Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Hành trình thơ văn - Hành trình dân tộc - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (Phần 1)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.45 MB, 101 trang )

1/^1
TRUNG TÀM
THỔNCỈ T IN -T H L V IỆ N

818.4
p l8 6 5 L n /0 3

DX.015524

HONG LÊ

,N ÁI QUÓC

HỔ CHÍ MINH
hẨnh

T R ÌN H
THƠ
VĂN

I

HÀNH
T R ÌN H
DẬN
TỘC

J ilỊ

DX.015524


lí.

NHÀ XUẤT BẦN ĐẠI HỌC QUốC GIA HÀ NỘI



PHONG LÊ

/

NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH

Hành trình thơ văn Hành trình dân tộc

NI ỈÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI



M ưc LỤC
Lời nó đầu
I. Ngü'i giai quyết những so le lịch sử
II. Nh. cách mạng và từ cuộc đòi hoạt động
cách nạng
III. Hàih trình thơ văn - Hành trình dân tộc
1. ]ản án và Ngùời kết án
2. ^ênm và con đường gắn nôi ước mơ
'à hiện thực
3. ỉử và thơ - khoa học và nghệ thuật
'Ách mạng
4. ’hơ trong tù - Người tự do

5. iỉi non nước
6. Ígvíời là Cha, là Bác, là Anh
ÍV. Đa ỉạng và nhất quán
V. Nh, văn hóa Việt Nam
1. )anh nhân và xứ sỏ
2. '"ăn hoá và cách mạng
3. Ihà văn hoá Việt Nam
4. Thà thd không chủ định
5. lự nghiệp viết của Hồ Chí Minh và
'ành trình của Chân-Thiện- Mỹ
VI. Goi người đẹp nhất
V ít ĐũQ-kết

7
9
39
65
68
78
88
94
103
107
116
157
157
166
174
185
195

201
223



LỜI NĨI ĐẦU
Trẽn hàih trình hướng tới một nhận thức biện
chứng và tom diện nền văn học hiện đại Việt Nam,
cảm nhận đỉợ những giá trị trong di sản gần và xa
của dân tộc, niững giá trị được kết tinh, những đỉnh
cao của văn cìương - học thuật dân tộc là niềm vui
khám phá cm Igười làm công tác nghiên cứu văn học,
là cảm hứngthim mỹ của người Việt Nam, m ang trong
lòng niềm tụhio dân tộc suốt đả bốn nghìn năm. Tác
giả cuốn sáci nuốn làm một tổng hỢp những gi ông đã
thâu nhận, t'cỉ luỹ trong hơn 40 năm cầm bút, đồng
thời là kết qiả "ỉỉa sự nhận thức lại vấn đề dưới ánh
sáng công cutc ¿ổi mới.
Và, theo iài h trinh xuyên suốt th ế kỷ, nền văn học
Việt Nam théh X X đã có những khởi động quan trọng
nhăm hướng’^^ỚIsự gần gũi và gắn bó với những vấn đề
chung của ứ ế ỊÌỚi hiện đại. N hà học giả đã bỏ nhiều
tâm huyết đêdụig lại chân dung của một trong những
con người lôi ạc đã làm vẻ ưang cho nền văn học thê kỷ
này - đó chíiĩK h nhà cách mạng, ưị lãnh tụ vĩ đại của
dán tộc ta - Ciủtịch Hồ Chí Minh.
7


N guyễn Á i Quốc - H ồ C hí M inh: H à n h tr ìn h

th ơ văn - H à n h tr ìn h d â n tôc. Cuốn sách này muôn
làm. sáng tỏ chân dung văn học Hồ Chí Minh trong tầm
vóc của một Anh hùng dân tộc và Danh nhân văn hoá,
người đứng ở đỉnh cao nền văn thơ cách m ạng Việt
Nam, người gắn một cách tuyệt ười cả hai phương diện
văn hoá và cách mạng, cả hai yêu cầu cách m ạng hoá
và hiện đại hoá.
Hy vọng cuốn sách này sẽ giúp các nhà nghiên cứu,
sinh viên và học sinh hiểu sâu hơìi về phương pháp
sáng tác, quan niệm thẩm mỹ và nhân cách của nhà
văn hố lớn Hồ Chí Minh.
NHÀ XUẤT BẢN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

8


ỉ. NGƯỜI GIẢỈ QUYẾT
NHỦ>JG SO LE LỊCH sử
Đã xuít hiện và diễn biến một tình thê khủng
hoảng lốn tt'oag đời sơng chính trị và địi sơng văn học
dân tộc Viậ Nam những năm đầu thê kỷ XX.
Tự lực :ứu nước hay tìm sự cầu viện ở nước ngồi?
Cầu viện tiì nhằm vào ai? Những đồng chủng, đồng
bang hav ihững “người tơt” của phương Tây? Chọn
cách hành động ơn hồ hay bạo lực? Chọn chính thể
dân chủ ha' quân chủ?
Một cu')c khủng hoảng làm lay động dữ dội đời
sống tinh tiần của cả dân tộc. Và văn học, cũng như
các hình thu ý thức khác, cũng chứa đựng và diễn biến

tinh thần nột cuộc biến động như vậy.
Trước sĩ xâm lăng và ách đơ hộ của thực dân, ngay
khi tiếng síng của chiến thuyển Tây dương nổ vào
những thôr làng, và nhằm vào da thịt “ngưòi bản xứ”,
văn học đã thổi bùng và không lúc nào nguội tắt một
niềm căm tiù lốn. Niềm căm thù đó như rừng rực như
thiêu đốt trtng thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
Bữa thóợ bịng bong che trắng lốp,
muốn tới ăn gan;
Ngày xen ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
(...)

Bởi ngìĩ rằng: Tấc đất ngọn rau ơn chúa, vun
9


trống cho n.ước nhà ta. Bát cơm manh áo
mớ chi ông cha nỏ.

ĩiỢ

đời, măc

(V ã n t ê n g h ĩ a RĨ o á n ( ỉ i u ộ r ) '’

Một ngôn từ không cần “lịch sự”, khơng cần che
giấu sự khinh ghét cịn thấy ngay ở cả một bài ai điếu
trong thơ văn “khuyết danh” dành cho một võ quan
“mắt xanh lè”, “mũi thị lõ”:
Khơn nạn thân ơng

Đ... jnẹ cha nó!
(Vêin tế Francis Garnier)

Niềm căm thù ấy càng bốc mạnh trong thơ của biết
bao chí sĩ buổi đầu thế kỷ XX:
Nghĩ lắm lúc bầm gan tím ruột
Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra
Cũng xương củng thịt củng da
Củng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long
(Bài ca Á td Á ca)'“

Cơm xào thịt giặc mới no
Bát cơm nêm giọt m áu thủ mới cain'^‘
Căm thù và chối bỏ, phủ nhận đến mức kịch liệt:
Thà đui mà giữ đạo nhà
Cịn hơn có mắt ơng cha khơng
Dẫn theo Nguyễn Đình Chiểu, Tồn tập, tập ỉỉ, h^b. Đại học và
Trung học chuyên nghiệp, 1982, trang 26, 28.
Bài ca Á tê Á ca (1905-1906); Khuyết danh, in tronỊ Văn thơ cách
mạng Việt Nam đầu thê kỷ XX của Đặng Thai Mai Nxh. V'ã;i hóa^
1961, tr. 273.
Dẩn theo Hồi Thcinh: Phan Bội Châu, Nxh. Va/7 h()o, 1)78 tr. 5Ỡ.
Nguyễn Đinh Chiếu: Dương Từ Hà Mậu.

10


Thâtn 'hí đến mức cực đoan, đến mức tất cả những
gì của Tâ' dương, hoặc gắn với Tây dương đều bị tẩy
chay - từ văn minh cơ khí đến xà phòng, chữ Quốc

ngữ...
Cùng ‘ới niềm căm thù lốn, là một tấm lịng u
nước nồagnàn. Có dễ chưa bao giờ trong lịch sử, khái
niệm Nưố( lại ngân vang thông thiết như vậy. Có phải
bây giị sự hật mất nước là q phũ phàng, sự thất bại
và những hảm họa mà kẻ thù gây ra là quá lốn, đã
xúc phạm /ào những cõi thâm sâu của ý thức dân tộc.
Và dân tộc là một khái niệm không trừu tưỢng. v ẫn là
non sơng gìni ^^óc, là truyền thơng tơ tiên, là văn minh
lâu địi... ^hưng lần này có thêm một sự cụ thế hố và
tha thiết hJn tl’ong hình ảnh người dân. Một lòng yêu
nưốc gắii
dân, nước vối dân quấn quýt với nhau, từ
người nơnị dân trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu:
Việc CIÔC việc cày, việc bừa việc cấy, tay vốn quen
làm;
Tập khên tập súng, tập mác tập cờ, măt chưa từng
ngó
(...)

Ngồi (ật có một manh áx) vải, nào đợi mang bao tấu
bầu ngịi;
Trong ay cầm một Iigọn tầm vơng, chi nài sắm dao
tu nón gõ.
(Văn tơ nghĩa sĩ cầ n Giuộc)

])ân tnng quan hệ VỚI Nước, và Dân trong một khái
niệm đưỢc nỏ rộng hơn, càng có gì gắii bó xương thịt hơn
vào đầu th( kỷ XX;
11



Dân là dân nước, nước là nước dân
Nước là cảnh sắc q hương, hình sơnẹ th ế núi.
Nước cịn là cái gì sống động, biêt cảm xúc, và đang cựa
quậy:
Hồn cơ'quốc, vẩn vơ vơ vấn
Khơn tim đường dị nhắn hỏi han
Bâng khng đỉnh núi chân ngàn
Khỏi tn khí uất, sóng cuồn trận đau
(Hải ngoại hut thư)

Ngồi mn dặm mơ màng chiếc bóng
Khách bồ đào giấc mộng tha hương
Trong vời một giải N am bang
Nghìn năm nước cũ tìm ph ương hồn về
(Hải ngoại huyêt thư)

Nước mất khác nào một con người hồn ròi khỏi xác.
Nhưng hồn chưa dứt hản; và do vậy điều khẩn thiết là
phải đưa hồn về:
Than ôi! Cái vạ chết lịng
Xác kia chất đó cịn mong nỗi gi!
Anh em chữa thuốc chi cho sống'?
Xin đem ngay máu nóng đổ vào
Kề tai gọi giật cho mau
Thị phi, họa phúc cùng nhau giãi bày
Mõ chuông là cái lưỡi này
Lôi đinh trên ngọn bút này nổi lên
(Gọi hồn quôi; dân)


Như vậy, niềm căm giận và lòng yêu nưốc ở buổi
12


đầu thê^y XX này không những là sự tiếp tục. mà cịn
có mặt lơng thiết hơn, cụ thế hơn so với nhữnẹ gì đã có
trong ti^ ển thống văn thơ,
Théihiíng, khác với nhiều giai đoạn trước đây, sự
tiếp tụ(và có mặt sâu hơn của tình cảm vêu nước đó
giị đây hòng còn đủ nữa đê giải quyết các yêu cầu mới
của lịch ử.
Mộtiiềm căm thù lớn không thôi, chưa đủ. Vì cùng
với căm hù. cịn phải hiểu đúng và hiểu kỹ kẻ thù. Vì
việc nhn mặt kẻ thù, khơng thể chỉ dừng lại ỏ bộ mặt
tàn bạo'ua mấy viên quan “khai hố” và cai trị, mà
cịn là, à phải là sự nhận thức vê “phương thức sản
xuất tư>an chủ nghĩa’’ trong “tính tất yếu” của sự ra
đời và s diệt vong của nó, trong “tính chất bên trong,
cịn ẩn íấu của phương thức ấy”, vì nói như Ảngghen,
“sự phê ihán” địi hỏi khơng chỉ dừng lại ở “những hậu
quả tai lại của nó”, mà phải “nhằm vào chính thực
chất củ&nó”'”.
Một 'hí u nước lớn và có ít nhiều đổi mới, do tác
động củ. thịi đại, cũng chưa đủ. Vì cùng với lòng yêu
nước, ch quỊ^ết tâm. hi sinh, còn phải biết tìm cho ra con
điíịng vi cách thức để cứu nước.
Một ự kết hợp giữa căm thù và yêu nưốc, hai trạng
thểii lớn ủa tình cảm, tìm được sự thể hiện thông thiết
và trọn \?n ở Phan Bội Châu —người mà văn thơ đã gây

bao chấr động trong đời sông tinh thần của dân tộc suôt
mấy chự năm đầu thế kỷ, làm sục sôi bao nhiệt huyết.

Chống

Sựỉ/ĩật. H. . Ỉ960, tr. 44.

13


và gây kinh sỢ cho đê quôc —vần không đủ nữa.
Tiêng nói của con tim, sự dồn nén và bùng nó củỉ
cảm xúc bên troiig, niềm >’êu ghét dâng lên ỏ' cun^ bậ(
cao, là điều mà vãn thơ qua nhiều giai đoạn lịch sử đt
có khả năng phơ diễn. Nhưng qua mấy nghìn năm dướ
chế độ phong kiến, trong cùng khuôn khổ một phươnị
thức sản xuất, và trưốc một kẻ thù vẫn chỉ là đôi thủ
là khuôn m ặt quen thuộc củ, dân tộc ta, do huy độnị
được sự đồng tâm và chí quyết tâm, nên đã nhiều pher
đẩy lui hoặc đánh ngã được kẻ thù. Chủ nghĩa anl
hùng và kinh nghiệm giữ nước quen thuộc đủ cho tí
đứng vững và tồn tại, nhưng là tồn tại trong phươnị
thức sản xuất cũ. Cịn lần này, tình thê đã đơi khác
Lần này cuộc chiến đấu của dân tộc đứng trước một đị
hỏi mối: khơng chỉ lật đổ ách của kẻ thù bên ngồi, mí
cịn phải đuổi kịp thịi đại, phải đưa dân tộc lên vị tr
người đồng thời với nhân loại tiến bộ. Và kẻ thù cũng lí
một khn m ặt với tiềm lực và những trang bị khá(
trước, một kẻ thù đến từ xa; và sự so sánh mạnh - yếu
hơn - thua giữa địch và ta trước mặt là so sánh giữỉ

“mã tấu”, “dao phay” với “thuốc súng”, “chiến thuyền'
có thê đưa lại những thắng lợi cục bộ; nhưng cán bar
và sâu xa là sự so sánh về phương thức sản xuất Xỉ
hội. Đứng trước so sánh này thì chê độ phong kiếr
trong tình trạng quá kéo dài ở đất nưốc ta, và cô lậỉ
trưốc sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuậ
trên thê giói, quả phải đứng trước một tình thê chec
leo, nguy hiểm.
•Tất cả sự nhận thức đó, chưa phải là điều mí
những ngitịi u nước và cách mạng của chúng tí
14


trong tai thập niên đầu thê kỷ đã có thê hiểu và phân
tích nổ.
-k

*

Hìr.h thế mới của lịch sử - bối cảnh mà một bộ
phận lởn nhân loại đang trải qua lúc này, đó là chủ
nghĩa tư bản đang trên đường đi vào thời kỳ đê qc
chủ nghĩa. Hình thê đó đã được những nhà khoa học vĩ
đại cia giai cấp vơ sản phân tích, từ 1848, tï’ong Tun
ngơn của Đảng Cộng sản: ‘‘Nhờ cái tiến mau chóng
cơng cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao
thông trỏ nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuôn
đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu văn
minh. Giá rẻ của những sản phẩm của những giai cấp
ấy là những trọng pháo bắn thủng tất cả những bức

vạn 1/ trường thành, và buộc những ngưòi dã man bài
ngoạ] ương ngạnh nhất cũng phải hàng phục. Nó buộc
tất CL các dân tộc phải theo phương thức sản xuất tư
sản, lếu khơng sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân
tộc phải du nhập cái gọi là vản mmh, nghĩa là phải trỏ
thanh tư sản...
... Cũng như nó đã bắt nông thôn phụ thuộc vào
thanh thị, những nước dã man hay nửa dã man phụ
thuộc vào các nước văn minh; nó đã bắt những dân tộc
nơng iân phải phụ thuộc vào những dân tộc tư sản, băt
phươig Đông phải phụ thuộc vào phương Tây,..”*'*.
Mác-.Mighen Tuyển tập, tập ỉ, Nxb. Sự thật, H. 1970, tr. 73.

15


Điều rõ rànẹ là dầu mũn hay khơng, một bộ phận lớn
của nhân loại, và bây g là phương Đơng, sớm hay
muộn rồi cùng bị cuôn vào guồng quay của chủ n^hĩa
tư bản. Và do vậy sự đối đầu cúa một dân tộc cịn ỏ
trình độ lạc hậu, và trong tình trạng cơ đơn, riêng lẻ,
dù kiên cưịng đến đâu cũng khơng đủ nữa. Tình thê
đối đầu đó, giị đây phải tìm thấy sức mạnh ở sự liên
minh quốc tê, với những lực lượng cách mạng trên thê
giới - một sự liên minh, mà ngay từ giữa th ế kỷ XIX,
Mác đã nêu lên như một rnệnh lệnh của thòi đại: “Vơ
sản tồn thê giới liên hiệp lại!”.
Khủng hoảng trong đời sơng cách mạng của dân
tộc đầ thê kỷ là một khủng hoảng về đường lối, một
sự trống thiếu về lý luận, về tri thức cách mạng.

Thực ra không phải những nhà cách mạng đầu thế
kỷ đã khơng có sự nhạv cảm trước những yêu cầu này.
Và không phải họ khơng đủ nghị lực, kiên tâm, đủ can
đảm và lịng tin để tìm tịi và theo đuối. Nhưng họ đã
khơng vượt qua nổi những hạn chê của lịch sử và bản
thân. Phan Bội Châu đã rong ruổi đi tìm, đã dám chấp
nhận mọi hi sinh, đã từng ước mong và thề nguyên:
“Sao cho Tố quốc chúng ta có ngày tái tạo, cho nịi
giống chúng ta mn thuở n vui. Thời Phan Bội
Châu đây nếu có bị quân thù chặt đầu, bắt hêt cả vỢ
con mà giết đi, đào mả cha ơng mà vứt đi, thì cũng vẫn
tươi cười nơi chín si””'. Nhưng mục tiêu mà phan Bội
Châu đi tìm, sức mạnh mà ông cầu viện cũng vân mới
Văn thơ Phan Bội Châu chọn lọc. Chiừiìig Thâu, Xuà'i Hà. Mai
Giaĩìg hiên S(ìọn: Nxb. Văn học; H. 1967; tr. 51.

16


chi lầ lấ y kinh nghiệm cứu niíớc theo cách ơn hồ
hoặc ho động; và “cứu nước” có nghĩa là phải tô chức
ngay, l;m ngay một hành động cấp bách, cụ thê nào đó:
xúc tiêi NÌệc mua sắm vũ khí, cử người đi học, đưa
người nưốc, gây một sô" biên động... Chứ chưa phải
là một lường lôi chiến lược, một quá trình vận động và
tổ chứcquần chúng lâu dài; càng chưa phải là nhu cầu
trang b lại toàn bộ sự hiểu biêt về chính trị, kinh tế, xã
hội làrr cãn cứ cho một cuộc cách mạng, đế “cách mạng
hoá” cả một dân tộc, và trước hết là đội tiền phong của
họ. Mặ khác, nếu như các kinh nghiệm của Trung

Hoa, cia Nhật Bản, của những người cùng màu da,
cùng “cồng ván”, “đồng chủng" nêu có được phân tích
và thàu nhận kỹ, thì may lắm cũng chỉ đến được thành
cơng :ủi Cách mạng Tân Hợi; cịn mặt trái của nó, như
ở Nhàt 3ản, là xu hướng bành trướng của chủ nghĩa đê
quốc - :hì Phan Bội Châu khơng thế nào thấy được,
hoặc Iid chỉ thấy ỏ mặt ngoài.
Pia:i Bội Châu là người cũng đã thấy sự chiến đấu
đơn cộc của dân tộc là không đủ nữa. Nhưng bước chân
ra ng)à:. phạm vi rong ruổi của Phan Bội Châu cũng mới
ở mấ; nước lân bang; nơi đó, người tơi cũng có, nhưng ít
ỏi, và bị hạn chế; còn tâm địa hùm heo - vốn là bản chất
của ciủ nghĩa đế quốc, ông chưa thê thấy được.
Pian Bội Châu cũng là ngưòi thấy việc xác định
một ý tưởng, một đưòng lối là cần. Nhưng tầm cao
nhất, trong hồn cảnh Phan Bội Châu có thể vxíơn tới
được.chỉ là triêt học thê kỷ Ánh sáng của phương Tây,
mà Fian Bội Châu nhận đưỢc gián tiếp qua Tân thư.
Thứ ý luận đó của giai cấp tư sản đang lên quả có ý
17


ns;hỵa lịch su tiên bộ, nhiing lúc này đã bi lí.ic hậu
thịi dại. hơn nữa, cũng đã bị chính giai cấp tư san
Ị)hản bội.
Cuộc khủng hống ti'ong địi sơng linh thần của
dân tộc còn tiếp tục là một thử thách, một, gánh nặng
cho lịch sử.
*
*


*

Lịch sử đã nêu câu hỏi, ắt phải có cơ sở đê trả lịi.
Lịch sử chỉ đặt vấn đề khi nó có khả năng giải quyêt,
Lịch sử cần một kiểu người... Trong 1 Ô1 tăm và náo
động, trong đau thương và hào khí, trong cực nhục và
vĩ đại của những tháng năm giao chuyền iỊÌữa hai thê
kỷ, con người ấy đã nhận vào mình tất cả âm vang bão
táp. Nhưng hãy còn quá sớm cho một cuộc tìm đưịng,
\hi tiếng súng chiến hạm Rạng Đơng chừa aố. Và sẽ là
quá muộn, là thiệt thòi, khi cánh cửa trơ ra thời đại
mới đã mở, mà người lính lại bị cầm tù.
Đó là bi kịch của cả một thê hệ, mà ngLíịi lĩnh sứ mệiih
tiên phong, cũng là ngùời kết thúc, là Phan Bội Châu.
Chủ nghĩa aiih hùng - đó là cái vơn rất nực dồi dào
của dân tộc ta. Lớp trước đến lớp sau, dâ;i tộc không
thiếu những người dám hi sinh, xả thân. Cliỉ riêng hơn
chục năm kháng Pháp, Phan Bội Châu đã :ó thê dựng
được cả một cn sử —Việt Nam nghĩa liệt
(^ịn lịch
'' Việt N am nghĩa liộL s ử g lu chuyện 50 liệt ,KĨ vù 3 tậịi tic liệt sỉ hi sinh

trong khống hxtìì l năm từ 1906 đến 1907.

18


sử lâu đii. thì càiiỵ nhii chính Phan Bội Chán từng noi,
trong ptón đầu tiếu thuyết TriiníỊ Quaníỉ tãin sử: "ỏi!

Rực rỡ iiêt bao! Tô tiéu ta vĩ đại, hiên hách biết là
nhường lào
Theo dõi chuyện của các bậc tiên liệt
ngày xư;. ta sẽ tiiơng Iihớ tới tô tiên ta sinh ra trong
thời đó, ỉhơng một ai là khơng anh hùng. Dòng dõi anh
hùng và 'lậu thân của ftnh hùng, chính là chúng ta. thì
chúng tasao có thê qn được”*”.
Mặt diác. trong so sánh VỚI lịch sử, phấm chất anh
hùng củ; ngiiịi ehiên sĩ buổi đầu thê kỷ XX, khơnef hoàn
toàn chỉ là sự lặp ]ại ngiiời xưa. Cả bước chân và tẩm
mắt của họ đã ít nhiều được mở 1 'ộng, Một hình ảnh
Tăng Bạ Hơ thật dũng liệt và khí phách biêt bao. qua
lời ai đifu của Đặng Thái Thân: "Người há sanh làm
giỡn với ĩòi sao'.^ cám binh một độ, bỏ nước hai múơi
năm; đã khóc VỚI Xiêm, đã khóc vói Tàu, đã khóc VỚI
Nga; đùig dùng sang khóc lớn bên Đơng; ai dè gió phất
trời thu. ìăm cốt vê chôn trời đất Huế.
Ta cia biêt chêt là cái ẹi vậy. Đọc sách năm châu,
kêt giao 'ài chục ban; hoặc đánh bàng kiỡi, hoặc đánh
bằng bú. hoặc đánh bâng não; khăng khăng chỉ độc
đánh băig săt; thề quyốt mỏu trụi dt núng, c o rừ
mt giụnỗ da vàng”'-’.
Thê ihùng sao nưốc lại mất, và việc tìm đưịng cứu
nước cịn mn trùng bê tắc“’
Đó lẻ bi kịch của một thời đại.
i mng

Nxh. Vin học. H. Ỉ97L tr. 22.

" U ẩ n ẩ ị á uia ỉ iu x ì ih 7'nuc khciììg; Ván tlui cá('ỉi m ạ n g Viẹt N a m đíìu

thế kỷ
.S'ár/ĩ đá dan, tr. 300.

19


Đòi hỏi cấp bách cua lịch sử lúc nàv là một trí tuệ
cách mạn^, như một sản phấm của thịi đại. Sự khép
kín trong thành cao hào sân (mà cao sâu nào có hiệu lực
gì trước thuốc súng và chiên thun Tíìy diiơng), hoặc
việc tìm đường Đơng du đêu là vơ hiệu. Phần trơng
thiếu ngay ỏ những đầu óc tiêu biêu nhất —như Phan
Bội Châu, do hạn chê của lịch sử và bản thân, - đó là tri
thức cách mạng kiêu mới, là sự phân tích căn rễ và thực
chất những nỗi khô khi đã biết bản thân nỗi khổ; là sự
phân tích kẻ thù từ chính sào huyệt kẻ thù.
Giữa cơn bối rơi và náo động ấy của thịi đại, anh
thanh niên Nguvễn Tất Thành vẫn một sự lặng lẽ
trong đơi mắt khơng ngừng suy nghĩ, tìm hiểu. “Khi tôi
độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ: tự do,
bình đang, bác ái. Đơi với chúng tơi, ngưòi da trắng nào
cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở
ấy, tơi rất mn làm quen với nền văn minh Pháp,
mn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”*’'.
Như nhiều lớp cha anh cùng thịi, anh đã đi. Phải đi.
Cuộc hành trình đã đưa anh về phía Nam, dọc đất
nước. Chưa phải là các cuộc đi để “bày mưu tính k ể’,
“chiêu tập lực lượng” mà để sống, vào đời, nghĩ suy, tìm
phương kê hành động... Và rồi cuộc chia tay vói người
thân, với đồng bào, Tổ quốc, quê hương cũng đã diễn ra

ở phía Nam, nơi khơng có những cột mộc biên ải, mà
chỉ có tiếng cịi tàu và hơi gió mặn của đại dương.
Theo Oxip Manđenxtaìn, háo Lua nhỏ, Hố39, ngciy 23-12-1923, oản
dịch của Marian Ttìkaxơp, Văn hóa ngliộ thuật cũng là một ,Tiặt
trận, Nxh. Văn học, H. 1981, tr. 477.

20


Aội cuộc hành trình kéo dài bảy năm ti'ên các đại
dươig, đên những miền xa nhất của lục địa; và phần đất
châi Au, nay “mâu qiiơc". một trong nhữnẹ nơi phát
tích :ủa chủ nghĩa tư bản, và là sào huyệt của chủ nghĩa
đê qiốc hiện đại, cũng chính là cội rễ những đau khố và
bi kị:h của phương Đông, sẽ là nơi anh dừng chân.
ilột loạt những điều “vỡ nhẽ” đã đến với anh, trong
q :rình đi, và khơng ngừng nghĩ suy, tìm hiếu.
Dến VỚI những ngơi nhà chọc trời ỏ Niu c anh
cũng đồng thịi len lỏi vào những ngõ hẻm lầy lội của
khu riáclem.
írỏng ỏ' những thủ đơ văn minh châu Âu, anh biết
cách ghé và dừng chân nơi các bến tàu đầy phu phen,
thuyìn thợ của Anh, Pháp, của châu Phi và An Độ.
"'lêng súng Cách mạng tháng Mười bị bưng bít,
nhưig anh khơng ngừng lắng nghe chân lý là ỏ đâu,
tronr những cuộc tranh cãi, luận chiến nơi tụ họp của
công nhản, và trong các hội thảo của Đảng xã hội Pháp
lúc rày đang đi vào phân hoá.
'Sản yêu sách 8 điểm"'^\ trang viêt đầu tiên của
anh, đại diện cho một dân tộc đã mất tên gọi trên bản

đồ, kn đầu tiên cất lên, tại một cuộc họp quốc tê, như
một '.iếng kêu cứu, hoặc ít nữa, như một tiếng nói hiện
diện, Sự thức tỉnh của những lục địa chưa được gọi là
“văn mmh” rồi đây hắn sẽ tìm thấy trang đầu của nó ỏ
chínl tiếng nói của ngi thanh niên, lúc này cịn chưa
ai biet đến tên tuổi ấy.
7ừ năm 1920, Luận cương ưề các vấn đề dân tộc ưà
Gửi Igày Ĩ8'6’Ỉ9Ỉ9; đăng trên háo Nhản đạo, 18-6-Ĩ919.

21


thuộc địa của Lênin"' đã tlẻn vóì anh như một cấm
nang thần kỳ. Đê từ đó. đẽn VỚI anh. sự nhận thức chủ
nẹhĩa đê qiiơc như một con đỉa có hai \’0 Ì: sụ sáníĩ tó
thực chất của văn minh khai hố, cùa só phận và con
đườnẹ Síiải thốt cho hàng triệu người da màu đau khổ,
trong đó có đồng bào quê hương anh. Từ nàm 1920. sẽ
bắt đầu xuất hiện tên gọi Nguyễn Ai Quốc, cùng nhiều
tên khác, ỏ diễn đàn chính trị phương T-ây - dấu hiệu
một chất lượníỊ chiến đấu mới của dân tộc. đã được khơi
dậy từ ngoài. Từ năm 1920, sẽ bắt đầu một ẹiai đoạn
mói của lịch sử dân tộc - eini đoạn mà các quá trình
cách mạng cũng đồng thời gắn với yêu cầu khoa học.
gắn VỚI q trình khoa học hố trong nhận thức, trong
tuvên truyền, tô chức, hành động. Một quá trình rất
mực khẩn trương, trải nhiểu phen tập dượt, chịu I’ất
nhiều hi sinh, nhưng khoa học về thời cơ cách mạng
trên tồn bộ đất nước địi hỏi tuyệt đơi phải được chọn
đúng, và dưới sự chỉ dẫn của một trí tuệ tỉnh táo, biêt

nhìn xa trơng rộng - đó là Nguyễn Ai Qc - Hồ Chí
Minh.
Từ năm 1920 lịch sử đã chuyên trang, và một cuộc
bàn giao lịch sử đã diễn ra. Klii ỏ trời Tây. trên đât Pháp,
Nguyễn Ai Qc đến với Luận cương của Lênin thì phía
bên này phương Đông, Phan Bội Châu sau khi nguội tắt
hết mọi phương sách cứu nước trên đất Trung Qc đã
tìm đến Đại sứ quán Liên Xô. Và bốn năm sau, nêu bên
kia, trong bí mật và im lặng. Nguyễn Ái Qc hăm hơ
>!> ỈẨĩuin viêl 5-6'ĩ920, tìiììk hờy tọi Đại hội Qiiỏc từ Cọììịỉ sáu len 2
nởrti Ỉ920, đâng trèn bão Nhản dạo, rác .sơ ra nịỊịy 16 và Ỉ7'7’ Ĩ920.

22


báng tàu .ang Nga, thì bên nàv. Phan Bội Châu trớ về
nưốc, tron;- thân phận tù tội.
Nội dxng chính trị trực tiê]x sự phân tích khoa
học về Xí hội, n h ữ n g con sô- n h ữ n ^ m ấu chuyện,

những sụ kiện, những luận cứ không thê chơi căi,
đưỢc rút n từ địi sơng thực ỏ nhiểu lục địa. và từ các
kho tư liố.1 của các thư viện lốn ỏ châu Au... đó là
những gì mà Nguyễn Ái Qc đã có thê cung cấp.
nhằm đừí tói những kêt luận sắc sảo và đanh thép,
vạch trần:ái gọi là ‘Văn minh’\ “khai hoá”, lên án chủ
nghĩa thự’ dân, như một qi trạng khơng thể dung
tha của liơiiíĩ tâm, của lịch sử. Thế là lần đẳu tiên
xuất hiện qua tác phẩm Nguyền Ai Quôc, bàng một
phong cáci mới. tiếng nói của dân tộc Việt Nam. như

một bộ plận hỢp thành của văn học cách mạng hiện
đại, vối nỗ dung thâm đượm tính khoa học cách mạng
của giai cíp vơ sản. Để từ đó, và cùng VỚI nó. Iihững
tên quan :ai trị, những ông chủ Ihực dân, không phải
chỉ hiện ri trong sự đôi lập V01 dân thuộc địa - đang bị
coi như Iiìi giơng thấp hèn, mà trong sự đơi diện VỚI
cá đồng lào chính qc cùng đang bị phân đơi, và
trong đơì ứioại VỚI cả lương tâm n h ản loại.

Dẫu kiông trực tiếp, do khoảng cách không gian,
và dẫu s\ cấm đoán, xuyên tạc của thực dân, những
trang văn Nguyễn Ái Quốc vãn cứ có con đường riêng
để (ìên vớ con tim hàng triệu ngữịi lao khổ dang chị
đ(ỉi, và trtóc hêt ỏ bộ phận thanh niên của dân tộc
đTên g(i Nguyễn Ái Quốc, cùng những trang Người


cùng khổ^' và Bản án chê độ thực dân P háp''’ sẽ là sụ
thức tỉnh và gây lịng tin khơng chỉ riêng cho dân tộc
Việt Nam, mà cả một phẳn nhân loại đau khố.
0 đó, khơng chỉ có những dịng thống thiết - cái mà
thơ văn yêu nước rất dồi dào. ơ đó, là cả một q trình
tìm tịi, nhận thức, và giác ngộ về những chân lý lớn
của thòi đại, mà sự bóc lột, cùng chính sách ngu dân
của chủ nghĩa thực dân đang ra sức bưng bít hoặc
xuyên tạc.
ở đó, khơng chỉ có sự nhận thức. Mà từ nhận thức
đòi hỏi đưa tới dần dần một khoa học tổ chức và hành
động. Không phải sự hành động nhất thời. Mà là hành

động nhằm tiến tới tổ chức lại toàn bộ quần chúng, và
trưốc hết là đội tiên phong của họ. Một khoa học tố
chức tiến hành kiên trì nhiều năm tháng, mà điếm
nhảy vọt là sự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương
năm 1930.
Một khoa học tổ chức động đến từng đơn vị, từng tê
bào xã hội. Suốt 30 năm, người cách mạng mang mấy
chục tên gọi đã đi khắp các lục địa, nhiều lần về gần
biên giới Tố quốc, nhưng phải đến tháng 2-1941, Người
mới về được Pác Bó, khi những khả năng bên trong của
cách mạng và khoa học tổ chức cách mạng đã có điều
kiện chín muồi.
Người cùng khố (Le Paria) sơ đầu ra ngáy l-4-192ik 5000 tờ được
chuyến về Tòa soạn; 200 tờ đưỢc hí m ật chuyến về nưiic. Đến 1924, ra
đưực 38 sơ.
Bản án chế độ thực dân Pháp đưíỉc viết ớ Pháp rái róc từ 192. đến
J925; bán in đẩu tién ở Phap nám 192Ỏ; ở Việt Nam nẵm Ì94ê báu
dịch tiếng Việt đầu tiên Nhà xuất bản Sự thật, in năm 1960.

24


Đó là cuộc đi d à i nhất so VỚI mọi cuộc đi của bất cứ
anh hùng chí sĩ nào đầu th ế kỷ. Một cuộc đi cần đến 30
năm. Vì phải đên 30 năm thì đất nước mới có thời cớ
cách mạng. Phải đên 30 năm mới làm cho khả năng
cách mạng hoá cả một dân tộc thành hiện thực, cần
một nhận thức sâu sắc tình hình thê giới và trong nước
mối cho phép Nguyễn Ái Qc phán đốn, xác định và
đón bắt thời cơ cách mạng. Cũng s't 30 năm, Nguyễn

Ái Quốc khơng lúc nào rịi vũ khí tiếng nói, và chữ viết
- nhằm tuyên truyển tn thức cách mạng. Và đó chính
là sức mạnh cn hút trên những trang ngắn mà dồn
nén tri thức và cảm xúc của Nguyễn Ái Quốc, là phẩm
chất nghệ thuật của ván học cách mạng trong buổi đầu
ra đời. Một phẩm chất vô cùng quý giá, như cơm ăn,
nước uông, như chất men, như ánh sáng. Nếu khơng có
nó, con ngưịi bị mù tơi; nếu chưa tìm được nó, thì con
ngưịi, dẫu có hi sinh dũng liệt đến đâu, cũng đành
thúc thủ...

Việc đánh giá văn học trong tương quan đồng đại,
đòi hỏi được xem xét trên khả năng thâm nhập và thể
hiện những vấn đê có ý nghĩa thịi đại vốn từ lâu đã đặt
ra cho nhiều nền văn học dân tộc. Đơi với văn học Việt
Nam lúc này, u cầu đó buộc người viết phải nhanh
chóng vưdn tới một tầm nhìn tiên tiến, một trí tuệ khoa
học, như là khỏi điểm, là chỗ dựa để vxíỢt ra khỏi
những hạn chê của dân tộc và địa phương. Nhất là khi
25


×