TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH
TRONG PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG
1
2
DƯƠNG VĂN LĨNH (CHỦ BIÊN)
NGUYỄN THỊ VÂN, ĐẶNG HOÀNG ANH, PHAN VĂN TIỂN,
BÙI KHÁNH HÒA, KIỀU TIẾN LƯƠNG, CHIÊM THỐNG NHẤT
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH
TRONG PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC
3
4
LỜI NĨI ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải
phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới với tư tưởng và đạo
đức sáng ngời của Người sống mãi trong lịng kính u vơ hạn
của toàn thể nhân dân Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng
sôi nổi với tư tưởng biện chứng trong phương pháp cách mạng
linh hoạt của Người mãi mãi là tấm gương cho các thế hệ chúng
ta học tập và noi theo.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt
Nam khẳng định, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân
ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá, là sự hun đúc, kết
tinh từ những tinh hoa, ưu tú nhất của lịch sử tư tưởng dân tộc,
thời đại và nhân loại, được trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh Hồ Chí
Minh làm cho thăng hoa, trở thành giá trị văn hóa Việt Nam hiện
đại. Hồ Chí Minh khơng những nắm vững tinh thần, phương
pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở đó Người
đã vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để phát hiện, giải
quyết những vấn đề của lịch sử cách mạng Việt Nam một cách
đúng đắn, sáng tạo mà còn bổ sung mới, phát triển và làm phong
phú hơn chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên những nét đặc trưng riêng
đó chính là tư tưởng biện chứng trong phương pháp cách mạng
Hồ Chí Minh.
5
Sinh thời, Hồ Chí Minh khơng viết một tác phẩm kinh biện
hoặc một chuyên luận nào về phép biện chứng. Tuy vậy, phương
pháp biện chứng là phương pháp cơ bản nhất trong lý luận và
trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Phương
pháp biện chứng của Người không phải là phương pháp biện
chứng nặng về học thuật bởi vì nó có cơ sở lý luận vững vàng và
thể hiện trong thực tiễn nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, là sự linh
hoạt, mềm dẻo, ứng phó kịp thời đưa cách mạng đi tới thành cơng.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta có thể nhận thấy
tư tưởng biện chứng trong phương pháp cách mạng của Người vô
cùng khoa học, tinh tế và sâu sắc bởi nó chứa đựng những tinh hoa
của lịch sử tư tưởng biện chứng nhân loại nhưng không hề kinh
viện, máy móc mà vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong
mọi hoàn cảnh cụ thể, ở mọi lĩnh vực và ngày càng phổ biến hơn.
Nhằm để có thể cung cấp những tư liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh, cuốn sách trình bày những vấn đề cơ bản về nguồn gốc,
quá trình hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng biện chứng Hồ
Chí Minh trong phương pháp cách mạng. Tuy nhiên, tư tưởng
biện chứng Hồ Chí Minh trong phương pháp cách mạng có hàm
lượng rất rộng, bao quát nhiều vấn đề, tác giả nhận thấy chưa giải
quyết được một cách trọn vẹn nên vẫn còn nhiều nội dung cần
tiếp tục được bổ sung và sửa đổi. Các tác giả rất mong nhận được
nhiều góp ý xây dựng của các nhà khoa học, bạn đọc để cuốn
sách được hoàn chỉnh hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Dương Văn Lĩnh
6
Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH
TRONG PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG
Để xác định nội dung của một tư tưởng, hay bản chất của
một sự vật, hiện tượng nào đó trong tự nhiên hay trong xã hội cần
trở về với nguồn gốc của nó. Việc xác định nguồn gốc góp phần
tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng biện
chứng Hồ Chí Minh nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Nguồn gốc hình thành tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
trong phương pháp cách mạng được hình thành từ những vấn đề
chủ yếu sau: truyền thống văn hóa Việt Nam, truyền thống hiếu
học của q hương, gia đình; ý chí tự lực, tự cường và con đường
hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh; ảnh hưởng sâu sắc tư
tưởng biện chứng phương Đơng và tinh hoa văn hóa nhân loại,
đặc biệt là ngọn đuốc soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin.
1. Truyền thống yêu nước Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có nền văn hiến lâu đời. Nền văn
hiến đó có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự tồn tại, phát triển
của đất nước và dân tộc ta. Trong mấy nghìn năm dựng nước và
giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên nhiều truyền thống
7
tốt đẹp, đó là truyền thống kiên cường, bất khuất, cần cù, u hịa
bình, tinh thần nhân ái, đồn kết, gắn bó cộng đồng, làng nước;
truyền thống hiếu học… Hồ Chí Minh là người đã tiếp thu từ rất
sớm và rất sâu sắc những truyền thống tốt đẹp đó. Trong hành
trang ra đi tìm đường cứu nước, những tinh hoa tri thức mà
Người tiếp thu được khi bơn ba hoạt động ở nước ngồi và sau
này khi trở thành vị lãnh tụ tối cao, cùng với Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo cách mạng, Người ln ln trân q truyền thống
văn hóa của dân tộc. Người khẳng định: “Dân ta phải biết sử ta,
sử dạy cho ta những bài học vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là
con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam
yên dân trị nước để muôn đời”1.
Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử dựng nước và
giữ nước. Nét nổi bật hơn cả trong truyền thống văn hóa Việt
Nam là truyền thống u nước, khơng chỉ dừng lại ở đó mà
truyền thống yêu nước phát triển đến đỉnh cao trở thành chủ
nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước là đặc tính cao q riêng có
của dân tộc Việt Nam, nó trở thành đạo lý, là truyền thống xuyên
suốt lịch sử dân tộc, tạo nên sức mạnh để nhân dân ta phá tan mọi
gông xiềng, áp bức chiến thắng mọi thế lực xâm lược. Nội dung
chủ đạo của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tình yêu quê hương
đất nước, tinh thần đồn kết gắn bó cộng đồng, ý thức bảo vệ chủ
quyền quốc gia, độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, tinh
thần bất khuất, tự cường, đạo lý uống nước nhớ nguồn... trên tinh
thần nhân văn, nhân ái với các quốc gia lân cận.
____________
1
8
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, tr.255.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hàm chứa những yếu tố biện
chứng sâu sắc. Trong đó, một số yếu tố đã ảnh hưởng sâu sắc đến
sự hình thành tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh trong phương
pháp cách mạng:
Một là, tư tưởng kết hợp dựng nước và giữ nước
Từ thời Hùng Vương, khi dân tộc Việt Nam bắt đầu xây dựng
đất nước cũng đồng thời với việc phải tiến hành cơng cuộc gìn
giữ đất nước, chống lại những mưu đồ xâm lược và thơn tính của
các nước phong kiến phương Bắc. Dựng nước và giữ nước có
quan hệ biện chứng mật thiết với nhau, khơng tách rời nhau,
đồng thời có tác động qua lại hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát
triển. Xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính
trị, văn hóa, quốc phịng… làm cho đất nước ngày càng phát triển
vững mạnh, đủ lực lượng vật chất và tinh thần để sự nghiệp giữ
nước dành được thắng lợi. Mặt khác, giữ nước thắng lợi sẽ tạo
điều kiện cho công cuộc xây dựng đất nước trên các lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng… ngày càng phát triển.
Trải qua các triều đại phong kiến: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý,
Trần, Lê… giang sơn, đất nước Việt Nam ngày càng cường thịnh,
dân giàu, nước mạnh. Hai lần đánh Tống, ba lần đánh Nguyên
Mông đều giành thắng lợi lớn.
Kế thừa tư tưởng kết hợp giữa dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã phát triển thành “kháng chiến, kiến
quốc”. Hai nhiệm cách mạng quan trọng quyết định sự tồn vong
của nhà nước công nông non trẻ quan hệ chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau, tiến hành kháng chiến để giải phóng dân
tộc, thi đua kiến quốc để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ xã
9
hội chủ nghĩa. Vừa đánh giặc vừa tham gia sản xuất, đó là sách
lược mà Hồ Chí Minh và chính quyền non trẻ phát huy mọi
nguồn lực trong quần chúng nhân dân đưa sự nghiệp kháng chiến
đến thắng lợi hoàn toàn. Trong điều kiện vừa giành được chính
quyền, tiềm lực kinh tế, quốc phịng của đất nước cịn nhiều khó
khăn, thiếu thốn, chỉ có đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược là: quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và
thi đua tăng gia sản xuất, nhân dân ta mới có thể bảo vệ, củng cố
chính quyền cách mạng non trẻ, đồng thời có thể tăng cường
được nguồn lực phục vụ kháng chiến, tiếp tục đưa cách mạng
Việt Nam từng bước đi lên. Sau khi cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp đã tồn thắng, khi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ trong
lực lượng vũ trang nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn:
“Các vua Hùng đã có cơng dựng nước, Bác cháu ta phải cùng
nhau giữ lấy nước”1.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, nhân
dân miền Nam vừa sản xuất vừa chiến đấu, miền Bắc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, nhưng luôn là hậu phương vững chắc cho cách
mạng miền Nam, với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến”, “tất cả vì
miền Nam ruột thịt”, “thóc khơng thiếu một cân, qn khơng
thiếu một người”. Với sách lược đúng đắn cùng sự kết hợp khéo
léo, nhuần nhuyễn đó dân tộc Việt Nam đã tạo nên sức mạnh to
lớn, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
Có thể nói, truyền thống kết hợp giữa dựng nước và giữ nước
____________
1
Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.9.
10
của dân tộc ta đã được Hồ Chí Minh vận dụng một cách linh
hoạt, nhất qn, đóng vai trị cực kỳ quan trọng đảm bảo cho sự
nghiệp cách mạng nước ta đi đến thắng lợi vẻ vang.
Hai là, tư tưởng đồn kết gắn bó cộng đồng dân tộc
Đó là sự thống nhất, đồn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân
tộc để tạo thành sức mạng tổng hợp vượt qua mọi khó khăn, gian
khổ, chống lại mọi kẻ thù xâm lược. Lịch sử Việt Nam ngay từ
thủa hồng hồng hoang dựng nước đã phải chống chọi với thiên
tai lũ lụt. Để đương đầu với thiên tai, bão lụt đòi hỏi người dân
phải đồn kết, đồng cam cộng khổ mới có thể vượt qua thiên tai,
hoạn nạn. Do vậy, ý thức đoàn kết, tương thân, tương ái của dân
tộc Việt Nam được hình thành và tơi luyện từ rất sớm, được
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được phát
triển mạnh mẽ, trải qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm
lược, tinh thần đoàn kết ấy càng phát triển rực rỡ hơn, trở thành
một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.
Với vị trí địa chính trị luận lợi, giàu có về tài nguyên thiên
nhiên, nằm ở khu vực Đông Nam Á nên các thế lực ngoại bang
ln tìm cách thơn tính, thực hiện nhiều cuộc chiến tranh xâm
lược. Tuy là một quốc gia nhỏ về địa hình, dân số khơng lớn với
nền sản xuất nơng nghiệp lạc hậu, tiềm lực quân đội, quốc phòng
nhỏ bé nhưng bằng tinh thần đồn kết, ý chí quật cường khơng
chịu làm nô lệ, đứng lên chống lại mọi kẻ thù xâm lược, cha ông
ta đã làm nên những chiến thắng oai hùng.
Nhà Trần ở thế kỷ thứ XIII đã lãnh đạo nhân dân ba lần đánh
thắng quân Nguyên - Mông giành thắng lợi vẻ vang. Cuộc kháng
chiến lần thứ nhất vào năm 1258, quân và dân ta đã đánh thắng 3
11
vạn quân Nguyên - Mông, lần thứ hai vào năm 1285, đánh thắng
60 vạn quân, lần thứ ba vào năm 1287-1288, đánh thắng 50 vạn
quân1. Trong vòng 30 năm (1258-1288) dân tộc Việt Nam đã liên
tiếp 3 lần đứng lên chống qn Ngun - Mơng xâm lược. Đó
khơng chỉ là những cuộc chiến giữa một bên là thế lực hùng
mạnh lúc bấy giờ với một bên là dân tộc nhỏ bé nhưng có ý chí
quật cường, khơng cam tâm làm nô lệ, đứng lên chống xâm lược
để bảo vệ non sông, bờ cõi của cha ông, đồng thời cũng là cuộc
đấu tranh tài trí của hai nền nghệ thuật quân sự Đại Việt và quân
xâm lược Nguyên - Mông. Như tướng quân Trần Quốc Tuấn đã
chỉ rõ nguyên nhân là bởi: “Vua tơi đồng tâm, anh em hịa thuận,
cả nước góp sức”2. Để có được sức mạnh to lớn từ sự đồn kết
đó, triều đình nhà Trần đã chủ trương: “Thời bình phải khoan thư
sức dân để làm kế bền sâu gốc rễ, đó là thượng sách giữ nước”3.
Đầu thế kỷ XV, nhà Hồ tiến hành cuộc kháng chiến chống
quân Minh xâm lược, mặc dù nhà Hồ đã có sự chuẩn bị, đã xây
dựng được lực lương quân thường trực khá mạnh nhưng lại nhận
thất bại thảm hại vì khơng đồn kết được lịng dân. Trong thắng
lợi của kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã chỉ rõ
nguyên nhân là do đã đoàn kết, tập hợp, huy động được mọi
nguồn lực trong quần chúng, nhân dân: “Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ
tập khắp bốn phương dân chúng”4. Ơng đã nhìn thấy sức mạnh
của dân chúng “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”,
vai trò của nhân dân quyết định sự thịnh suy của dân tộc.
____________
1
Giáo trình giáo dục quốc phòng - an ninh, Nxb.Giáo dục Việt Nam, H.2008,
tr.77.
2, 3, 4
Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.215; 215; 259.
12
Đến nửa cuối thế kỷ XIX các cuộc khởi nghĩa chống thực
dân Pháp nổ ra như: phong trào Cần Vương của Tôn Thất
Thuyết; phong trào Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật; khởi nghĩa
Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Cơng Tráng; khởi nghĩa Hương
Khê của Phan Đình Phùng; khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa
Thám… Tuy các phong trào đều dẫn đến kết quả thất bại, song đã
để lại cho nhiều bài học quý giá về xây dựng căn cứ địa, phương
tiện vũ khí, dự trữ lương thực, và vấn đề chuẩn bị lực lượng khởi
nghĩa trong đó vai trị quyết định sự thành bại là huy động mọi
nguồn lực trong quần chúng nhân nhân tham gia khởi nghĩa trên
cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Thấy rõ được sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc, Hồ Chí
Minh đã nói: “Sử ta dạy bài học này: lúc nào dân ta đồn kết
mn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào
dân ta khơng đồn kết thì bị nước ngồi xâm lấn. Vậy nay ta phải
đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi dưới
ngọn cờ Việt Minh để đánh đuổi Tây - Nhật, khôi phục độc lập tự
do”1. Để rồi, trong tiến trình đấu tranh cách mạng của mình,
Người ln kêu gọi:
“Đồn kết, đồn kết, đại đồn kết,
Thành cơng, thành cơng, đại thành cơng”2.
Người ln kêu gọi tồn dân đồn kết vì sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của cả dân tộc. Sự nghiệp ấy chỉ
giành được thắng lợi khi cả nước đoàn kết một lòng, quyết tâm
____________
1
2
đánh giặc. Người kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước,
không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc, không phân biệt già
trẻ, gái trai. Ai có tài, có đức, có sức, có lịng phụng sự Tổ quốc,
phụng sự nhân dân thì đồn kết với họ. Với tinh thần đó trong
cơng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, dân tộc ta đã làm nên những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp
năm châu.
Ba là, tư tưởng kết hợp giữa kiên định mục tiêu của cuộc
kháng chiến với linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng các hình
thức và phương pháp tiến hành chiến tranh giữ nước.
Để chiến thắng nhiều kẻ thù khác nhau, ông cha ta đã sáng
tạo và vận dụng linh hoạt nhiều hình thức, phương pháp đấu
tranh để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế ở nước ta, giải
quyết thành công vấn đề “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều”,
tùy thời cơ mà dùng mưu lược để thắng địch.
Theo Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: “Tóm lại, giặc cậy
trường trận, ta cậy đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường
của binh pháp. Nếu thấy qn giặc đến ồ ạt như lửa cháy, gió thổi
thì dễ chế ngự. Nếu chúng đi chậm như cách tầm ăn, khơng cần
của dân, khơng cần được chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi,
xem xét quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thời mà làm”1. Binh
pháp của Trần Quốc Tuấn là bám sát thế trận để đề ra nhiều
phương pháp tác chiến, cách đánh với nội dung và hình thức phù
hợp: lúc đánh du kích, khi đánh lẻ tẻ phân tán, khi tập trung binh
lực tổ chức cơng kích, khi lại rút lui, lợi dụng khí hậu, địa hình
____________
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, tr.256.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.13, tr.455.
1
13
Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.215.
14
hiểm trở, dùng mưu trí lừa địch... với cách thức, quy mô khác nhau
để giành thắng lợi. Những tư tưởng biện chứng trong phương pháp
tiến hành chống giặc ngoại xâm ấy đã được thể hiện rất rõ ràng.
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Đến thế kỷ XV, trong binh pháp của Nguyễn Trãi cũng có
nhiều sáng tạo, độc đáo là tránh đánh lúc thể của kẻ thù đang
mạnh, tìm đánh vào chỗ yếu, đánh mai phục để làm kẻ địch bị bất
ngờ, phát huy tối đa mọi thế mạnh của ta đánh vào chỗ địch sơ
hở, đánh vào chỗ mà địch khơng ngờ tới, tìm mọi cách khắc chế
để điểm mạnh của địch không thể phát huy, mặt hạn chế, chỗ yếu
của ta thì được bù đắp, khơng những thế khi thời cơ xuất hiện có
thể chuyển thành chỗ mạnh, lấy ít địch nhiều. Từ thực tế chống
giặc ngoại xâm, Nguyễn Trãi đã khái quát:
Như đẳng hành khan thủ bại hư” 1.
“Lấy ít địch nhiều, thường dùng mai phục,
Lấy yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ”1.
Cùng với việc đánh địch trên mặt trận quân sự, cha ông ta từ
rất sớm đã biết vận dụng, kết hợp các mặt trận chính trị, ngoại
giao... để tấn công kẻ thù. Sự kết hợp nhiều cách đánh trên nhiều
mặt trận đã tạo ra sức mạnh tổng hợp là tiền đề quan trọng để dân
tộc Việt Nam luôn dành chiến thắng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc, mà một trong số đó là trường hợp Lý Thường Kiệt. Khi
quân giặc lâm vào tình thế quẫn bách, ơng đã chủ động điều đình
trên mặt trận ngoại giao để mở lối thoát cho quân giặc nhằm
chấm dứt chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất cho ta, thơng
qua đó, trên mặt trận chính trị, ơng đã khẳng định được vị thế của
quốc gia, dân tộc qua bài thơ bất hủ:
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Với Nguyễn Trãi, sự kết hợp đánh giặc bằng quân sự, chính
trị, ngoại giao đã trở thành nghệ thuật. Một mặt, ông cùng Lê Lợi
hoạch định kế sách sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, mặt
khác, ông luôn quan tâm và xác định đấu tranh trên mặt trận tư
tưởng và lý luận cũng góp phần rất quan trọng cho thắng lợi của
kháng chiến. Tư tưởng ấy thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Bình
ngơ đại cáo”, khẳng định quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm
của nhà nước Đại Việt ta, bất cứ kẻ nào có dã tâm xâm lược sẽ
phải nhận thất bại nặng nề.
Có thể thấy rằng, trong lịch sử mấy nghìn năm giữ nước, ông
cha ta trước đây đã kết hợp mục tiêu bảo vệ sự toàn vẹn của
giang sơn, đất nước với những phương pháp đánh giặc linh hoạt
và sáng tạo. Không những thế, cha ông ta đã đánh giặc trên tất cả
các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao từ đó đã tạo được một
sức mạnh phi thường, đánh tan mọi dã tâm xâm lược của kẻ thù.
Hồ Chí Minh từ rất sớm đã tiếp thu được truyền thống giữ
nước của cha ông ta, trên cơ sở ấy, Người đã vận dụng sáng tạo
và phát triển truyền thống quý báu đó vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam. Với cương vị của nhà lãnh đạo cách mạng, Người đưa
ra phương pháp ứng phó rất sáng tạo: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”,
với vai trò là tổng tư lệnh lãnh đạo cuộc kháng chiến, Người chủ
____________
____________
1
1
Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.65.
15
Lịch sử Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1971, t.1, tr.181.
16
trương: “Dụ giặc vào bẫy để đánh”, phải thiên biến vạn hóa, xuất
quỷ nhập thần, náo phía đơng, đánh phía tây... đó là sự mềm dẻo
về sách lược thể hiện sự thiên tài trong vận dụng chiến tranh du
kích nhạy bén để thay đổi hình thức đấu tranh cho phù hợp với
điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh vạch ra đường
lối lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, đã lãnh đạo nhân dân ta
tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ để vừa đánh địch, vừa phát
triển lực lượng từ ít thành nhiều, từ yếu thành mạnh dẫn đến càng
đánh càng trưởng thành, càng đánh càng mạnh. Trong khi đó,
qn địch khơng thực hiện được mục đích đánh nhanh thắng
nhanh, khơng những thế cịn rơi vào thế bị động đối phó, bị mệt
mỏi, lực lượng tiêu hao dẫn đến suy yếu và phải nhận hậu quả
thất bại.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Hồ Chí Minh, nhân
dân ta đã phát huy được truyền thống bảo vệ đất nước, kế thừa
nhiều cách đánh hay, đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển
rực rỡ. Góp phần quan trọng vào sự nghiệp thống nhất đất nước.
Những nét độc đáo trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh theo tư
tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp linh hoạt đấu tranh quân sự với
đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp giữa khởi
nghĩa quần chúng với chiến tranh cách mạng, là nghệ thuật của
đường lối chiến tranh du kích, tổ chức tiến cơng địch trên cả ba
vùng chiến lược, đánh địch bằng ba mũi giáp công, vừa đánh vừa
đàm... Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự thiên tài
của đường lối chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng,
17
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiền đề, nguồn cội làm nên
sức mạnh to lớn đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thành công.
2. Truyền thống hiếu học của quê hương
Hồ Chí Minh sinh ra tại làng Hồng Trù (làng Chùa), thuộc
xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An,
nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Xã
Chung Cự gồm hai làng Kim Liên và Hồng Trù (q nội và q
ngoại của Hồ Chí Minh), nơi đây cuộc sống của người nông dân
vồ cùng khắc nghiệt, khó khăn ruộng đất khơ cằn, mới nắng đã
hạn, mới mưa đã lụt, quanh năm mất mùa. Ca dao có câu:
Làng Sen đóng khố thay quần,
Ít cơm, nhiều cháo, tảo tần quanh năm.
Khi nói về Nam Đàn, nhà sử học Phan Huy Chú đã nhìn thấy
ở quê hương mình không chỉ là một vùng “đất xấu, dân nghèo tập
tục cần kiệm, nhà nơng chăm chỉ ruộng nương, học trị ưa chuộng
học hành…”1 mà cịn là nơi: “núi cao sơng rộng phong tục thuần
hậu, cảnh tượng tươi sáng gọi là đất danh tiếng hơn cả Năm
Châu. Người thì thuần hậu mà chăm học… Được khí tốt của núi
sơng nên sinh ra nhiều bậc danh hiền”2. Tuy đất đai cằn cỗi, cuộc
sống khó khăn, vất vả, nhưng người dân xứ Nghệ có truyền thống
hiếu học. Nói tới truyền thống hiếu học của quê hương xứ Nghệ,
riêng việc đỗ đạt, sử sách có ghi: Người mở đầu cho nền khoa
bảng ở Nghệ An là trạng nguyên Bạc Liêu, quê ở Nguyên Xá
(Diễn Châu), đỗ khoa Đinh Dần, tức năm Thiệu Long thứ chín
____________
1, 2
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến trương loại trí (dư địa chí, bản dịch),
Nxb.Sử học, H.1961, tr.12; 65.
18
của đời vua Trần Thánh Tông (1266). Ở Nam Đàn đến năm
Quang Thuận thứ mười, khoa Kỳ Sửu (1469), đời Lê Thánh
Tơng, mới có người đỗ đại khoa, đó là Nguyễn Thiện Chương,
quê ở Nam Hoa Thượng. Ông đỗ tiến sĩ năm 18 tuổi. Từ đó hết
đời Lê, theo Đăng khoa lục, Nam Đàn có mười ba người đỗ đại
khoa; trong đời Nguyễn có 25 người đỗ chánh bảng và phó bảng.
Con số đó khơng phải ít, nếu như theo Liệt huyện đăng khoa bị
lục của Phan Huy Ơn, thì vùng đất Nghệ Tĩnh (Nghệ An và Hà
Tĩnh), từ khi nhà Lý mở khoa thi đầu tiên (1075), cho đến khoa
thi theo lối cử tử cuối cùng của nhà Nguyễn (1918) có 248 người
đỗ đại khoa.
Nghệ An là đất “Địa linh nhân kiệt”, là nơi đã sản sinh ra
nhiều nhân tài. Theo Quốc triều đăng khoa lục, “lúc đầu cả nước
có năm trường thi hương, sau thêm trường Bình Định là sáu,
trong đó Nghệ An có một trường thi hương, trước đây đặt tại chợ
Tràng (Hưng Nguyên) bên cạnh núi Lam Thành, sau đưa về
Vinh. Nếu từ năm Gia Long thứ 7 (1807) là kỳ thi đầu tiên, cho
đến năm 1918 là khoa thi hương cuối cùng của triều Nguyễn
đồng thời cũng là khoa thi hương cuối cùng của nền khoa cử cũ
của Việt Nam, thì trong cả nước có 5.424 người đỗ cử nhân, thí
sinh vùng đất Nghệ đã chiếm bảng 712 người, trong đó Nam Đàn
có trên 120 người, có nghĩa bằng một phần sáu của cả tỉnh”1.
Qua sử sách: trong 96 kỳ thi hương từ năm 1635 đến năm
1890, xã Chung Cự đã có 82 thí sinh trúng tuyển tú tài và cử
nhân (riêng làng Kim Liên có 53 vị khoa bảng và làng Hồng Trù
____________
1
Ninh Viết Giao - Trần Minh Tâm: Nam Đàn quê hương Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Nxb.Khoa học xã hội, H.1989, tr.128,129.
19
có 29)1, cả tỉnh trong thời Nguyễn. Có khoa như Quý Sửu, năm
Tự Đức thứ sáu (1853), Nam Đàn có hai người đỗ Thám Hoa
khoa Tân Sửu, năm Thành Thái thứ mười ba (1901), Nam Đàn có
ba người đỗ đại khoa (một tiến sĩ, hai phó bảng); khoa Đinh Tỵ,
năm Thành Thái thứ mười chín (1907) có 3 người đỗ Đại Khoa
(1 tiến sĩ, 2 phó bảng); Khoa Canh Tuất, năm Duy Tân thứ tư
(1910) có 4 người đỗ đại khoa (2 tiến sĩ và 2 phó bảng)2.
Có thể nói, xứ Nghệ là địa danh tiêu biểu cho truyền thống
hiếu học. Truyền thuyết trong dân gian có khá nhiều chuyện kể
về ơng mền, ông kép, tú, hoặc ông đầu xứ, đầu phủ, đầu huyện,
anh học, anh nho… Học giỏi, trí cao, ưu thời mẫn thế, làu thông
kinh sử, nhưng vác lều chõng đến thi trường hết khoa này qua
khoa khác mà vẫn khơng đỗ, hoặc có đỗ thì cũng chỉ được xếp
vào hạng tú tài, lại cũng có những người thơng thái, khơng chịu
đi thi vì chán ghét chế độ khoa cử, chán ghét quan trường.
Nam Đàn nổi tiếng không phải chỉ vì người đỗ đạt nhiều, mà
cịn nổi tiếng bởi đức tính hiếu học, khổ luyện, thơng minh, trí
tuệ mẫn tiệp, có nghĩa khí, trọng đạo lý u nước, dám can việc
trái, dám bảo vệ lẽ phải, không sợ uy quyền, có nhiều người
thành danh… Đây là nơi, ngồi những người có tên trong bảng
vàng, có học vị, cịn rất nhiều người có học lực uyên thâm, tư
duy sáng láng, nhưng không đi thi hoặc thi không đỗ, bởi họ đã
vượt ra ngồi phép tắc thi cử. Họ chỉ là ơng đầu xứ, ơng đồ, anh
____________
1
Trần Văn Giàu: Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.Chính
trị quốc gia, H.1997, tr.16.
2
Ninh Viết Dao - Trần Minh Tâm: Nam Đàn quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh
Nxb.Khoa học xã hội, H.1989, tr.129, 130.
20
học, anh nho… nhưng được nhân dân mến phục, ngợi ca chí khí,
nhân cách.
Hiếu học, khổ luyện là đức tính không chỉ của sĩ tử Nam
Đàn, mà cũng là đặc tính chung của nhân dân Nam Đàn nói riêng
và nhân dân Nghệ An nói chung. Các họ có nhiều người đỗ đạt,
nhiều nhà “sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa”, song,
“ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”. Nhiều gia đình cực kỳ
nghèo khó, trừ một số người là con nhà giàu, nhà quan, còn hầu
như phải ăn ngơ, khoai, ăn đói, mặc rách, đi ở đợ, làm thuê… để
theo đuổi việc học hành.
Nam Đàn là vùng q đất sỏi đá cằn cỗi, nhưng con người thì
trí tuệ, hiếu học. Tuy là vùng đất văn vật chốn thi thư, dân có
truyền thống hiếu học, nhiều nhà nho khoa bảng nổi tiếng, nhưng
hàng ngày vì mưu sinh các nhà nho cũng vẫn phải làm việc quần
quật, lao động chân tay vất vả cực nhọc. Điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt đó có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành ý chí, nghị
lực của Hồ Chí Minh ngay từ thời niên thiếu.
a. Ảnh hưởng của gia đình
Từ xưa đến nay, gia đình ln là nơi hình thành những nét
nhân cách cơ bản đầu tiên của một con người. Gia đình Hồ Chí
Minh là một gia đình có truyền thống nho giáo, nền nếp, coi
trọng đạo lý và quan tâm giáo dục con cái.
Nguyễn Tất Thành sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước
gần gũi với nhân dân, gắn bó với q hương một gia đình giàu
truyền thống yêu nước. Các anh, chị đều là những người yêu nước,
tham gia các phong trào chống Pháp và đã bị tù đày, giam cầm.
21
Thân sinh của Hồ Chí Minh là cụ Bảng Nguyễn Sinh Sắc
(1863-1929), cụ là người có đức tính tự lập từ bé, hiếu học, khi
trưởng thành cụ là người có học vấn về Hán học, với tính cách
cao thượng của một nhà nho và bản lĩnh vững vàng, cùng lối
sống giản dị thanh bạch, lòng yêu nước, thương dân, căm ghét
thực dân Pháp và bè lũ tay sai; trong gia đình, cụ ln quan tâm,
chăm lo giáo dục đạo đức, nhân cách sống và chí hướng cho con.
Cụ là tấm gương sáng ngời về đạo cha, đạo làm thầy sâu đậm đối
với Nguyễn Tất Thành.
Năm 1894 Thi hương đậu cử nhân.
Năm 1901 Thi hội đậu Phó bảng.
Năm 1906 vào Huế nhận chức quan Thừa Biện ở Bộ Lễ.
Năm 1909 Cụ nhận chức Tri huyện Bình Khê; năm 1910 bị
cách chức, giáng chức, sau đó bỏ làm quan và vào Nam làm nghề
bốc thuốc, chữa bệnh cho nhân dân.
Trong gia đình, cụ khơng chỉ là một người cha mà còn là một
người thầy của tất cả các con. Nguyễn Sinh Sắc luôn đau đáu với
câu hỏi: Nước mất rồi làm gì để cứu nước?
Thân mẫu của Hồ Chí Minh là cụ Hoàng Thị Loan (18681901), cụ sinh ra trong một gia đình nho học; là một người mang
nặng truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: nhân hậu, chịu
thương, chịu khó, hết lịng vì chồng con, bà được thừa hưởng nền
giáo dục gia đình và có khả năng thơng thạo chữ Hán… tuy cuộc
đời ngắn ngủi, nhưng hình ảnh của bà trong những năm tháng tần
tảo sống bên gia đình cùng chồng ni dạy các con khơn lớn nên
người đã để lại ấn tượng rất sâu sắc, rất cảm động trong tâm hồn
Nguyễn Tất Thành.
22
Chị gái Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), hiệu Bạch Liên, có
trình độ Hán học. Hiểu biết nhiều, năm 20 tuổi hoạt động cách
mạng trong phong trào Phan Bội Châu, năm 1918 bị án tù khổ sai
9 năm.
Anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950), học Trường Tiểu
học Pháp - Việt, Trường Quốc học Huế, hoạt động cách mạng
trong phong trào Phan Bội Châu, năm 1918 bị án tù khổ sai 9 năm.
Gia đình Nguyễn Sinh Cung là gia đình có truyền thống, nền
nếp, văn hóa, vừa có chất nho phong, vừa chịu ảnh hưởng duy
tân. Ông ngoại của Người là một nhà Nho có uy tín, giàu tình
thương u, cưu mang con em nhà nghèo học tập. Phụ thân
Người là một nhân cách lớn, có ý chí nhưng sau khi thi đỗ Phó
bảng cụ không đi theo con đường làm quan cầu danh lợi. Từ tuổi
thủa niên thiếu, Hồ Chí Minh đã được ni dưỡng trong mơi
trường giáo dục có nền nếp của gia đình chính mơi trường giáo
dục đó đã có những ảnh hưởng rất lớn đến Người.
Trước khi vào học trong nhà trường của thực dân, Nguyễn
Sinh Cung được cha trực tiếp dạy dỗ. Theo truyền thống gia đình,
trong quá trình dạy chữ cho con cụ Nguyễn Sinh Sắc đã rất quan
tâm chú trọng đến việc giáo dục lòng yêu nước, yêu thương
người lao động. Bởi vậy, một điểm nổi bật trong đạo đức của
Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này là tình u thương con người,
nhưng khơng phải là tình cảm yêu thương trừu tượng, mà là lòng
thương yêu giai cấp đối với nhân dân lao động, đối với những
người cùng khổ. Trong khoảng những năm từ mười sáu đến mời
tám tuổi, Người theo học ở Trường tiểu học Đông Ba và Trường
Quốc học Huế. Người là một thiếu niên thơng minh ham học hỏi
23
và nhờ có ảnh hưởng của gia đình, nên tuy khơng học nhiều ở
nhà trường nhưng Người có sự hiểu biết khá thấu đáo về nền giáo
dục của dân tộc.
Cùng với những ảnh hưởng tốt đẹp được tiếp nhận từ sự giáo
dục của gia đình, Nguyễn Sinh Cung còn chịu ảnh hưởng sâu sắc
của các sĩ phu, các nhà nho yêu nước thuộc thế hệ ông, cha của
Người, những thủ lĩnh anh hùng của các phong trào yêu nước
như Cần Vương, Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục,
trong đó có khá nhiều người là bạn của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã
từng đến nhà đàm luận thế sự như Hồ Sĩ Tạo, Vương Thúc Mậu,
Hà Văn Cận, Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân, Hoàng Phan
Quỳnh… và cả những người bạn của Người như Diệp Văn Kỳ,
Hồ Bá Tang ở miền Nam và Phan Thiết.
Người có những ảnh hưởng khá sâu sắc đến Nguyễn Sinh
Cung thời tuổi trẻ là thầy Vương Thúc Độ. Thầy Độ cũng người
bà con bên ngoại, thầy thuộc hạng “Cừu gia tử đệ”, vì có người
anh trai là Vương Hồng Bỉnh bị giặc Pháp giết hại nên trong lúc
dạy học thường ngụ ý nhắc nhở học trò noi theo những tấm
gương nghĩa liệt, tơn trọng nhân cách học trị, khơng bao giờ
đánh học trò thấy thường tâm niệm rằng “phải yêu thương trẻ em
thì mình mới dạy chúng học được”. Đặc biệt là ảnh hưởng tốt đẹp
của thầy Vương Thúc Quý con trai của tú tài Vương Thúc Mậu,
người thủ lĩnh đội Trung nghĩa binh dựng cờ Cần Vương chống
giặc Pháp năm (1885), đã hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương
Kim Liên để bảo tồn khí tiết. Học với thầy Q, ngồi phần chịu
ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng yêu nước, tình yêu thương nhân dân
lao động, Nguyễn Sinh Cung còn rất tâm đắc về tính thức thời
24
của thầy khơng nệ cổ, khơng bắt học trị nhồi sọ cổ văn theo lối
“tầm chương trích cú”. Những sĩ phu tâm huyết, đầy khí phách
đó đã góp phần hình thành cho Nguyễn Sinh Cung ý thức và tình
cảm về nỗi đau, nỗi nhục mất nước, về lí tưởng và ý chí quyết
tâm thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ. Những
thất bại, sai lầm, hạn chế về mặt chính trị và lịch sử của các sĩ
phu nói trên chắc chắn cũng là những bài học kinh nghiệm quan
trọng cho Người, thúc đẩy Người phải tìm cho bằng được một
con đường khác để giải phóng dân tộc.
nghe lời tâm sự của Hồ Chí Minh: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần
đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người
Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tơi rất muốn làm quen với nền
văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ
ấy”1. Có thể một trong nhiều lý do cho việc Người không sang
Nhật mà sang Pháp tìm đường cứu nước, là bởi Người “muốn
làm quen và tìm hiểu nền văn minh Pháp”, để tìm lời giải đáp cho
câu hỏi về sự vô lý và bất cơng nêu ở trên.
Có thể nói, mơi trường giáo dục mà Nguyễn Sinh Cung tiếp
nhận từ lúc thiếu thời là một mơi trường đặc biệt. Mơi trường ấy
đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc đến Nguyễn Sinh Cung.
Nhưng cũng chính vì được học tập ngơi trường Pháp - Việt
do thực dân Pháp mở ra ở Việt Nam, Nguyễn Tất Thành mới có
những điều kiện cơ bản cần thiết để đối chiếu so sánh, từ đó rút
ra những nhận xét, đánh giá chính xác về tính chất của nhà nước
thực dân. Người dễ dàng nhận thấy những hạn chế của nó về mục
tiêu và phương pháp đào tạo do tính chất thực dụng, chỉ phục vụ
lợi ích của chủ nghĩa tư bản Pháp. Đến khi đặt chân lên đất Pháp
năm 1911, sau đó thực hiện chuyến hành trình dài ngày trên tàu
buôn Pháp qua năm châu bốn biển, và cuối cùng năm 1917 trở lại
về Pháp giữa lúc chiến tranh đế quốc lần thứ nhất đang bước vào
thời kỳ ác liệt nhất thì Người càng có điều kiện để khẳng định
chính sách giáo dục phản động của thực dân Pháp ở Việt Nam
nói riêng và trong hệ thống thuộc địa của nó nói chung. Năm
1919, người thanh niên Việt Nam - Nguyễn Ái Quốc đã gửi cho
nghị viện Pháp và các đoàn đại biểu dự Hội nghị Vécxây bản u
sách tám điểm địi phải trao lại cho Đơng Dương những quyền
lợi về chính trị và kinh tế, trong đó điểm thứ sáu nhấn mạnh đến
b. Yếu tố nhà trường
Nguyễn Sinh Cung đã học ở Trường tiểu học Pháp - Việt
Đông Ba và Trường Quốc học Huế do thực dân Pháp lập ra để
phục vụ cho mục đích thực dân. Do vậy, một phần nội dung giáo
dục của nhà trường là truyền bá nền văn hóa Pháp, mà đỉnh cao
tư tưởng lúc đó là của các nhà khai sáng pháp như Rútxô, Vônte,
Môngtéxkiơ …. và quảng bá ý nghĩa của cuộc cách mạng Pháp
1789 cùng với sứ mệnh lịch sử của cuộc cách mạng này mang lại.
Với những nội dung này, với tư tưởng về Tự do, Bình đẳng, Bác
ái.... mà người Pháp đang cổ súy rầm rộ, đã làm nảy sinh ở
Nguyễn Sinh Cung những câu hỏi lớn: Tại sao một dân tộc như
dân tộc Pháp đã sản sinh ra những con người giương cao lá cờ Tự
do, Bình đẳng, Bác ái và làm nên một cuộc cách mạng tư sản
Pháp 1789 vĩ đại như thế, dân tộc đó lại đi xâm lược, áp bức, bóc
lột những dân tộc khác yếu hơn, nghèo hơn, lạc hậu hơn? Hãy
25
____________
1
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.1, tr.461.
26
yêu cầu tự do giáo dục, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên
nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ. Sau này, trong Bản án
chế độ thực dân Pháp, Người đã kịch liệt lên án thực dân Pháp
khơng những bóc lột dân bản xứ một cách tàn bạo mà còn đầu
độc nhân nhân Việt Nam bằng rượu cồn, thuốc phiện và thi hành
một chính sách ngu dân triệt để.
c. Yếu tố xã hội
Thực tế xã hội Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc cùng đồng bào
của Người được trực tiếp chứng kiến và trải nghiệm bằng chính
cuộc sống của bản thân là những bằng chứng sinh động, đầy
thuyết phục về chủ nghĩa tư bản. Sự thật ấy đã thơi thúc Người ra
đi tìm đường cứu nước, đến những năm 20 của thế kỷ XX, Người
có thể hiểu được những giá trị và tiếp thu Luận cương của Lênin
về vấn đề dân tộc, và vấn đề thuộc địa nói riêng và chủ nghĩa
Mác-Lênin nói chung.
Đó là thực tế khốn cùng của những người nông dân nghèo bị
Pháp bắt đi phu xây dựng đập cửa ở Cửa Rào, cảnh hàng ngàn
người nơng dân biểu tình đấu tranh chống nạn sưu cao, thuế
nặng, cảnh những tên thực dân Pháp bụng phệ ngồi trên xe tay
bắt người Việt Nam kéo, cảnh vua Thành Thái bị Pháp đưa đi
đày biệt xứ vì khơng nghe theo lệnh của chúng, cảnh sống lam lũ,
cực nhục, không được học hành của các tầng lớp dân nghèo,
trong đó có cả cơng nhân ở Huế, Phan Thiết, Sài Gịn, cũng như
ở các thành phố nước ngồi những nơi mà Người có dịp đi qua
trong thời gian từ năm 1911 đến năm 1920.
Chính từ thực tế sinh động đó, Người đã kiên trì, dũng cảm
đấu tranh địi quyền dân sinh, dân chủ của thế hệ những người
27
Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, từ các cụ
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và các sĩ phu yêu nước khác.
Người đã tố cáo đanh thép trước cơng luận trong nước và ngồi
nước tội ác của chế độ thực dân trong việc “làm cho dân ngu để
dễ bề cai trị” và trong việc “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại,
xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát”. Dũng cảm đấu tranh
trực diện với giới chức thống trị thực dân Pháp, đòi quyền “tự do
học tập” và “thực hành giáo dục toàn dân”. Đồng thời, Người đã
dày cơng tìm kiếm, phát hiện, tạo dựng nền giáo dục kiểu mới
của nhân dân lao động - nền giáo dục Việt Nam.
3. Ảnh hưởng tư tưởng biện chứng trong triết học phương Đơng
Là một nước có vị trí địa lý ở gần hai nền văn hóa lớn là Ấn
Độ và Trung Hoa, điều kiện tự nhiên đó đã tạo cho Việt Nam tiếp
thu hai nền văn hóa lớn của nhân loại, làm giàu cho tư tưởng
cũng như nền văn hóa của mình. Tư tưởng biện chứng Hồ Chí
Minh trong phương pháp cách mạng cũng chịu những tác động,
ảnh hưởng của hai nền văn hóa đó đặc biệt là tư tưởng biện
chứng trong Kinh dịch, tư tưởng biện chứng của Nho giáo và tư
tưởng biện chứng của Phật giáo.
a. Ảnh hưởng của Dịch học
Ở Việt Nam, trải qua chiều dài lịch sử của các triều đại và
thời kỳ có nhiều người nghiên cứu Dịch học, các nhà nghiên cứu
Việt Nam thường quan tâm đến nghĩa lý trong Dịch học về tư
tưởng đạo đức hay dùng vào việc binh pháp như các tác phẩm:
Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, Dịch kinh phu thuyết
của Lê Quý Đôn, Quốc văn Chu Dịch diễn giải của Phan Bội
28
Châu, Lịch sử triết học Đông Phương của Nguyễn Đăng Thục,
Kinh dịch - Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê... Tiêu
biểu của tư tưởng biện chứng trong Kinh dịch là mối quan hệ
giữa Âm và Dương.
Dịch học cho rằng: Trời đất, con người và xã hội luôn thay
đổi. Sự vận động của thế giới là sự tương tác, sự đồng nhất và bài
trừ lẫn nhau của hai mặt đối lập: âm và dương, động và tĩnh,
ngày và đêm, nóng và lạnh, cương và nhu, giống đực và giống
cái, thịnh và suy, họa và phúc… là sự “tương sinh”, “tương khắc”
của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là sự tương tác giữa thiên - địa nhân, sự thống nhất, đối lập và tác động qua lại đó là phổ biến,
khách quan và vận động, phát triển không ngừng, rằng con người
sống giữa trời đất phải hành sự sao cho phù hợp với quy luật của
đất trời, phải có sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên “thiên
nhân tương cảm”.
Kinh dịch đề cập đến sự vận động và phát triển của vạn vật:
Trong “hệ từ thượng truyện” (Chương XI) có đoạn: “Dịch hữu
thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghy sinh tứ tượng, tứ tượng
sinh bát quái... Nghĩa là dịch có thái cực, thái cực sinh ra lưỡng
nghi, lưỡng nghy sinh ra tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái”1.
Theo tác giả Châu Liêm Khê: “Vô cực nhy sinh thái cực;
thái cực động nhy sinh Dương; động cực nhi tĩnh; tĩnh nhy sinh
Âm; tĩnh cực phục động; nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn.
Phân Âm phân Dương, lưỡng nghi lập yên. Dương biến Âm hợp
nhy sinh Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ, Ngũ khí thuận bố, tứ thời
hành yên. Ngũ hành nhất, Âm dương dã. Âm dương nhất, thái
cực dã. Thái cực bản vô cực dã. Ngũ hành chy sinh dã, các nhất
kỳ tính. Vơ cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu hợp chi ngưng.
Kiền đạo thành Nam, Khôn đạo thành Nữ; nhị khí giao cảm,
hóa sinh vạn vật; vạn vật sinh, sinh nhi biến hóa vơ cùng n.
Nghĩa là: Vô cực mà là thái cực. Thái cực động thì sinh Dương;
động cực thì tĩnh; tĩnh thì sinh Âm; tĩnh cực lại động; một động
một tĩnh, cùng làm căn bản cho nhau. Rồi khi phân chia ra âm
dương thì lưỡng nghi thành lập. Và đến lúc Dương biến, Âm
hợp thì Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ sinh ra. Năm khí đó nếu
được xếp đặt thuận hợp với nhau thì bốn mùa sẽ vận hành đều
đặn. Ngũ hành nếu hợp nhất thì thành Thái cực. Thái cực có gốc
là vơ cực. Ngũ hành sinh hóa đều có tính chất duy nhất. Cái
Chân khơng của vơ cực, cái tính chất của Âm dương và Ngũ
hành, tất cả phối hợp một cách kỳ diệu và kết tụ với nhau. Thế
rồi Đạo Kiền làm thành trai, Đạo Khơn làm thành gái; hai khí
giao cảm mà sinh ra muôn vật; muôn vật sinh, rồi lại sinh, sinh
sinh mãi và biến hóa vơ cùng”1.
Sự vận động trong Dịch học luôn diễn ra liên tục theo một
chu trình tuần hồn, xuất phát từ hai quẻ Càn - Khôn (tượng
trưng cho Âm - Dương), từng cặp đôi chuyển hóa lẫn nhau cho
đến kết thúc vịng tuần hồn 64 quẻ. Q trình vận động ấy
khơng bao giờ dừng lại. Nguồn gốc của sự vật từ hai mặt đối lập
Âm - Dương. Giữa vận động và đứng im có mối quan hệ biện
chứng với nhau sự đứng im chỉ mang tính chất tạm thời, cịn vận
____________
____________
1
1
Nguyễn Hiến Lê: Kinh dịch - Đạo của người quân tử, Nxb.Văn học, H.2007,
tr.563.
29
Nguyễn Hữu Lương: Kinh dịch với vũ trụ quan Đông phương, Nxb.Thành
phố Hồ Chí Minh, 1992, tr.32.
30
động là mãi mãi. Tuy nhiên, Dịch học lại không có nhận thức
đúng đắn về sự phát triển, khơng thấy được sự phát triển theo
hình “xốy ốc” mà cho rằng phát triển mang tính tuần hồn, lặp
lại, cái mới là tái hiện đơn giản của cái cũ mà thôi.
Bên cạnh đó, Dịch học thể hiện rõ mối quan hệ phổ biến của
Âm - Dương thể hiện qua các khái niệm “giao cảm” (gặp nhau),
“tương ứng” (phù hợp nhau), “tương cầu” (tìm nhau), “tương
thơi” (xơ đẩy nhau), “tương ma” (cọ xát nhau), “tương thành”
(giúp nhau tự hồn thành). Có cảm thì mới có giao, có tương ứng
thì mới có tương cầu, tương hỗ, có tương đồng thì mới có tương
hợp, tương thành. Đó là sự tác động qua lại, hịa quyện vào nhau
của các sự vật, hiện tượng có tương tác hấp dẫn. Sự vật ngồi
việc tự sinh, tự hóa cịn tương sinh, tương hóa. Với quy luật “âm
thịnh dương suy”, “dương thịnh âm suy” và quy luật âm dương
phản phục: khi thiếu âm phát triển âm đến cực đại - thái âm thì
lại sinh ra thiếu dương và khi thiếu dương phát triển dương tính
đến cực đại - thái dương thì phải sinh ra thiếu âm... cứ như thế,
âm dương biến hóa liên tục, tạo ra sự sinh hóa khơng bao giờ
ngừng nghỉ và tạo ra tính chất chu kỳ, tuần hoàn trong sự vận
động, biến đổi của vạn vật, hình thành nên luận điểm “âm cực
dương hồi”, “bĩ cực, thái lai”.
Đặc biệt là trong mối quan hệ của 64 quẻ, hay mối quan hệ
nội tại của từng quẻ cho thấy sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau
đặc biệt trong các mối quan hệ giữa con người với vũ trụ - tam tài
(thiên - địa - nhân).
Dịch học cũng chỉ ra sự phát triển của mỗi sự vật hiện tượng
bao hàm những mâu thuẫn nội tại và quá trình phát triển của
31
chúng cũng bao hàm những mâu thuẫn. Những mâu thuẫn ấy tồn
tại khách quan và phổ biến.
Trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại, Dịch học là một
trong số trường phái hiếm hoi cho chúng ta thấy được một bức
tranh tổng thể thống nhất biện chứng về thế giới và con người.
Dịch học đề cập rất nhiều đến vấn đề nguồn gốc hình thành của vũ
trụ và vạn vật, các quy luật cơ bản của thế giới cũng như vị trí và
vai trị của con người trong thế giới đó. Dịch học cho thấy thế giới
là chỉnh thể thống nhất, có tác động biện chứng qua lại lẫn nhau
theo quy luật và ngay bản thân con người cũng là một phần không
thể thiếu trong thế giới đó. Con người là một “tiểu vũ trụ”, số phận
của con người có thể dự đốn được nhờ giải đốn các quẻ trong
Dịch học. Phan Bội Châu đã từng nói: “Chúng ta tham khảo triết
Trung ở các nhà triết học Đông Phương, vừa tinh vi vừa thiết thực,
vừa thấu lý vừa thích dụng, thời chẳng gì bằng Dịch học”1.
Tư tưởng biện chứng đó áp dụng vào nhân sinh quan đã có
những ảnh hưởng đối với Hồ Chí Minh. Đó là tinh thần lạc quan,
nghiêm túc, lành mạnh, bình thản, ung dung “dĩ bất biến, ứng vạn
biến” trước mọi sinh tử, được mất, thịnh suy, bĩ thái, họa phúc...
của cuộc đời. Ngồi ra, Dịch học có khả năng tính dự đốn rất
chính xác ứng dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và tính thực
tiễn rất cao. Tuy nhiên, Dịch học là sản phẩm của lối tư duy trực
quan, kinh nghiệm, chất phác, giản đơn nên khơng khỏi có những
yếu tố siêu hình, hạn hẹp, mập mờ, mang tính thần bí, duy tâm.
____________
1
Nguyễn Tài Thư: Kinh dịch và lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tạp chí Triết học,
2010, tr.19.
32
b. Ảnh hưởng của Nho giáo
Nho giáo chủ trương “nhập thế”, “chính danh”, “hành đạo”,
phải có hành động tích cự với đời, phải “tận lực”... Người quân
tử phải xả thân vì Nhân, vì Nghĩa... Triết lý Nho giáo là triết lý
hành động, giúp đời, cứu người.
Nho giáo vào Việt Nam đã kết hợp với chủ nghĩa yêu nước
truyền thống tạo thành những tiêu chuẩn cụ thể của Nhân, Lễ,
Nghĩa, Trí, Dũng... Là đánh giặc giữ nước, cứu dân khỏi vòng nơ
lệ. Nho giáo được Hồ Chí Minh tiếp cận rất sớm tạo nền tảng, cơ
sở hình thành bản chất của Người. Người đã vận dụng tri thức
Nho giáo và phát triển sáng tạo các giá trị của học thuyết chính
trị - đạo đức của Nho giáo lên một tầm cao mới trong thực tiễn
hoạt động cách mạng.
Nho giáo chủ trương xây dựng một “thế giới đại đồng”,
“thiên nhân hợp nhất” một “xã hội bình trị” trong xã hội đó “mọi
nhà ban đêm khơng cần đóng cửa”. Đặc biệt, với tư tưởng “tam
tài thống nhất” Nho giáo đã chỉ rõ con người là một yếu tố trong
tam giác thiên - địa - nhân. Ở đó, con người có vai trị là chủ thể
tác động vào trời đất. Tuân Tử đã khẳng định: “Trời có bốn mùa,
đất có sản vật, người có văn trị”1.
Nhận thấy mối quan hệ thiên - địa - nhân trong Nho giáo, Hồ
Chí Minh khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành cơng phải có
ba điều kiện là: thiên thời, địa lợi và nhân hịa”2.
Người ln coi trọng sự kết hợp giữa ba yếu tố đó để tạo nên
sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Người cũng thấy rõ vai trị, vị trí
của ba yếu tố đó: “Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa
lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hịa”1. Người khẳng
định có hịa thuận, đồn kết, nhất trí giữa mọi người thì mới có
lực lượng vững mạnh, mới khơi dậy được tiềm năng, sức mạnh,
mới tạo được thời cơ và tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi cho
sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chịu những ảnh hưởng của
tư tưởng dùng đức trị quốc của Nho giáo. Các phạm trù: “nhân”,
“nghĩa”, “trung”, “hiếu” hay “tài”, “đức” và mối quan hệ biện
chứng của những phạm trù đó trong lối sống của người quân tử,
người cách mạng đã thể hiện một cốt cách hiếm có của Hồ Chí
Minh. Người khơng chỉ loại bỏ những đạo đức cũ, những yếu tố
thủ cựu, tiêu cực mà còn kế thừa và phát triển những mặt tích cực
của đạo đức truyền thống phương Đơng để xây dựng nền đạo đức
cách mạng, giáo dục cho nhân dân nhằm phục vụ cho sự nghiệp
cứu nước, cứu nhà của dân tộc ta. Người luôn vận dụng các kiến
thức đó vào trong cuộc sống thực tế: Người viết: “Trời có bốn
mùa: Xn, Hạ, Thu, Đơng. Đất có bốn phương Đơng, Tây, Nam,
Bắc; Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính; Thiếu một
mùa thì khơng thành trời; Thiếu một phương thì khơng thành đất;
Thiếu một đức tì khơng thành người”2.
Nho giáo chủ trương “Nhập thế”, “Hành đạo”, “Nhân nghĩa”,
còn Đạo gia thì chủ trương “Xuất thế”, “Vơ vi”, Lão Tử đưa ra
____________
____________
1
1
2
Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2003, tr.51.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.594.
2
33
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.594.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.6, tr.117.
34
giải pháp cho các bậc trị nước là “lấy vô vi mà xử sự, lấy bất
ngôn mà dạy đời” để trừ khử ” những cái “thái quá” nâng đỡ cái
“bất cập”, “lấy nhu nhược thắng cương thường”, “lấy yếu thắng
mạnh”, “cơng thành thân thối”1. Nho gia và Đạo gia là hai hệ tư
tưởng đối lập nhau. Nhưng Hồ Chí Minh đã tìm ra được sự thống
nhất của hai cái “đối lập” đó, khi dân khổ, mất nước thì phải xả
thân vì nước, vì dân, đến khi nước đã giành được độc lập, nhân
dân được âm no thì “thân thối”, trở về sống cảnh điền viên, gần
gũi với thiên nhiên và người dân lao động. Người tâm sự: “Riêng
phần tơi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc
để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi,
em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vịng danh lợi”2. Rõ ràng
chúng ta thấy ở Hồ Chí Minh hình ảnh một Khổng Tử, một Mặc
Tử “mịn trán lỏng gót” và một Lão Tử, Trang Tử “vô vi” an
nhàn khi tuổi đã về già.
Trên thế giới hiếm có một vị lãnh tụ của một đảng, chủ tịch
của một nước, một trong những lãnh tụ xuất sắc nhân dân cần lao
mà từ tác phong ăn mặc, ra trận như một người lính, trồng rau
ni cá như một nơng dân, sinh hoạt bình dị như một người dân
bình thường… Người yêu từng chiến sĩ, từng người dân cơng
đêm nay ngủ giữa rừng, thương xót những thương binh, thậm chí
đối với tù binh. Thái độ của Người cũng vị tha, độ lượng, máu
của Pháp hay máu của Việt cũng đều là máu người, tháng 121946 trong Thư gửi các tù binh Pháp, Người viết: “Tôi rất lấy
làm phiền lịng vì thấy các người đang ở trong tình trạng thế này.
Tôi coi các người như là bạn của tôi”1.
Như vậy, tư tưởng biện chứng phương Đông nhưng đã tạo cơ
sở nhìn nhận sáng suốt của Người. Điều đó được chứng minh qua
hoạt động thực tiễn trong hai cuộc kháng chiến oanh liệt chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Bên cạnh Nho gia, Đạo gia, Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng
từ tư tưởng biện chứng trong phương pháp dùng binh của Tôn Tử.
Với tác phẩm Tôn tử binh pháp, Tôn Tử đã đề cập hầu hết các vấn
đề lý luận quân sự thời Xuân Thu - Chiến Quốc, được phân tích với
quan điểm biện chứng. Dù cịn có những hạn chế nhưng đã tổng kết
kinh nghiệm chiến tranh hơn một nghìn năm trước đó, trong đó
trọng tâm là bàn đến phương pháp để giành thắng lợi trong chiến
tranh. Tơn Tử đã chỉ ra quy luật: “biết mình, biết người, trăm trận
không nguy”, “việc binh là thuật dối trá, đánh vào nơi địch khơng
phịng bị, ra qn lúc địch khơng ngờ”, Hồ Chí Minh nhận xét:
“Ơng Tơn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc…
Ngày nay chẳng những trường học Trung Quốc, mà các trường
quân sự của các nước cũng lấy phép này làm gốc và ra sức nghiên
cứu. Vì phép ơng Tơn Tử tuy đã lâu đời nhưng nguyên tác đến nay
vẫn còn là rất đúng. Nguyên Tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về
qn sự đúng, mà cịn dùng về chính trị cũng rất hay…”2.
Binh pháp Tơn Tử được Hồ Chí Minh chú tâm nghiên cứu,
kế thừa có chọn lọc và vận dụng một cách thiết thực, linh hoạt và
____________
____________
1
1
2
Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2003, tr.58.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.187.
2
35
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.542.
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, tr.557.
36
sáng tạo, phát triển phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam,
trong khi binh pháp Tôn Tử lấy nhiều đánh ít “có binh lực gấp
mười lần địch thì bao vây nó, gấp năm lần địch thì tiến cơng...
binh lực ít hơn địch thì nên tránh xa nó, điều kiện khơng bằng
địch thì tránh giao chiến”1, thì Hồ Chí Minh vận dụng phương
pháp “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu chống mạnh”, không thể là một
đối một, không thể bầy thế trận như bên địch để đánh. Kết quả dù
quân ta ít và yếu hơn địch nhưng vẫn giành thắng lợi.
văn hóa của bản thân. Thể hiện quan điểm khoa học, khách quan,
cơng bằng, quan điểm khoan dung văn hóa. Người đặt Khổng Tử
ngang hàng với Giêsu, Các Mác, Tôn Dật Tiên. Người còn gọi
Khổng Tử là: “Đức Khổng Tử vĩ đại”. Trong các bài nói, bài viết
của mình, Hồ Chí Minh trích dẫn nguyên văn hoặc mượn ý
Khổng Tử và các mơn đồ rất nhiều, nhất là những câu nói về tu
dưỡng đạo đức.
Người cũng đã vận dụng: “biết mình, biết giặc, trăm trận,
trăm thắng”. Trong chỉ đạo tác chiến, Người cũng rất coi trọng
việc nắm quyền chủ động trong chiến đấu và phải “tránh chỗ
mạnh, đánh chỗ yếu”2. Người cũng luôn chú ý đến nghệ thuật lừa
địch, đánh địch một cách bất ngờ để giành thắng lợi: “Về việc
quân, khơng thể đường đường chính chính được mà bao giờ cũng
phải áp dụng chiến dịch lừa dối... muốn thắng quân địch phải bầy
mưu kế làm sao lừa được quân địch vào cạm bẫy, nên không thể
không dùng chiến thuật giả dối được. Cho nên dùng binh giỏi
nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba
mới đánh bằng binh. Vây thành mà đánh là kém nhất… cho nên
khéo dùng binh thì thắng được quân địch mà không phải đánh.
Lấy được thành địch mà không phải vây, hủy được nước địch mà
không phải đánh lâu. Vậy nên khơng hao tốn binh lính mà thắng
lợi hồn tồn…”3.
Phật giáo ở Việt Nam ó nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Hoa.
Tuy vào sau Nho giáo nhưng Phật giáo đã có những ảnh hưởng
sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam nhất là người dân
lao động. Phật giáo cũng như các tôn giáo khác đều dựa trên thế
giới quan duy tâm nhưng khơng phải là khơng có yếu tố duy vật,
tích cực. Khi vào Việt Nam, Phật giáo kết hợp với chủ nghĩa yêu
nước, với bản chất nhân đạo, từ bi bác ái được người dân đón
nhận và tạo thành một lực lượng rộng lớn có nhiều ảnh hưởng
tích cực đến mọi mặt đời sống xã hội đặc biệt là trong cuộc đấu
tranh giành độc lập cho dân tộc.
Từ cách nhận diện như vậy, Hồ Chí Minh đã chọn lọc, kế
thừa, cải biến di sản tư tưởng Nho giáo để làm giàu vốn tri thức
____________
1, 2, 3
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, tr.561,
568, 562.
37
c. Ảnh hưởng của Phật giáo
Trong học thuyết Phật giáo nguyên thủy có thuyết “Chân
như” thừa nhận thế giới tồn tại và vận động một cách vĩnh hằng,
không ai sinh ra cũng không bao giờ mất đi. Rằng vũ trụ, vạn vật
sinh ra do sự biến chuyển trong bản thân nó, vũ trụ là tự tại, quy
luật vận hành của vũ trụ là quy luật nhân quả và dây chuyền của
nhân quả là vô tận. Vũ trụ là “vô thủy, vơ chung” hay cịn gọi là
thế giới “Thường trụ”, cịn mỗi sự vật đều có thủy có chung, ra
đời rồi mất đi, có sinh có tử nên gọi là “Vơ thường” thế giới
Thường trụ, thế giới Tự nó gọi là “Chân như”.
38
Chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa duy vật đối lập với tơn giáo
nhưng trong hồn cảnh cụ thể ở Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ
trương tự do tín ngưỡng. Đó là quan điểm biện chứng thể hiện sự
hịa hợp giữa tơn giáo và dân tộc, giữa đạo và đời trước một vấn
đề cụ thể: Phải đồn kết tồn dân khơng phân biệt đảng phái,
lương giáo, giàu nghèo, quy tụ họ vào một mặt trận thống nhất
chống xâm lược.
Tư tưởng biện chứng của phương Đơng tuy cịn thơ sơ, mộc
mạc nhưng góp phần khơng nhỏ hình thành những quan điểm
biện chứng về thời - thế - lực trong chiến tranh, về lấy ít thắng
nhiều, lấy trường kỳ thắng tốc chiến tốc thắng trong quân sự, lấy
nhu thắng cương trong ngoại giao, lấy chính nghĩa thắng phi
nghĩa... Chính những quan điểm biện chứng ấy đã được thiên tài
Hồ Chí Minh vận dụng, phát triển sáng tạo vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
4. Ảnh hưởng trực tiếp của các cuộc đấu tranh và sự phân hóa xã
hội khi thực dân Pháp xâm lược
Hồ Chí Minh sinh ra vào thời khắc thực dân Pháp đã hoàn
thành cuộc xâm lược nước Việt Nam, đang trong thời kỳ bình
định để bước vào giai đoạn khai thác thuộc địa trên quy mô lớn.
Tuy nhiên, dấu ấn của những cuộc đấu tranh anh dũng của nhân
dân Việt Nam chống xâm lược và sự bế tắc của triều đình phong
kiến nhà Nguyễn có những tác động mạnh mẽ đến tư tưởng
Hồ Chí Minh.
Tháng 8-1858, thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng, mở ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Triều đình
39
nhà Nguyễn chống trả quyết liệt buộc quân Pháp phải rút lui. Sáu
tháng sau liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo vào đánh thành Gia
Định, bọn xâm lược đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân
dân Nam Bộ. Trong thời gian này, khắp nơi từ Bắc chí Nam, nổi
lên phong trào chống Pháp và chống cả triều đình cắt đất cho
Pháp. Phong trào phát triển mạnh khắp Nam Bộ, nhiều cuộc khởi
nghĩa đã nổ ra. Thực dân Pháp đã vấp phải sự chống cự mãnh liệt
của nhân dân trên khắp cả nước. Triều đình Huế với chủ trương
nghị hịa chiếm ưu thế, Tự Đức ra lệnh triệt binh để ký Hòa ước
ngày 15-3-1874 tại Sài Gịn, dâng tồn bộ đất đai Nam Kỳ cho
thực dân Pháp.
Với dã tâm cướp toàn bộ nước ta, ngày 03-4-1882 quân Pháp
bất ngờ đổ bộ lên Hà Nội, mở đầu đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ
hai. Nắm được bản chất nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn,
đô đốc Cuốcbê kéo quân vào đánh chiếm Thuận An. Triều đình
Huế khiếp sợ đã ký Hiệp ước đầu hàng Pháp vào ngày 25-81883, thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Thừa thắng quân Pháp
đánh thành Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Ngun, Hưng Hóa, Tun
Quang và buộc triều đình Huế ký bản Điều ước ngày 06-6-1884
đặt cơ sở lâu dài cho nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam, bắt đầu
thực hiện bình định và khai thác.
Như vậy, sau 25 năm (1859-1884), thực dân Pháp với nhiều
binh cường tướng mạnh tiến hành cuộc viễn chinh xâm lược Việt
Nam. Triều đình nhà Nguyễn đã ký hai hiệp ước bán đứng đất
nước Việt Nam cho thực dân Pháp. Nhưng nhân dân Việt Nam,
đặc biệt là các sĩ phu yêu nước vẫn bền bỉ ni chí tranh đấu địi
lại tự do, độc lập, không chịu khuất phục. Nổi bật trong các
40
phong trào thời kỳ này là phong trào Cần Vương của vua Hàm
Nghi, đại thần Tôn Thất Thuyết và phong trào nơng dân n Thế
của Hồng Hoa Thám, phong trào Duy Tân hội và Quang Phục
hội… nhưng các cuộc khởi nghĩa tất bại và bị đàn áp dã man.
Quan Phụ chánh đại thần - Thượng Thư bộ binh Tôn Thất
Thuyết, người đứng đầu phái chủ chiến trong triều đình, lấy danh
nghĩa vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương kêu gọi các sĩ phu, văn
thân và nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân Pháp. Phong
trào Cần Vương có các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: khởi nghĩa
Bãi Sậy, khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa Hùng Lĩnh, nhưng cuộc
khởi nghĩa có quy mơ lớn nhất là khởi nghĩa Hương Khê, kéo dài
10 năm do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo với sự tham
gia của tiến sĩ Phan Trọng Mưu… và một số sĩ phu yêu nước
khác. Khởi nghĩa Hương Khê có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà
cách mạng xứ Nghệ, trong đó có Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và
bạn bè, con em các cụ. Khởi nghĩa Yên Thế là phong trào có quy
mơ lớn và kéo dài nhất trong số những phong trào chống Pháp
thời kỳ đó.
biến đổi mạnh mẽ kết cấu hạ tầng cơ sở của Việt Nam: xuất hiện
các thành thị và trung tâm buôn bán; giai cấp địa chủ được bảo
hộ về kinh tế, chính trị và làm chỗ dựa cho chính quyền do thực
dân Pháp dựng lên; nông dân chiếm đại bộ phận dân số, là đối
tượng bóc lột của thực dân và chính quyền bù nhìn phong kiến
vốn đã nghèo khổ nay lại càng nghèo khổ hơn; chính sách khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm xuất hiện
giai cấp công nhân. Tuy nhiên, giai đoạn này giai cấp cơng nhân
mới ra đời và mang tính chất tự phát; đội ngũ thợ thủ công, tiểu
thương, tiểu thủ, công chức, trí thức mới phát triển nhanh, ngày
một đơng đảo tầng lớp này có đời sống vật chất khá hơn cơng
nhân và nơng dân.
Sau khi bình định xong Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào
cuộc khai thác Việt Nam trên quy mơ lớn (1897-1914) với sự có
mặt của Tồn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) vào
tháng 3 năm 1897. Các hoạt động như tổ chức chính phủ chung
cho tồn Đơng Dương, tổ chức bộ máy cai trị riêng cho từng
“Xứ” thuộc liên bang; thiết lập hệ thống thuế khóa và tăng nhanh
các thứ thuế; mở hệ thống giao thông đường sắt, bộ, thủy để tiện
cho việc khai thác; đẩy mạnh sản xuất và thương mại để bóc lột
nhân công. Việc đẩy mạnh quy mô và tốc độ khai thác đã làm
Phan Bội Châu, hiệu Sào Nam, đậu Giải nguyên năm 1900,
ông đã cùng liên kết với dư đảng Cần Vương và chiến khu Yên
Thế; đã tiếp xúc với tư tưởng dân chủ của Lương Khải Siêu,
Khang Hữu Vi, chủ trương Đông Du, đem thanh niên sang Nhật
học hỏi. Cụ Phan chủ trương bên trong thì xây dựng lực lượng,
bên ngồi thì cầu viện Nhật Bản, vì nước Nhật oai hùng, mạnh lại
“Đồng chủng”, “Đồng châu” với Việt Nam. Cụ Phan phát động
phong trào Đông Du tuy không thành, nhưng cũng đã dấy lên
một phong trào yêu nước xuất dương với tư tưởng tiến bộ. Phan
41
Tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến lớn,
cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX có hai phong trao cách
mạng là Duy Tân hội và Việt Nam quan phục hội. Phong trào
Duy Tân hội, do Phan Bội Châu và Cường Để cùng hơn hai mươi
đồng chí của các ơng thành lập năm 1904. Duy Tân hội chủ
trương đánh Pháp, thành lập chế độ quân chủ lập hiến.
42
Bội Châu cũng đã tiếp xúc với Tôn Trung Sơn, lãnh tụ của Cách
mạng Tân Hợi, Trung Quốc, có tư tưởng dân chủ cộng hòa. Phan
Bội Châu là bạn tâm huyết của Nguyễn Sinh Sắc, hai nhân cách
lớn đã nhiều lần đàm đạo việc nước và Phan Bội Châu đã có ý
định đưa Nguyễn Tất Thành (con trai Nguyễn Sinh Sắc) đông du
sang Nhật, nhưng kế hoạch không thực hiện được.
Thời kỳ này, nhà yêu nước có ảnh hưởng đến tư tưởng và
hướng đi của nguyễn Tất Thành là Phó bảng Phan Châu Trinh
(1872-1926), hiệu là Tây Hồ, Phan Châu Trinh đã tiếp xúc với tư
tưởng Duy tân của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu; tư tưởng
dân quyền của Rútxô (Rousseau), Môngtexkiơ (Montesquieu);
phong trào Duy Tân của Nhật; tư tưởng dân chủ tư sản của cách
mạng Pháp, cách mạng Mỹ, Phan Châu Trinh là vị đồng khoa với
cụ Nguyễn Sinh Sắc, hai người đã có nhiều lần đàm đạo việc
nước, việc đời. Phan Châu Trinh cũng là bạn của Phan Bội Châu
nhưng lại phản đối tư tưởng quân chủ, chủ trương bạo động của
Phan Bội Châu. Đường lối cách mạng của Phan Châu Trinh là cải
lương, “Ỷ Pháp cầu tiến”, “Pháp - Việt đề huề”; chỉ cần khai dân
trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, học cho giỏi, Tây sẽ nể mà trả lại
độc lập cho ta. Phan Châu Trinh không phản đối quyền thống trị
của thực dân Pháp mà dựa vào Pháp để đánh đổ triều đình phong
kiến. Phan Bội Châu Viết: “Cụ Phan Châu Trinh muốn đánh đổ
nền quân chủ, cốt vun trồng nền tảng dân quyền, dựa vào Pháp
mà đánh đổ nền qn chủ. Cịn ý tơi thì trước muốn đánh đổ
người Pháp, nước mình độc lập rồi mới bàn đến việc khác. Vì thế
mà đang lúc đánh với Pháp, phải lợi dụng quân chủ. Chính kiến
của hai người rất phản đối nhau vì Cụ và tơi vẫn cùng mục đích
43
mà thủ đoạn thì khác nhau xa. Cụ thì muốn đi theo lối dựa vào
Pháp, đánh đổ vua, tôi ưng đi theo lối bài Pháp phục Việt, sở dĩ
mâu thuẫn với nhau là vì như thế”1.
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào
Duy Tân đầu thế kỷ XX, là nhà nho yêu nước chân chính. Ơng đã
cùng tiến sĩ Trần Q Cáp và tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng phát
động một phong trào cải cách Duy tân ở miền Trung. Cuộc vận
động Duy tân diễn ra trên nhiều lĩnh vực và đã thu hút được
nhiều chí sĩ u nước tham gia, điển hình như Nguyễn Trọng Lôi,
Nguyễn Quý Anh… các ông đã mở công ty nước mắm Liên
Thành, lập trường Dục Thanh.
Năm 1908 ở Trung Kỳ nổ ra phong trào chống sưu cao thuế
nặng rầm rộ khắp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Thừa Thiên… Số người tham gia đến hàng vạn. Nguyễn Tất
Thành lúc đó cịn là học sinh Trường Quốc học Huế cũng tham
gia biểu tình nên cụ Nguyễn Sinh Sắc bị bọn thực dân Pháp
khiển trách.
Cũng đầu thế kỷ XX, Phan Châu Trinh cùng một số sĩ phu ở
miền Bắc thành lập “Đông kinh nghĩa thục” ở Hà Nội; mở trường
để truyền bá tư tưởng dân chủ, nếp sống văn minh và khơi dậy lòng
yêu nước, học văn minh chân Âu. Phong trào Đông kinh nghĩa thục
đã phát triển đến các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đơng, Hưng n, Hải
Dương, Thái Bình và vào đến Trung Kỳ, Nam Kỳ… Đông kinh
nghĩa thục thực chất là một phong trào u nước ơn hịa. Là một
cuộc cải cách văn hóa, tư tưởng, chống lại phong kiến lạc hậu, lỗi
____________
1
Phan Bội Châu: Toàn tập, Nxb.Thuận Hóa, Huế, 1990, t.6, tr.116.
44
thời, cổ động cho cuộc cải cách xã hội, khơi dậy tinh thần yêu
nước, lối sống văn minh, đả phá tư tưởng hủ nho, nếp sống lạc hậu,
nâng cao dân khí (lịng u nước), dân trí (trình độ học vấn) và cải
tiến nếp sống của người dân, canh tân cho đất nước.
Năm 1911, cách mạng Tân Hợi - Trung Quốc bùng nổ, các
nhà cách mạng Việt Nam hướng về Trung Quốc, trong đó có
Phan Bội Châu, Cụ và hàng trăm thanh niên từ Xiêm tìm sang
Quảng Đơng thành lập Việt Nam Quang phục Hội với cương lĩnh
“Đánh đuổi giặc Pháp, khơi phục nước Việt Nam, thành lập nước
Cộng hịa dân quốc Việt Nam”. Việt Nam Quang phục Hội và
Phan Bội Châu chủ trương vũ trang bạo động lâu dài. Nhưng do
không xây dựng được cơ sở và lực lượng trong nước nên phong
trào đã thất bại.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, nước
Pháp tham chiến. Thuộc địa Việt Nam càng bị khai thác và bóc
lột tàn khốc hơn, đặc biệt là việc bắt người Việt Nam đi lính chết
thay cho người Pháp. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã viết trong
bài Đông Dương và Triều Tiên: “Sự Hy sinh bắt buộc cho nước
Pháp mà nhân dân An Nam phải chịu đựng từ khi có chiến
tranh… về mặt tài chính, nhân dân An Nam đã phải gánh vác một
phần lớn, có đến hàng trăm, hàng triệu phrăng, do đóng góp tự do
hay bắt buộc, mà chủ yếu thì bắt buộc hơn là tự do; về mặt đóng
góp sức người, thì một nguồn nhân lực rẻ tiền đã lên tới con số
hơn 100 ngàn người lao động và rất nhiều tiểu đồn lính chiến
đấu, kẻ trước người sau, họ đều bị trưng tập và bắt buộc đưa sang
Pháp hay các nước khác… trong số những người lao động và
binh lính An Nam ấy, đã có hàng mấy chục ngàn người ra đi mà
45
không bao giờ trở lại quê hương đất nước của họ nữa, chỉ vì một
lý do đơn giản là họ đã chết1.
Trước những biến chuyển lớn lao trên thế giới và trong
nước sau những thoái trào do sự đàn áp dã man của thực dân
Pháp, phong trào cách mạng nay lại bùng lên. Việt Nam Quang
phục Hội đã tổ chức vũ trang tiến hành bạo động ở Hà Nội, Phú
Thọ, Móng Cái, Lạng Sơn, Hà Khẩu, phá ngục Lao Bảo. Ở
miền Trung có khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân, lấy
ngọn cờ vua Duy Tân làm minh chủ. Ngồi ra, ở phía Bắc có
khởi nghĩa Thái Ngun. Ở Nam Kỳ có phong trào Hội Kín nổ
ra khắp nông thôn lục tỉnh. Ở trung du miền núi phía Bắc có
khởi nghĩa của Lương Bảo Định, khởi nghĩa Lai Châu của đồng
bào H’mông do Giàng Tả Chay lãnh đạo, khởi nghĩa Bình Liêu
vùng Đơng Bắc của Thàm Cao Say của đồng bào Hoa, Dao,
Nùng, Hán, kinh; ở Tây Ngun có khởi nghĩa của người
M’nơng do N’Trang Lơng lãnh đạo…
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc với thắng lợi của
phe Đồng minh trong đó có nước Pháp, nhưng nước “mẹ đại
Pháp” kiệt quệ càng tăng cường bóc lột “đứa con ghẻ lạnh và
bướng bỉnh Việt Nam”. Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp lúc này quả
là một sự lựa chọn tối ưu cho quá trình nhận thức và hoạt động,
bởi vì đây là lúc chủ nghĩa thực dân lộ ngun hình bản chất bóc
lột các nước thuộc địa dã man, tàn bạo nhất.
Để thực hiện bù đắp những thiệt hại do Thế chiến thứ nhất
gây ra, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa
____________
1
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.1, tr.19,20.
46
lần thứ hai với quy mô và mức độ tàn khốc hơn rất nhiều so với
lần trước. Trước tiên chúng củng cố bộ máy chính quyền bù nhìn,
đồng thời ráo riết thực hiện việc tập trung quyền lực, thực hiện
các thủ đoạn chia rẽ dân tộc. Về kinh tế, chúng đẩy mạnh đầu tư
vào công, nông, thương nghiệp, thay đổi chính sách thuế khóa,
tăng thuế gấp hai đến ba lần; độc quyền sản xuất, đẩy mạnh việc
kinh doanh rượu, thuốc phiện và muối… Trong bài Kẻ đầu độc
bản xứ, Hồ Chí Minh viết: “Lúc đó có một nghìn năm trăm ty
rượu và thuốc phiện cho một nghìn làng trong khi chỉ có mười
trường học cũng cho bấy nhiêu làng. Ngay cả trước bức thư nổi
danh đó, người ta đã cho 12 triệu người bản xứ - kể cả đàn bà và
trẻ con - nốc 23 đến 24 triệu lít rượu mỗi năm”1.
Do thực dân Pháp đẩy mạnh khai mỏ, chiếm đất mở đồn
điền… dẫn đến việc làm cho xã hội Việt Nam bị phân hóa ngày
càng gay gắt: giai cấp tư sản bản xứ dần hình thành; giai cấp
cơng nhân tăng nhanh về số lượng và tập trung ở các khu cơng
nghiệp; trí thức Tây học xuất hiện nhiều bên cạnh trí thức Nho
học; tiểu tư sản, tiểu thương viên chức, sinh viên học sinh tăng
nhanh; nông dân vẫn là lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội
nhưng chính họ là tầng lớp nghèo khổ bị bần cùng hơn bao giờ
hết. Thực trạng đó đã dẫn đến những mâu thuẫn cơ bản trong xã
hội Việt Nam giữa thực dân Pháp với dân tộc Việt Nam, giữa địa
chủ phong kiến với nông dân, giữa giai cấp công nhân với giai
cấp tư sản. Những mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt.
Vì vậy chủ nghĩa yêu nước lúc này đi theo hai khuynh hướng:
khuynh hướng theo chủ nghĩa dân tộc tư sản và tiểu tư sản; và
____________
1
khuynh hướng vô sản, theo đó những hoạt động của tổ chức này,
mà đại diện là Nguyễn Ái Quốc luôn lên án, tố cáo chủ nghĩa
thực dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân Việt Nam.
Chủ nghĩa dân tộc tư sản và tiểu tư sản có ba khuynh hướng:
Chủ nghĩa u nước ơn hòa, đầu những năm 20 của thế kỷ XX.
Đại diện cho chủ nghĩa dân tộc ơn hịa có Phan Bội Châu, Phan
Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng… Chủ nghĩa dân tộc cải
lương hay chủ nghĩa quốc gia cải lương. Đại điện là nhóm Đơng
Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh; nhóm Diễn đàn bản xứ ở
Nam Kỳ và nhóm Nam Phong do Phạm Quỳnh đứng đầu. Chủ
nghĩa dân tộc cách mạng hay còn gọi chủ nghĩa quốc gia cách
mạng. Đại diện là các tổ chức Duy tân Hội, Quang phục Hội đầu
thế kỷ XX; là Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học, Hội Cách
mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mạng trong những năm 20 của
thế kỷ XX; các “Thư xã” yêu nước như: Nam Đồng thư x”, Giác
Quần thư xã, Cường học thư xã, Tân Việt thư xã… Nhưng đại
diện tiêu biểu phải kể đến Việt Nam Quốc dân Đảng do Trần Huy
Liệu, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Thái Học, Phó
Đức Chính… thành lập và lãnh đạo. Họ chủ trương theo Chủ
nghĩa Tam dân, khi thì chủ nghĩa xã hội dân chủ, khi thì tự do,
bình đẳng, bác ái. Nhưng tất cả các phong trào này đều đi vào
thất bại. Thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn đàn áp dã man
các phong trào yêu nước, mặc dù thất bại nhưng có rất nhiều tấm
gương oanh liệt của các sĩ phu về tinh thần yêu nước, bất khuất
trước cường quyền.
Các phong trào yêu nước cùng những tấm gương sẵn sàng hy
sinh tính mạng vì độc lập, tự do của dân tộc trong thời gian này,
Hồ Chí Minh: Tồn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.1, tr.38.
47
48
đã để lại cho lịch sử nhiều bài học quý giá đồng thời cũng có
những ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh:
thống nhất các tầng lớp ấy vào một mặt trận đấu tranh giải phóng
dân tộc vô cùng hữu hiệu.
Một là, công cuộc khai thác và bóc lột ở các nước thuộc địa
có quan hệ biện chứng với sự bóc lột tư bản chủ nghĩa ở chính
quốc. Sau này Hồ Chí Minh dùng hình ảnh “Con đỉa có hai cái
vịi” để chỉ mối quan hệ đó.
Cũng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác
định đúng đắn nội dung của các loại mâu thuẫn trong thời kỳ
thực dân pháp xâm lược Việt Nam, xác định một cách chính xác
những mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn đối
kháng và không đối kháng của cách mạng Việt Nam. Mâu thuẫn
cơ bản trong thời kỳ này là mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân
Việt Nam bị xâm lược với một bên là thực dân Pháp, những kẻ đi
xâm lược. Ngoài mâu thuẫn cơ bản đó cịn có mâu thuẫn giữa
nơng dân với địa chủ phong kiến; mâu thuẫn giữa triều đình
phong kiến suy tàn cam tâm làm bù nhìn cho thực dân Pháp với
nhân dân Việt Nam bất khuất không chịu làm nô lệ; mâu thuẫn
giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa tư sản dân tộc với tư
sản thực dân…
Hai là, những hoạt động của hai nhà yêu nước Phan Bội
Châu và Phan Châu Trinh với chủ trương bạo động hay ơn hịa,
dựa vào sự viện trợ, giúp đỡ của bên ngoài hay tự lực cánh sinh
cũng đều dẫn đến thất bại bởi khơng đồn kết được tồn dân,
khơng tập hợp được sức mạnh tồn dân tộc.
Ba là, chủ nghĩa dân tộc, trong đó bao gồm chủ nghĩa dân tộc
cải lương và chủ nghĩa dân tộc cách mạng đều theo hệ tư tưởng
tư sản, tiểu tư sản được hình thành trên một đất nước thuộc địa
chưa có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa làm nền tảng. Vì vậy, các
chủ nghĩa đó khơng đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử là giải
phóng dân tộc.
Như vậy, trải qua chiều dài lịch sử 80 năm với bao thế hệ
người Việt Nam yêu nước, những chí sĩ lãnh đạo các phong trào
yêu nước, họ đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc đã giúp Hồ Chí Minh có một tầm nhìn biện chứng
về cái chung - cái riêng - cái đặc thù của đất nước Việt Nam lúc
bấy giờ. Từ đó Hồ Chí Minh rút ra những nhận định về giai cấp
công nhân, nông dân, về tầng lớp sĩ phu yêu nước, tầng lớp trí
thức - cả Nho học và Tây học - trong giai cấp địa chủ phú nông,
tầng lớp tư sản - tiểu tư sản kháng chiến, trên cơ sở đó, Người đề
ra một chiến lược tập hợp mọi tầng lớp trong xã hội đồn kết
49
Đây là những nhận định vơ cùng đúng đắn và sáng suốt của
tư duy biện chứng sớm hình thành ở Hồ Chí Minh, mà các bậc
cách mạng tiền bối đi trước khơng nhận thấy. Vì vậy, các lãnh tụ
u nước trước rất lúng túng trong hoạch định đường lối cách
mạng của mình. Nắm vững được các mâu thuẫn đó và giải quyết
một cách tối ưu chỉ có thể bằng một tư duy biện chứng sắc sảo,
kết hợp với kinh nghiệm rút ra trong thực tiễn đấu tranh cách
mạng phong phú mà trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 chỉ
có Hồ Chí Minh là người đã đạt được.
5. Ảnh hưởng văn hóa phương Tây và chủ nghĩa Mác-Lênin
- Hơn 30 năm bôn ba hải ngoại, từ Pháp, Liên Xô và cả ở
một số nước châu Âu khác, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu được
50