Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Trật tự thế giới từ năm 2001 đến năm 2020 (Tổng thuật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (134.53 KB, 7 trang )

Trật tự thế giới từ năm 2001 đến năm 2012
Đỗ Thị Thảo(*)
tổng thuật

S

au Chiến tranh Lạnh, trật tự thế
giới ở thế hai cực (Liên Xô - Mỹ) bị
tan vỡ, các xu thế tập hợp lực lợng mới
nảy sinh, hình thành cơc diƯn qc tÕ
“®a cùc - ®a cÊp ®é, ®a màu sắc. Bức
tranh đó cho thấy, thế giới đang trong
quá trình vận động quá độ sang một
trật tự thế giới mới, vô cùng phức tạp.
Nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề
trên, ngày 7/12/2012, Viện Quan hệ
quốc tế thuộc Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh ®· tỉ chøc
Héi th¶o khoa häc víi chđ ®Ị “TrËt tự
thế giới từ năm 2001 đến năm 2012.
Hội thảo đà thu hút đợc 28 bài viết của
các nhà khoa học tham gia.
Nội dung các tham luận tại Hội thảo
tập trung làm nổi bật những vấn đề về
trật tự và cục diện thế giới trong thời
gian hơn một thập niên đầu thÕ kû XXI,
nh−: Lý thut vỊ trËt tù thÕ giíi và cục
diện thế giới, về quyền lực và cạnh
tranh quyền lùc trong quan hƯ qc tÕ.
Cơc diƯn míi trong quan hệ giữa các
nớc lớn và tác động của những sự cạnh


tranh này đối với Việt Nam. Cục diện
quan hệ quốc tế ở một số khu vực, giữa
các cờng quốc. Tập hợp lực lợng và
tơng quan lực lợng trên thế giới.
Ngoài ra, một số tham luận còn đề cập
những vấn đề về CNTB trong quá trình

hình thành trật tự thế giới mới, về Vai
trò của các nớc đang phát triển trong
xu thÕ thiÕt lËp l¹i trËt tù thÕ giíi míi,
v.v... Cã thể khái quát các tham luận
tham gia Hội thảo thành 5 nhãm vÊn ®Ị
lín sau.
1. Mét sè lý thut vỊ trËt tù thÕ giíi vµ cơc diƯn
qc tÕ; vỊ qun lực và cạnh tranh quyền lực
trong quan hệ quốc tế(*)

Cùng với quá trình phát triển mọi
mặt của đời sống xà hội, các hệ thống
quan hệ quốc tế dần dần đợc hình
thành trên những quy mô khác nhau, từ
khu vực, liên khu vực rồi mở rộng ra
toàn thế giới. Các chủ thể cơ bản của
mỗi hệ thống ngày càng trở nên đa
dạng. Một số báo cáo đà đa ra những
khái niệm cơ bản giúp nhận diện trật tự
thế giới, khu vực hoặc đánh giá thực lực
của một quốc gia cụ thể.
Trong tham luận Đặc điểm cục diện
thế giới hiện nay và sự tác động của nó

đến Việt Nam, PGS.TS. Thái Văn Long
cho r»ng: TrËt tù thÕ giíi dïng ®Ĩ chØ
kÕt cÊu về lực lợng của các chủ thể
quan hệ quốc tế, là mối liên hệ giữa các
chủ thể đó, nó phản ánh và xác định vai
(*)
ThS., Viện quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.


22
trò, vị trí của các quốc gia trong quan hệ
quốc tế theo một chuẩn mực nhất định
đợc cộng đồng quốc tế thừa nhận một
cách tự giác hoặc bắt buộc. Trật tự thế
giới có kết cấu ổn định với cơ chế tác
động giữa các chủ thể và nguyên tắc vận
hành hoạt động quốc tế trong một giai
đoạn lịch sử tơng đối dài. Còn Cục diện
quốc tế phản ánh toàn bộ tình hình quốc
tế đợc biểu hiện theo "lát cắt" cụ thể về
thời gian với các mối liên hệ, tác động
qua lại và tơng quan so sánh lực lợng
giữa các chủ thể cđa ®êi sèng quan hƯ
qc tÕ, trong mét thêi ®iĨm nhất định.
Nói cách khác, Cục diện quốc tế là tình
hình thế giới và các mối quan hệ quốc tế
đợc biểu hiện trong một giai đoạn lịch
sử nhất định. Cục diện quốc tế mang
tính động, kết cấu thờng xuyên biến đổi.

ở một số giai đoạn lịch sử, sự vận
động của thế giới không đợc biểu hiện
ra trong một trật tự cụ thể mà đợc
nhận biết trong những cục diện khác
nhau, tùy thuộc vào tơng quan lực
lợng trên thế giới. Vì vậy, TrËt tù thÕ
giíi vµ Cơc diƯn qc tÕ cã quan hệ gắn
bó với nhau, đều cùng phản ánh sự
phân bố và tơng quan so sánh lực
lợng giữa các chủ thể quốc tế. Tuy
nhiên, Trật tự thế giới nhấn mạnh sự
thể hiện những chuẩn mực, kết cấu lực
lợng đợc hình thành, ổn định mà cộng
đồng thế giới thừa nhận một cách tự
giác hoặc bắt buộc; còn Cục diện quốc tế
phản ánh tình hình thế giới trong đó có
trật tự thế giới luôn vận động và biến
đổi. Hai khái niệm này không thĨ thay
thÕ cho nhau.
Tham ln Cơc diƯn quan hƯ qc tế
giữa các cờng quốc từ sau khủng hoảng
tài chính toàn cầu năm 2008 của ThS.
Phan Thị Thu Hằng cũng đề cập khái

Thông tin Khoa học xà hội, số 1.2013

niệm Trật tự thế giới. Tác giả cho rằng:
Trật tự thế giới đợc xác lập bằng các
hiệp định, quy ớc, luật lệ quốc tế chung
nhất cho các hoạt động chính trị, quân

sự, kinh tế, ngoại giao trên trờng quốc
tế. Sự xác lập đó có thể thông qua con
đờng bạo lực hoặc không bạo lực, sử
dụng sức mạnh quân sự hoặc thỏa hiệp
về kinh tế, chính trị. Vì vậy, trật tự thế
giới thờng phản ánh tơng quan lực
lợng giữa các quốc gia và hệ thống nhà
nớc; giữa các giai cấp cơ bản và lực
lợng chính trị, kinh tế, quân sự chủ
yếu; giữa các tổ chức, các phong trào
chính yếu có ảnh hởng đến cộng đồng
quốc tế.
Tham luận Quyền lực và cạnh tranh
quyền lực trong quan hƯ qc tÕ - Mét sè
vÊn ®Ị lý thuyết của PGS.TS. Hà Mỹ
Hơng đà đa ra một số khái niệm,
nh: Quyền lực là mối quan hệ giữa các
chủ thể hành động của đời sống xà hội,
trong đó chủ thể này có thể chi phối
hoặc buộc chủ thể khác phải phục tùng
ý chí của mình nhờ có sức mạnh, vị thế
nào đó trong quan hệ xà hội. Quyền
lực chính trị là quyền lực của một giai
cấp hay liên minh giai cấp để thực hiện
sự thống trị chính trị trên cơ sở thực
hiện chức năng công quyền, cơ bản bằng
quyền lực nhà nớc, là năng lực áp đặt
và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị
xà hội có lợi cho giai cấp mình và đảm
bảo mức độ nhất định sự công bằng xÃ

hội. Sức mạnh tổng hợp quốc gia là
toàn bộ thực lực bảo đảm sự tồn tại,
phát triển và nâng cao vị thế của một
quốc gia trong quan hệ quốc tế, bao gồm
các nhân tố vật chất (phần cứng nh tài
nguyên, dân số, kinh tế, quân sự), các
nhân tố tinh thần (phần mềm nh chất
lợng chính phủ, thể chế chính trị).
Sức mạnh cứng hay quyền lực cứng


Trật tự thế giới

(hard power) là thuật ngữ đợc dùng
trong lý luận quan hệ quốc tế để mô tả
tác động của sức mạnh quân sự và kinh
tế dùng để chống lại hành vi hoặc lợi ích
của các thực thể chính trị khác. Sức
mạnh cứng của một quốc gia bao gồm
tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học - kỹ
thuật và nguồn tài nguyên cơ bản. Sức
mạnh tiềm tàng đợc xây dựng trên cơ
sở độ lớn của dân c và mức độ phát
triển kinh tế. Hai yếu tố này là hai trụ
cột của sức mạnh quân sự. Còn sức
mạnh thực tế của một nớc thông
thờng là sức mạnh quân sự, chủ yếu
dựa vào lục quân, với sự hỗ trợ trực tiếp
của hải quân và không quân nớc đó.
Sức mạnh mềm (soft power) là thuật

ngữ dùng để chỉ tác động tăng cờng
sức mạnh nhờ ý thức hệ, hoạt động
ngoại giao, truyền thống lịch sử và bản
sắc văn hóa của quốc gia. Năm 1990,
lần đầu tiên trong quan hệ quốc tế, khái
niệm sức mạnh mềm hoặc quyền lực
mềm đợc biết đến bên cạnh khái niệm
sức mạnh cứng. Ngày nay, thế giới
nhắc nhiều đến sức mạnh mềm cùng với
tầm quan trọng của nó. Trong lịch sử
quan hệ quốc tế, Cạnh tranh quyền lực
đợc hiểu là hình thái đối kháng (trực
tiếp hay gián tiếp) giữa hai (hoặc nhiều)
chủ thể nhằm tranh giành ảnh hởng
đối với một (một số) chủ thể khác thông
qua việc tác động hoặc ép buộc chủ thể
đó phục tùng ý chí của mình.
2. Đặc điểm của cục diện mới trong quan hệ giữa
các nớc lớn và những tác động đối với Việt Nam

Mét sè b¸o c¸o: Cơc diƯn quan hƯ
qc tÕ khu vực Trung Đông từ sau biến
động "Mùa xuân Arab" đến nay của
ThS. Đỗ Thị Thảo; Cục diện quan hệ
quốc tế giữa các cờng quốc từ sau
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008 của ThS. Phan Thị Thu Hằng; Tác

23
động của cạnh tranh chiến lợc giữa các

nớc lớn ở Đông Nam á của PGS.TS
Nguyễn Hoàng Giáp; Gia tăng cạnh
tranh chiến lợc Mỹ - Trung, Trung Nhật và vị thế của Nga, ấn Độ, EU,
Australia, Hàn Quốc, ASEAN trong bàn
cờ địa chính trị Đông á thập niên đầu
thế kỷ XXI của TS. Thiếu tớng Hoàng
Văn Đồng; Cạnh tranh chiến lợc Nga Mỹ tại Đông Nam á đầu thế kỷ XXI của
ThS. Nguyễn Thị Tú Hoa; Sự cạnh
tranh của các nớc lớn ở khu vực châu á
- Thái Bình Dơng hai thập niên đầu
thế kỷ XXI: thực trạng và triển vọng của
học viên cao học Vũ Đức Tho; Những nỗ
lực của Nga nhằm tăng cờng vai trò
cờng quốc trong quan hệ quốc tế của
PGS.TS. Phan Văn Rân; v.v... cho thấy:
Trong hơn một thập niên đầu thế kỷ
XXI, các cờng quốc đà cơ bản hoàn
thành quá trình điều chỉnh chiến lợc.
Địa vị và vai trò của một số nớc lớn,
đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, đà đợc
xác định. Mỗi nớc lớn đều tìm cách xác
lập vị trí và cải thiện, nâng cao vai trò
của mình trong quan hệ quốc tế. Quá
trình này chứa đựng những bớc thăng
trầm nhất định. Các cờng quốc đều
phải tiến hành điều chỉnh một cách
toàn diện chiến lợc quốc gia và chính
sách đối ngoại nhằm tìm kiếm một vị
thế mới trong thế giới đa cực. Nhìn
chung, cục diện mới trong quan hệ giữa

các nớc lớn thể hiện ở ba đặc điểm lớn
sau đây:
Thứ nhất, đó là quá trình sắp xếp
lại tơng quan lực lợng đang diễn ra
trên phạm vi toàn cầu. Mỹ tuy vẫn giữ
đợc vị thế hàng đầu nhng đà và đang
có sự suy giảm tơng đối so với các
cờng quốc khác. Trong khi đó, sự trỗi
dậy của các nớc mới nổi đang cạnh
tranh ngày càng gay gắt víi Mü. Tuy


24
nhiên những nớc này đều tránh thế đối
đầu với Mỹ. Các bên đều lựa chọn
phơng thức vừa hợp tác, vừa cạnh
tranh, kiềm chế lẫn nhau, cùng tồn tại
hòa bình. Xu thế này đợc dự báo sẽ còn
duy trì lâu dài, bởi trớc mắt cha thể có
những thay đổi đột biến, vợt trội để tiến
tới thiết lập một trật tự thế giới mới.
Thứ hai, quan hệ giữa các nớc lớn
diễn biến theo hớng ổn định với
phơng thức vừa đấu tranh vừa hợp tác
ngày càng rõ nét. Các mâu thuẫn dù
gay gắt nhng không dẫn tới xung đột,
tan vỡ quan hệ mà cuối cùng đều đi tới
những dàn xếp, thỏa thuận, duy trì ổn
định và ngày càng đợc nâng cấp các
mối quan hệ.

Thứ ba, trong các mối quan hệ giữa
các nớc lớn với nhau thì quan hệ Mỹ Trung đợc xếp vị trí quan trọng hàng
đầu; quan hệ Mỹ - Nhật ở vị trí thứ hai.
Còn quan hệ Mỹ - Nga và Nga - Trung
có vị trí quan trọng trong đời sống qc
tÕ; quan hƯ Trung - NhËt cã vÞ trÝ quan
träng và ảnh hởng lớn ở khu vực Đông
á và châu á - Thái Bình Dơng, v.v...
Dù nhìn nhận những thay đổi của
các mối quan hệ giữa các nớc lớn ở góc
độ nào cũng đều có thể dễ dàng nhận
thấy, các nớc này đang ngày càng phụ
thuộc vào nhau nhiều hơn, tập hợp lực
lợng của các cờng quốc đang có những
biến chuyển hết sức phức tạp. Tuy
nhiên, bản chất mối quan hệ hợp tác kiềm chế của các nớc này đợc định
hình từ sau Chiến tranh Lạnh cho đến
nay vẫn cha thể thay đổi hoàn toàn, sự
điều chỉnh những chính sách hiện nay
mới chỉ là hình thức. Vì vậy, cha đủ lực
để tạo ra một cục diện thế giới G2 (Mỹ Trung Quốc) nh một số nhà phân tích
dự báo, mà cơc diƯn thÕ giíi hiƯn nay

Th«ng tin Khoa häc x· hội, số 1.2013

đang dần rõ nét một thế quân bình theo
kiểu đa giác, nhiều cực.
Theo PGS.TS Thái Văn Long, từ đặc
điểm của cục diện mới trong quan hệ
giữa các nớc lớn hiện nay đà có những

tác động đối với Việt Nam đợc Hội
thảo tán đồng nh sau:
Một là, trong cuộc chạy đua khốc
liệt, để tăng sức mạnh tổng hợp, tất cả
các quốc gia đều dành u tiên cao cho
phát triển khoa học - công nghệ, đi liền
với đó là nâng cao chất lợng nguồn
nhân lực. Điều này đặt Việt Nam trớc
những thách thức gay gắt hơn, nguy cơ
tụt hậu xa hơn nếu không kịp thời có
những điều chỉnh thích hợp trong chiến
lợc phát triển.
Hai là, nhu cầu về nguyên nhiên
liệu, nhất là về dầu khí cho những cuộc
chạy đua nói trên ngày càng lớn. Việt
Nam nằm trong khu vực giàu tiềm năng
thiên nhiên (biển và rừng), nhất là có
trữ lợng dầu khí tơng đối lớn, do đó
đợc rất nhiều quốc gia quan tâm. Mặt
khác, nhu cầu năng lợng cho mục tiêu
phát triển của chính Việt Nam cũng
ngày một tăng, vì vậy, ngoại giao năng
lợng cần trở thành một nhiệm vụ quan
trọng. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có thế
mạnh về lơng thực, trong khi lĩnh vực
này đang trở thành một điểm nóng
trong quan hệ quốc tế, cho nên đầu t
phát triển nông nghiệp không chỉ nhằm
đảm bảo an ninh lơng thực trong nớc
mà còn là công cụ hữu hiệu trong quan

hệ quốc tế.
Ba là, Việt Nam nằm trong khu vực
Đông Nam á nói riêng, trong châu á Thái Bình Dơng nói chung - là khu vực
đang đợc đánh giá về sự phát triển
năng động, là "động lực" phát triển của
thế giới, đợc tất cả các nớc lớn quan


Trật tự thế giới

tâm, do đó chịu tác động của sự tranh
giành ảnh hởng phức tạp giữa các nớc
lớn về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh
tế, v.v... Điều này đòi hỏi Việt Nam luôn
phải có những kế sách ngoại giao mềm
dẻo, linh hoạt, phù hợp.
3. Những tác động đến sù vËn ®éng cđa Cơc diƯn
thÕ giíi tõ nay ®Õn năm 2020

Nhiều báo cáo và tham luận đà nêu
ra sáu vấn đề mới nổi lên, tác động đến
xu hớng vận động cục diện thế giới từ
nay đến năm 2020 nh sau:
Thứ nhất, bên cạnh vai trò chủ đạo
của các nớc lớn, các nớc vừa và nhỏ
ngày càng vơn lên khẳng định vai trò,
vị trí của mình trong việc tham gia
hoạch định và giải quyết các vấn đề có
liên quan đến vận mệnh chung của khu
vực, thế giới và nhân loại.

Thứ hai, trong quan hệ quốc tế, để
đánh giá sức mạnh của một quốc gia,
bên cạnh các nhân tố mang tính truyền
thống là chính trị, quân sự thì nhân tố
kinh tế ngày càng bộc lộ rõ nét và đóng
vai trò quan trọng. Hiện nay, Về chính
trị, đi đôi với quyền lực "cứng", quyền
lực "mềm" ngày càng trở thành phơng
cách phổ biến và có nhiều tác dụng. Về
quân sự, bên cạnh cuộc chạy đua về sức
công phá, khả năng cơ động, đang nổi
lên cuộc chạy đua về khả năng điều
khiển bằng công nghệ thông tin. Về
không gian, cùng với phạm vi chủ quyền
về đất liền và bầu trời, thì đại dơng và
vũ trụ đang trở thành địa bàn tranh
giành gay gắt. Về kinh tế, trong cuộc
chạy đua về sức mạnh tổng lực, nớc
nào cũng dành u tiên cao cho khoa học
- công nghệ, đồng thời chú trọng nhân
tố con ngời.
Các nớc vừa hợp tác, vừa cạnh

25
tranh, kiềm chế, tạo nên thế đan xen,
tùy thuộc lẫn nhau về lợi ích, và đều cố
gắng hạn chế nguy cơ xung đột vũ
trang. Hơn nữa, mặc dù cạnh tranh gay
gắt nhng không dẫn đến đối đầu triệt
tiêu nhau, mà thoả hiệp cùng tồn tại ở

thế win - win, cùng thắng.
Thứ ba, khả năng trật tự thế giíi
"hai cùc míi" ch−a xt hiƯn. Xu h−íng
®a cùc ®ang hình thành nhng cha rõ
nét. Đáng chú ý là hiện nay chủ nghĩa
dân tộc đang trỗi dậy mạnh mẽ.
Thứ t, bên cạnh vai trò quan trọng
của Liên hợp quốc, ngày càng xuất hiện
nhiều tổ chức, nhiều diễn đàn đa
phơng, ở phạm vi khu vực cũng nh
phạm vi toàn cầu, nhằm điều hòa lợi
ích, giải quyết xung đột, xử lý các vấn
đề chung của nhân loại.
Thứ năm, thế giới đang diễn ra sự
dịch chuyển và phân tán quyền lực trên
phạm vi toàn cầu: dịch chuyển từ Âu Mỹ sang các nớc mới nổi; phân tán
sang các trung tâm quyền lực ở các châu
lục, khu vực khác (Trung Đông - Bắc
Phi, Trung á, Đông á, Mỹ La-tinh, châu
Phi, v.v...).
Thứ sáu, những vấn đề an ninh phi
truyền thống, những vấn đề toàn cầu có
liên quan đến vận mệnh sống còn của
nhân loại ngày càng đòi hỏi phải đợc
giải quyết cấp bách, song, không một
quốc gia nào có thể tự mình giải quyết
đợc, mà đòi hỏi sự chung tay hợp tác
của toàn thể nhân loại, của tất cả các
quốc gia cùng tham gia giải quyết.
4. Các xu thế và hình thức của liên minh, liên kết,

tập hợp lực lợng hiện nay

Các tham luận: Một số vấn đề về tập
hợp lực lợng trong quan hệ qc tÕ thêi
kú sau chiÕn tranh l¹nh cđa TS. Mai


26
Hoài Anh. Vai trò của các nớc đang
phát triển trong cc ®Êu tranh thiÕt lËp
trËt tù thÕ giíi míi thËp niên đầu thế kỷ
XXI của ThS. Lu Trần Toàn, v.v... đÃ
tập trung làm rõ: Trong lịch sử quan hệ
quốc tế truyền thống cũng nh hiện đại,
quan hệ giữa các nớc lớn luôn đóng vai
trò chi phối các mối quan hệ quốc tế
cùng quá trình hình thành và cơ chế
vận hành của trật tự thế giới, của các
tập hợp lực lợng quốc tế. Các nớc vừa
và nhỏ, dù muốn hay không, cũng phải
lu ý tới động thái của các nớc lớn để
hoạch định và điều chỉnh chính sách đối
ngoại của mình. Khuôn khổ chung trong
quan hệ giữa các nớc lớn từ sau Chiến
tranh Lạnh đà đợc xác lập, đó là hợp
tác và đấu tranh. Mặc dù xuất phát từ
những mục đích khác nhau và ở những
mức độ không giống nhau, song, các
nớc đều cần đến nhau, vì vậy, đều
muốn hợp tác với nhau, thúc đẩy những

mối quan hệ song phơng, đa phơng,
nhằm phục vụ mục tiêu phát triển và
nâng cao vị thế của mình. Đồng thời, các
quốc gia đều đấu tranh nhằm kiềm chế
lẫn nhau trong thời kỳ quá độ từ cục
diện cũ sang cục diện mới, không có tình
trạng đối đầu nh trong thời kỳ Chiến
tranh Lạnh. Các xu thế tập hợp lực
lợng chủ yếu hiện nay là:
- Xu thế tập hợp lực lợng dựa
trên sự trùng hợp về lợi ích. Đây là xu
thế mang tính phổ biến và xuyên suốt
trong quan hệ quốc tế qua các giai đoạn
lịch sử. Nét mới của xu thế này sau
Chiến tranh Lạnh là có sự tham gia
của các nớc có chế độ chính trị - xÃ
hội khác nhau trong các tổ chức, các
liên kết nhằm giải quyết các vấn đề
quốc tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích của
các quốc gia.

Thông tin Khoa häc x· héi, sè 1.2013

- TËp hỵp lùc l−ỵng dùa trên cơ
sở gần gũi về địa lý, lịch sử, văn hóa,
tôn giáo, dân tộc. Đây là cơ sở cho việc
liên kÕt, tËp hỵp lùc l−ỵng theo khu vùc,
tiĨu khu vùc. Sự phát triển các mô hình
liên kết ở phạm vi không gian khu vực
đang thể hiện đợc coi là một quy mô

thích hợp đối với việc điều tiết nền kinh
tế thế giới. Việc liên kết, tập hợp lực
lợng ở các khu vực hiện nay cũng
mang tính chất "mở" hơn, toàn diện và
đa dạng về hình thái và thành phần.
- Các hình thức của liên minh, liên
kết, tập hợp lực lợng hiện nay: Các xu
thế liên minh, liên kết, tập hợp lực
lợng là do nội dung, tính chất của các
vấn đề quốc tế cần giải quyết quy định,
còn hình thức và độ gắn kết của các liên
kết, tập hợp lực lợng lại do độ chín
muồi của việc giải quyết các vấn đề đó
quy định. Độ chín muồi càng cao thì
hình thức càng chặt chẽ, còn khi cha có
điều kiện hoặc cha chín muồi thì độ
liên kết của các tập hợp thờng lỏng lẻo.
Nhìn chung, hiện nay có 3 hình thức
liên kết, tập hợp lực lợng phổ biến là:
song phơng - khi có hai chủ thể tham
gia; đa phơng - khi có nhiều chủ thể
tham gia; toàn cầu - khi tất cả hoặc hầu
hết các chủ thể quan hệ quốc tế đều
tham gia. Xét theo lĩnh vực, các hình
thức liên kết, tập hợp lực lợng bao
gồm: liên kết, tập hợp về kinh tế, về
chính trị, về quân sự, v.v...
5. Chủ nghĩa t bản trong trật tự thế giới mới

Các tham luận: Chủ nghĩa t bản

hiện đại trong quá trình hình thành trật
tự thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI
của ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền. Cục
diện quan hệ quốc tế giữa các cờng
quốc từ sau khủng hoảng tài chính toàn


Trật tự thế giới

cầu năm 2008 của ThS. Phan Thị Thu
Hằng và một số báo cáo khác đà cho thấy:
Chủ nghĩa t bản toàn cầu hóa đợc
coi là giai đoạn mới của CNTB độc
quyền quốc tế, nó có những cách thức
tồn tại và hình thức thống trị mới
nhng không thay đổi về bản chất. Sau
sự kiện Liên Xô tan rÃ, hệ thống XHCN
ở Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản
quốc tế tổn thất nặng nề và lâm vào
thoái trào, CNTB mạnh lên. Cán cân so
sánh lực lợng tạm thời nghiêng về phía
có lợi cho CNTB.
Hiện nay, CNTB là một hƯ thèng x·
héi réng lín, bao gåm nhiỊu qc gia
ph¸t triển ở những trình độ khác nhau,
có vai trò, vị trí quốc tế khác nhau: thể
hiện sự đa dạng, phức tạp trong đời
sống quan hệ quốc tế trên ba lĩnh vực:
1) kinh tế - thơng mại; 2) chính trị quân sự; 3) khoa học - công nghệ. Do
tính chất và trình độ lực lợng sản xuất

phát triển cao cho nên năng suất, chất
lợng, hiệu quả kinh tế của CNTB đạt ở
mức rất cao. Vai trò của CNTB, đặc biệt
là Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, trong các tổ
chức kinh tế - thơng mại quốc tế nh
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB), Ngân hàng phát triển
châu á (ADB), Tổ chức Thơng mại thế

27
giới (WTO), Liên Hợp Quốc (UN), v.v...,
là rất lớn. Mỹ đang tích cực triển khai
chính sách áp đặt, cờng quyền. CNTB
đà có nhiều chủ trơng, chính sách điều
chỉnh về kinh tế, chính trị, xà hội, đối
nội, đối ngoại... để phát triển, song nó
đà và đang gặp nhiều khó khăn, phức
tạp không thể giải quyết đợc. Những
mâu thuẫn, khó khăn về kinh tế, sự bất
ổn định về chính trị và hàng loạt các
vấn đề xà hội khác khiến cho địa vị lịch
sử của CNTB đang bị lung lay.
Nhiều tham luận khác nh: Định
hớng chính sách của Việt Nam trong
quan hệ với các nớc lớn, của PGS.TS.
Trần Khánh. Cạnh tranh chiến lợc
của Mỹ tại khu vực hạ nguồn sông
Mekong đầu thế kỷ XXI của ThS. Trịnh
Thị Hoa. Đối sách của ASEAN trớc
tác động cạnh tranh chiến lợc giữa các

nớc lớn ở Đông Nam á thập niên đầu
thế kỷ XXI của PGS.TS. Nguyễn Thị
Quế. Nét mới về chính sách đối ngoại
của Trung Quốc sau Đại hội XVIII của
TS. Trần Thọ Quang, v.v... là những
vấn đề thời sự quốc tế đợc đề cập
tơng đối hệ thống, hấp dẫn và hữu ích
đối với những ngời làm công tác
nghiên cứu, giảng dạy lĩnh vực quan hệ
quốc tế và những ai quan tâm



×