Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (530.31 KB, 13 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Từ khóa:</b><i> Phương pháp giáo dục tích cực, Qui trình, Hoạt động nhận thức, Trẻ </i>
<i>mẫu giáo.</i>
<b>1. Đặt vấn đề</b>
Nghị quyết số 29/NQ-BGDĐT về “Đổi mới toàn diện giáo dục” đã nêu rõ quan
điểm hướng đến phát triển năng lực người học. Giáo dục mầm non với mục tiêu
phát triển tồn diện cho trẻ trong đó nhu cầu con trẻ thông minh, linh hoạt, nhận
thức tốt, giao tiếp tốt của đại đa số cha mẹ là mong muốn chính yếu trong giai đoạn
cơng nghệ 4.0. Đó cũng là kỳ vọng là xu thế chung của thế giới về những đứa trẻ
tương lai. Gần đây xuất hiện khá nhiều phương pháp giáo dục tích cực (PPGDTC)
nhằm phát triển năng lực nhận thức cho trẻ. Hầu hết các nghiên cứu đều hướng đến
việc kích thích não bộ, khai mở các tiềm năng thuộc về não phải trong giai đoạn sớm.
Tác giả nghiên cứu tìm hiểu về cơ sở luận của nhóm các PPGDTC thơng qua sử dụng
1 Trường Mầm non Gấu Trúc, Địa chỉ: 629/7 Huỳnh Tấn Phát, Phú Xuân, Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh; Số
ĐT: 0983151541; Email:
phương pháp nghiên cứu, phân tích tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu cả trong và
ngoài nước, bên cạnh có những điều tra sơ bộ về thực trạng nhận thức của trẻ mẫu
giáo. Trên cơ sở đó xây dựng qui trình vận dụng PPGDTC trong tổ chức hoạt động
nhận thức cho trẻ mẫu giáo sao cho phù hợp giúp phát triển năng lực nhận thức cho
trẻ một cách hiệu quả và chất lượng.
<b>2. Một số khái niệm liên quan</b>
<i><b>2.1 Phương pháp giáo dục và phương pháp giáo dục tích cực</b></i>
- Các tài liệu về giáo dục, giáo dục học theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau
có những khái quát khác nhau về khái niệm “Phương pháp giáo dục”(PPGD). Theo
tác giả Phan Thị Hồng Vinh (2010), hiểu theo nghĩa chung nhất phương pháp là
cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trình tự nhất định, là
cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích [9]. Hoặc theo <i>Từ điển giáo dục học</i> của
nhóm tác giả Nguyễn Văn Giao (2001) <i>Phương pháp giáo dục </i>là cách thức sử dụng các
nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương
tiện vật chất để giáo dục người học [6]. Vậy chúng ta có thể hiểu <i>Phương pháp giáo </i>
<i>dục là hệ thống tác động của giáo viên đến trẻ thông qua việc tổ chức hoạt động nhằm phát </i>
<i>triển năng lực nhận thức cho trẻ.</i>
- Khái niệm PPGDTC tiếp tục được mở rộng được khái quát bởi nhiều tài liệu
thông qua nhiều góc độ khác nhau. Theo<i> Từ điển Tiếng Việt </i>của Hồng Phê (2018),
đầu tiên nên hiểu “tích cực” là tỏ ra chủ động, có những hoạt động tạo ra sự biến đổi
theo hướng phát triển; tỏ ra nhiệt tình, đem hết khả năng và tâm trí vào cơng việc
[8]. Vậy có thể hiểu <i>Phương pháp giáo dục tích cực</i> ở đây <i>là hệ thống những tác động của </i>
<i>giáo viên lên trẻ nhằm giúp trẻ biết chủ động, hoạt động nhiệt tình, dồn hết khả năng và tâm </i>
<i>trí vào việc giải quyết cơng việc.</i>
<i><b>2.2. Nhận thức, hoạt động nhận thức và tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ</b></i>
quanh vào trong ý thức trẻ. Trẻ tiếp nhận tất cả thế giới xung quanh thông qua các
giác quan và được phản ánh một cách sáng tạo linh hoạt trong ý thức của trẻ.
Khái niệm “Hoạt động nhận thức” cũng được nói rất nhiều trong các tài liệu
giáo dục, giáo dục mầm non trong và ngoài nước. Đầu tiên nên hiểu hoạt động là gì?
Theo <i>Từ điển Tiếng Việt </i>của Hồng Phê (2018), có thể hiểu <i>hoạt động là mối quan hệ tác </i>
<i>động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm nào đó [8].</i>
Theo khá nhiều tài liệu phân tích hoạt động nhận thức là một hoạt động bao gồm
các thuộc tính tâm lý như tưởng tượng, tư duy, tri giác và cảm giác. Theo một trang
nước ngoài thì hoạt động nhận thức là các hoạt động cấp cao như giải quyết vấn đề,
ra quyết định và đưa ra ý nghĩa liên quan đến việc sử dụng, làm việc và suy nghĩ với
thông tin. Vậy mở rộng khái niệm ta có thể hiểu<i> hoạt động nhận thức của trẻ mẫu giáo </i>
là mối quan hệ tác động qua lại giữa trẻ và các hoạt động bên ngồi thơng qua việc
giải quyết vấn đề, ra quyết định đối với thông tin mà trẻ tiếp nhận.
Khái niệm “tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ”, là một trong những khái
niệm thuộc phạm trù của ngành quản lý giáo dục. Cũng theo <i>Từ điển Tiếng Việt</i> của
Hoàng Phê (2018), khái niệm “Tổ chức” là sắp xếp các chi tiết thành một tổng thể
có cấu trúc hoặc chuẩn bị cho một sự kiện hoặc hoạt động [8]. Vậy <i>Tổ chức hoạt động </i>
<i>nhận thức cho trẻ là sắp xắp các công việc, nhiều chi tiết chuẩn bị cho hoạt động nhận thức </i>
<i>của trẻ đạt kết quả.</i>
<b>3. Một số phương pháp giáo dục tích cực nhằm phát triển năng lực nhận thức </b>
<b>cho trẻ mẫu giáo</b>
Gần đây trên thế giới đang có xu hướng vận dụng một số các PPGD tích cực
dành cho trẻ lứa tuổi mầm non. Sau khi nghiên cứu khá nhiều tài liệu trong và ngoài
nước, tác giả nhận thấy tựu chung có hai hướng chính. Thứ nhất: các PPGDTC xuất
phát từ các nghiên cứu công bố về não bộ, đặc biệt là não phải trong giai đoạn từ
0-6 tuổi. Thứ hai: các PPGDTC xuất phát từ những kinh nghiệm ni dạy con trong
gia đình trên thế giới. Trong bài viết tác giả tạm chia hai hướng nghiên cứu thành 2
nhóm PPGDTC.
<i><b>3.1. Nhóm phương pháp giáo dục tích cực xuất phát từ các nghiên cứu về não </b></i>
<i><b>trong giai đoạn từ 0-6 tuổi</b></i>
cảm xúc hay sáng tạo. Hai bên tuy có chức năng khác nhau đối lập nhưng hoạt động
bổ trợ lẫn nhau trong một chỉnh thể tinh vi.
Cũng theo hướng nghiên cứu đó, một số tác giả đi sâu nghiên cứu về hoạt động
chức năng của não phải trong giai đoạn từ 0-6 tuổi như Maria Montessori (1950);
Daniel H. Pink (2007); Glenn Doman (1950), Daniel Siegel-TinaPayne Bryson (2006);
Chales H. Cranford (2014); Makoto Shichida (1960) đều chung nhận định: Giai đoạn
từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn vàng để phát triển não phải. Hầu hết các tố chất thiên
bẩm đều thuộc về não phải, nếu bỏ qua giai đoạn này khơng có những tác động kịp,
đúng thì các tố chất đó sẽ khơng được kích hoạt hoặc sẽ thui chột. [1.2.5]
Xuất phát từ cơ sở khoa học về nghiên cứu não bộ đặc biệt là chức năng não phải
trong giai đoạn 0-6 tuổi rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu tìm các PPGDTC nhằm
tác động vào não bộ đứa trẻ ngay từ giai đoạn thai kỳ, giúp kích hoạt tối ưu chức
năng não phải, giúp cân bằng hai bán cầu não. Trong số đó có thể kể như: PPGDTC
Sau khi nghiên cứu các tài liệu theo nhóm này tác giả nhận ra rằng: Các vấn đề
thuộc về nhận thức xuất phát từ bộ não. Các tiềm năng tố chất mang tính sáng tạo,
hầu như đều tập trung ở não phải. Điều quan trọng hơn là não phải sẽ phát triển tối
ưu nhất khi được kích thích trong giai đoạn trẻ từ 0 – 6 tuổi. Các nhà nghiên cứu gọi
là “Giai đoạn vàng” để phát triển não bộ. Mặt khác 5 giác quan (thị, thính, khứu, vị,
xúc giác) là trung gian truyền tải thông tin qua lại giữa não và thế giới bên ngồi.
Do đó để giúp trẻ phát triển các yếu tố thuộc về nhận thức các nhà giáo dục nên có
những phương pháp giáo dục tích cực nhằm kích thích các giác quan được luyện
tập, được trải nghiệm càng nhiều càng tốt. Qua q trình đó mức độ cảm nhận của
các giác quan ngày càng trở nên tinh vi hơn, nhạy bén hơn. Khi các giác quan cảm
nhận càng tốt về bản chất của sự vật hiện tượng thì trên não q trình phân tích,
nhận thức càng tốt bấy nhiêu.
<i><b>3.2. Nhóm phương pháp giáo dục tích cực xuất phát từ những kinh nghiệm </b></i>
<i><b>nuôi dạy con đạt kết quả </b></i>
Hướng này có rất nhiều chia sẻ, tác phẩm, tài liệu cả trong và ngoài nước, đặc
biệt một số nghiên cứu đại diện như <i>Phương pháp dạy con của người Do Thái</i> của Trần
Hân (2013), <i>Phương pháp giáo dục con của người Nhật</i> của Sugiyama Kouichi (2013),
của Kokyuawo, Mika Wakuda (2017), <i>Phương pháp giáo dục con ở Mỹ</i> của Trần Hân
(2013), Machado, Giang Quân (2006), ở Việt Nam của tác giả Hồ Thị Hải Âu (2015)
và nhiều phương pháp giáo dục con ở nhiều nước khác. [3,4]
kinh nghiệm truyền thống, theo nhận thức và mong muốn riêng về cách nuôi dạy
con của các bậc cha mẹ. Tựu chung con cái của họ đều đạt được theo mong mỏi của
Có thể thấy, mỗi cha mẹ ở mỗi đất nước dân tộc khác nhau trên thế giới đều có
những cách dạy con ít nhiều có những khác nhau nhưng nhìn chung họ đều nhận
thức được giá trị, tầm quan trọng của giai đoạn sơ khai từ 0-6 tuổi là một giai đoạn
rất quan trọng. Họ đều có những chuẩn bị tốt, tìm hiểu đọc rất nhiều tài liệu, tự đúc
kết áp dụng dạy riêng phù hợp với trường hợp cụ thể của con mình. Họ tập trung
tìm mọi cách để phát triển 5 giác quan cơ bản như thính, thị, khứu, xúc, vị giác của
trẻ bằng cách tạo điều kiện môi trường kích thích để trẻ được trải nghiệm luyện tập
các giác quan, giúp các giác quan phát triển và đạt đến độ cảm thụ cảm nhận tốt
nhất tinh tế nhất. Điều cốt lõi cuối cùng, con cái đều phát triển rất tốt các yếu tố về
tư duy, trí tuệ, các phẩm chất tích cực từ rất sớm, có thể nhận thức, tiếp thu rất tốt
về ngôn ngữ, về âm nhạc, nghệ thuật, vận động trở thành những đứa trẻ xuất chúng
trong xã hội.
Đánh giá chung về cả hai nhóm phương pháp giáo dục tác giả thấy rằng, giai
đoạn trẻ mầm non là giai đoạn quan trọng, mọi sự hình thành phát triển tích cực hay
không đều ở đây. Dù xuất phát từ cơ sở nào thì cũng đều đúng với đặc điểm tâm
sinh lý lứa tuổi và những cơ sở khoa học não bộ. Các PPGDTC trên đều có những ưu
<b>4. Thực trạng tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ tại trường mầm non</b>
trạng tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ tại trường mầm non. Để tìm hiểu thực
trạng tác giả tập trung khảo sát: trình độ năng lực giáo viên mầm non; điều kiện về
cơ sở vật chất, môi trường để tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ; các yếu tố liên
quan đến phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ.
Sau đây là một số kết quả và nhận định về thực trạng:
<i><b>4.1. Trình độ năng lực giáo viên mầm non hiện nay</b></i>
Qua nguồn tài liệu là báo cáo số liệu hằng năm của Phòng Giáo dục và trường
mầm non tác giả tìm hiểu mặt bằng trình độ về bằng cấp (với tiêu chí đạt chuẩn và
trên chuẩn) của giáo viên, mặt khác qua khảo sát 130 đối tượng là giáo viên bằng
bảng hỏi riêng để thẩm định lại mức độ trung thực trong các báo cáo so với thực tế
và quan trọng đánh giá năng lực thực của giáo viên thể hiện qua việc có ý thức tự
học, tự bồi dưỡng, tự cập nhật thông tin chuyên môn thường xuyên qua các kênh
thông tin hay không.
Về kết quả trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên: Mặt bằng chung trình độ đạt
chuẩn trình độ trung cấp mầm non 100%, cao đẳng, đại học đạt 43%, cao học đạt
0,5%. Nếu so sánh mặt bằng chung về trình độ của GVMN với các nước trên thế
giới là rất hạn chế. Ở các nước có nền giáo dục phát triển, GVMN phải đạt trình độ
từ đại học trở lên hoặc từ thạc sĩ. Về năng lực của GVMN nhìn chung khá thụ động
trong sáng tạo, ý thức tự nâng cao năng lực, tự học tự bồi dưỡng, cập nhật kiến thức
chuyên mơn cịn khá hạn chế. Thêm vào đó theo khảo sát gần đây về thực trạng năng
lực tự học của giáo viên, cụ thể hơn là khảo sát về năng lực của giáo viên mầm non
<i><b>4.2. </b><b>Khảo sát thực trạng điều kiện cơ sở vật chất, môi trường tổ chức hoạt </b></i>
<i><b>động nhận thức cho trẻ tại trường mầm non</b></i>
Qua quan sát và các tài liệu báo cáo của 5 trường mầm non, của các Phòng Giáo
dục và phỏng vấn các lãnh đạo, quản lý trường, tác giả tìm hiểu các số liệu về xây
dựng, về qui hoạch cùng các thiết kế của trường, tìm các nguồn kinh phí xây dựng,
trùng tu trường. Kết quả sơ bộ: 4/5 cơ sở trường lớp xuống cấp, phòng học chật so
với sỉ số trẻ (45-55/lớp/40-50m2<sub>); Sân chơi đa phần đều thiết kế theo kiểu bê tông </sub>
quyết toán nhanh các khoản sửa chữa là chậm nên vấn đề xuống cấp nhanh là một
hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy cơ sở vật chất và các điều kiện về môi trường là
khá hạn chế ảnh hưởng khơng ít đến việc tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ. Ví
dụ sân chơi phần nhiều là bê tông sẽ hạn chế việc trẻ khám phá, hạn chế nhận thức
của trẻ, sĩ số trẻ đông không đảm bảo hiệu quả trong việc giáo viên bao quát tốt trẻ
khi tổ chức hoạt động.
<i><b>4.3. Các yếu tố về phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức </b></i>
Qua nguồn tài liệu chuyên môn mầm non, tài liệu sổ sách của giáo viên, qua
quan sát trực tiếp hoạt động của cơ và trẻ tác giả có những ghi nhận:
- Nội dung: Vẫn chú trọng cung cấp kiến thức hơn là rèn các kỹ năng nhận
thức cho trẻ. Khơng chú trọng tạo điều kiện, tình huống, mơi trường cho trẻ được
- Phương pháp: Vẫn lồng ghép các phương pháp giáo dục nhưng nhìn chung
lượng hoạt động của trẻ vẫn không nhiều, giáo viên vẫn theo cách giảng giải quá
nhiều. Tỉ lệ trẻ thụ động còn cao trong các hoạt động. Chưa thực sự động viên kích
thích được tính khám phá, sáng tạo tích cực chủ động của trẻ.
- Hình thức: Vẫn nặng hình thức trao đổi tương tác hai chiều, cô hỏi trẻ trả lời,
giáo viên chưa mạnh dạn buông thả cho trẻ hoạt động tự do khám phá theo cách của
trẻ. Hình thức tập thể lớp học vẫn chủ đạo hơn là một gia đình lớn thu nhỏ. Hoạt
động vẫn cịn thể hiện sự thụ động gị bó khn khổ.
- Cách đánh giá: Còn đơn điệu và chỉ thuần đánh giá mặt thể chất thông qua
các số liệu cân đo hàng tháng. Còn các mặt về nhận thức giáo viên nhận xét khá qua
loa thể hiện trong sổ bé ngoan của trẻ hàng tháng.
- Kết quả trên trẻ: Khá mờ nhạt, trẻ hầu như thụ động, khả năng giải quyết tình
huống có vấn đề hạn chế, các thao tác kỹ năng về tư duy còn khá chậm, thiếu linh
hoạt, sáng tạo, hoạt động thiếu tính tích cực, chủ động, khám phá, thường có tâm lý
ỷ lại, mệt mỏi trông chờ cô.
<b>5. Vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận </b>
<b>thức cho trẻ mẫu giáo</b>
Căn cứ vào tổng quan sơ bộ về các PPGDTC, về tổ chức hoạt động nhận thức
cho trẻ và thực trạng tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ tại trường mầm non, bài
viết đề xuất qui trình vận dụng các PPGDTC trong tổ chức hoạt động nhận thức cho
trẻ mẫu giáo như sau:
<i><b>Mục đích:</b></i> Giúp trẻ thơng minh, linh hoạt giải quyết các tình huống có vấn đề,
tích cực chủ động sáng tạo trong các hoạt động, khám phá tìm tịi thế giới xung
quanh.
<i><b>Nội dung</b></i>
- Hình thành và phát triển các kỹ năng, thao tác về tư duy nhận thức vấn đề
như: phân tích, so sánh, quan sát, khái quát hóa, tổng hợp, ghi nhớ, chú ý…
- Phát triển khả năng cảm nhận ở mức tốt nhất cho 5 cơ quan cảm giác (khứu,
thính, thị, vị và xúc giác).
- Rèn luyện tính tích cực, tự chủ tự lập thông qua các các hoạt động nhận thức.
<i><b>Phương pháp</b></i>
- Phương pháp trực quan: Trẻ được quan sát, được tiếp xúc với các tác nhân,
mơi trường kích thích để rèn luyện các giác quan.
- Phương pháp thực hành: Trẻ được trải nghiệm thường xuyên liên tục trong
mơi trường kích thích để tăng độ cảm nhận cảm thụ của các cơ quan cảm giác lên
mức tốt nhất.
- Phương pháp dùng lời: Trẻ được tự do thảo luận trao đổi thông tin, kiến thức,
cách thức… trong q trình hoạt động.
- Phương pháp động viên, khuyến khích: Trẻ được khuyến khích mạnh dạn
khám phá, sáng tạo, tích cực chủ động trong mọi hoạt động.
- Phương pháp <i>vết dầu loang</i>: Trẻ được thể hiện bản thân, được chỉ dạy lại bạn
hoặc các bạn nhỏ hơn yếu kém hơn.
<i><b>Hình thức</b></i>
- Giáo viên phải quan sát, chú ý sự biến chuyển thay đổi của trẻ mỗi ngày thông
qua cách giải quyết vấn đề, cách vận dụng các thao tác kỹ năng hoạt động nhóm,
cách diễn đạt ý tưởng và các ý tưởng của trẻ, tính tích cực, linh hoạt khi khám phá
giải quyết tình huống.
- Giáo viên ghi chép cập nhật, chú thích ngay, thường xuyên, kịp thời một cách
ngắn gọn, dễ hiểu khi quan sát trẻ.
- Giáo viên lập các phác đồ thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức của trẻ theo giai
đoạn tính bằng tuần.
- Thường xun trao đổi thơng tin với gia đình về tình trạng nhận thức của trẻ
tại nhà để có thêm cơ sở đánh giá, tìm ngun nhân để có cách thức, hình thức linh
hoạt tác động đến trẻ có hiệu quả hơn trong các hoạt động tiếp theo.
<i><b>Tiêu chí đánh giá</b></i>
Dựa trên 5 tiêu chí cơ bản:
- Mức độ cảm nhận, cảm thụ, nhận biết của 5 cơ quan cảm giác: Ví dụ về vị giác
trẻ nhận biết được càng nhiều vị càng tốt, về thính giác trẻ cảm nhận, nhận biết được
nhiều âm thanh khác nhau, về thị giác cảm nhận, nhận biết nhiều màu sắc hình dạng
- Mức độ phát triển các kỹ năng thao tác tư duy: Ví dụ về kỹ năng quan sát: trẻ
quan sát qua loa hay chăm chú, kỹ năng phân tích vấn đề: trẻ đưa ra nhiều giải thích,
nhận định hay ít, kỹ năng tổng hợp khái quát: trẻ gọi tên sự vật có mang nhiều đặc
điểm chung, đặc trưng cho nhóm hay khơng.
- Mức độ linh hoạt trong giải quyết vấn đề: Cách giải quyết của trẻ có kịp thời,
có tối ưu cho tình huống hay khơng, có quyết đốn hay khơng.
- Mức độ duy trì tính tích cực chủ động trong giải quyết vấn đề: Trẻ có kiên
nhẫn suy nghĩ tìm phương án giải quyết hay không.
- Mức độ thể hiện cảm xúc tích cực của trẻ: Trẻ có vui vẻ, cởi mở, biết phối hợp
nhóm để tìm cách giải quyết hay cáu giận, mâu thuẫn bất đồng ý kiến với nhóm.
<i><b>Nguyên tắc vận dụng</b></i>
- Luôn tôn trọng mọi sản phẩm do trẻ tạo ra, từ sản phẩm tạo hình, nghệ thuật
của trẻ đến các thành quả trẻ đạt được như: trẻ chải tóc, trẻ mặc quần áo ngược cũng
khơng can thiệp, chỉ góp ý để trẻ cố gắng tự điều chỉnh lần sau. Chấp nhận sản phẩm
và thành quả chưa được tốt của trẻ.
- Yêu thương, quan tâm trẻ chân thành, kiên nhẫn với mọi thắc mắc của trẻ.
- Chấp nhận mọi đặc điểm cá tính của trẻ, khơng dùng hình phạt bạo lực, nhục
mạ, ám thị chê trách, chỉ nên góp ý động viên trẻ làm lại vào lần sau. Kiên nhẫn tìm
hiểu gần gũi chia sẻ tạo cảm xúc tích cực cho trẻ.
<b>Các hoạt động nhận thức của trẻ</b>
<i>Các hoạt động chính</i>
- Hoạt động tráo thẻ;
- Hoạt động vận động có sáng tạo;
- Hoạt động đọc sách, học chữ tiếng Việt;
- Hoạt động trải nghiệm;
- Hoạt động thiền;
- Hoạt động hình thể;
- Hoạt động nghệ thuật ( tạo hình, âm nhạc, văn học).
<i>Mô tả các hoạt động</i>
- Hoạt động tráo thẻ: Giáo viên sử dụng hệ thống các thẻ về hình, chữ số, chữ
tiếng anh, tiếng việt, chấm trịn... (kích thước thẻ có thẻ tham khảo theo các PPGDTC
kể trên, như của PPGD Glenn Doman)
- Hoạt động vận động có sáng tạo: Trẻ sử dụng bộ đồ chơi có thể tháo lắp ghép
tự do để tạo ra cái trẻ muốn chơi. Ví dụ trẻ có thể lắp ghép ngôi nhà chui ra chui vào,
lắp ghép cầu khỉ, cầu tuột, đường đi…
- Hoạt động đọc sách - học chữ tiếng Việt: Trẻ sẽ được làm quen và dần hình
thành kỹ năng đọc sách, thói quen u thích sách, làm quen các con chữ tiếng Việt
một cách vô thức.
- Hoạt động trải nghiệm: Trẻ tự giác căn cứ vào bảng phân công công việc của
trẻ để tự chuẩn bị các hoạt động phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của chính trẻ như
chuẩn bị giờ ăn, quét, lau dọn phòng… thời gian thực hiện bắt đầu từ giờ đón đến
giờ về của trẻ.
cười, không suy nghĩ, tập trung nghe nhạc thiền. Sau đó trẻ được ngủ và chìm trong
nhạc thiền.
- Hoạt động hình thể: Trẻ được chơi các trị chơi phối hợp tay nọ chân kia, chơi
các ngón tay để giúp kích hoạt não bộ và cân bằng não.
Hoạt động nghệ thuật: Trẻ được tự do thể hiện ý tưởng, suy nghĩ thể hiện qua
sản phẩm tạo hình, qua các vận động theo nhạc…
<i>Cách tổ chức</i>
- Giáo viên linh hoạt sắp xếp dàn trải 7 hoạt động cho các múi giờ trong 1 ngày,
khơng bó hẹp chỉ tổ chức vào 1 buổi sáng.
- Các hoạt động phải đảm bảo tính thường xuyên liên tục.
- Giáo viên phải có sự ghi chép cẩn trọng việc quan sát trẻ về nhiều mặt như
hứng thú, ngôn ngữ, cách phối hợp, cách giải quyết vấn đề của trẻ như thế nào, phải
nhận ra được sự thay đổi dù tốt hay không của trẻ.
- Nhắc trẻ thực hiện nhiệm vụ đã phân cơng để tạo cho trẻ có thói quen nề nếp,
có ý thức trách nhiệm trong cơng việc.
Tóm lại, trong phạm vi bài viết ngắn tác giả giới hạn nội dung ở mức độ giới
thiệu về qui trình vận dụng các PPGDTC trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ
thông qua 7 hoạt động cơ bản. Hệ thống các hoạt động này là sự vận dụng linh hoạt
từ những nghiên cứu bước đầu của tác giả nên sẽ còn cần phải tiếp tục nghiên cứu
<b>6. Kết luận</b>
Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan luôn thay đổi tác động vào ý
thức nhận thức của con người thông qua cảm nhận, nhận biết của 5 giác quan. Từ
đó hình thành ý thức hệ cho chính mỗi cá thể nhận thức được nó. Tùy vào mức độ
nhạy cảm nhận biết tốt, tinh tế của các giác quan mà hình ảnh của thế giới quan được
phản ánh một cách phong phú trong ý thức con người bấy nhiêu. Do đó việc quan
trọng không phải là nhồi nhét kiến thức vào não đứa trẻ mà phải biết cách tạo môi
trường kích thích để các giác quan được rèn luyện, tức với trẻ mầm non giáo viên
phải biết tổ chức hoạt động nhận thức sao cho trẻ được trải nghiệm, khám phá càng
nhiều càng tốt.
trẻ tại trường học. Cuối cùng bài viết trình bày cơ đọng qui trình vận dụng PPGDTC
trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo. Kết quả bài viết có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho giáo dục mầm non, cho đối tượng là cha mẹ quan tâm
đến phát triển năng lực nhận thức con trẻ tại gia đình.
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b>
1. Charles H. Cranford (2014) <i>Phát triển não phải</i>, bản dịch NXB Văn hóa - Thơng tin.
2. Maria Motessori (2014), <i>Giáo dục vì thế giới mới</i>, NXB Tri thức.
3. Trần Hân (2013), <i>Phương pháp giáo dục con của người Do Thái,</i> NXB Hồng Bàng.
4. Trần Hân (2013), <i>Phương pháp giáo dục con của người Mỹ</i>, NXB Văn hóa - Thơng
tin.
5. Glenn Doman, Janet Doman (2013), <i>Dạy trẻ thông minh sớm</i>, Mai Hoa dịch, NXB
6. Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Bùi Hiền (2001), <i>Từ điển </i>
<i>Giáo dục học</i>.
7. Nguyễn Văn Tường (2010), <i>chuyên đề: Tâm lý học nhận thức</i>, Trung tâm Nghiên
cứu tâm lý trẻ em.
8. Hoàng Phê (2018), <i>Từ điển tiếng việt</i>, NXB Hồng Đức.
9. Phan Thị Hồng Vinh (2010), <i>Phương pháp dạy học, giáo dục học</i>, NXB Đại học Sư
phạm.
<i>10. Từ điển triết học</i>, NXB Tiến bộ, 1986.
<b>Abstract:</b> Today, there are many methods of education that help children develop
comprehensively according to their competencies, which are widely applied in
the world and in Vietnam. In particular, for preschool education, the selection
and application of appropriate methods of active education are important to
the cognitive development process of children. Therefore, the article focuses
on research on the group of active educational methods in educating cognitive
characteristics of preschool children, the environment and conditions for organizing
cognitive activities for children. On that basis, the article proposes the process of
selecting and applying positive educational methods in accordance with preschool
educational practice in our country today. Research results of the article can serve
as a scientific basis for teachers and preschool institutions to refer and apply to