HộChí Minh
Hiện thân của Văn hóa Hịa bình
ị
m
ị*' •••
kt
•
dngTrung Quốc
ĐàoHùng
.•••ì»*!
*
(Chủbiên)
r
DC .036056
N H À X U Ấ T B Ả N VÃN
Jl
Ỉ
[
u
s UuUUbJLL
ĩu L IbLLlLl
]
u
ïï
V
ÊN O Â N CÙAVĂN HỐAHỊA BÌNH
I
LỜI Glốl THIỆU
Nói về Hồ Chí M inh , từ năm 1960 đồng
chí
Trường Chinh
đã
viết:
"Người
tiêu biểu
nh ấ t cho dạo đức cộng sản chủ nghĩa ở Việt
Nam và kết tinh những đức tính tốt đẹp nhất
của dân tộc ta. Người đã phát huy đạo đức
truyền thống phưctig Đơng là trí, nhắn, dũng
trên một cơ sở hồn tồn mới". Chính vì vậy
mà Hồ Chí M in h ln ln là chủ đề hâ’p dẫn
đô1 với các nhà nghiên cứu không những về
các mặt tư tưởng, chính t r ị mà cịn về văn
hóa và tiểu sử cuộc đời. Khơng những các nhà
nghiên cứu Việt Nam mà cịn có nhiều nhà
nghiên cứu nước ngồi quan tâm. Những cơng
t rìn h
nghiên
cứu về tư tưởng Hồ Chí M inh
khơng phải chỉ dựa trên các trước tác, mà còn
gắn với các hoạt động cụ thể trong cuộc đời
còn nhiều (fn số của Người, đòi hỏi phải đầu
tư nhiều công sức trong việc sưu tầm xác minh.
Trong những năm qua, tạp chí Xưa & Nay
đâ
viết
dành
về
một
Hồ
vị t r í quan
Chí
M inh
trọng cho các bài
trên
nhiều
lĩnh
vưc:
nghiên cứu tư tưởng chính trị, xã hội và văn
hóa, đóng góp những tư liệu mới về cuộc đời
hoạt động phong phú của Người, cung câ'p những
tài liệu đánh giá nhận định của các nhà nghiên
cứu trong và ngoài
nước. Sau mười năm tồn
tại của tạp chí, số lượng bài viết về Hồ Chí
M in h tập hợp lại quả thật là phong phú.
Để giúp bạn đọc tiện
tham
khảo, chúng
tôi đã biên tập những bài viết đó trong tập
sách
nhan đ ề
là
Hồ chí Minh, hiện thân văn
hóa hịa bình. Qua đây, các bạn
có t h ể thấy
tính phong phú của những bài viết về Hồ Chí
M in h , nhưng cũng vì vậy mà chúng tôi không
th ể sắp xếp theo một kết câu chặt chẽ theo
chủ đề. Mong được bạn đọc thông cảm.
Tạp chí Xưa & Nay
NXB Văn Hóa Sài Gịn
6
HƠ CHÍ MINH
liện thân của văn hóa hịa bình
SONG THÀNH
ồ Chí Minh đã được UNESCO tơn vinh là anh hùng
Ấgiải phóng dân tộc đồng thời là nhà ván hóa kiệt
xuất. Trong những giá trị văn hóa mà Người cơng hiến
vào kho báu của nhân loại, có văn h ó a h ị a bỉnh. Điều
này đã được thế giới cơng nhận và phát hiện từ rất
sớm. Tháng 2-1958, cố Thủ tướng Ấn Độ J.N êru đã từng
nói: "Thế giới ngày nay đang trải qua một cuộc khủng
hoảng, khủng hoảng về tâm lý. Cái cần bây giờ là tiếp
cận hịa bình, hữu nghị và tình bạn. Tiến sĩ Hồ là biểu
hiện cho sự tiếp cận đó".
H
Trong lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam đã phải
liên tục đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh
đến từ các lục địa Á-Âu. Những chiến công hiển hách
trong lịch sử chông ngoại xâm của dân tộc Việt Nam
không chỉ phản ánh sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước,
tinh thần đâu tranh bât khuất cho độc lập, tự do mà
còn phản ánh cả truyền thơng nhân hậu, khoan hịa và
ý chí thiết tha với hịa bình của nhân dân ta.
Trong kháng chiến chơng quân xâm lược nhà Tông,
khi kẻ thù đã lâm vào tình thế quẫn bách, tiến thối
7
lưỡng nan, chính Lý Thường Kiệt đã chủ trương "biện sĩ
bàn hịa", nhằm mở lơl thốt cho qn địch, đi tới chấm
dứt chiến tranh, để "không nhọc tướng sĩ, khỏi tốn máu
xương mà lại bảo tồn được tơng miếu"^^\
Cũng ý chí ấy, khi giặc Minh đã "khốn đốn, cởi giáp
ra hàng", thì Lê Lợi - Ngtiyễn Trãi cũng "mở đường hiếu
sinh", cấp cho "dăm trăm chiến thuyền, vài nghìn cổ
ngựa".... chúng về nước; cịn ta cốt "tồn qn, để nhân
dân nghỉ sức". Thật là một cử chỉ khoan hồng, nhân đạo
hiếm có, "chưa thấy xưa nay”, nhằm mở ra "nền thái
bình mn thuở vững chắc".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống
khoan dung, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc ta từ
nghìn xưa và nâng nó lên một tầm cao mới, thành văn
hóa hịa bình ở thời đại mới.
Biểu tưcmg của ý chí hịa bình Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp chính trị
của mình bằng một cử chỉ hịa bình: đưa u sách 8
điểm gởi tới Hội nghị hịa bình Versailles (năm 1919)
nhằm địi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân
dân Việt Nam. Bản yêu sách khiêm tón cả về nội dung
lẫn hình thức ấy dã khơng được các cường quốc để m ắt
tới. Được thực tế đó rèn luyện, Người rút ra kết luận:
"Muốn được giải phóng, các dân tộc chi’ có thể trơng cậy
(1) Văn bia chùa Linh Xứng của Pháp Bảo đời Lý.
8
vàc mình"^^\ Sau khi tìm được con đường chân chính
chc sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, Người tìm
dưcng về nước, "đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức
họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh
giàah tự do, độc lập"^^\
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết; "Chế độ thực
dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của
kẻ mạnh đối với kẻ yếu"‘-^\ Do đó, "trong cuộc đấu tranh
g iai khổ chông kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng
bạc lực cách
mạng chống lại bạo lực phản cách mạng,
giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền"^^^.
Tuy nhiên, giữa hai giải pháp; bạo lực cách mạng
và hịa bình, bao giờ Hồ Chí Minh cũng ưu tiên theo
đuci con đường hịa bình, thương lượng, đơi thoại với tấm
lõnj chân thành và thái độ hiểu biết.
Trước khi lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi
nghĩa giành chính quyền, trong tương quan lực lượng bấy
giờ Hồ Chí Minh đã hai lần đưa ra đề nghị 5 điểm gửi
tới chính phủ Pháp, qua người đứng đầu cơ quan tình
bá( của họ ở Côn Minh (tức M.5) là J.Sainteny; một lần
vàc tháng 7-1945 và một lần vào ngày 18-8-1945, tức
mộ: ngày trước khi Hà Nội khởi nghĩa. Trong đề nghị
của mình, Hồ Chí Minh chấp nhận một cuộc phổ thơng
đầi phiếu đểbầu ra một nghị viện do một người Pháp
làiầ chủ tịch.
Sau 5 năm chậm nhất là 10 năm, Pháp
(1) 2) Trần Dân Tiên. N hững mẩu chuyện về đời hoạt dộng của
'rỉồ Chủ tịch. NXB Văn học, H. 1970, các trang 30, 49.
(3) (4) HỒ Chí Minh, Tồn tập, NXB CTQG. Hà Nội, 1995, tập
tr.96.
9
sẽ trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, nước Pháp
sẽ được hưởng những ưu tiên về kinh tế,...
J.Sainteny nhận điện, gửi về Pháp, nhưng Pari đă im
lặng. Do khơng thức thời, Chính phủ De Gaulle đã bỏ
lỡ một cơ hội mà sau này Sainteny cho là một đề nghị
"khá khiêm tốn và hồn tồn có thể chấp nhận được".
Với lực lượng chính trị và vũ trang đủ mạnh, chớp
đúng thời cơ, Hồ Chí Minh đã kịp thời lãnh đạo nhân
dân Việt Nam làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng
tháng Tám vĩ đại, một cuộc cách mạng diễn ra trong
một thời gian ngắn, ít đổ máu nhất, cũng có thể gọi đó
là một cuộc cách m ạng h ò a bình.
Ngày
Minh đọc
Nam Dân
viết: "Tất
đẳng, dân
và quyền
2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hồ Chí
bản Tun ngơn độc lập, khai sinh nước Việt
chủ cộng hịa. Mở đầu bản tun ngơn, Ngiíời
cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng
tự do".
Đó cũng là lời tun bơ" hịa bình của dân tộc ta
trong thời đại mới,bởi quyền cơ bản đầu tiên của mỗi
con người, mà chiến tranh là hủy diệt, là chà đạp lên
quyền thiêng liêng đó của lồi người.
Nhưng chỉ mới ba tuần sau khi Việt Nam tuyên bố
dộc lập, núp dưới bóng quân đội Anh, với lực lượng quân
sự hùng hậu, Pháp trở ]ạị gây hấn hòng bắt nhân dân
ta làm nô lệ một lần nữa. Trong cuộc xung đột Việt
Pháp, Hồ Chí Minh ln ln lựa chọn giải pháp hịa
bình: sẵn sàng chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng để
tránh một cuộc chiến tranh đau thương cho cả hai dân tộc.
10
Tháng 10-1945, trong thư gửi những người Pháp ở
Đông Dương, Người viết: "Máu của nhân loại đã chảy
nhiều, hịa bình - một nền hịa bình chân chính, xây
trên cơng bình và lý tưởng dân chủ,phải thay cho chiến
tranh; tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp
các nước, khơng phân biệtchủng tộc và màu
Vì
vậy, Người đã lựa chọn và
kiên trì giải pháp hịa bình;
ký với Pháp H iệp định sơ bộ 6-3-1945 đổi lấy việc rút
quán Tưởng về nước. Với thái độ xây dựng, không quản
ngại bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đơ nước
Pháp để tìm kiếm hịa bình. Rất tiếc là thiện chí đó
cũng khơng được đáp lại. Hội nghị Fontainebleau bị tan
vỡ. Nhưng không muốn con đường đàm phán hịa bình
bị cắt đứt, Người đã cố gắng ký Tạm ước 14-9-1946, một
thỏa ước chỉ nêu ngun tắc mà chưa cụ thể, vì Người
mn dựa vào đó để tiếp tục mở ra các cuộc thương
lượng vào đầu năm sau.
Khi thực dân Pháp tăng cường khiêu khích, đẩy tình
hình căng thẳng đến tột độ, ngày 13-12-1946 Hồ Chí
Minh vẫn tun bố: "Đồng bào tơi và tơi thực sự muốn
hịa bình. Chúng tơi khơng muốn chiến tranh... Cuộc
chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi
cách... Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc
chúng tôi phải làm, thì chúng tơi sẽ làm. Chúng tơi
khịng lạ gì những điều đang đợi chúng tơi... Dù sao, tơi
mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy"^^\
(1) Hồ Chí Minh. Sđd. Tập 4, các trang 66-67, 473.
(2) Hồ Chí Minh. Sđd. Tập 4, các trang 66-67, 473.
11
Đến khi họ buộc nhân dân ta phải cầm súng kháng
chiến, người vẫn khơng bng ngọn cờ hịa bình, vẫn
liên tục viết thư, gửi lời kêu gọi đến chính phủ, Quô"c
hội và nhân dân Pháp, kêu gọi họ hãy hướng chính sách
của nước Pháp vào con đường chấm dứt chiến tranh, lập
lại hịa bình. Chính J.Sainteny, người ”đơl diện với Hồ
Chí Minh", đã thừa nhận: "Nếu Cụ Hồ đạt được mục
đích của mình mà khơng phải đổ một giọt máu nào thì
chắc chắn cụ đã là một người hạnh phúc nhất đời rồi"^^\
Chỉ sau những thất bại liên tiếp về quân sự, dặc
biệt là ở Điện Biên Phủ, và gặp phải những khó khăn
chồng chất về mọi mặt, những ngưối theo đuổi chiến
tranh trong chính giới Pháp mới chịu ngồi vào bàn thương
lượng với ta tại Genève. Vì thiết tha với hịa bình, Việt
Nam đã chấp nhận một thỏa hiệp mà nội dung của nó
chưa phản ánh đầy đủ những tương quan trên chiến trường.
Người Pháp rút đi người Mỹ nhảy vào, họ tưởng có
thể đè bẹp ý chí hịa bình trong độc lập, tự do của nhân
dân Việt Nam. Cuối cùng người Mỹ đã phải bỏ ra một
thời gian dài gấp đơi người Pháp, với một hao phí khổng
lồ về xương máu và tiền bạc để có thể cay đắng nhận
ra rằng: vũ khí, kỹ thuật đã khơng thắng nổi ý chí con
người. Chính lúc họ đang sa lầy ở Việt Nam, với thiện
chí hịa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Việt
Nam sẵn sàng trải thảm đỏ cho lính Mỹ về nước, nếu
(1) Ơ.Sainteny. Một hiệp định khơng có ngày mai. Tạp chí Pỉanère
Action, 3-1970, tr 101 (tiếng Pháp).
12
Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ quyền
và tồn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Tóm lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt
Nam rấ t thiết tha với hịa bình, nhưng khơng phải hịa
bình với bất cứ giá nào mà là một nền hịa bình hợp
với cơng lý và dân chủ, hịa bình trên cơ sở độc lập, tự
do, như Hồ Chí Minh đã tuyên bố; "Hịa bình th ật sự
quyết khơng thể tách rời tự do và độc lập thật sự của
dàn
Hiện thân của tinh thẩn khoan dung, nhân ái Việt Nam
Khoan dung, nhân ái là thái độ tơn trọng, cách nhìn
róng lượng đơl với những giá trị khác biệt với mình (về
dàn tộc, tơn giáo, tín ngưỡng, các quan điểm chính trị,
triết học, cho đến các phẩm chất cá nhân của mỗi con
n ^ờ i...). Nói cách khác, khoan dung văn hóa là thái độ
h ìi h ị a trong kh ác biệt, để cùng nhau tồn tại và phát
tiiển trong hịa bình. Nói như cựu Tổng thư ký Liên hợp
qaốc, ơng Peres de Cueja; "Chúng ta có rất ít thời gian
tiên trái đất này, vì vậy chúng ta hãy sơng hịa bình
víi nhau". Vì vậy, có thể xem khoan dung là cơ sở văn
h')a của hịa bình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Dân tộc ta
lẳ một dân tộc giàu lòng đồn g tình và b á c
và chính
Người đã kế thừa và phát triển tinh thần khoan dung
V ệt Nam lên chất lượng mới một tầm cao mới.
(1 Hồ Chí Minh. Sđd, tập 11, tr.543.
(2 Hồ Chí Minh. Sđd, tập 4, tr.l6 0 .
13
K hoan dung H ồ Chí Minh đã kết hỢp được lương tri
siêu việt của cá nhân mình với lương tri dân tộc và
lương tri thời
đại để đạt tới sự hài hòa giữa cá nhân,
dân tộc và nhân loại, ở Hồ Chí Minh, hịa bình và độc
lập cho dân tộc mình đồng thời phải là hịa bình, độc
lập cho tấ t cả các dân tộc; giải phóng dân tộc để đi
giải phóng xã
tới
hội và giải phóng lồi người.
K hoan dung Hồ Chí Minh đã kết hợp được giữa
nhân và trí, tức giữa tình cảm nồng nàn với lý trí sáng
suốt, do đó đã khắc phục dược những nhược điểm, hạn
chế của khoan dung truyền thống (như thiên về tình
cảm, màu sắc đẳng cấp Nho giáo, lối nhẫn nhục, an
phận, chịu đựng của khoan dung Phật giáo...). Khoan
dung Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ nhăn,
nhưng là một chữ n h ân sáng s"t, có ngun tắc, lấy
cơng lý, chính nghĩa làm nền tảng, vì th ế mà kiên quyết
chông lại những việc, những người xâm phạm lợi ích của
cộng đồng, chà đạp lên công lý, dân chủ, quyền được
sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của các
dân tộc.
K hoan dung H ồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối
với mọi giá trị văn hóa của nhân loại, là chấp nhận
giao lưu và đối thoại bình đẳng để đạt tới sự hịa đồng
và cùng phát triển.
Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hóa.
Trong khi chống Pháp, người vẫn yêu mến và đề cao
văn hóa Pháp; chống Mỹ mà vẫn ca ngợi truyền thống
đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản
14
th ân Người là hình ảnh kết tinh của văn hóa nhân loại.
Điơng và Tây.
Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao
lu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị
biiệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận dối thoại
vể giá trị, truy tìm cái chung, cái nhân loại. Hồ Chí
Minh đã nói; "Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác,
nlhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ây là
dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự
Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc
thực tế, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu s ố chung cho mọi
cuộc đơl thoại. Người nói với người Pháp: "Người Việt và
người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng,
bác ái, độc lập". "Triết lý đạo Khổng và triết lý phương
Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: Kỵ sở bất
dục, vật thi ư nhân". "Các bạn yêu nước Pháp của các
bạn và mn cho nó độc lập... Nhưng chúng tôi cũng
phải được phép yêu nước của chúng tơi và mn cho nó
được độc lập chứ!... Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng
phải là lý tưởng của chúng
Chính vì vậy mà lập
luận của Người có sức cảm hóa và thuyết phục mạnh
mẽ.
Với các tơn giáo, Hồ Chí Minh thành th ật tơn trọng
đức tin của người có đạo, khẳng định lối sống cao đẹp,
những giá trị đạo đức - nhân vãn của các vị sáng lập,
không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng
(1) Hồ Chí Minh, Sđd, tập 4, tr.350.
(2) Hồ Chí Minh. Sđd, tập 4, tr.65 và 458.
15
của các tơn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và
mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.
Đối với nhân dân ta, Người khuyên phải đoàn kết
chặt chẽ và rộng rãi: "Năm ngón tay có ngón ngắn ngón
dài... Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế
khác... Đơi với những đồng bào lạc lơì, lầm đường, ta
phải lấy tình thân ái mà cảm hóa
Ngay đối với
những người đối lập, Hồ Chí Minh cũng vẫn thể hiện
một thái độ khoan dung, độ lượng hiếm có, khi họ đã
ăn năn, hơi cải hay đã lâm vào cảnh bần cùng, th ất thế.
Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dân tộc.
Nhờ hiểu biết sâu sắc và có thái độ trân trọng đối với
những đặc điểm văn hóa khác nhau của các dân tộc anh
em, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành công trong việc
liên kết các sắc thái ấy để tạo nên tính đa dạng, phong
phú, hấp dẫn của nền văn hóa Việt Nam.
Tóm lại, khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là sự
thống nhất cả Tâm, Đức và Trí, một tinh thần khoan
dung được xây dựng trên tầm văn hóa cao, kết hợp được
tình cảm với lý trí, nhận thức với hành động, yêu thương
với đấu tranh, đó là bước phát triển mới của văn hóa
khoan dung Việt Nam.
Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua
đi, nhưng lồi người vẫn đang phải sống trong "một nền
hịa bình nóng". Nhiều nơi vẫn đang diễn ra những cuộc
chiến tranh, xung đột đẫm máu về dân tộc và tôn giáo.
Do thiếu một thái độ khoan dung về văn hóa, họ tự coi
(1) Hồ Chí Minh. Sdd, tập 4, tr.490 và 246,
16
mình là độc tơn, đi tới dị hóa, kỳ thị với tất cả cái gì
khơng phải là mình! Ngược lại, cũng đang có những thế
lực mưu toan lợi dụng cái gọi là "bản chất chung của con
người" để áp đặt cho các dân tộc khác những giá trị xa
lạ với truyền thơng vãn hóa của họ. Khi khơng thuyết
phục được, họ sẵn sàng dùng sức mạnh của bom đạn,
sắt thép để khuất phục ý chí của một dân tộc. Chủ nghĩa
khủng bố quốc tế đang đe dọa quyền được sông,quyền
tự domưu
cầu hạnh phúc trong hịa bình, tự do,độc
lập,
theo lý tưởng và truyền thống vãn hóa của mỗi dân tộc.
Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lý tưởng hữu
ái. đồn kết, hịa bình, thân thiện giữa các dân tộc và
Người dã trở thành biểu tượng của tinh thần quô"c tế
trong sáng.
"Rằng đây bốn h ể m ột nhà,
Vàng đen trắng đỏ đ ều là anh em"^^K
Hồ Chí Minh được tổ chức UNESCO suy tơn là "nhà
văn hóa kiệt xuất" chính vì "... những tư tưởng của Người
là hiện thân những khát vọng của các dân tộc trong
vièc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho
vièc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau". Từ đó, chúng ta
cũng có thể nói: Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ của
vàn hóa hịa bình - văn hóa của thế kỷ XXL
PCS, SONG THÀNH
Viện trường Viện H ồ Chí M in h H V C TQ G H C M
(1) Đề cương tác phẩm Nhật ký chìm tàUy lời kết chương XXII.
Nguyên tác hiện vẫn chưa tìm lại được.
17
HƠ CHÍ MINH
đã tiêp thu học thuyết Mác như thê nàũ?
HỒNG VĂN LẤN
ho đến nay, chúng ta vẫn chưa có điều kiện để có
thể biết rõ lúc ở London cũng như lúc đã trở về
Pháp để gia nhập vào đời sống chính trị quốc tế sơi
động ở Paris, Hồ Chí Minh đã đọc những tác phẩm nào
của Các Mác? Qua những ghi nhận của một số tác giả
phương Tây, chúng ta chỉ có thể biết một số tác phẩm
chủ yếu của Các Mác, quan trọng
nhất là bộTư bản
mà Hồ Chí Minh đã nghiên cứu ở Paris.
C
Sử gia Mỹ William J.Duiker trong cuốn Hồ Chí M in h
cho biết như sau: "Một lần Nguyễn Ải Quốc đ ã yêu cầu
J e a n Longuet g iả i thích về học thuyết Mác. J e a n Longuet
lưỡng lự và nói rằng câu hỏi quá phức tạp và gợi ý
Nguyễn Á i Quốc đ ọ c bộ Tư bản của Mác. Sau đó, Nguyễn
Ái Quốc đ ã tới m ột thư viện g ần Quảng trường Italia
đ ể mượn tác p h ẩ m đồ sộ đó đ ề đọc cùng với một s ố
tác p h ẩ m Mác-xít khác, Sau này, trong cuốn tụ thuật
của mình, ơng k ề lại rằng ông đ ã dùng bộ Tư bản làm
sách gối đ ầ u giường". Sự kiện trên có thể được củng cố
thêm khi khảo sát các báo cáo, các bài nghiên cứu của
Hồ Chí Minh, cơng bơ với nhiều bút danh khác nhau,
18
tr(êr các báo và tạp chí của phong trào cộng sản và công
nlnân quôc tế từ nàm 1919 đến năm 1930, chúng ta sẽ
có) ĩhể nhận ra rằng Hồ Chí Minh đã ít nhiều chịu ảnh
hưởag phương pháp "phân tích sự vật cụ thể trong tình
hìinh cụ thể" của Mác. Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở
đây là, theo học phong truyền thơng Việt Nam xưa thì
thiấu hiểu một học thuyết, một tư tưởng, không phải là
đgc và học thuộc mà điều quyết định là phải rút ra được
cái ưu điểm, cái tinh túy hay còn gọi là cái "thần" của học
thuvết ấy "để rồi thực hành đúng thời của điều đã học"^^^.
Theo học phong đó, Hồ Chí Minh rút ra và khẳng
định ưu điểm tinh túy nhât của học thuyết Mác bằng
chỉ một cụm từ "phương p h á p làm việc biện chứng". Rồi
với phương pháp làm việc biện chứng ấy, Hồ Chí Minh
đã phân tích cụ thể các vấn đề của cơng cuộc giải phóng
thuộc địa và đã sớm phát hiện ra nhiều đặc điểm liên
quan tới nội dung phong trào cách mạng ở từng nước
thuộc địa, từ Viễn Đông tới Ấn Độ, từ Bắc Phi tới Triều
Tiên và từ đó, dẫn tới phương pháp hành động. Ngay
từ năm 1922, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đặc điểm giai cấp
của các nước thuộc địa như sau: "Trong tất cả các nước
thuộc địa, ở cái xứ Đông Dương g ià cỗi k ia củng như ở
xứ Đ ahôm ây trề trung này, người ta kh ôn g hiểu đấu
tranh g ia i cấp là gì, lực lượng g iai cấp vơ sản là gi cả,
vì một lẽ đơn giản là ở đó khơn g có nề?i kinh doanh
lớn về thương rìghiệp hay rơng nghiệp, cũng khơn g có
tổ chức công nhân"^'^\
(1> Khổng phu tử, Luận ngữ, thiên 1, chương 1.
(2) Toàn tập, 1, 1995, trang 63.
19
Cịn ở Bắc Phi thì tình hình như sau: "Trong s ố các
d ẫn tộc sống ở B ắ c Phi, người B erbère biết đến nguyèn
tắc tư hữu nhưng họ chỉ là thiểu s ố ch iêm k h oản g 1 /3
dân s ố A lgérie và kh oản g 3 /1 4 đ ấ t đ ai có th ể canh tác
dược ở thuộc đ ịa này. Quan h ệ ruộng đ ấ t của người
Tunisie, người Ả rập, A lgérie và người M aroc nói chung
dựa trên cơ sở chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy: Theo
kinh thán h đ ạ o Islam , ruộng đ ất thuộc về Trời, và con
người ch ỉ có quyền sử dụng những gì m à an h ta có th ể
lấy từ đó bằng sức lao đ ộn g của mình, N hư vậy, ruộng
đ ất là sở hữu của công xã và kh ôn g bị trưng thu. Mỗi
người đều được nhận một m ảnh đ ất và được sử dụng
toàn bộ sản p h ẩ m của m ản h đ ất đó. Nhưng anh ta khơn g
được m ua ruộng của người khác. K hôn g được bán đất
của mình. Người giữ ruộng đất đó chết đ i thi ruộng đất
lại trở thành sở hữu của công xã. Phương thức sở hữu
tập th ể đó được g ọi là "ac.sơ” ở A lgérieJ ”aibu" ở Tunisie
và Maroc"^^\
ở Trung Q"c thì thực trạng xã hội tiền tư bản lại
diễn ra
dăn dù
có được
cúng tổ
m ẫu có
một cách khác. "Hầu hết tất cả m ọi người nông
nghèo đ ến đ âu đi nữa thì trước k ia cũng đều
một m ản h đ ấ t đ ể có th ể "kiếm lấy nén hương
t i è n ’. Một người nơng d ân có từ 10 đến 100
th ể là k è bóc lột, là người bị bóc lột, h oặc là
”trung g i a n ’. Nếu gia đình có khá đơng người để cày
cấy lấy ruộng đất, thì người nơng dân đó, trở thành lớp
"trung gian". Nếu gia đình neo đơn, người nơng dân đành
(1) Tồn tập, 1, 1995, trang 253-258.
20
buộc phải cho thuê rẻ sô^ ruộng đất mà anh ta không
thể làm được; thế ỉầ anh trở thành kẻ bóc lột. Nếu gia
đình q đơng người mà mn đủ chi dùng, thì ngồi
ruộng đất của mình ra, người nơng dân còn bắt buộc
phải thuê thêm ruộng đất của người khác; thế là anh
ta bị vơ sản hóa và chuyển thành người bị bóc lột...
Năm 1918 có 43.935.478 gia đình nơng dân Trung Qc
ở trong tình trạng khơng ổn định ảó^^\
Chỉ trong thời gian từ 1919 đến 1924, sự phân tích
cụ thể các nước phương Đơng thuộc địa (từ Ân Độ, Trung
Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ đến Syrie, Triều Tiên, từ Bắc Phi đến
châu Phi xích đạo v.v...) của Hồ Chí Minh đã chứng
minh rằng, tính cho đến ngày 1-7-1924, khi tổ chức khai
thác một hệ thố^ng thuộc địa mênh mông 55.637.000 km^
trải gần khắp hành tinh, chủ nghĩa đế quôc chỉ làm
biến dạng tính chất tiền tư bản ở các thuộc địa bằng
cách phối hỢp với cách bóc lột thặng dư giá trị mà họ
mới áp đặt nửa vời nhằm gia tăng siêu lợi nhuận thuộc
địa (Super - Profit colonial) mà thơi. Hơn nữa, ngay ở
những nơi mà làn sóng ván minh cơng nghiệp có điều
kiện phát triển như ở Nhật Bản thì cuộc đấu tranh giai
cấp cũng diễn ra khác với phương Tây. Ngay từ cuối
nàm 1923, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cụ thể sự khác
biật giữa phong trào công nhân Nhật Bản và công nhân
phương Tây và nhấn mạnh: ”K hi nói về cơng nhân nơng
nghiệp ở N hật B ản thì cản p h ả i nghiên cứu các tổ chức
công nhãn nông nghiệp ở phương Tây đ ể so sánh"..S^\
(1; Toàn tập, 1, 1995, trang 230-232.
(2) Toàn tập, 1, 1995, trang 217-221
21
Rồi ngày 24-1-1924 Hồ Chí Minh đã cơng bố^ rõ ràng
trên tạp chí Đời sống thợ thuyền (La Vie Ouvrière) rằng:
‘'Trong cuộc đ ấu tranh giữa tư bản và lao động ở Viễn
Đơng, có những chuyện thú vị m à ở phương Tây người
ta sẽ kh ôn g hiểu được, nhưng ở đ ây lại là những chuyện
hồn tồn có thực"^^\
Sự phân tích cụ thể tình hình đối với tồn bộ vấn
đề giải phóng dântộc và giải phóngthuộc địa đã đưa
tầm nhìn của Hồ
Chí Minh soi rọi vào lịch sử hình
thành học thuyết Mác và trong một "Báo cáo về Bắc kỳ,
Trung kỳ và Nam
kỳ" gửi Quốc tế cộng sản để kiến
nghị về chiến lược
và sách lược của phong trào cách
mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn khẳng
định rõ như sau: "Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam)
khôn g diễn ra giống như ở phương T â y ”.
Nhưng tại sao lại có vấn đề phương Tây và phương
Đông trong khi học thuyết Mác vôn từ bản chất, lấy
cơng cuộc giải phóng nhân loại (như một chỉnh thể thơng
nhất) làm mục đích? Điều này được Hồ Chí Minh giải
thích rõ tàng: "Mác đ ã xây dựng học thuyết của m ình
trên một triết lý nhất địn h của lịch sử, nhưng lịch sử
nào? L ịch sử châu Ầu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa p ìiải
là toàn th ể nhăn loại.
M ác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải
qua 3 giai đoạn : c h ế độ nô lệị c h ế độ nông nôj c h ế đô
tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, d ấu tranh giai cấp
có k h á c nhau. Chúng ta p h ả i coi chừng! Các dân tộc
(1) Toàn tập, 1, 1995, trang 233-235.
22
V'ien Đơng có trải qua hai giai đoạn đầu khơng? Từ
mhiều t h ế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay
s a o d ể đ ến mức làm cho người châu Âu khin h rè họ
(Lươi nhác, mè muội hàng nghìn năm v.ư.
Để xác định "lý do lịch sử" đã khiến cho "cuộc đấu
tiranh giai cấp ở Việt Nam không diễn ra giống như ở
pihương Tây", Hồ Chí Minh đã phân tích tổng qt bơi
cảnh xã hội và thực trạng giai cấp ở Viêt Nam được Hồ
C’hí Minh quan niệm như một thực thể qc gia hình
thành qua lịch sử ngàn nám chứ không phải là Đông
D)ương thời bấy giờ - một thực thể thuộc địa gồm 5 "xứ"
ghép lại;
'Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam) khôn g diễn
r a g o n g như ở phương Tây, v ề p h ía người lao động, đó
là sụ kh ơn g g iác ngộ, sự nhẫn nhục và vơ tổ chức, v ề
p h ía bọn chủ, kh ơn g có máy móc, ruộng đồng thuộc sở
hữu của những đ ịa chủ hạng trung và h ạn g nhỏ và
những kể m à ở đó được coi là đại đ ịa chủ thì chỉ là
những k ể lùn tịt hèn cạnh những người trùng ten với
h ọ ở chău Ầ u và châu Mỹ; khơng có tỷ p h ú người An
Nam. Những tễìi trọc ph ú ở dó thì ở đây chỉ là những
k è thực lợi (rentier) k h á g iả thôi.
Cho nẽĩiy nếu nơng dân gần như ch ẳn g có gỉ thì đ ịa
chủ củng k h ơ n g có vốn liếng gì lớn; nếu nơng dân chỉ
sống bằng những c.ải tối thiểu cần thiết thĩ đời sống của
đ ịa chủ củng chẳng có gì là xa hoa, nếu thợ thuyền
khơng biết m ình bị hóc lột bao nhiêu thì đ ịa chủ lại
không hề bièt công cụ đ ể bóc lột của họ là máy móc;
người thì ch ẳn g có tờ-rớt (trust). Người thì nhẫn nhục
23
chịu s ố p h ậ n của mình, kẻ thi vừa p h ả i trong sự tham
lam của mình, Sự xung đột về quyền lợi của họ được
g iảm thiểu. Điều đó, khơn g th ể chối cãi được".
Thế thì phải chăng thực trạng xã hội và thực trạng
giai cấp trên đây cũng là xã hội Trung cổ ở Tây Âu?
Hồ Chí Minh giải thích tiếp:
''Nhưng người ta sẽ bảo: th ế là chúng ta ở thời Trung
c ổ à? Ô! S ẽ là quá đ án g nếu so sánh người ”n h à què"^^^
với người nông nơ. Xã hội An Nam chưa hao g iờ có tăng
lữ và th u ế mười p h ầ n trăm. H ồng đ ế trị ưì nhưng chẳng
lo cai trị gì. Tất nhiên là đ ã có quan lại rồi. Nhưng có
th ể so sán h họ với lãnh chúa phong kiến không? Không,
Trước hét quan lại được tuyển lựa theo con đường dân
chủ: con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi
người có th ể chuẩn bị thi m à chẳng tốn kém gì, Hơn
nữa, quyền lực của quan lại được cân bằng hằng tính
tự trị của xã thôn.
X ã hội Án Độ - C hina và tơi có th ể nói: Ần Độ hay
Trung Quốc về m ặt cấu trúc kinh tế, khôn g giống các
xã hội phương Tây thời trung cổ, củng như thời cận d ại
và đ ấu tranh giai cấp ở đó khôn g quyết liệt như ở đày,
Mai đây kh i chủ nghĩa tư bản phương Tây làm thay
dổi phương Đông thi đ ấu tranh giai cấp có trở nên quyết
liệt khơng? Đại th ể là có nếu xét gương của N hật Bản,
T hât ra là cój vì sự Tây phương hóa ngày càng tăng
và tất yếu của phương Đơng - nói cách khác, chủ nghĩa
(1) Những từ "nhà quê" này được Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)
viết bằng tiếng Việt.
24
A/đc
cầ m
dách
m ình
đề
sẽ cịn đúng cả ở đó. Dù sao thì cũng kh ơn g thế
b ổ sung "cơ sở lịch sử của Chủ nghĩa Mác bằng
dưa thêm vào đó những tư liệu m à Mác vào thời
củng khống th ể có được"^^\
Xuất phát từ thực tế lịch sử trên đây, Hồ Chí Minh
xuất nhiệm vụ vừa lý luận vừa thực tiễn như sau:
"Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của
nó, củng cố Ĩ I Ĩ bằng dãn tộc học phương Đơng. Đó chính
l à nhiệm vụ m à các Xô viết đ ả m nhiệm (Ban thuộc địa
của chúng tôi vừa nhận dược thư mời chúng tôi tham
g i a công tác này)”^‘^\
Từ những phát hiện lớn trên đây đơi với sự hình
thành học thuyết Mác. Hồ Chí Minh đã xác định một
quan niệm về tính thơng nhất và liên tục của lỊch sử
nhân loại cũng như của lịch sử Việt Nam. Sự phát triển
của lịch sử có những bước nhảy vọt nhưng vẫn ln ln
duy trì tính liên tục trong dịng thời gian và phạm vi
khơng gian xác định của nó. "Cách g iả i thích lịch sử
của Hồ Chí Minh như là một quá trình chuyển tiếp liến
tục đ ã đ ặt Hồ Chí Minh trển một bình diện cách m ạng
k h á c hẳn các lãnh tụ cách m ạng k h á c như Stalin và
Mao T rạch Đông"^^\ Và cũng từ đó, Hồ Chí Minh phát
hiện ra động lực của tiến trình phát triển của lịch sử
Việt Nam từ khi tư bản Pháp dùng bạo lực đưa làn sóng
văn minh cơng nghiệp vào Việt Nam như sau;
(1) (2) Tồn
(3) John Lê
tư tưởng
tập, 1, trang 465-466.
Văn Hóa, Tìm hiểu nền tảng vân hóa dân tộc trong
cách mạng Hồ Chí Minh. Hà Nội, 2003. trang 35.
25