giả (phần chuyên luận); Một nền văn hoá văn
nghệ đậm bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú.
Khi đặt vấn đề nghiên cứu sự nghiệp văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, GS Hà
Minh Đức đã có góc nhìn riêng, vừa khoa học lại vừa thời sự. Bởi thế, dù nghiên cứu sau
các học giả: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, các thi sĩ Xuân Diệu, Chế Lan Viên… về thơ
và văn xuôi Hồ Chí Minh, GS Hà Minh Đức vẫn tìm ra cách khai thác riêng và cách xử lí
tư liệu riêng, lại được sự giúp đỡ chí tình của nhà thơ Hồng Trung Thơng, năm 1979,
cơng trình nghiên cứu của ơng “Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn của dân tộc” ra đời
tại NXB Khoa học Xã hội, do đích thân giám đốc NXB Phạm Hựu đồng ý đặt hàng, sau
khi nghe GS Đức thuyết phục bằng ý tưởng nghiên cứu. Theo ơng tự đánh giá, đó là cơng
trình có thể chưa thật hay, nhưng nghiên cứu vấn đề chu đáo, nêu được vấn đề tương đối
cơ bản và được dư luận chấp nhận.
Năm 1985, được đà nghiên cứu, ông viết tiếp cuốn “Tác phẩm văn của Hồ Chí Minh” và
được GS Nguyễn Khánh Tồn quan tâm khích lệ, và viết lời tựa cho tập sách, với khẳng
định đấy là một cuốn sách được viết nghiêm túc, dù thấy còn một số vấn đề cần phải nói
thêm về văn chương Hồ Chí Minh. GS Hà Minh Đức bồi hồi nhớ lại lúc đó, vừa biết ơn
người thầy của mình, vừa hiểu rằng “xin được chữ của “cụ” Nguyễn Khánh Toàn hồn
tồn khơng phải việc dễ”.
Song GS Hà Minh Đức khơng dừng công việc nghiên cứu về sự nghiệp văn nghệ của
Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đó. Khi về khoa Báo chí trường ĐH KHXH&NV Hà Nội, với
cương vị Chủ nhiệm khoa Báo, ơng lại thấy mình phải tiếp tục nghiên cứu về sự nghiệp
báo chí của Bác Hồ. Ơng lại vượt khó, viết tiếp cơng trình thứ ba: “Báo chí Hồ Chí
Minh” và hết sức tránh trùng lặp, ơng nghiên cứu phong cách báo chí rất độc đáo của cụ
Hồ trên sự kết hợp hài hoà của hai trục: trục thời gian năm tháng và trục những vấn đề
báo chí mà cụ Hồ đã rất sắc sảo khi phát hiện.

Chỉ ngun ba cơng trình nghiên cứu chun biệt ấy về sự nghiệp viết văn, viết báo của
cụ Hồ cũng đã làm nên thành công đáng kể của GS Hà Minh Đức trên bước đường
nghiên cứu và giảng dạy của mình. Song, ơng đã chứng tỏ sự cần mẫn nghiên cứu nhiều
hơn thế.
Theo phương pháp nghiên cứu riêng và quan niệm riêng, GS Hà Minh Đức đã nghiên cứu
sâu về Thơ Mới, dù trước ông và đồng thời với ông, khơng ít nhà nghiên cứu đã và đang
cày xới vấn đề này. Khơng nản lịng, ơng tự biết mình vẫn cịn có thể nghiên cứu tiếp và
có ý kiến riêng về Thơ Mới. Ơng tâm sự: “Thực sự tơi cảm thấy đây là một vấn đề nghiên


cứu mà một người làm khơng xong, thậm chí một thời làm cũng không xong mà phải làm
trong nhiều thời điểm.
Và ở mỗi thời điểm mình có thể triển khai được quan điểm của mình theo một cách ngày
càng rộng, càng sâu và thẳng thắn hơn so với quá khứ, khi điều kiện xã hội khách quan
chưa phù hợp với cách làm như vậy”. Viết về vấn đề Tự lực Văn đồn của giai đoạn văn
học 1932 – 1945 ơng cũng có khuynh hướng và phương pháp nghiên cứu nhất qn với
chính ơng như vậy.
Về thái độ, GS Hà Minh Đức cho rằng ở từng thời điểm văn chương, ông nhận thức thế
nào thì viết đúng như mình nhận thức. Nhưng ông cũng phải nhận rằng “dư luận văn
chương chúng ta trong mấy chục năm qua nhiều lúc bị cuốn đi theo u cầu nóng của xã
hội nên khơng tránh khỏi bồng bột, thiếu khách quan.
Có lúc tơi cũng ít nhiều bị chi phối nhưng chỉ chừng mực thôi”. Và ơng đã chủ trương
viết đúng lịng mình, khơng viết khác những điều ông suy nghĩ, cũng tránh thái quá, khi
muốn khen những điều đáng khen và chê những điều đáng chê. Về cơ bản ơng cũng
khơng chấp nhận nói ngược với chính mình, ln hết sức thận trọng khi viết về những
vấn đề mà mình đã theo đuổi nghiên cứu trong cả đời mình.

Thành Long/USSH
GS Hà Minh Đức trả lời phỏng vấn của VTV về cụm cơng trình được tặng Giải thưởng
Hồ Chí Minh.

Ơng cũng tự cho rằng, hai cơng trình nghiên cứu về Thơ Mới và Tự lực Văn đồn được
ơng đầu tư tâm sức rất lớn và đã được viết với một hứng thú nghiên cứu cũng rất lớn. Và
ông cũng biết rõ, những cuốn sách ấy đã là những tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên


của mình và lan truyền tới họ một hứng thú nghiên cứu rất đáng kể khi họ đang ngồi học
trong giảng đường và không chỉ trong giảng đường đại học.
Tự nhận và pha chút hài hước, ông bảo ông như một nông dân cần cù trên cánh đồng
nghiên cứu chữ nghĩa văn chương, dẫu nhiều gặt hái, song vẫn tự biết mình thích khơng
nhiều lắm những tác phẩm do chính mình viết ra và biết rằng chúng cũng có ít nhiều ý
nghĩa đối với sự học của sinh viên đại học văn khoa.
Ơng thích cuốn “Thơ và mấy vấn đề trong thơ hiện đại” của chính mình, với lí do “đây là
cuốn mà tôi viết công phu, sách riêng, (không đứng chung như cuốn “Sự phát triển thơ ca
– hình thức và thể loại” với GS Bùi Văn Nguyên”, dù cuốn này ơng cũng thích) và là loại
sách thuần lí luận, được tái bản đã mấy lần! Ông vui vẻ tự thú: “Nam Cao và tác phẩm”
cũng là cuốn tôi thích.
Tơi là một trong những người đầu tiên viết sách nghiên cứu về Nam Cao. Hay là cuốn
“Tơ Hồi – Đời văn và tác phẩm” vừa là nghiên cứu văn chương, vừa là kỉ niệm với nhà
văn Tơ Hồi đã gần gũi và giúp đỡ tôi nhiều… Rồi những cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh –
nhà thơ lớn của dân tộc”, và “Tác phẩm văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh” đều đã tái bản
đến lần thứ 8…
Có một điều đặc biệt trong nghiên cứu của GS Hà Minh Đức là việc ơng “rẽ dịng” khá
ngoạn mục sang lĩnh vực sáng tác: ơng đột nhiên làm thơ, viết kí sự, tuỳ bút… vào những
năm tháng bước vào tuổi trung niên, khi ông đã đi hết mùa thu cuộc đời để rồi thấy mình
đang ở giữa mùa đơng:”Bây giờ chỉ cịn lại mùa đơng/Và một mình anh ở giữa/Năm
tháng qua ngày đông thêm giá lạnh/Mùa đông buồn làm bạn với cô đơn…”.
Bên cạnh những nghiên cứu, những buổi lên lớp giảng bài, những hướng dẫn sinh viên
làm khoá luận, học viên làm luận văn, nghiên cứu sinh làm luận án… thế là ông đã gặp
được thơ ca như một niềm an ủi và chính ơng cho rằng đó cũng là lối ra khỏi dịng chính
luận để trở về với chính mình một cách an nhiên, hài hồ.

Khơng tình cờ chút nào khi ông đã cho ra đời đến mấy tập thơ và nhận khá nhiều cảm
tình từ người thưởng ngoạn. Thi sĩ Huy Cận từng khen thơ Hà Minh Đức chân cảm dồn
nén. Nữ sĩ Anh Thơ đọc nhiều lần thơ ông và khen thơ ông hiện đại, viết theo thể thức tự
do. Các thi sĩ Vũ Đình Minh, Mã Giang Lân, Hữu Thỉnh đều dành cho thơ ơng tình của
những kẻ tri âm.
Và như thế, ơng đã được giải phóng những năng lượng mà chính ơng cũng khơng ngờ nó
tiềm ẩn trong trái tim mình, ngồi những phẩm chất của một người cả đời chỉ mải miết
nghiên cứu và giảng dạy văn chương Việt như những chỉ định của số phận.
Và ông, GS Hà Minh Đức đã rất xứng đáng với những danh vị, chức vị, giải thưởng cao
quý mà Nhà nước đã dành cho ông: Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, giải thưởng Nhà nước
và Giải thưởng Hồ Chí Minh cho những thành tựu về nghiên cứu và giảng dạy suốt nửa
thế kỉ của ông…
PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Thái (USSH)


Giáo sư Hà Minh Đức nguyên Viện trưởng Viện Văn học, nguyên chủ nhiệm Khoa báo
chí Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trực thuộc
Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông sinh ngày 3 tháng 5 năm 1935 tại Vĩnh An, Vĩnh Lộc,
Thanh Hóa.
Q trình cơng tác
Ơng tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 1957. Từ năm 1957 đến nay ông công
tác giảng dạy tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ
Trưởng bộ mơn lý luận văn học; Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn; Chủ nhiệm Khoa Báo
chí. Từ 1995 đến tháng 2 năm 2003 ông kiêm nhiệm công tác tại Viện Văn học, là Viện
trưởng Viện Văn học kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn học. Ơng cịn giữ các chức vụ như
thành viên Ủy ban Giáo dục toàn quốc (từ 1998); Ủy viên Hội đồng lý luận - phê bình
văn học nghệ thuật Trung ương (từ tháng 9 năm 2003); Hội viên Hội nhà văn Việt Nam;
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam.
Tác phẩm chính đã xuất bản

Những cơng trình in riêng
Nhà văn và tác phẩm (1971)
Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974)
Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca (1976)
Nam Cao - đời văn và tác phẩm (1986)
Thời gian và trang sách (1987)
Khảo luận văn chương (1987)
Nguyễn Bính thi nhân của đồng quê (1996)
Đi tìm chân lý nghệ thuật (1998)
C. Mác, Ph. Anghen, V.L. Lênin và một số vấn đề lý luận văn học (nghiên cứu, 1982)
Văn thơ Hồ Chí Minh (nghiên cứu, 2000)
Văn chương - tài năng và phong cách (2001)
Những cơng trình in chung (chủ biên)
Lý luận văn học (1992)
Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học (1999)
Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn (1997)
Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX (2002)
Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng (2003)
Ngồi những cơng trình nghiên cứu, ơng còn là tác giả của một số tập thơ và hồi ký, bút
ký.
Giải thưởng
Giải thưởng nhà nước về văn học - nghệ thuật
Huân chương lao động hạng nhất
Nhà giáo nhân dân
Giải thưởng nhà nước về nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội năm 2012.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×