Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.6 MB, 24 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Niềm vui lớn nhất đến với tập thể sư phạm nhà trường đó là trường đã được
BGDĐT cộng nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 năm 2003. Điều đó đã đáp ứng
được nguyện vọng của đông đảo nhân dân địa phương đồng thời cũng đặt ra cho nhà
trường một thử thách mới, Để đưa con thuyền Văn Thanh Tùng vươn ra biển lớn không
phải là điều dễ dàng bởi chất lượng tuyển sinh đầu vào vẫn còn rất thấp. Bao băn khoăn,
lo lắng đang đè nặng lên đôi vai đội ngũ thầy cô giáo và cả những trăn trở của lãnh đạo
nhà trường.
Tập san tập san gương mặt nhà trường, gương sáng nhà giáo là tất cả những tình
cảm tốt đẹp nhất, cả những lời tri ân mà các CB-GV và bao thế hệ học sinh trường TH
Văn Thanh Tùng đã gởi gắm sẽ giúp quý vị hiểu hơn, cảm thông và trân trọng hơn
những nỗ lực mà tập thể thầy và trò trường đã chung tay gắng sức xây dựng trong suốt
hơn 30 năm qua.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả những tấm lịng, tình cảm, trái tim nhân hậu của tất
cả quý vị, quý thầy cô và các thế hệ học sinh, những người ln quan tâm và đóng góp
xây dựng nhà trường vững mạnh đi lên. Mong rằng trong thời gian sắp tới, quý thầy cô
giáo tiếp tục vượt mọi khó khăn để ươm mầm, chăm sóc các thế hệ nối tiếp để ngày mai
đem đến cho cuộc đời những chùm quả ngọt ngào, những đóa hoa tỏa ngát hương thơm.
Chúc q thầy cơ giáo, các em học sinh sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt.
Trường TH Văn Thanh Tùng được hình thành từ những năm 1978 và có Quyết
định thành lập trường của Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Nam số 205/QĐ-GDDT ngày
13.7.1997.
Trường TH Văn Thanh Tùng thuộc xã Điện Dương, phía bắc giáp xã Điện Ngọc,
phía nam giáp xã Cẩm An và xã Cẩm Hà, phía đơng giáp biển Đơng, phía tây giáp xã
Điện Nam với 10 thơn. Riêng nhà trường có 04 khu vực nằm trên địa bàn của 6 thôn,
dân cư được phân bố thành 2 cụm rõ rệt : Tân Khai- Hà Bản và Hà My với dân số trên
11 nghìn người. Hầu hết nhân dân đều sống nhờ vào nghề nông và ngư nghiệp là chính,
gia đình thuộc diện chính sách khá đơng. Do đặc điểm trên nên mức sống của nhân dân
có mức thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng đang đầu tư xây dựng nên tác động không nhỏ đến
việc tăng cường nguồn lực phát triển kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục các điều kiện
phục vụ cho việc dạy và học cũng cịn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhất là về cơ sở vật
chất, nhà trường vẫn còn nhiều khu vực trường lẽ, rất khó trong việc quản lý .
Có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan cấp trên, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp
của Phịng Giáo dục Điện Bàn
Có sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, các ban
ngành trong xã về việc tuyên truyền sâu rộng về ý nghĩa, mục đích của việc xây dựng
trường TH đạt chuẩn Quốc gia trong nhân dân địa phương. Từ đó cơng tác xã hội hóa
giáo dục được xã hội chú trọng và hết sức quan tâm tạo mọi điều kiện và môi trường
Năm học 1997-1998 là năm học đầu tiên thực hiện Quyết định 1366/GD&ĐT của
Bộ GD&ĐT và quy chế công nhận trường TH đạt chuẩn Quốc gia giai đọan
1996-2000. Đây là một cơng việc rất cịn mới mẽ và rất khó khăn đối với nhà trường, bỡi vì
trường lớp cịn quá tạm bợ, cơ sở vật chất, các điều kiện phục vụ cho việc dạy và học
còn nhiều thiếu thốn, Tuy nhiên với truyền thống yêu nước nồng nàn kết hợp với
truyền thống hiếu học, sự quan tâm đầy trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa
phương, các ban ngành, đoàn thể chung quanh xã cũng như sự nổ lực quyết tâm của
Hội cha mẹ học sinh và nhân dân là điều kiện thuận lợi để nhà trường tập trung phấn
đấu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
Năm học 2002-2003 nhà trường đã được Ngành công nhận trường TH đạt
chuẩn quốc gia và vinh dự được Bộ GD&ĐT cấp bằng công nhận số:
4585/QĐ-BGD&ĐT-TH ngày 09/10/2002. Từ đó đến nay nhà trường tiếp tục giữ vững và thực
hiện việc nâng chuẩn mức độ 2 theo tinh thần Quyết định 32/2005 của Bộ GD&ĐT .
Chi bộ nhà trường được hình thành là một chi bộ độc lập từ năm 1989, có 5
đảng viên. Đến năm 2009 đã nâng tổng số đảng viên trong chi bộ lên 9 đồng chí
chiếm tỷ lệ 31%. Trong cơng tác xây dựng đảng, chi bộ nhà trường hằng năm đều
liên tục đạt danh hiệu Chi bộ Trong sạch vững mạnh .Các tổ chức đoàn thể trong nhà
trường đều giữ vững danh hiệu xuất sắc, Cơng đồn nhà trường được Cơng đồn
Ngành khen tặng có thành tích xuất sắc nhiều năm liền .
Số giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn 96,6%. Đến nay đã có 16 CB,GV đạt
trình độ trên chuẩn chiếm tỷ lệ 69,6%, có 01 GV dạy giỏi tỉnh, 07 GV giỏi huyện, 12
GV giỏi cấp trường và 04 chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, 1 CSTĐ cấp tỉnh, khơng có giáo
viên dạy yếu. Đặc biệt việc đầu tư viết và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm đã được tập
Hằng năm nhà trường đều có kế hoạch quy hoạch và xây dựng đội ngũ, đặc biệt là
đội ngũ nịng cốt, kế cận, có kế hoạch bồi dưỡng tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên tự
học nhằm nâng cao trình độ đào tạo. Ngồi ra tất cả cán bộ, giáo viên đều tích cực
tham gia học tập chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo quy định của Ngành và
tham gia dự thi đều đạt kết tốt.
Nhiều năm nhà trường đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tham quan học tập,
văn nghệ, các hội thi..., tổ chức các hoạt động giáo dục như giáo dục đạo đức, lối sống
và làm việc theo đúng hiến pháp và pháp luật...
Trường đã có nhiều biện pháp chỉ đạo thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng
dạy đạt hiệu quả qua các lần báo chuyên đề, dạy minh họa, dự giờ, thao giảng ở trường
cũng như ở cụm. Thực hiện nghiêm túc việc chấm chữa bài và đánh giá xếp loại học
sinh theo quyết định 32 của Bộ GDĐT. Thực hiện tốt mục tiêu phổ cập Tiểu học đúng
độ tuổi và chống mù chữ, tỷ lệ trẻ 11 tuổi tốt nghiệp Tiểu học hằng năm đều đạt trên
90%. Tổ chức tốt ngày tồn dân đưa trẻ đến trường. Duy trì số lượng học sinh chuyên
cần hằng năm đều đạt 100%.
Hằng năm học sinh lên lớp thẳng đều đạt trên 99,9%, học sinh lớp 5 hồn thành
chương trình Tiểu học đều đạt 100%. Chất lượng hạnh kiểm của học sinh hoàn thành
tốt và khá tốt đạt 100%. Hiệu quả đào tạo sau 5 năm đều đạt từ 98% trở lên. Tỷ lệ học
sinh khá giỏi tăng bình quân từ 5 – 10%. Đạt trên mức chuẩn quy định.
Trên đây là một số hoạt động tiêu biểu về sự hình thành và phát triển của trường
TH Văn Thanh Tùng đã đạt được trong một số năm gần đây để có được như ngày hơm
nay.
Nguyễn Rân
Chẳng biết tình u với nghề giáo đã
nhen nhóm trong tôi tự lúc nào mà suốt
những năm tháng học trò lúc nào tơi
cũng mang trong mình khát khao cháy
bỏng là sau này khi lớn lên có thể trở
thành một giáo viên. Đối với tôi nghề
giáo không chi đơn giản là một kế sinh
nhai mà đó là một cái nghề thiêng liêng
và cao cả lắm không phải chỉ cần có
chun mơn giỏi có kiến thức sâu là thì
đã là một giáo viên tốt mà bên cạnh đó
cịn cần có cái tâm, có nghị lực, có sự
kiên nhẫn và cả một tình yêu thương
rộng lớn. Nghề dạy học luôn là một
trong những nghề cao quý nhất, đồng
thời cũng là một nghề mang trọng trách
lớn đối với xã hội. Lúc sinh thời Cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “ Nghề
dạy học là nghề cao quý bậc nhất trong
nghề cao quý. Nghề dạy học là một nghề
sáng tạo vào bậc nhất trong các nghề
sáng tạo, vì nó sáng tạo ra những con
người sáng tạo”. Tuy nhiên, trong cơ
chế thị trường, thời kỳ hội nhập, đời
sống về vật chất cũng như tinh thần đều
được cải thiện và nâng lên một bước
đáng kể. Kéo theo nó là sự thay đổi về
nhận thức, cách nhìn nhận của cả những
người trong nghề giáo lẫn người ngồi
ngành về nghề này. Ai đó đã nhầm lẫn
chăng khi nói rằng giáo viên là nghề
nhàn hạ, dư dả về thời gian? Thực ra,
lao động của nghề dạy học hết sức cơng
phu. Để có một bài giảng hay, giàu sức
thuyết phục, người giáo viên nào cũng
phải thao thức, trăn trở, tìm tịi .Đơi khi
trong sự nhọc nhằn, khơng phải khơng
có lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi. Thậm
chí khơng tránh khỏi những giây lát
chạnh buồn. Nhưng đó chỉ là những
khoảnh khắc nhất thời. Giáo viên trẻ
chúng ta vẫn rất yêu nghề, chúng ta là
những người thầy – một nghề được cả
xã hội trân trọng và tơn vinh. Phải nói
rằng, nghề thầy giáo đem lại cho chúng
ta khơng ít niềm vui. Đó là niềm vui của
những người có kiến thức, có cơ hội để
sẻ chia, truyền đạt vốn kiến thức của
mình cho những người khác, và đặc biệt
nếu được lắng nghe trong niềm trân
trọng, niềm vui ấy sẽ lớn lên thành niềm
hạnh phúc .
Nguyễn Thị Duyên
Sau phần bài mới
là đến phần dạy học sinh luyện tập, giáo viên
phát lệnh: “ em hãy đọc yêu cầu bài tập số 1”;
một học sinh đứng lên nêu yêu cầu: “đặt tính rồi tính”.
Tơi u cầu học sinh làm bài vào vở bài tập và
gọi một học sinh lên bảng thực hiện. Tôi lần lượt đi từng bàn để theo dõi, giúp đỡ các
em làm bài; tôi luôn chú ý đến những đối tượng học sinh yếu, kém. Khi đến bên em
Nguyễn Cao Trung (học sinh yếu của lớp), tôi thấy nước mắt của em giàn giụa.
Tôi liền hỏi:
- Bạn nào đánh con thế?
Em Trung ấp úng:
- Thưa cô không ạ!
Tôi hỏi tiếp:
- Bạn nào lấy đồ của con phải không? Hay con đau chỗ nào?
Em Trung trả lời trong tiếng khóc:
- Thưa c…ơ…cơ khơng ạ!
Tơi hỏi tiếp:
- Thế tại sao con khóc?
Em Trung trả lời:
- Thưa cơ cháu khơng làm bài được.
Tơi hỏi lại:
- Có phải con sợ cô đánh không?
Em Trung trả lời:
- Thưa cô không, cháu sợ cô buồn!
Trong các buổi học, tôi luôn quan tâm đến những học sinh yếu kém của lớp và có
những biện pháp như:
Phân cơng một em khá, giỏi kèm một em yếu, kém vào đầu các buổi học hay bỏ
một chút thời gian giải lao để giảng thêm cho các em hiểu hoặc gọi các em lên giảng đi,
giảng lại và cho các em thực hiện nhiều lần. Vì thế mà tất cả các học sinh trong lớp đều
thực hiện được; duy chỉ có em Trung vẫn chưa nắm được cách chia.
Trước đây tôi quan niệm rằng: “Học sinh học yếu là do nó dốt cịn bản thân giáo
viên đã làm hết trách nhiệm của mình rồi”.
Nhưng sau buổi học hơm đó, chính những giọt nước mắt và câu nói: “Thưa cơ
khơng, cháu sợ cơ buồn!” của em làm tôi trăn trở mãi và nghiệm ra được điều này:
Tôi không nên đổ lỗi tại các em dốt mà chính tơi đã chưa tìm ra được biện pháp
giảng dạy hữu hiệu nhất để giúp em hiểu bài và làm bài được như bài chia cho số có ba
chữ số.
Tơi tự hỏi rằng: “ Vì sao những em yếu, kém khác lại hiểu bài mà em Trung
không hiểu?”. Qua nhiều đêm trăn trở, tơi đã tìm ra biện pháp dạy học cho từng đối
tượng học sinh yếu, kém một cách hữu hiệu và tơi đã thành cơng. Đó là kỷ niệm đã theo
tơi suốt qng đời dạy học của mình.
<i>Cổng trường tôi rất xinh</i>
<i>Tường cao, cổng sắt dưới hình hoa văn</i>
<i>Bước vào thoang thoảng hương hoa</i>
<i>Trời cao xanh ngắt, mây là là bay</i>
<i>Râm râm bóng mát hàng cây</i>
<i>Trưa trưa gió thổi lay cây rì rào</i>
<i>Xa xa hàng dương vẫy chào</i>
<i>Gần gần phượng đỏ thì thào gọi</i> <i>thương</i>
<i>Cùng nơi khắp chốn trong trường</i>
<i>Học sinh đùa giỡn thân thương chuyện</i> <i>trị</i>
<i>Em nói nhỏ, em nói to</i>
<i>Xao xao tiếng hát tiếng hò du dương</i>
<i>Vọng xa nghe tiếng giảng đường</i>
<i>Bao la trang trải tình thương cơ thầy</i>
<i>Dạo quanh xa đó gần đây</i>
<i>Nơi đâu đẹp nhất là nơi trường mình.</i>
<i>Đoàn Thị Mười </i>
<i><b> Duy Vinh</b></i>
<i><b>__________________________</b></i>
<i><b>Ai ơi hãy đến thăm trường</b></i>
Đồng nghiệp bảo: “Thằng nhà quê thứ thiệt !”
Bạn bè mĩa mai: “Đúng một gã cù
lần !”
Trong mắt em anh là người khờ
khạo
Với cuộc đời ta là kẻ vong ân
***
Nhà quê ư ? Ta lớn khơn từ
rơm rạ
Vẫn say lịng trước ruộng lúa
trỗ bơng.
Ngày cày xới mảnh vườn, góc
ruộng
Đêm năm mơ hàng bắp lên
đòng
***
Cù lần ư ? Ta mộng du trong đời thực.
Đau những điều thiên hạ thấy dửng dưng.
Vẫn tin tưởng tình yêu là có thật.
Dù nhân gian lừa lọc khơn lường
***
Ta yêu em vẹn nguyên tình thứ nhất
Như con chiên thành kính trước Chúa trời
Như Trương Chi si tình, Mỵ Châu nơng nổi
Như Kim – Kiều gặp gỡ lúc ban sơ
***
Cha mẹ cho ta hình hài vóc dáng
Đời cho ta vị ngọt ân tình
Mái trường đó cho ta bao hồi vọng
Từ chiến trường K – ta được hồi sinh
***
Ơn cha mẹ chưa một ngày đền đáp
Tóc hoa râm vẫn mang nợ cuộc đời
Mái trường, thầy cơ …
Thắp nén hương lịng tưởng nhớ đồng đội tôi
***
Lời hứa tuổi thanh xuân mãi là lời hứa hão
Tóc hoa râm vẫn nặng nợ với đời
Nhỏ nhen, tầm thường trong nỗi đau cơm áo
Trước trái ngang đành nhắm mắt buôn xuôi
***
Xin vẹn nguyên thằng nhà quê thứ thiệt
Giữa phồn hoa , phố thị mãi cù lần
Ta yêu em nguyên tình thứ nhất
Với cuộc đời ta mãi mãi hàm ân.
Em lại về với rừng núi Nam Giang
Khơng có anh chỉ cịn em với núi
Nắng đã tắt, màn đêm buông xuống
Núi mênh mông khơng một bóng người.
Chợt nhớ lại lúc xưa em đến núi
Vì có anh và cả núi, trời mây…
Tháng ngày ấy giờ thành kỷ niệm.
Em sẽ tìm ngày tháng đã qua
Núi Nam Giang phải bóng hình anh đó?
Thác suối reo hay nụ cười, giọng nói?
Em đã trao từ thuở ban đầu.
Em đi tìm có phải gặp lại nhau?
Nỗi mừng vui hiện đầy trong ánh mắt
Ai chẳng nói dẫu một lời hờn trách
Bỗng giật mình, chỉ có núi núi ơi!.
<i> NGUYỄN THỊ NI</i>
Kiều Thị Bích Trâm
________________________________
Tơi trở về đứng trước sân trường
Tìm lại một thời dĩ vãng
Dẫu xa rồi tất cả vẫn trinh
nguyên.
Tuổi học trò và ngày tháng
bình yên
Bao kỷ niệm cứ về theo nỗi
nhớ
Lớp học ngày xưa – Thời
gian trăn trở
Đưa tôi đi trở lại cuộc đời
mình.
Cây phượng già vẫn đứng
lặng im
Để nỗi suy tư in vào năm
tháng
Chợt nghe đâu đây trong bài thầy giảng
Lời quê hương sâu thẳm mặn mà.
Bạn bè giờ cũng đã chia xa
Chẳng tìm thấy một bóng hình quen
thuộc.
Thầy dạy chúng tơi tình u đất nước
Và những bàn chân nối tiếp lên đường...
Tơi trở về tìm lại những u thương
Góc hạnh phúc đã dâng lên đầy
ắp
Sao vẫn thấy trong từng đơi mắt
Bóng dáng ngày xưa và mơ ước
học trị...
Rồi nơi ấy sẽ trở thành trường cũ
Lá vàng rơi nhè nhẹ dọc đường
về.
Gió thì thầm như một lời nhắc nhở
Cội nguồn nào nâng đỡ bước người đi ?!
Rồi nơi ấy sẽ toàn màu nắng mới
Ai xa trường khơng nuối tiếc đầy vơi.
Góc sân buồn... tiếng ve sầu khắc khoải
Phượng đã nở nhiều... và năm cuối sắp
qua...
Nhớ không – áo trắng xa rồi ?!
Góc sân trường nhỏ một thời tơ vương.
Tán bàng lấp lánh giọt sương
Cho ta xin gửi thoáng hương lá vàng.
__________________________________
Năm mươi tư tuổi đời, ba mươi hai tuổi nghề
Trơi qua chóng váng
Chỉ đọng lại trong tơi, hình dáng các em thơ
Các em lớn, các em khôn nhanh quá
Riêng tôi vẫn là tôi thuở nào
Cô giáo làng vẫn tận tụy sớm khuya
Sáng đến lớp, tối bên ánh đèn
Nỗi niềm sâu lắng sẽ chia
Gởi lại tuổi xuân với đàn em nhỏ
Trở về bục giảng- ngày xưa
Bài giảng đầu tiên
Khi tóc đã hoa râm
Ngập ngừng như tuổi đơi mươi
Lần đầu tiên lên bục giảng.
Từng tiết học....
Theo trống trường giục giã
Ký ức thời gian bao nhiêu là kỷ niệm
Lẫn lộn buồn vui...khi sắp phải xa trường.
<i>Lê Thị Nga</i>
<i> ... Không phải là kĩ sư </i>
<i> Xây nên những công trình kiến trúc </i>
<i> Em cũng là người xây dựng</i>
<i> Xây dựng con người khối óc bàn tay... </i>
<i> ... Không phải là người chèo đị</i>
<i> Sớm chiều đưa khách sang sơng</i>
<i> Em cũng là diu dắt.</i>
<i> Đưa đàn em đi đến bờ vui .</i>
<i> Đời nhà giáo thế đấy bạn ơi !</i>
<i> Khơng là gì nhưng lại là tất cả.</i>
<i> …Giáo án ơi! Hãy thắm sắc màu</i>
<i> Để nắng lên ấm lòng cây cỏ</i>
<i> Ấm hơi sương trên những nụ hồng</i>
<i> Và mưa về mát những chồi non</i>
<i> Cho em thơ trong cánh diều lộng gió</i>
<i> Cho ngày mai nắng ấm cả sân trường.</i>
<i>Mái ngói đỏ lặng im sâu thẳm</i>
<i>Sân trường vắng lặng</i>
<i>Bục giảng buồn tênh</i>
<i>Hoa bằng lăng ngơ ngẩn</i>
<i>Bãi cỏ như không người</i>
<i>Một sự chia tay là có thật.</i>
<i> …Tơi tiễn thầy lặng lẽ</i>
<i>Miên man dịng suy nghĩ</i>
<i>Lịng người đầy vơi</i>
<i>Đến rồi đi, chung và riêng </i>
<i>Thuyền quay về bến</i>
<i>Ta lại là ta...</i>
Ngày Nhà giáo đầu tiên được tổ chức
vào 20/11/1982, và 20/11 trở thành
ngày Nhà giáo Việt Nam từ đó, như
một dịp để các học trị nhớ về nhũng
người thầy, người cơ đã dưỡng dục
mình khơng chỉ lớn người mà còn
thành người lớn. Tuy vậy, không
phải chỉ bắt đầu từ ngày 20 tháng 11
năm 1982 đến các ngày 20/11 tiếp
theo người ta mới thể hiện lịng kính
trọng và biết ơn thầy cơ. Cha ơng
mình gọi thầy là "sư phụ". "Sư" là
thầy, "phụ" là cha, người học trò kính
cẩn nâng vị trí người thầy lên ngang
hàng với người cha của mình, truyền
thống "tơn sư trọng đạo" của học trò
nước Việt đã hiển hiện từ bao đời
trước. Người thầy giáo đầu tiên của
nước ta là thầy Đỗ Năng Tế. Thầy
Đỗ Năng Tế dạy cả võ lẫn văn cho
hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị.
Khi hai bà nổi dậy, thầy trở thành
tướng lĩnh và đã hy sinh trong chiến
trận.. Ngày xưa, học trò chỉ học một
thầy mà đi thi cũng giật bảng vàng,
rậm Samutra và lớn lên trong sự
chăm bẵm của bầy chó sói, rồi thì em
cũng sẽ chỉ thành một
em-bé-nhiều-tuổi, mà chưa tthể là một con-người.
Khi em không được học hành, khơng
có những người thầy, người cơ gieo
hạt, tưới tắm và truyền
cho em sức sống là nền
văn minh con người thì
mãi mãi trí tuệ em chỉ là
rừng hoang. Em khơng
có được những tư duy
người, tình cảm người,
năng lực người, lịng vị
tha người, sự hy sinh người, khát
đã dạy cho trị đạo làm người. 20-11
năm nay đường phố sẽ lại càng thêm
tưng bừng, rực rỡ bởi muôn sắc hoa
theo chân các cô cậu học trò vào từng
con phố, từng ngõ hẻm. Ở nơi đó,
dưới những mái nhà quanh năm đầm
ấm, n bình sẽ rộn lên
những tiếng ríu rít của
những học trị lâu ngày
gặp lại thầy cơ, sẽ chan
hồ trong những giọt
nước mắt vui mừng và
cảm động, sẽ rưng rưng
khi nhắc lại kỉ niệm
năm xưa và thấy mình bé lại như
ngày nào áo trắng tinh khôi cắp sách
đến trường.. Nhân ngày lễ của các
thầy cơ, mỗi học trị chúng ta đều
Chiều dần buông theo áng mây trôi hững hờ. Những người lái đị bên con
sơng kia vẫn ln miệt mài, cặm cụi chở những đợt khách cuối cùng sang sông.
Mồ hôi họ đã rơi trên tấm ván đò cũ kĩ. Cuộc sống quá bận rộn, có quá nhiều việc
phải lo làm tơi khơng có thời gian suy nghĩ q nhiều, quan tâm đến những người
xung quanh. Giờ ngồi một mình, nhìn cơ lái đị má ửng hồng, như đâu đây hình
ảnh của thầy cơ đã dạy tơi. Tóc thầy bạc vì bụi phấn, mắt cơ đã thâm quầng vì
những đêm mất ngủ, như người lái đó chở khách sang sơng, từng thế hệ này đến
thế hệ khác, đưa chúng tôi- thế hệ trẻ cập bến tương lai, đi đến những chân trời
rộng mở, mở ra cả hòai bão, ước mơ cho chúng tôi.
vào bờ? Bao nhiêu ước mơ thành sự thực.. ? Có mấy ai sang bờ biết ngối đầu
nhìn lại thầy ơi!...Thầy cơ đã chắp cánh cho những ước mơ của chúng ta bay cao,
cung cấp hành trang kiến thức cho chúng ta bước vào đời và giúp chúng ta thành
công trên con đường học vấn. Thế mà, có ai lần tìm về lớp cũ trường xưa để thăm
lại những người đã hy sinh tâm huyết giúp chúng ta thành người hữu ích? Có ai
nhớ chăng bao kỉ niệm êm đềm thấm đượm
tình thầy trị?
Một dòng đời - một dịng sơng
Mấy ai là kẻ đứng trông bến bờ
Đường đời muốn bước phải nhờ người đưa ...
Có ai đó đã ví người thầy như người chèo đị và cô cậu học sinh là khách
qua sông. Khách qua sơng rồi, con đị vẫn như say sưa miệt mài giữa đơi bờ đưa
bao thế hệ đi ngang dịng sơng tri thức.Cịn gì vui hơn đối với những người thầy
khi học trị của mình lần lượt trưởng thành ra đời, nhường bước cho những chú
chim non mới. Cịn gì vui hơn khi những khách qua sơng đã nhớ dịng sơng bến
đị xưa và cả người chèo đị lặng lẽ.
Thầy ơi, mặc cho cuộc sống bơn ba, thầy vẫn một đời chèo đị đưa từng lớp
học sinh qua bến bờ tri thức. Ngày lại ngày, thầy cặm cụi nắm vững tay chèo, chỉ
sợ học sinh của mình lạc lối trên đường đời có lắm bão táp, chông gai.
Ánh nắng mặt trời cuối ngày rồi sẽ tắt, dịng sơng đến nơi con đập sẽ tự
mình rẽ sang một hướng khác. Nhưng việc dạy người làm sao rẽ được, gắn bó đời
bằng một lối đi chung. Cao cả thay tấm lòng nhà giáo, lặn lội chở người qua bão
táp phong ba cập bờ hạnh phúc. Đến nơi rồi một nụ cười đọng mãi. lặng lẽ quay
về lái tiếp chuyến đò sau.
Chuyện một con đò dầm dãi nắng mưa
Lặng lẽ chở từng dịng người xi ngược
Khách sang sông tiếp hành trình phía trước
Có ai nhớ chăng hình ảnh con đị?
Suy cho cùng, sự hi sinh của mỗi thầy cô giáo là qui luật muôn đời. Làm
nhà giáo phải quên mình đi để nghĩ nhiều đến người khác. Là làm bãi cát dài
nâng mình cho những con sóng, con sóng sau đùa đi con sóng trước xóa sạch dấu
Con đến với cuộc đời từ sự hy sinh thầm lặng ấy
Trên chuyến đò của thầy chở nặng yêu thương
Làm nhà giáo chỉ cho mà khơng bận lịng nghĩ đến nhận, là con ong chăm
chỉ xây tổ gom mật cho đời, là cây thân mộc vươn mình trong nắng gió tỏa bóng
mát cho người, là kiếp con tằm đến chết còn vương tơ... Ơi! Biết nói sao cho hết
nỗi niềm của người thầy dành cho bao nhiêu thế hệ trẻ
VĂN THANH TÙNG
i về
lại Điện Dương
hôm nay sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước
sự thay da đổi thịt từng ngày của quê
hương Điện Dương. Chứng kiến sự phát
triển mạnh mẽ của hệ thống giáo dục xã
nhà; mới ngày nào có thể nói là khơng
có gì, sau chưa đầy 35 năm chúng ta đã
có tất cả. Điều đó thể hiện sự quan tâm
đúng mức của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân xã nhà. Đồng thời đó cũng là
sự nổ lực hết sức mình của đội ngũ thầy
những kỹ sư, bác sĩ, bộ đội, giáo
viên, cán bộ nhà nước… họ đã dùng tri
thức của mình để xây dựng quê hương
ngày càng giàu đẹp hơn và đó là những
cây đời mãi mãi xanh tươi mà chính các
thầy cô là người ươm mầm, gieo hạt….
Và “ năm tháng cứ vơ tình trơi mãi
mãi”, mái tóc thầy cơ giờ đã điểm bạc,
lớp học trò cũ chúng em lại sắp phải
chia tay các cô, tạm biệt các đồng
nghiệp, tạm biệt mái trường xưa các cơ
sẽ trở về bên mái ấm gia đình:
Mai cơ về sân trường cũ nằm đau
Hay nỗi nhớ lấp vùi theo cát bụi?
Dẫu đắng cay, dẫu trăm nghìn đau tủi
Nhọc nhằn nào cơ gởi lại ngày sau.
Dẫu biết rằng khơng có gì có thể
tồn tại mãi với thời gian, thế nhưng
chúng ta hãy tin chắc một điều rằng, vẫn
cịn đó những tình cảm tốt đẹp dưới mái
nhà Văn Thanh Tùng mãi theo ta cùng
năm tháng, khắc ghi trong cuộc đời của
những “ người lái đò” chúng ta.
<i>Nguyễn Thị</i>
<i>Nghiêm</i>
<i><b> Duy Vinh</b></i>
<i><b>__________________________</b></i>
<i><b>Ai ơi hãy đến thăm trường</b></i>
<i><b>Ngôi trường bề thế dưới hàng cây xanh</b></i>
<i><b>Sống trong khơng khí trong lành</b></i>
<i><b>Trường tơi đẹp lắm bạn ơi!</b></i>
<i><b>Thầy cơ hiền hậu, nhiệt tình, đảm đang</b></i>
<i><b>Thêm phần cơ sở khang trang</b></i>
<i><b>Học trò ham học giỏi gian mọi bề.</b></i>
<i><b>Chất lượng học tập nên cho hàng đầu.</b></i>
<i><b>Vì em cơ gắng tận tình</b></i>
<i><b>Trau dồi kiến thức-ươm mầm tương lai</b></i>
<i><b>Vì cơ em gắng học hành</b></i>
<i><b>Tương lai ngời sáng trường Văn Thanh Tùng.</b></i>
<b>Nghe thơng hát reo vui mái trường</b>
<b>Mảnh đất Điện Dương trùng khơi sóng vỗ…</b>
<i><b> ( Bảo Lễ )</b></i>
<b>Câu hát nói về Điện Dương- ngôi trường tiểu học Văn Thanh Tùng của nhạc</b>
<b>sĩ Bảo Lễ ta ngầm hiểu rằng ngôi trường tiểu học Văn Thanh Tùng nằm giữa rừng</b>
<b>thông bạt ngàn, sóng biển mênh mơng. Nhưng khơng thể tin rằng ngơi trường này </b>
<b>có một bề dày thành tích đáng kính nể. Nơi đây dù trải qua bao đời hiệu trưởng : </b>
<b>Nguyễn Văn Nguyên, Nguyễn Khả đến Nguyễn Rân nhưng thành tích khơng </b>
<b>những giữ ngun mà có chiều hướng tăng rõ. Thành tích chồng chất thành tích. </b>
<b>Danh hiệu trường tiên tiến vẫn về mãi với ngôi trường nằm giữa biển và cát.</b>
<b>Với bề dày thành tích này tất nhiên nó sẽ khơng thiếu những cơng lao của </b>
<b>tập thể HĐSP – Những thành viên đã chung tay vì một ngôi trường giữa biển và </b>
<b>cát.</b>
<b>Các bạn ạ! Nhắc đến HĐSP Văn Thanh Tùng ta không thể quên một cô giáo </b>
<b>tuy không đứng trên bục giảng nhưng cô vẫn là người để cho đàn em noi theo đó </b>
<b>là cô Nguyễn Thị Kim Thủy.</b>
<b>Ra trương và được phân công về dạy trường cấp 1,2 Điện Dương ( tên </b>
<b>trường trước đây ) Hơn 30 năm trường lớp là qng đường khá dài và thẳng tắp </b>
<b>cơ đã đóng góp khơng ít cơng sức của mình cho sự nghiệp trồng người ở vùng đất </b>
<b>khô cằn này. Danh hiệu giáo viên giỏi trường, giỏi huyện rồi tỉnh, chiến sĩ thi đua </b>
<b>cấp cơ sở, cấp tỉnh…Thành tích cứ thế mà mĩm cười với cô. Tuy ở tuổi cuối đời </b>
<b>của nghề dạy học mà giọng nói của cơ vẫn trong trẻo, rõ ràng, trí nhớ minh mẫn, </b>
<b>tinh tường. Những con đường đi của cô tuy thẳng tắp nhưng đến đích lại là một “ </b>
<b>ổ voi ”đáng kinh sợ. Oan nghiệt cho cô , cái ngày mà cô nhận quyết định về hưu để</b>
<b>phục vụ cho gia đình trong quảng đời còn lại cũng là cái ngày mà tai nạn đã lấy đi </b>
<b>của cô một nữa “ Cữa sổ tâm hồn ”. Tôi và các bạn một lần nữa lại chia buồn cùng</b>
<b>cô . Tuy cô không cịn đứng trên bục giảng nữa nhưng cơ là “Tấm gương tự học và</b>
<b>sáng tạo ” để đội ngủ giáo viên đi sau cơ xem đó là tấm gương để tự soi mình vào </b>
<b>đó.</b>