Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

Lich su cuoc vien chinh Nam Ky nam 1861 HistoiredeLEXPEDITION DE COCHINCHINE en 1861

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 109 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861</b>


<i><b>(Histoire deL’EXPÉDITION DE COCHINCHINE en 1861) </b></i>
<i><b>Người dịch: Hoang Phong</b></i>




<b>---o0o---Lời tựa</b>


<b>(của người dịch)</b>


Nguyên là một quyển sách do nhà Hachette tại Pháp xuất bản năm 1864. Sách khá xưa, vì thế tơi
xin phép được dài dịng kể lại vì đâu lại có quyển sách này trong tay.


Tại Pháp, cứ mỗi năm một hai lần các làng xã tổ chức ngày bán đồ cũ. Ðó cũng là dịp dân trong


vùng gặp nhau trị chuyện. Nhà nào có đồ đạc khơng dùng thì đem ra bán rẻ. Hoặc nhà nào dọn dẹp


kho, tầng hầm, nhà xe, có thứ gì khơng dùng cũng đem ra bán. Có những gian hàng ăn uống vui như


ngày hội. Tơi thích đi thơ thẩn dạo xem người lớn gặp nhau, trẻ con nô đùa, xem những thứ lỉnh kỉnh


bày la liệt trên mặt đất, những vât kỷ niệm của ông bà họ từ xưa, những đồ dùng trong nhà còn mới hay
đã hỏng. Bỗng đi ngang gian hàng của một người thanh niên còn trẻ, anh ta vọt miệng hỏi tơi:


- Ơng có mua sách cũ khơng?


Tơi nhìn thấy trên mặt đất cạnh chân anh chỉ có độ mười quyển sách. Anh ta hiểu ý ngay và giải


thích với tơi rằng:



- Có một người bn bán sách cũ chun nghiệp vừa mua hết, chỉ cịn có từng đó.


- Anh cho phép tôi lựa nhé!


Chưa kịp ngồi xuống xem thì anh ta đã nhanh nhẹn cúi xuống nhặt lên một quyển sách đưa cho


tôi. Quyển sách mốc meo, ẩm uớt, tuy đóng bìa cứng nhưng đã rách nát. Nể nang đứng lại vì lời mời của


anh, bây giờ lại nể nang vì anh ta chìa cho tơi quyển sách trước mặt. Quyển sách mốc xanh rất bẩn, vì
lịch sự tơi phải cầm. Lật ra trang đầu:


<b>Histoire de L’EXPÉDITION DE COCHINCHINE en 1861 </b>


Tơi ít khi đọc sách vớ vẩn, nhưng dù sao thì quyển sách này cũng nói về q hương tơi, biết đâu


</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

Từ ngày nhỏ tôi rất ghét môn sử, không bao giờ thuộc bài. Sử của một nước mà tơi khơng biết nó
ở đâu, địa danh của một trận đánh cũng chẳng biết nó chỗ nào, năm ngàn người chết hay mười ngàn


người chết thì cố nhớ để trả bài thế thôi, nếu vô phước mà thầy gọi trúng tên.


Ðã mua thì phải đọc. Nhưng càng đọc thử lại càng thấy nhiều xúc cảm dâng lên trong tôi. Những


xúc cảm rất phức tạp, vừa đau đớn, vừa hãnh diện, vừa mỉm cười. Ðau đớn cái đau đớn của tổ tiên tôi,
hãnh diện cái hãnh diện của dân tộc tôi, mỉm cười trước cái ngây ngô của lịch sử, cái thật thà dễ thương


của con người. Có khi nước mắt chảy quanh nhưng cũng có khi phải bật thành tiếng cười.


Vì thế đã nảy ra cái ý dịch quyển sách này để những người đồng hương với tơi có dịp chia xẻ


những cảm xúc trong tơi.



Tác giả có lối văn rất xưa, rắc rối và bóng gió, thường hay dùng chấm phẩy (;) hai chấm (:) câu


và ý dài dịng, tơi cố gắng, nếu có thể được, giữ nguyên cách hành văn và cả cách chấm câu của tác giả


khi dịch. Cố giữ lối trình bày ý tưởng của tác giả, nhưng cũng phải chuyển thành tiếng Việt Nam thế nào
cho gọn gàng, dễ đọc. Câu nào "nửa Tây nửa ta” thì xin độc giả tha thứ.


Cuối trang thỉnh thoảng có ghi chú, nếu là ghi chú của tác giả thì tơi khơng thêm gì cả, nếu ghi


chú của người dịch, trong mục đích giúp người đọc dễ theo dõi câu chuyện, thì tơi ghi rõ là: (ghi chú của
người dịch). Nếu có ghi chú của tác giả lẫn lộn với ghi chú của người dịch thì tơi ghi cả hai cho rõ ràng.


Tên người và địa danh tơi giữ ngun theo thời đó và theo cách viết trong sách, khơng thay đổi.
Sách có 10 chương, 3 trang hình vẽ và phần phụ lục. Hình 1 là bản đồ sáu tỉnh Nam Kỳ vào thời
đó. Hình 2 là bố trí của đại đồn Chí Hịa[1], thành phố Saigon-Chợ Lớn và hệ thống sơng ngịi chung
quanh, rất tiếc là trong quyển sách rách nát của tôi tờ hình số 2 đã mất. Hình 3 là thành Mỹ Tho và hệ


thống sơng ngịi.


Phần phụ lục gồm có 6 phần và sau hết là Sổ tang:


<b>Phụ lục I:</b> Danh sách tổng tham mưu của toàn thể hạm đội đánh chiếm Nam Kỳ đặt dưới quyền chỉ huy


của phó đơ đốc[2] Charner, tên từng chiến hạm và sĩ quan chỉ huy, chức vụ và cấp bực của mỗi người,


(danh sách chỉ có các sĩ quan chỉ huy trở lên, từ cấp bực hạ sĩ quan trở xuống không ghi, gồm 20 trang


trong nguyên bản). Tôi xem như một tài liệu tham khảo nên không dịch.



<b>Phụ lục II:</b> Danh sách, tên tuổi, cấp bực, toàn bộ Quân đoàn viễn chinh Nam Kỳ, từ vị Chỉ huy


trưởng[3] tức phó đơ đốc Charner đến các sĩ quan cấp dưới, lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, ban
tham mưu, hành chính v.v., từ cấp hạ sĩ quan trở xuống khơng có trong danh sách, (tất cả 14 trang


trong nguyên bản). Tôi không dịch phần này


<b>Phụ lục III:</b> Danh sách những quân nhân được tuyên dương công trạng, (3 trang trong nguyên bản).


Tơi chỉ dịch lời tun dương của phó đơ đốc chỉ huy trưởng, không nêu tên từng người.


<b>Phụ lục IV:</b> Chỉ dụ của hoàng đế Tự Ðức (ngày 4 tháng 11 năm 1860). Tôi cố gắng dịch ngược trở lại


thành tiếng Việt, (3 trang trong nguyên bản).


<b>Phụ lục V:</b> Cách xây dựng thành trì của người Annam (gồm 3 trang trong nguyên bản). Phần này có
phiên dịch.


<b>Phụ lục VI:</b> Quân điền[4] và dân quân Ðồn điền Annam (8 trang). Phần này có phiên dịch.


<b>Sổ tang:</b> Tất cả những người Pháp gục ngã ở Nam Kỳ miền dưới cho đến năm 1862. Dịch những dòng
mở đầu sổ tang của tác giả. Sổ tang gồm ba phần (không dịch):


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

Phần 2: Danh sách quân nhân thuộc hải quân, cấp bực, ngày chết (25 trang trong nguyên bản)


Phần 3: Danh sách quân nhân thuộc lục quân, cấp bực, ngày chết (35 trang trong nguyên bản)


Cuối sách tôi xin phép độc giả được ghi thêm một vài cảm nghĩ của tôi để làm phần kết luận.


Tôi không ngồi đối diện với tác giả để tìm hiểu và hỏi han tác giả. Tôi xin phép được ngồi một bên


bàn với tác giả để cùng nhau lật lại một vài trang sử nhỏ của quê hương tôi. Tác giả kể cho tơi nghe


những gương oai hùng của người lính viễn chinh, tơi cũng len lén mượn ngịi bút của tác giả để mô tả lại


những giọt máu của tổ tiên tôi, những giọt máu rơi rớt trên những thửa ruộng sình lầy. Hình như những


giọt máu ấy vẫn cịn âm ấm trong tơi.


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

<b>CHƯƠNG I</b>


<b>Ðề cương:</b>


<i>Ngưng chiến ở Bắc Kinh giúp các lực lượng Pháp rảnh tay - Phó đơ đốc Charner được Hồng đế đề cử </i>
<i>thống lãnh viễn chinh Nam Kỳ[1] - Các lực lượng viễn chinh tổ chức trở lại, rời nước Tàu đến Saïgon </i>
<i>trong những ngày đầu tháng 2 năm 1861. </i>


Hoàng đế Hien-fung[2] bất thần đào tẩu về Zhe-hol[3] nơi tận cùng xứ Mãn châu làm quân đồng minh


hết hy vọng thương thuyết với Thiên Quốc. Quyết định cực đoan của Hoàng đế nước Tàu gây ra mối


hiểm nguy lớn nhất cho việc tiến quân của lực lượng đồng minh lúc bấy giờ. Tương lai cho thấy nhiều
điềm xấu và tối tăm: quân đồng minh đang lâm vào một cuộc chiến man rợ, kéo dài nhưng muốn chấm


dứt trong danh dự cũng thật khó khăn. Mùa đông đã báo hiệu và mọi người đều biết sẽ vô cùng gay go


trên đất Tàu, buộc ta phải chọn một quyết định. Lực lượng đồng minh vì thế phải rút lui, đóng quân chặt


chẽ tại Tien-tsin[4], thiết lập liên lạc với căn cứ hành quân trên bờ biển qua các ngõ Tien-kou, Sing-ko,
Takou[5]. Lực lượng hải quân cũng bắt buộc phải chuẩn bị theo để hứng chịu mùa đông.



Bộ mặt mới của tất cả mọi việc sẽ thay đổi hết, tùy thuộc vào những yếu tố mới, tức việc tiếp xúc với


Hoàng tử Kong[6], từ tánh tình, vị thế vương quyền của ơng ta cho đến kết quả trung gian của một lực
lượng Âu châu liên hệ thân hữu từ lâu với nước Tàu[7]. Ngày 25 tháng 10 năm 1860, nam tước Gros,
huân tước Elgin và hoàng tử Kong cùng ký một hiệp ước hồ bình. Hiệp ước thành cơng nhờ sự dàn xếp


của tướng Ignatieff[8]. Nhờ vậy tình trạng tháo mở, quân đội của hai cường quốc được giải tỏa[9]. Lực
lượng hải quân và một phần đội quân viễn chinh của ta được rảnh tay để kéo xuống đập vào Nam Kỳ với


mục đích củng cố vị thế thống lãnh của Pháp ở phần đất Á châu này.


Hồng đế[10] giao phó việc chỉ huy viễn chinh cho phó đơ đốc hải qn Charner. Phó đơ đốc Charner


liền tổ chức lại lưc lượng hải quân do chính ông làm chỉ huy trưởng từ lúc mới khởi đầu cuộc chiến tranh


với Tàu. Ông thành lập hai sư đoàn lớn. Sư đoàn thứ nhất gọi là Sư đoàn Tàu, lo việc bảo vệ và canh giữ


Ta-kou, Tche-fou, Shang-hạ[11], ln cả các hịn đảo Chu-san và Nhật Bản; ông phong chuẩn đô đốc


hải quân Protet thống lãnh sư đồn này. Ơng quyết định là các chiến thuyền của sư đoàn Tàu phải thật
linh động, di chuyển ngắn hạn ở Nhật, cốt để phô trương khả năng mạnh mẽ về phương tiện mà nước


Pháp sẵn có tại các vùng biển này. Mặc dù ở xa mặt trận đang được chuẩn bị là Nam Kỳ, vị thế của đơn


vị thuộc miền bắc nước Tàu thật quan trọng vì giữ nhiều trọng trách như: canh chừng Nhật Bản; khống


chế bọn nổi loạn trong các xí nghiệp kinh doanh ở Shang-hạ và Ning-po; ni đạo qn viễn chinh và
hồi huơng qn lính; ngồi ra cịn phải bảo vệ hiệp ước vừa ký mà sự thực thi chưa chắc được bảo đảm;


việc duy trì đường dây liên lạc giữa Ta-kou và Tche-fou. Sư đoàn thứ hai dùng để hành quân ở Nam Kỳ.



Vị tổng tư lệnh chỉ định chuẩn đô đốc Page trực tiếp chỉ huy sư đoàn thứ hai và đặt dưới sự lãnh đạo của


chính mình. Hai khu vực Hong-kong và Canton[12] tách ra khỏi trách nhiệm chỉ huy của tổng hành dinh
Sạgon.


Phó đơ đốc Charner thân hành đến Tien-tsin để hội ý với các sứ thần các nước và các tướng lãnh đồng
minh, để thơng báo những gì đã được quyết định liên hệ đến người Pháp.


Chiến hạm Duchayla giao cho Nam tước Gros sử dụng, ông này phải trở về Pháp sau khi sắp xếp cho ông
de Bourboulon đổi từ Shang-haï đến nhậm chức ở Bắc Kinh. Chiến hạm Duchayla trên đường về sẽ ghé


Hong-kong, Manille và có thể cả Sạgon. Chiến hạm Duchayla mang theo quân bổ sung[13] cho trại binh


Saïgon. Theo các tin tức mới nhất thì qn trại Sạgon càng ngày càng thiếu nhân lực, việc canh phịng


khó khăn vì vịng đai phịng thủ rộng. Ðồn qn đổ bộ trước kia đã tiến chung với quân đồng minh vào
Bắc Kinh được giải thể. Thủy quân lục chiến cũng tách ra khỏi quân đoàn viễn chinh trên đất Tàu để tăng
cường một phần cho trại quân Ta-kou; phần còn lại chuyển đến Canton, và sau đó là Sạgon. Tướng


Jamin[14] cùng với trung đoàn bộ binh 101, tiểu đoàn 2 bộ binh, một giàn pháo binh 12 khẩu, một giàn
pháo binh 4 khẩu, một đại đội công binh và một nửa bộ phận hành chánh được chuyển về Shang-hạ.


Tướng[15]Collineau được chỉ định chiếm đóng Tien-tsin với đồn lục quân 102, hai giàn pháo binh, một
đại đội cơng binh, một số kỵ binh và một nửa cịn lại của bộ phận hành chánh. Chiến thuyền Forbin giao
cho tướng[16] Cousin-Montauban, vì ơng này muốn thanh tra vài nơi tại Nhật Bản trước khi quay về


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Việc điều động lực lượng vừa kể đột nhiên làm mất tầm quan trọng chiến lược của Tche-fou. Trong suốt


cuộc viễn chinh Tàu, Tche-fou là kho lương chính của quân đội. Nay kho lương này chỉ còn dùng để tiếp



tế cho các chiến hạm trong vùng, cho tốn qn phịng ngự địa phương và cho vùng sơng Pei-ho[17] khi
cần tới. Tuy vậy vị trí này cịn giữ một tầm quan trọng khác; trong thời gian mà vịnh Pe-tche-li và sơng
Pei-ho bị đóng băng thì phải dùng ngõ Tche-fou để liên lạc với Tien-tsin.


Các vấn đề chi tiết được giải quyết giữa các chỉ huy trưởng thuộc các tổng tư lịnh hải quân và quân đội.
Công cuộc chuyển quân lên tàu để trực chỉ Nam Kỳ bắt đầu, mặc dù băng giá, xa bờ và bão tố.


Gió thổi gần như liên tục từ ngồi khơi vào; sóng đứng trên đáy biển bùn, chuyển thành sóng đập, tạo


sình lầy gây thật nhiều trở ngại cho việc chuyển qn; nếu sóng lăn và dài thì ít gây khó khăn hơn. Khí


lạnh đã bắt đầu gay gắt: dây thừng trên tàu đóng đá và sàn tàu cũng đông đá trơn trợt; ban ngày cũng
thường đóng băng; ban đêm hàn thử biểu tuột xuống đến 10 hay 12 độ dưới số khơng. Thủy thủ đồn
của các pháo hạm lớn từ Nam Kỳ vừa đưa tới đây, vì đã quá mệt mỏi sau 2 năm chiến đấu dưới khí hậu


nhiệt đới, nên phải chịu cam khổ vô cùng. Vào khoảng 20 tháng 11, nước đá bắt đầu bít sơng Pei-ho.
Pháo hạm Alarme bị một cơn gió mạnh làm mắc cạn trên bãi ngay phía trước Ta-kou, mất ln bánh lái


và một phần đi tàu. Hộ tống hạm Alom-prah gặp khó khăn vì chân vịt không sử dụng được. Pháo hạm


Fusée bị kẹt băng trên sơng Pei-ho, sau đó nhờ một trận nước lũ bất ngờ mới thoát ra được, nhưng khi
ấy thì việc chuyển quân đã thực hiện xong, cả đạo quân lên đường hết rồi.


Một phần quân số và hành trang được chuyển lên tàu từ một địa điểm cách bờ 6 hải lý, vào đúng lúc cái


lạnh của mùa đông càng ngày càng mãnh liệt. Ðây là cuộc hành qn khơng chiến đấu khó khăn nhất


mà hải quân ta đã thực hiện. Việc chuyển quân đánh dấu cuộc viễn chinh nước Tàu đã chấm dứt, chuyển



sang chuẩn bị cho cuộc viễn chinh Nam Kỳ. Nhưng thật ra thì việc chuẩn bị viễn chinh Nam Kỳ được điều
động ở Sha-lui-tien cách Bắc Kinh 60 dặm và cách Sạgon đến 800 dặm[18]: các đồn qn dùng cho


chiến dịch Nam Kỳ tiến về Sha-lui-tien, các pháo hạm bằng sắt cũng được kéo về nơi này. Pháo hạm


bằng sắt loại nhỏ hết sức đắc dụng trong các trận chiến, đã góp cơng thật đáng kể vào các trận đánh


buộc các đồn bót trên sơng Pei-ho phải đầu hàng. Người ta thấy loại pháo hạm này ngược xi khơng


ngừng trên sơng, chun chở qn lính và tiếp liệu. Chúng hết sức hữu dụng ở bất cứ loại cơng tác nào


giao phó. Cách đóng các pháo hạm bằng sắt vừa kể đâu có dự trù để dùng vào việc chuyên chở giữa bến


Sha-lui-tien và các chiến hạm ở cửa sông Pei-ho; khoảng cách 6 hải lý, biển động, sóng lắc, tàu chịng
chành một cách đáng ngại. Máy tàu không đủ mạnh để ngược sóng trong lúc gió mạnh, nhưng là một
phương tiện vơ cùng q giá giúp tay cho người lính hải quân trên đường chiến đấu: pháo hạm đủ sức
dùng làm tàu kéo, đôi khi cũng dùng để chở nặng. Nhờ các tàu này mà việc chuyển quân hoàn tất trong


20 ngày, mặc dù biển động, gió bão và trời lạnh. Các tàu này đã giúp thật nhiều cho thủy thủ đoàn khỏi


ra tay chèo chống; thật ra thì thủy thủ đồn dù có bắt buộc họ chèo họ cũng không đủ sức. Ở Nam Kỳ,
nơi sông ngòi chằng chịt, vai trò của các pháo hạm sẽ cịn cần thiết hơn nữa; ta có thể đốn trước rồi
đây các tàu này sẽ là những phương tiện rất tốt vừa để chiến đấu vừa để tiếp vận trong cuộc chiến ở


Nam Kỳ. Nhưng phải công nhận việc kéo những chiếc sa-lúp pháo hạm chạy bằng hơi nước, chỉ dự trù
hoạt động trong vùng nước êm, suốt 800 dặm đường biển để đến Nam Kỳ, là một kinh nghiệm mới cho


ngành hải quân. Súng đại bác, đạn dược, lương thực trên sa-lúp pháo hạm đều chuyển sang các tàu kéo.


Các khe hai bên vách tàu được bít kín, than đem dồn về phía mũi tàu để khi kéo thì đầu tàu khỏi bị ngóc


cao quá độ. Các sa-lúp pháo hạm đã vượt qua khỏi mọi thử thách, chỉ mất có hai chiếc bị chìm trên


đường đến Nam Kỳ.


Trong khi đó các tàu lớn lần lượt ra khơi sau khi chuẩn bị xong. Tàu Saône chở cu-li từ Canton. Tàu
Duchayla rời bến ngày 10 tháng 10 với nam tước Gros; cột chính của tàu có treo cờ quốc gia kích thước


vng có hình ngọn lửa[19]. Ngay ngày hơm sau, hn tước Elgin cũng đi Hong-kong. Ngày 1 tháng 12,


tàu Némésis ra khơi quay về Pháp sau 5 năm hoạt động ở Tàu. Ðã có bao nhiêu người ra đi với chiếc tàu
này mà từ nay sẽ không bao giờ trở về nữa!


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

khè vì phù sa sơng Pei-ho và sông Peh-tang; cuối vịnh Pe-tche-li, mà người ta thường gọi sai là vũng tàu
Sha-lui-tien, và cả sông Pei-ho trở nên vắng tanh, thật hiu quạnh sau khi hơn 400 tàu đã nhổ neo. Tàu
Impératrice-Eugénie, kéo cờ hiệu của phó đơ đốc Charner, tàu Echo dùng làm tàu truyền lệnh, cả hai lên


đường đến Tche-fou, nơi đây chỉ cách Ta-kou hơn 60 dặm. Hai tàu đã đến nơi chiều ngày 6 tháng 12.
Sau khi xắp xếp chi tiết cơng việc tại đây xong, phó đơ đốc tổng tư lịnh cùng với hai tàu lại lên đường
ngày 7, đến Woo-sung tiền đồn của Shang-haï vào ngày 10 tháng 12. Các chiến hạm khác chậm trễ vì
cơng tác cũng lần lượt tới nơi.


Chỉ huy trưởng viễn chinh là phó đơ đốc Charner có tồn quyền gây chiến hay làm hịa với xứ Annam. Từ


Hồng Hải, eo biển Sakhaline, biển Nhật Bản cho đến eo biển Malacca và eo biển quần đảo Sonde, suốt


1800 dặm, tất cả tàu bè trương cờ Pháp phải chịu mệnh lệnh của ông. Trọng trách của ông rất lớn: vì
tình trạng chiến tranh, vì cách xa mẫu quốc, thêm việc nắm giữ hai trọng trách một lúc, vừa là chỉ huy
trưởng viễn chinh, vừa là sứ thần, thêm số chiến thuyền quan trọng dưới quyền chỉ huy của mình; tất cả


các trách nhiệm hệ trọng đó đã góp phần làm chói lịa thanh danh của phó đơ đốc. Chính đây là sự ủy



quyền rộng rãi nhất từ thời Ðệ nhất đế chế[21] giao cho một vị tuớng lãnh hải quân.


Quyền chỉ huy của ông bao trùm một hải đội hơn 60 chiếc, gồm 1 đại chiến hạm chủ lực[22], 2 khu trục


hạm loại một chạy bằng chân vịt, 5 khu trục hạm loại một chạy bằng buồm[23], 1 khu trục hạm loại hai


chạy buồm[24], 1 chiến hạm[25] trang bị đại bác chạy chân vịt, 2 chiến hạm chạy chân vịt trang bị súng
nặng đặt trên sàn tàu, 2 hộ tống hạm[26] loại một chạy chân vịt, 1 hộ tống hạm loại hai chạy chân vịt, 2


hộ tống hạm loại nhẹ[27] chạy chân vịt, 1 hộ tống hạm loại một chạy bánh xe, 5 hộ tống hạm loại nhẹ


chạy bánh xe, 6 chiến thuyền hạng nhẹ[28] chạy buồm, 5 pháo thuyền[29] loại một chạy chân vịt, 16


pháo thuyền có thể tháo lắp được[30], 2 tàu vận tải chạy chân vịt có trang bị mỗi tàu hai giàn đại


pháo[31], 4 tàu chuyên chở ngựa chạy chân vịt, 11 tàu chuyên chở đại pháo chạy chân vịt, 1 tàu cơ
xưởng chạy chân vịt. Tất cả là 68 chiến thuyền gồm 13 chạy buồm và 55 chạy chân vịt. Nhân lực gồm có


4 sĩ quan cấp tướng[32], 13 Đại tá[33], 22 Trung tá[34], 95 Đại úy[35], 105 Trung úy[36], khoảng


chừng 100 chuẩn úy, 100 bác sĩ y khoa, 80 sĩ quan hành chánh, 8.000 lính thủy. Sức mạnh hỏa lực gồm


475 miệng lửa; sức mạnh mã lực của đội hải thuyền tổng cộng 7.866 mã lực. Nhiều tàu hơi nước của các


công ty hàng hải thuộc vùng bán đảo và viễn đông được thuê bao để nối liền các cứ điểm từ bờ biển
nước Tàu đến Nam Kỳ. Các tàu thuê đều phải mang cờ Pháp: vị tổng tư lịnh chọn lựa và biệt phái sĩ quan


của mình giữ chức thuyền trưởng hoặc đại diện cho quân đội trên các tàu này. Tóm lại có 80 tàu buôn do



nước Pháp thuê, chở lương thực, đạn dược, than, tạo thành một hải đội thương thuyền mà tầm quan


trọng thật đáng chú ý tới.


Ðiều không được may là một số các chiến hạm đã chiến đấu từ 4 năm nay, vài chiếc đã bước vào năm


thứ 5. Thiết bị trên tàu ở vào tình trạng hư hao, các nồi hơi súp-de[37] của 4 pháo hạm lớn và 3 hộ tống


hạm gần như rã rời từng mảnh. Tuy nhiên thủy thủ đoàn tốt, sĩ quan xuất sắc, rất thành thạo sau 4 năm


chiến đấu. Có thể nói rằng họ tuy có mịn mỏi nhưng khơng phải là kiệt lực, họ được khích động bằng


một luồng sinh khí anh hùng. Trong số các sĩ quan rời Pháp đã lâu, có nhiều người khi đến Tàu vẫn còn
là vị thành niên. Họ già đi trong gian khổ và chỉ còn biết nước Pháp qua các bức tranh họ mang theo, họ


cũng chẳng hiểu gì hết về thói tục của những dân tộc trước mặt họ, biết đâu họ cũng chỉ vơ tình như


những thủy thủ khác mà thôi. Những năm tốt đẹp nhất của đời họ đã trôi đi trong khắc khổ, thiếu hẳn sự


gần gũi với xã hội chung quanh; sự chung đụng mà ta thấy nơi nào trên trái đất cũng có, nhưng tuyệt


nhiên thiếu hẳn ở cái đất Tàu này. Chẳng có gì để làm rung động quả tim của người trai trẻ mới 25 tuổi
đời[38]. Vì thế họ đành chú tâm đến những chuyện khác vậy. Họ kể chuyện xông pha chiến đấu, những


thành tích xuất sắc trong ngành nghề của mình, họ bàn với nhau về bảng thăng thưởng. Rốt lại cũng là
lợi lộc (tơi muốn nói ở đây là danh dự chớ khơng phải là tiền bạc) đã làm món mồi để lôi cuốn tham


vọng, làm mất đi ý nghĩa hy sinh cao cả của đời họ, kể cả những sở thích riêng tư họ cũng phải hy sinh,
nhưng lúc nào họ cũng sẵn sàng hy sinh thêm, họ coi giá trị của huân chương và cấp bực từ trên ban
xuống thật xứng đáng với sự hy sinh của họ. Khơng cịn ai non dại. Họ đều có vẻ rắn rỏi và năng hoạt;


người nào trước kia dù có nơng nổi cũng đã trở nên nghiêm trang hơn; nhiều người đúng ra đã bước vào
tuổi thích nghỉ ngơi nhưng vẫn tỏ ra rất hăng hái. Họ dễ bị khích động vì vinh quang, vì danh dự để bảo


tồn thanh danh của người thủy thủ; họ tạo thành một khối quân nhân đoàn kết chặt chẽ, nếu sau này có
tan rã thì dù cho có gặp hồn cảnh thuận lợi như trước cũng biết đâu khơng bao giờ cịn tái tạo lại được


một khối chặt chẽ như vậy, vì những người đã từng tạo ra nó khơng cịn nữa. Khơng cần phải khó khăn


tìm tịi, ta cũng nhận thấy họ là những người của biển cả, những chiến sĩ, những nhà địa lý thủy học, bác


học, ngôn ngữ học; vị chỉ huy trưởng nào chẳng sung sướng thấy dưới tay điều khiển của mình có những


</div>
<span class='text_page_counter'>(7)</span><div class='page_container' data-page=7>

đất Shang-hạ ở bất cứ thời tiết nào, mặc dù bờ biển nơi đây được coi là khó khăn nhất thế giới. Khả
năng quyết định được đem ra thử thách liên tục ở mọi sự kiện, ngay khi hành động đang xảy ra, đã tạo


cho mỗi người con đường đi lên. Người chỉ huy có thể trơng cậy và tin cẩn ở những con người như thế.


Công bố cuộc viễn chinh đánh chiếm Nam Kỳ với một lực lượng hùng hậu cũng giống như có một dịng
máu mới bơm vào huyết quản của họ, những huyết quản đã bao lần sôi sục.


Giai đoạn chuẩn bị viễn chinh Nam Kỳ làm bùng dậy tinh thần đồng đội; nhiều người đã từ lâu được


quyền trở về Pháp cũng không muốn nhắc đến chuyện này. Người nào cũng muốn dự phần vào các cuộc


hành quân sắp diễn ra.


Woo-sung là một làng Tàu nghèo nàn ở ngã ba sông Yang-tze[40] và Wam-poo[41]. Làng là bến đậu và
chỗ họp của hạm đội. Vùng đồng ruộng chung quanh thật bằng phẳng, chỉ hơi nhấp nhơ một vài nơi:


gồm có ruộng lúa và ruộng trồng bông vải thấp lè tè. Cảnh vật buồn tênh. Tất cả sinh hoạt đều dồn trên


mặt sơng Shang-hạ, thuyền buồm ngược xi khơng ngừng; nhiều chiếc trọng tải đến 300 tấn: có đủ


khả năng đi biển, rất linh hoạt, xoay trở thật tài tình nhờ bánh lái có đục lỗ. Tàu bè Âu châu từ khắp nơi


trên thế giới đến, xi dịng trên sơng nhưng thường thì khơng ghé vào Woo-sung. Hải qn bỏ neo


thành hàng dài thật oai nghiêm bên phía tả ngạn vì nước sâu hơn; phía hữu ngạn nước cạn có nhiều cồn.


Từ trên cột buồm của chiến hạm Impératrice-Eugénie có thể nhìn thấy thành phố Shang-hạ[42]; liên lạc
thường xuyên từ tàu với thành phố Shang-haï nhờ vào các pháo hạm bằng sắt, thuyền buồm hay kỵ mã
do hải quân thuê mướn. Tướng Cousin-Montauban đặt bộ chỉ huy tại Shang-haï gồm đến 2.000 người


thuộc quân đội Pháp.


Chính từ Woo-sung cuộc viễn chinh được tiếp tục chuẩn bị và quyết định từng chi tiết một. Hoàng


đế[43] ra quyết định là một phần quân số viễn chinh ở Tàu sẽ đặt dưới quyền điều khiển của phó đô đốc


Charner. Vị chỉ huy trưởng Charner liền hội ý với tướng Montauban và cùng nhau đưa ra các quyết định
như sau:


Chuẩn tướng de Vassoigne[44] sẽ chỉ huy các binh đoàn viễn chinh, dưới quyền của vị chỉ huy trưởng. Bộ
binh, lính đánh bộ người Phi châu, pháo binh, công binh, hậu cần gồm chung là 85 sĩ quan, 1.303 quân


sĩ, 272 vừa ngựa vừa lừa[45]. Quân sĩ rút bỏ các đảo Chu-san. Biệt đội bộ binh đóng giữ các hịn đảo


này sẽ chuyển về Hong-kong. Ðội thủy quân lục chiến trước đây đặt dưới quyền chỉ huy của đô đốc do


một quyết nghị chung của đồng minh ở Ta-kou, gồm 800 người[46], nay đem sát nhập vào binh đoàn



viễn chinh. Một sĩ quan đảm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng được biệt phái thêm cho binh đoàn[47]để


bảo quản việc điều động quân lính và thực thi quân kỷ trong các cơ quan. Công tác lập doanh trại, cứu
thương, lương thực sẽ do ủy ban kế toán quân đội đảm trách, ủy ban do một vị phụ tá quân nhu trưởng


chỉ huy. Sở ngân khố và bưu điện được thiết lập thường trực tại Saïgon. Một viên chức liên lạc được đặt


tại Singapour để tiếp nhận công hàm, văn thư từ Âu châu chuyển sang Nam Kỳ.


Như vậy là binh đoàn viễn chinh đã được tổ chức xong. Nếu kể thêm đội thủy quân lục chiến sẵn có


trong thành phần qn lính đóng tại Sạgon, cùng với ban chỉ huy đã thành thạo của đội ngũ này, thì số
binh đoàn nhỏ tại Nam Kỳ cũng đã tăng lên đến 4.000 người. Hiển nhiên đây là một binh đoàn[48]đủ


sức tiến lên, chiến đấu, cắm quân và tiếp tục chiến đấu nữa; khơng như các tốn qn mà sáng thì đổ


bộ, chiều phải rút về điểm xuất phát, nếu muốn sống còn.


Kinh nghiệm ở bắc nước Tàu đã cho thấy sự ích lợi của phu khuân vác người Tàu. Dưới khí hậu nóng


bức, nhiễm độc vì bịnh sốt rét kinh khiếp này, bọn cu-li[49] lại cịn cần thiết hơn nữa. Vì thế ta có chiều
hướng đặt người Âu châu giữ vai trò chiến đấu mà thôi. Một đội quân đánh thuê gồm 600 người được


tuyển mộ và huấn luyện do đại tá hải quân[50] chỉ huy trưởng Canton là Coupvent-Debois đảm trách.


Tiền bạc, lương thực, than được tồn kho và phân chia cất giữ ở Hong-kong, theo những chỉ thị và tiêu
chuẩn đặc biệt thích nghi và phù hợp cho nhu cầu của cuộc viễn chinh Nam Kỳ. Chuẩn đô đốc Page nhận


chỉ thị phải cho lịnh các tàu chiến từ Pháp sắp đến đây phải chuyển vào Hong-kong 13.000 đồng



tiền[51] Mễ Tây Cơ mà các tàu này mang theo. Tàu Persévérante giữ trọng trách cất giữ số tiền đã được
chia cho Pháp quy định trong hiệp ước Tien-tsin và thỏa ước Bắc Kinh. Bốn trăm ngàn khẩu phần lương


thực tồn trữ ở Hong-kong xem như đã đủ cho số lượng phòng cơ. Tất cả các tàu chuyên chở lương thực


phải được gởi về Saïgon. Trong số 8.000 tấn than trên các tàu của chính phủ Pháp thuê đang cặp bến


Hong-kong, thì 4.000 tấn được chuyển lên bờ, 4.000 tấn cịn lại phải chở đến Sạgon.


</div>
<span class='text_page_counter'>(8)</span><div class='page_container' data-page=8>

Phó đơ đốc Charner thơng báo các việc đang được chuẩn bị và đã được thực hiện đến đại tá đại diện


toàn quyền Hoàng gia Thiên Chúa Tây Ban Nha là Palanca Gutierrez, cùng viên toàn quyền Phi Luật Tân.
Sau đây là lời ơng nói với đại tá Palanca, người mà ông vẫn giữ mối liên lạc cá nhân quí mến và thân
thiện: “Người Tây Ban Nha là những người đồng minh chớ không phải là thành phần phụ thuộc. Nhưng


không thể nào có chuyện phân chia lãnh thổ Sạgon được. Phải chờ sau này và ở một nơi khác, tức là
Tonquin[52], thì Tây Ban Nha mới có thể được đền bù cho sự hy sinh vinh quang của mình. Ðó là tinh
thần các chỉ thị của Hoàng đế Nã Phá Ln ban xuống”. Cịn về việc đánh nhau thì đơ đốc kêu gọi đến


tinh thần nhất trí. Ơng tin vào sự hợp tác mà vị toàn quyền Tây Ban Nha hứa hẹn. Nói với đại úy đại diện


Phi Luật Tân, vị thủ lãnh viễn chinh cũng đòi hỏi một tinh thần như vừa kể. Theo thứ tự ưu tiên ơng địi
phía Tây Ban Nha phải gởi thêm cho ơng 150 kỵ binh, 400 lính bộ và 300 thủy binh gốc người Tagal[53].
Manille phải đặc biệt cung ứng 150 kỵ binh cả người và ngựa; cũng dễ hiểu là vai trị của kỵ binh rất hữu


ích ở Nam Kỳ. Sự tăng viện này đã không hề xảy ra. Nhưng bù lại, đơ đốc tìm thấy nơi đại tá Palanca


Gutierrez một sự hợp tác trung thành và nhiệt tâm, điều này giúp ơng có thể tin cẩn vào tinh thần hào
hiệp của vị sĩ quan Tây Ban Nha.



Tất cả các công tác không liên quan gì đến chiến dịch viễn chinh cũng được giải quyết ở Woo-sung. Các
chiến hạm Prégent, Dordogne, Gironde lên đường thực hiện công tác riêng. Chiến hạm Prégent được biệt
phái đến Fou-chow-fou[54], trên bờ biển Fo-kien[55]để nhận tiền bồi thường cho nước Pháp đã được
quy định trong hiệp ước Bắc Kinh. Chuyện này thật gai góc, nhưng đã được thực hiện tốt và thành công.
Tàu Prégent là chiến hạm Pháp đầu tiên xuất hiện trên sông Min[56], hai bên bờ sông là thành phố Fou


-chow. Tàu Dordogne đến Nhật Bản, nơi đây tình trạng của các nhà ngoại giao và lãnh sự ở Yeddo[57],
vừa được cải thiện chưa được vài ngày nhờ sự hiện diện quân sự của Pháp và Anh đặt dưới quyền chỉ


huy của các chuẩn đô đốc Page và Jones, lại đột nhiên trở lại cảnh như trong tù. Tàu Gironde đi Bang
-cock[58]để đón các sứ thần Xiêm La.


Những cơng tác chuẩn bị sau cùng được tận lực thúc đẩy. Các chiến thuyền hư hại[59]đều cặp bến an


toàn ở vũng tàu Shang-haï để sửa chữa. Từ 15 đến 21 tháng 1, thủy thủ đoàn và thiết bị lần lượt cho lên


tàu để lên đường đi Saïgon. Ngày 24 tháng 1, vị tổng chỉ huy rời Woo-sung, ngày ông rời Woo-sung ông


đã quyết định từ trước. Vừa lúc chiến hạm Impératrice-Eugénie của đơ đốc vượt cửa sơng Yang
-tze-kiang[60], thì tàu Dryade do chuẩn đô đốc Protet chỉ huy cũng vừa tiến vào cửa sơng để cặp bến Shang
-hạ.


Tàu Impératrice-Eugénie chỉ ghé Hong-kong có 4 hơm để nghỉ ngơi. Tại Hong-kong tất cả đã được chuẩn
đô đốc Page sửa soạn chu đáo từ trước, cịn chính ơng thì đã đến Nhật được 20 ngày rồi. Các tàu Fusée
và Calvados vẫn còn tiếp tục sửa chữa. Thủy quân lục chiến được chuyển nhanh chóng lên tàu


Impératrice-Eugénie để tàu nhổ neo đi Nam Kỳ. Ngày 7 tháng 2, tàu ngược sơng Don-nạ[61], hai bên bờ


</div>
<span class='text_page_counter'>(9)</span><div class='page_container' data-page=9>

[1] Nguyên bản là “Cochinchine”. - TN



[2] Tức Hàm Phong (1831–1861), Hoàng đế nhà Thanh 1850–1861 - TN
[3] Tức Nhiệt Hà - TN


[4] Tức Thiên Tân - TN


[5] Chưa tìm được tên gốc của các phiên âm. “Takou” phải chăng là “Đại Cổ”? - TN
[6] Tức Cung thân vương Dịch Hân (1833-1898) - TN


[7] Tức là nước Nga. - ND.


[8] Tức Nikolai Pavlovich Ignatiev (1832–1908), Bá tước Nga - TN
[9] Nước Anh và nước Pháp liên kết đi đánh Tàu. - ND


[10] Tức Napoleon đệ tam. - ND


[11] Chưa rõ phiên âm Tche-fou. Shang-haĩ chính là Thượng Hải. - TN
[12] Tức Quảng Đơng - TN


[13] Thật ra thì vào lúc đó, tình thế của Sạgon đã dươc cải thiện, nhưng vị chỉ huy trưởng Canton buộc phải tuân lịnh của Tổng tư
lịnh gởi đi từ tháng 7 năm 1860 bắt phải chuyển một đại đội bộ binh đến Saïgon. Trong khi ấy trại quân Saïgon vừa được bổ xung một
trăm thủy quân chiến đấu do tàu Weser chở tới. Hai trăm quân bổ sung khác sẽ còn được liên tục chở đến sau. – TG


</div>
<span class='text_page_counter'>(10)</span><div class='page_container' data-page=10>

[15] Nguyên văn bản dịch là “Đại tướng”. Collineau giữ cấp bậc <i>“Général de brigade”</i>, tương đương
Chuẩn tướng. – TN


[16] Nguyên văn bản dịch là “Đại tướng”. Tuy nhiên cấp bậc của Montauban lúc bấy giờ là “G<i>énéral de division”</i>, tương đương <i>“Thiếu </i>
<i>tướng”. </i>


[17] Tức sông Bạch Hà, nay gọi là sông Hải Hà ở Trung Quốc. - TN
[18] Mỗi dặm là 4,445 km. - ND



[19] Ðó là dấu hiệu trọng vọng lớn lao, nhưng hơi khác với cờ của tổng tư lịnh trong hải quân, cũng gần giống như vậy. - TG.
[20] Tức Ngô Tùng. - TN


[21] Ðệ nhất đế chế: là chế độ chính trị Pháp từ tháng 5 năm 1804 đến tháng 4 năm 1814, Napoleon đệ nhất làm hoàng đế. - ND
[22] Nguyên văn bản dịch là <i>“tàu chuyên chở có trọng tải nặng”. Thực ra “vaisseau de ligne”</i> có nghĩa là “đại chiến hạm chủ lực” - TN.
[23] <i>Frégate de premier rang</i>: Tàu chiến loại lớn có 3 cột buồm. – ND. Nguyên văn bản dịch là<i>“tàu chiến đấu”. - TN </i>


[24] <i>Frégate de deuxième rang</i>: Tàu chiến loại nhỏ hơn có 2 cột buồm. - ND


[25] Nguyên văn bản dịch là “Đại pháo hạm”. Thực ra <i>“corvette”</i> có nghĩa là <i>“chiến hạm” - TN </i>
[26] Nguyên bản là <i>“aviso”</i>. - TN


[27] Nguyên bản là <i>“aviso de flottille”</i>. - TN


[28] Nguyên văn bản dịch là <i>“chiến hạm”. Thực ra “bâtiment de flottille”</i> có nghĩa là <i>“chiến thuyền hạng nhẹ” - TN </i>
[29] Nguyên văn bản dịch là <i>“pháo hạm”. Thực ra “canonnière”</i> có nghĩa là <i>“pháo thuyền” - TN </i>


[30] Nguyên văn bản dịch là <i>“thuyền đại pháo bằng sắt có thể tháo lắp được”. - TN </i>


[31] Nguyên văn bản dịch là <i>“tàu trọng tải chạy chân vịt mang theo mỗi tàu hai giàn đại pháo”. - TN </i>
[32] Nguyên văn bản dịch là “Đại tướng”. - TN


[33] Nguyên văn bản dịch là “đại úy thuyền trưởng đại chiến hạm”. - TN
[34] Nguyên văn bản dịch là “đại úy thuyền trưởng t<i>àu chiến đấu”. - TN </i>
[35] Nguyên văn bản dịch là <i>“trung úy chiến hạm”. - TN </i>


[36] Nguyên văn bản dịch là <i>“sĩ quan hải quân cấp trung úy”. - TN </i>
[37] Nguyên bản ghi <i>“chaudière”, </i>nghĩa là<i> “nồi hơi”. - TN </i>



[38] Tiếc quá, tác giả chẳng tìm được cơ gái Tàu nào ở Thượng Hải sao? Có thể đây là cách viết của tác giả để tự ám chỉ mình một
cách kín đáo? - ND


[39] Nguyên văn bản dịch là “đại úy thuyền trưởng”. Nguyên nghĩa từ “<i>Capitaine”</i>, tùy theo ngữ cảnh có thể hiểu là <i>“thuyền trưởng”, </i>
hoặc sĩ quan cấp Tá trong Hải quân Pháp, hoặc “đại úy”trong ngành Lục quân. Ở đây được hiểu theo nghĩa thứ nhất. - TN


[40] Tức sông Dương Tử. – TN
[41] Tức sơng Hồng Phố. - TN


[42] Câu này cho ta đốn có thể tác giả là người ở trên Chiến hạm Impératrice-Eugénie, hoặc thuộc đạo quân thủy quân lục chiến
được đưa lên tàu đi Nam Kỳ. - ND


[43] “Hồng đế quyết định hơm nay ở hội đồng chính phủ truyền cho thống chế bộ trưởng chiến tranh ra lịnh bằng văn thư ngày tức


</div>
<span class='text_page_counter'>(11)</span><div class='page_container' data-page=11>

Và kế tiếp: “Hồng đế, ơng biết khơng, đ<i>ã sai viết thư cho tướng Montauban bảo ông này phải đặt dưới quyền của ơng 1.800 qn” </i>
(Hai đoạn trên trích từ 2 công văn của bộ trưởng hải quân gởi cho phó đơ đốc Charner, ngày 26 tháng 9 và 10 tháng 12 năm 1860). -
TG


[44] Nguyên văn bản dịch là “Đại tướng lữ đo<i>àn”</i>. De Vassoigne là tư lệnh quân Tây Ban Nha tham gia liên quân. - TN
[45] Ghi chú của TG Sĩ quan Lính Ngựa


Bộ binh --- 39 709 22
Bộ binh người Phi châu 3 29 31
Pháo binh--- 15 316 184
Công binh--- 4 77 13
Hậu cần--- 24 172 22


[46] Tướng O’Malley, trên nguyên tắc, phải rời bỏ Tien-tsin cùng với trung đoàn chiến đấu 101 đến Sạgon. Nhưng việc này khơng
được thực thi đúng như vậy, vì sau đó chuẩn tướng de Vassoigne (thủy binh lục chiến) được chỉ định bằng công hàm bộ trưởng giữ
chức phó chỉ huy trong binh đồn viễn chinh đánh chiếm Nam Kỳ. ‘’...Tơi có sai tham mưu trưởng bộ tổng tham mưu viết thư cho


tướng O’Malley, ngay khi có thể thực hiện được, sẽ cùng với tiểu đồn chiến đấu 101 đến Sạgon xáp nhập với ơng.’’ (Trích thư của
tướng Cousin-Montauban gởi cho phó đơ đốc Charner, ngày 14 tháng giêng 1861). – TG. Cả O’Malley và de Vassoigne đều mang cấp
bậc<i>“général de brigade”.</i> - TN


[47] Vị chỉ huy trưởng kỵ binh de Cools của Bộ tham mưu được chỉ định giữ chức vụ này, và một đại úy cũng của Bộ tham mưu làm
phụ tá cho ông. - TG


[48] Nguyên văn bản dịch là “quân đoàn”. - TN
[49] Nguyên bản là <i>“coolie”</i>. - TN


[50] Nguyên văn bản dịch là “đại úy hải quân”. - TN
[51] Nguyên bản là <i>“piastre”</i>. - TN


[52] Câu ‘’hớ” này cho biết ý đồ của người Pháp sẽ đánh chiếm hết xứ Annam, chớ không phải chỉ nhắm vào hai tỉnh Gia Ðịnh và Ðịnh
Tường. – ND


Trong bản dịch ghi là Bắc Kỳ, nay giữ lại như nguyên bản. - TN
[53] Người Philippine gốc Malaysia. - ND.


[54] Tức Phúc Châu phủ. - TN
[55] Tức Phúc Kiến. - TN
[56] Tức sông Mân Giang. - TN
[57] Tức Yedo, Nhật Bản. - TN
[58] Tức Bangkok. - TN


[59] Gồm các chiến hạm : Dragonne, Mitraille, Alarme, Prégent, Alom-prah. - TG
[60] Tức Dương Tử Giang. - TN


</div>
<span class='text_page_counter'>(12)</span><div class='page_container' data-page=12>

<b>CHƯƠNG II</b>



<b>Ðề cương:</b>


<i>Chiến địa và tình trạng hai phe đối thủ - Cơ bản địa lý của đế quốc Annam - Tầm quan trọng quân sự và </i>
<i>chính trị của thành Ki-hoa[1]. </i>




Ðế quốc Annam gồm ba xứ mà trước kia hoàn toàn riêng biệt:


- Xứ Bắc Kỳ[2], mà người Tàu gọi là Giao-chou[3], có nghĩa là Xứ sơng ngịi[4], người dân sinh sống tại
đây gọi là người Nam Kỳ Dong ngoai[5], xứ Bắc Kỳ cịn gọi là Xứ bên ngồi, và theo một tài liệu Hịa Lan
thì phải gọi là Annam phía Bắc[6];


- Xứ Trung Kỳ[7], hay là Nam Kỳ miền trung[8], còn gọi là tỉnh Huế, hay gọi đúng hơn là Dong trong[9],
có nghĩa là Xứ miền trong, hay đúng hơn nữa là Annam phía Nam[10];


- Nam Kỳ miền dưới[11], mà nhiều tài liệu ghi sai là tỉnh Saïgon, miền này các bản đồ xưa đều ghi là Cao
Miên[12]. Thật vậy, trước cuộc chinh phục của các Chúa nhà Nguyễn[13], thì vùng đất này thuộc lãnh
thổ của vương quốc Cao Miên.


Ngoài ra đế quốc Annam còn gồm một số nước bảo hộ phải triều cống. Ðây là tình trạng đế quốc Annam


bắt đầu từ năm 1802 cho đến nay.


Một dãy núi kéo dài 800 dặm, tiếp nối từ vùng núi non Tây Tạng, không xa cao nguyên Khou-khou-noor,


đổ dài xuống phía nam song song với vùng biển Tàu, phân định vị trí hai vùng vương quốc xưa nhất của
đế quốc Annam. Một bên là núi và một bên là biển làm ranh giới thiên nhiên cho hai vương quốc Annam


phía Bắc và Annam phía Nam; nếu dùng danh xưng khơng được đúng lắm nhưng thơng dụng hơn thì gọi



là Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Bắc Kỳ là một vùng đồng bằng rộng lớn, phù sa, phì nhiêu và phong phú nhờ sơng


Sang-kọ hay Song-ca[14] và các phụ lưu bồi đắp. Nam Kỳ là một dải đất chỉ rộng từ 30 đến 50 dặm, kéo


dài từ bắc xuống nam; dọc theo một dãy núi bao bọc nằm bên phía tây. Nước đổ ra biển bằng các sơng


ngịi ít ngoằn ngoèo, nước chảy cuồn cuộn, từ hướng tây ra hướng đơng. Ðây là dãy núi xa nhất về phía
đông trong số 5 dãy núi lớn tạo ra các vùng thung lũng rộng là xứ Miến Điện, xứ Xiêm La, xứ Cao Miên
và xứ Annam. Núi trải dài từ vĩ độ 11 thành từng vùng thấp dần theo một đường uốn cong bắt đầu từ
núi Vi và đổ ra sát tới biển, tạo ra một bức trường thành rộng lớn và một ngọn đèo, chỉ chừa lại một dải
đất hẹp là Phan-thiet[15], làm ranh giới thiên nhiên giữa Nam Kỳ miền dưới và Nam Kỳ miền trung.


Trở xuống phía tây nam vẫn cịn các núi đồi nhỏ thưa thớt, nơi đây có thể coi là vùng chuyển tiếp của


ranh giới Nam Kỳ miền trung: sông ngịi ít ngoằn ngo, vài kinh rạch, thiên nhiên hoặc do người đào,
chảy giữa các vùng núi và đồi nhỏ. Càng xuống dần phía nam thì chỉ thấy trước mặt một vùng đất mềm


gồm cát, bùn và 5 con sông lớn cùng các kinh rạch thiên nhiên chia cắt thành hàng ngàn đảo. Cát thì


được mang từ biển vào[16], bùn đất thì do sơng Cambodge[17]bào mịn những vùng núi non chảy
ngang đem bồi đắp trong mùa nước lũ. Trong quá khứ chắc rằng biển đã bao phủ cả miền Nam Kỳ ngày
nay. Một vịnh hình vòng cung nằm lọt giữa hai vùng núi là Ha-tien[18] và cap Saint-Jacques[19]; sơng
Don-nạ chỉ là một dịng thác; hai nhánh sơng Vạ-co[20] tạo ra hai con sơng riêng biệt. Tỉnh Long-hơ
(Vinh-luong)[21]lúc đó chưa thành lập; các tỉnh Gia-dinh[22], My-thô[23], An-gian[24] và Ha-tien gồm


một vùng đất dựa vào núi một phần, một phần giáp ranh với vương quốc Cao Miên. Bùn đất phù sa và
các bãi san hơ giữa Sạgon và Tay-ninh[25] chứng minh cho thấy vùng đất này trước kia do sơng ngịi và
biển tạo ra. Cát dồn lại thành cồn dọc bờ sông hòa với phù sa tạo ra ruộng đồng phong phú. Sự hình



thành đất đai do sơng ngịi vẫn cịn đang tiếp diễn tại vùng này của xứ Annam, người Tàu gọi nơi đây là


xứ sơng ngịi; bùn và cát hịa lẫn nhau khơng phải là nước cũng khơng phải là đất. Những người Bắc Kỳ


mạo hiểm đến đây dùng ván để trườn và lướt đi trên bùn.


Hai dãy núi kéo dài ra tới biển tại hai địa điểm là Phan-thiet và Ha-tien, giữa hai dãy núi là sông


Cambodge. Biển là ranh giới thiên nhiên rõ rệt của xứ Nam Kỳ miền dưới. Tiếp giáp với xứ của người Mọi


và xứ của người Chàm[26], nơi đây biên giới kém rõ ràng hơn. Khi nhìn vào bản đồ 6 tỉnh Nam Kỳ miền
dưới, từ bờ biển hiện nay cho đến vĩ độ Tram-ban[27], người ta có thể nhận thấy biển vẫn cịn giữ lại vết
tích trong vùng đất phù sa; tồn vùng chỉ là đảo và chung quanh thủy triều dâng lên hay rút xuống đều


nhận thấy rõ rệt. Tàu bè lưu thông như trên biển rộng; nước sâu, không nguy hiểm, các đường di


</div>
<span class='text_page_counter'>(13)</span><div class='page_container' data-page=13>

Năm con sông lớn chảy ngang Nam Kỳ miền dưới đổ ra biển bằng một trong những cửa sông rộng lớn


nhất thế giới: Năm con sơng này gồm có sơng Don-nạ, sơng Don-trang[28], sơng Soi-rap[29], sơng
Vạ-co, sơng Cambodge. Sơng Cambodge bị ngáng bởi nhiều cồn chỉ có tàu bè đáy sâu dưới 14 chân[30] mới


di chuyển được. Hướng và độ sâu của kinh rạch thay đổi theo mùa gió. Bờ biển thấp, cây cối xanh tươi


và bằng phẳng; không một ngọn cây nào vượt cao hơn các cây đước, cây mắm để có thể dùng làm điểm


chuẩn cho tàu bè định hướng. Khó khăn thiên nhiên cản trở lưu thơng của tàu bè lớn nhưng khơng gây
khó khăn gì cho các thủy thủ Annam, Xiêm, Tàu và Nhật. Họ lái các tàu ven bờ thật hay, tàu của họ có
đáy rất cạn. Các nhà viết sử người Hịa Lan chép rằng sông Cambodge đổ ra biển bằng 3 cửa:


cửa<i>Umbequamme, danh xưng này theo tiếng Pháp có nghĩa l</i>à “bất tiện”<i>Incommode</i>, cửa Nhật Bản và


cửa Saïgon. Chiến tranh Nam Kỳ giúp thêm cho việc nghiên cứu địa lý thủy học của sông Cambodge;


hiện nay người ta biết rằng sơng Cambodge có 7 nhánh chính.<i>Umbéquamme[31]</i> là cửa đổ ra biển của


một nhánh sông tách ra từ sông chánh gần Chau-doc[32], sông Nhật Bản gồm hai nhánh bắc và nam
My-thơ[33]. Cịn về phần cửa Sạgon thì chỉ được coi như cửa đổ ra biển của sông Don-nạ mà thơi, sơng


này trước đây được xem như một trong nhiều nhánh của sông Cambodge. Trên thực tế sơng Sạgon nối


liền với sơng Cambodge bằng các kinh trong đất liền, sơng Don-nạ là một con sơng riêng biệt tiến sâu về


phía bắc, hướng vào lãnh thổ Stieng.


Các dịng sơng lớn thơng thương với nhau nhờ các kinh thẳng góc với hướng chính của sơng. Bàn tay


người ta tượng trưng rất chính xác hình ảnh hệ thống sơng ngịi của Nam Kỳ miền dưới. Cách so sánh
như thế cũng dễ hiểu, hình như con người hay tìm kiếmở bối cảnh chung quanh hình ảnh của chính


mình. Những nét dọc lớn của chữ M là các con sơng, trừ vài chỗ tuy sơng có đổi hướng cũng khơng làm
sai lệch hình ảnh này; các đường gạch ngang của chữ M thì tượng trưng cho kinh rạch. Một số kinh do
chính tay người đào, hoặc là kinh thiên nhiên do tay người sửa cho đều và vét đáy. Những kinh rạch
khác là do thiên nhiên đào xới. Kinh nối hai con sông với nhau vì thế kinh có thể thơng ra biển bằng hai


cửa khác nhau; đáy kinh rạch có chỗ sâu chỗ cạn; chỗ cạn là nơi hai dòng nước gặp nhau bùn đất bị dồn


lại. Hai bờ kinh cây cối bao phủ tạo ra vẻ dịu dàng, mềm mại, dun dáng và ưa nhìn, nhưng khơng có


cái vẻ lộng lẫy của rừng rậm nhiệt đới. Cây cối gồm có xồi, đước, dừa nước, cây có bơng trắng như


bơng lài, nhiều cây có lá giống như lá cây ở Âu châu và có đủ loại màu xanh, từ màu xanh mét bịnh hoạn



của cây liễu rũ cho đến màu xanh xậm có vẻ kim loại của cây hoa trà[34]. Gần bờ nước thì có loại dừa


duyên dáng nhất trên trái đất, thân giống như là những cây cột của lâu đài Hy Lạp nhưng lại có sự sống,
đó là cây cau. Cỏ cao, dây leo, cây dứa[35], xương rồng đầy gai tạo thành các bụi rậm mà người Âu


châu không thể chui qua lọt, nhưng đối với người Annam thì họ trườn, bị và rình rập dễ dàng trong đó.


Nhiều chỗ nước ăn sâu vào bờ kinh tạo ra những chỗ phục kích bất ngờ: đây là những nhánh kinh lấn
sâu vào đất, nằm song song với kinh chánh, cửa vào thì có dây leo rũ xuống che kín; các hóc kẹt thiên


nhiên đó có thể làm chỗ núp cho một người, một chiếc ghe hay một nhóm quân nhỏ: khơng có chỗ nào
có thể làm chỗ phục kích chắc chắn hơn những chỗ như vậy. Kinh rạch tạo cho chiến tranh Nam Kỳ một


bộ mặt thật riêng biệt. Lần đầu thấy những bờ kinh như thế, người ta tưởng dễ, thử phá gai lội bùn để
vượt ngang, nhưng rồi sẽ bị ngập trong lầy, mặt mày rách nát, trở nên bất lực vì cỏ vừa mềm vừa cao


quấn chặt; người ta tự hỏi không biết phải làm thế nào để chống lại quân phục kích, họ thì coi các


chướng ngại này như khơng có. Các pháo hạm nhỏ bằng sắt là linh hồn của trận chiến Nam Kỳ, nếu


không hữu dụng ngay trong khi hành qn, thì cũng rất ích lợi về sau là như vậy.


Quang cảnh của Nam Kỳ thật là bằng phẳng, buồn thảm, giống như tất cả các xứ đồng ruộng khác. Khi


có một lỗ hở do cọp, nai đi ngang cịn lưu lại thì tầm mắt mới vượt ra khỏi hai bên bờ kinh, nhưng cũng


chẳng thấy gì lạ ngồi những cánh đồng xanh tươi đơi khi gợn sóng như mặt biển. Ðồng ruộng là đất


Phật, chẳng có gì buộc chặt tâm hồn với đất đai. Thiếu chiều sâu của sự sống. Ðất nhường chỗ cho bùn;


chỉ có tư tưởng mới có thể lướt đi trên vùng xanh tươi vô tận này mà thôi; xác thân sẽ lún chìm tại chỗ.


Những cọng cỏ mn thuở nối tiếp nhau, từng cọng một đều giống hệt như nhau. Trước cảnh sình lầy và
bằng phẳng, nghị lực mềm yếu, chỉ có linh hồn tự vượt ra mà thoát đi. Quả thật là nơi phải gọi là cảnh


toàn phúc tối thượng, xin tạm mượn chữ như vậy, - cái thốt tục vẹn tồn nhất, cái chấm dứt của buồn


thảm, của nhớ nhung[36]. Tuy vậy, về phía bắc, khi đến gần một trong hai vùng núi, đất đai trở nên cao


hơn, bờ sông cũng dốc hơn, rừng chen kẽ với ruộng đồng. Trong rừng có nhiều thứ dùng làm thuốc tàu,


giá bán đắt hơn vàng.


Kinh rạch nối liền 5 con sông lớn ở Nam Kỳ tạo ra vô số đường di chuyển vô cùng hữu ích cho thương


mãi, chiến tranh mà cũng tiện lợi cho đạo tặc nữa. Mỗi thị trấn đúng ra phải là một trung tâm vừa quân


</div>
<span class='text_page_counter'>(14)</span><div class='page_container' data-page=14>

ghe thuyền của người Nhật, người Tàu, người Annam, người Xiêm có đáy cạn dễ di chuyển trên sơng,
nhờ vào địa điểm gần nơi sản xuất gạo, kinh lạch lại dồn hết vào sông Cambodge, thêm vào truyền


thống của dân chúng địa phương từ bao nhiêu thế kỷ, tất cả góp lại làm My-thơ trở thành trung tâm
buôn bán lớn nhất của Nam Kỳ miền dưới trước khi người Âu châu tới đây. Saïgon, dựa vào thành lũy và
vị trí nằm chắn ngang các đường ra Huế, lên Cao Miên và xứ Mọi đã trở thành trung tâm quân sự và
hành chính của cả sáu tỉnh. Hai trung tâm thương mại và quân sự là Sạgon và My-thơ dựa vào nhau
bằng đường thủy vận; đó là con kinh Tàu[37] mà tầm quan trọng chiến lược phải kể vào bậc nhất.
Sạgon, nơi trước đây có trại binh nhỏ của Pháp và Tây Ban Nha bị phong tỏa, không hẳn là một thành
phố theo đúng nghĩa của Âu châu. Sạgon cũng khơng phải vị trí có thành lũy kiên cố, có tầm ảnh hưởng


trải rộng như trước đây, vì đang bị ta phong tỏa và thành lũy thì hư nát, thành mới hiện nay kém hẳn



tầm quan trọng[38]. Nơi các cơ xưởng đóng tàu, vào năm 1819, trước khi có giặc phản loạn, người ta


còn thấy hai thuyền chiến lớn theo kiểu Âu châu và 190 thuyền chiến dùng chèo. Thành quách rộng lớn
trước kia và cơ xưởng đóng tàu khơng cịn vết tích gì nữa. Nhiều lắm là hai bên bờ sơng Don-nạ cịn
thấy vài cơ sở có tính cách tạm thời, lànhững vớt vát thu góp lại sau khi Touranne[39] bị ta chiếm đóng.


Dân số, ngày xưa lên đến 150.000 người, đã rút xuống một cách đáng kể. Du khách đến Saïgon sẽ nhận


thấy trên hữu ngạn sông[40] một con đường đứt đoạn và hang lỗ. Nhà cửa phần lớn bằng cây, lợp lá


dừa nước. Một số ít làm bằng đá có mái lợp ngói đỏ làm vui mắt và an tâm hơn. Tiếp đó là những mái


chùa thật cong; kinh Tàu và hai kinh phụ, mặt nước phẳng lỳ, dùng làm bến cho thuyền bè trong xứ; vì
bối cảnh chung quanh nên nhìn thấy kinh Tàu như ngắn hẳn lại; một nhà kho xiêu vẹo dùng làm chợ,


mái hình như sẵn sàng đổ xuống phía bên phải. Hậu cảnh là những chịm cau có vẻ hồ hợp với bầu trời


nóng bức; cây cối khác khơng có gì đặc biệt. Hàng ngàn ghe xuồng chen nhau ở bờ sông tạo ra một


thành phố nổi nho nhỏ. Người Annam, người Tàu, người Ấn, vài người lính Pháp, lính Tagal tới lui nhộn


nhịp, thoạt tiên tạo ra một quang cảnh ngoạn mục. Nhưng sau đó thì chẳng có gì để xem ở Saïgon, họa
chăng là dọc theo bờ kinh Tàu, có nhiều nhà bằng đá khá sạch sẽ và vài nhà xưa tránh khỏi giặc phản


loạn tàn phá. Trong các khu nhiều cây cau đơi khi có nơng trại của người Annam cất theo lối ba gian hai


chái, rất thanh lịch và kín đáo; xa hơn, nơi khu đất cao là nhà của vị chỉ huy Pháp, của đại tá Tây Ban


Nha, doanh trại của nho quan Annam; đại khái chỉ có vậy. Con phố lầy lội và ổ gà, nhà cửa thưa thớt,



hợp lại thành một quang cảnh khá nghèo nàn, đó là Gia-dinh-thanh[41] mà ta gọi là Saïgon[42]. Các
thành phố khác như Batavia[43], Singapour, Hong-kong cũng chỉ như vậy thôi trước khi người Âu châu
đến. Có thể rồi một ngày nào đó một thành phố đẹp đẽ và đông đúc sẽ mọc lên ở vị trí của cái làng
Annam bị trận chiến diệt chủng tàn phá mà ta đang thấy hôm nay[44]. Trên vùng đất cao là vòng thành
cũ do người Nam Kỳ xây năm 1837[45]. Hố sâu quanh thành chỉ bị lấp ở một vài chỗ; chỉ cần vét lại là
xong. Nhà cửa bên trong thành đều đổ nát. Bụi trắng tạo thành hai lằn dài trắng xóa, ở giữa là lối đi. Ðó
là gạo bị đốt cháy từ năm 1859 mà đến nay vẫn còn cháy[46]. Lửa âm ỉ 24 tháng mà vẫn chưa tắt. Các


hạt gạo, ở một vài chỗ vẫn còn giữ nguyên hình dáng; nhưng thật ra đã hố thành tro; gió hoặc chỉ


chạm nhẹ sẽ làm tan ra thành bụi. Truyền thuyết cho rằng một kho tàng rất lớn còn nằm trong đống lửa


lớn đó.


Thành phố Sạgon nhờ vào vị trí địa lý và kinh tế chi phối đã vượt qua nhiều khó khăn và mâu thuẫn về


hành chánh gây ra từ quyền lợi bất đồng giữa các phe nhóm. Sạgon cũng đã khắc phục được những bất


hạnh do chiến tranh gây ra. Nhờ nằm vào vị trí trung tâm nên từ Sạgon đi Batavia, Manille, Hong-kong
và Canton thật là ngắn và tiện lơi. Gió mùa giúp liên lạc dễ dàng với nước Tàu và nước Nhật; ta cũng biết


rõ việc buôn bán của Nhật với đế quốc Annam trước đây hết sức tích cực, thời đó cũng chẳng xa gì trước


ngày có sự hiện diện của quân viễn chinh. Những kẻ phiêu lưu người Âu châu ào ạt đổ đến Saïgon, bất


kể luật lệ gì áp dụng đối với họ, họ cứ ở lại, chẳng qua vì miếng mồi hám lợi. Người ta có thể nói rằng


sáng kiến cá nhân có thể bù lấp cho những gì mà ngun tắc khơng thực hiện được hoàn hảo[47].
Ðại tá Victor Olivier[48]xây đắp thành lũy cho Saïgon ngay từ năm 1791; vị sĩ quan này là một trong số



20 người Pháp do Pigneau de Béhaine, giám mục hiệu tòa d’Adran, đưa tới đây. Nhóm người này là số


vỏn vẹn thốt được từ một hạm đội 20 chiến thuyền và 7 trung đoàn quân Pháp đã bị toàn quyền người


Anh tại Pondichery cầm giữ trên đường kéo đến Nam Kỳ. Lúc bấy giờ, hồng đế Gia-long[49]đang tìm
cách chiếm lại lãnh thổ của mình. Cũng chẳng phải là khó hiểu khi hồng đế Gia-long quyết định tăng
cường hệ thống phịng thủ Sạgon, vì phịng thủ Sạgon chính là kế hoạch chung chống giữ toàn thể Nam


Kỳ miền dưới. Vùng lãnh thổ này của vương quốc Annam, vì địa thế thiên nhiên bất lợi, rất dễ bị người
Xiêm La và người Cao Miên xâm chiếm, người Annam rất khó chống giữ. Năm con sơng lớn chảy dài trên
tồn vùng tạo ra đường lưu thông giúp quân xâm lược từ phía nam hay phía tây kéo đến để đánh. Người


</div>
<span class='text_page_counter'>(15)</span><div class='page_container' data-page=15>

của toàn vùng, tức là thành phố Sạgon, nằm trên bờ sơng Don-nạ, - nói vậy thơi chớ ơng ta cũng có thể


chọn một nơi khác được - và từ nơi này có thể đưa quân tăng viện nhanh chóng đến các điểm bị hăm


dọa mặc dù sơng ngịi cản trở. Ðồng thời ơng cũng xây dựng một vịng thành ngay tại Sạgon, nơi giao
điểm của các đường tiến quân chiến lược, để tập trung người, lương thực, khí giới và đạn dược. Thành
Sạgon hình vng, mỗi mặt có hai chặng phịng thủ[50]. Vào năm 1835, thành bị san bằng, Saïgon cũng


bị phá sạch; dân chúng tản mát hết, một phần bị bắt làm nô lệ.


Vào năm 1837, người Annam lại xây một thành mới tại góc phía bắc của vịng thành trước kia. Họ chọn


cách xây thành hình vng có pháo đài, tường thành xây thêm gạch bên ngồi. Thành phố lại được dựng


lên từ những đổ nát cũ trên hữu ngạn sông[51] và dọc theo phụ lưu là kinh Tàu. Thành mới xây kiểm
sốt tồn vùng, đủ sức chận đứng các mưu toan của Cao Miên và Xiêm La. Nhưng tiếc thay kém may


mắn hơn khi chống lại sự xâm lược của Pháp. Phó đơ đốc Rigault de Genouilly chiếm lấy thành ngày 17



tháng 2 năm 1859 và phá sạch, rồi củng cố chắc chắn trong một đồn mới do chính ơng ra lịnh xây tại vị


trí cũ của một đồn Annam mà ta gọi là đồn Henon-Bigne (hay thành phía Nam)[52]. Vài gia đình Thiên
Chúa giáo dọn đến lập ra ngơi làng gọi là làng Giám mục, làng được đồn Pháp che chở.


Vào tháng 12 năm 1859, chuẩn đô đốc Page đến Sạgon thay cho phó đơ đốc Rigault de Genouilly; sau
đó chuẩn đơ đốc Page, chưa kịp chuẩn bị quay trở lại Touranne, thì nhận được lịnh phải giải tỏa nơi này,
ông bèn đứng ra chọn địa thế đất đai tại Saïgon để người Pháp xây dựng và lưu lại vĩnh viễn. Ơng vạch
ra các đường phịng thủ, cho xây dựng bệnh viện, nhà ở, kho hàng và mở cửa cảng cho việc buôn


bán[53]. Bảy mươi tàu và một trăm ghe thuyền chuyên chở trong vòng 4 tháng được 60.000 tấn gạo cho


thị trường Hong-kong và Singapour, đem đến một số lời khổng lồ cho ta. Ðồn Cạ-mạ[54] giúp cho việc


bn bán dễ dàng, một số làng đổ đến vì thấy cái lợi lớn mà người Pháp đem tới cho họ; số người Pháp
trong đồn ít và khơng làm khó dễ gì cả. Người Tàu, tiếp tục theo chánh sách của họ, tìm cách bảo vệ việc


bn bán bằng cách lấy lịng cả hai bên Annam và Pháp. Kẻ địch thì đóng qn chỉ cách Sạgon có vài
cây số, trong một vùng đồng ruộng đầy mồ mả, họ ngấm ngầm phòng ngự chắc chắn. Các tuyến phòng
ngự im bặt. Nhưng rồi tình trạng này sẽ sớm thay đổi.


Kể từ tháng 6 năm 1860, quan qn Annam có ý cơ lập người Pháp với thành phố Tàu[55], nơi tồn trữ


gạo mà người Pháp đem xuất đi từ cảng Saïgon. Dựa vào một lực lượng khá mạnh, một hệ thống đồn lũy


chặt chẽ và phân bố rộng rãi, sức di chuyển nhanh, địch qn kht ra ở góc phía bắc thành Ki-hoa một


cửa hầm đôi và đào một đường hố dài cắt đồn Caï-maï với thành phố Tàu, mục đích cơ lập ta và buộc ta



phải bỏ đồn. Mấu chốt của tình thế chính là từ điểm này; phải giữ hay chịu mất thị trường Tàu. Chúng ta
bắt buộc phải giữ vững vị trí: trong suốt cuộc chiến tranh ở Tàu cũng thế; - một cuộc chiến mù mịt, gần
như bị bỏ rơi, bỗng có một ít người đã đứng lên xứng đáng với cái thời buổi quyết liệt mà đốt tàu để


không trở về mẫu quốc.


Hai chùa khác nằm giữa đồn Caï-maï và Saïgon liền được ta chọn thêm để củng cố làm đồn và ta sẽ giữ


vững bất cứ giá nào. Việc sửa sang hai chùa để làm nơi phòng thủ bắt đầu ngay tức thời. Chùa thứ nhất


là chùa Ao[56], sân chùa có tường gạch chung quanh, tạm có thể phòng thủ được ngay. Chùa cách xa
các tuyến phòng thủ của địch. Chùa thứ hai là chùa Clochetons[57] hoàn toàn trống trải và chỉ cách


miệng đường hầm của địch có 400 mét. Ta liền lấy ngay đất ở mồ mả chung quanh đắp tường phịng
ngự. Ta khơng thấy quân Annam đổ ra phòng ngự đường hố đã đào. Nhưng ngay ngày hôm sau bất ngờ


nổ súng tủa vào chùa giết mất một người và làm bị thương thêm vài người khác. Mấy nấm mồ ta đã lấy


hết đất, vì thế phải đi xa hơn và dùng bao để mang đất về; việc đắp tường phòng thủ tiến triển chậm


chạp, cực nhọc, lộ liễu không có gì che tránh địch qn. Trong đêm mùng 3, rạng ngày mùng 4 tháng 7,
quân Annam, ít nhất cũng đến 2.000 người, yên lặng vượt khỏi thành, bao vây chùa, trong khi đó chùa
chưa biến hẳn thành đồn. Họ xơng thẳng vào chùa, hị hét vang lừng. Hỏa pháo của địch cũng bắn vào
các chùa khác[58]để làm thế nghi binh và đồng thời cũng bắn vào chùa Clochetons nữa, quân thì bắn


xối xả vào người Pháp, người Tây Ban Nha và người Annam trong đồn. Ðánh giết nhau suốt một giờ
đồng hồ. Nhờ viện binh từ Saïgon kéo lên mới chấmdứt được trận chiến. Kẻ thù bỏ lại một trăm xác chết.


Quân lính của đồn Clochetons gồm có 100 quân Tây Ban Nha do trung úy Hernandez chỉ huy, và 60



người Pháp do hai trung úy hải quân cầm đầu là Narac và Gervais[59]. Quân Annam không trở lại tấn
công đồn Clochetons nữa; nhưng lại đào từ cửa hầm đôi một đường hố khác bọc song song phía sau
đường phịng tuyến của ta. Do đó đồn Pháp và Tây Ban Nha lọt vào giữa hai đường hố phòng thủ của


</div>
<span class='text_page_counter'>(16)</span><div class='page_container' data-page=16>

Ngày 16 tháng 10 năm 1860, đại tá hải quân d''Aries<i> đưa quân vào kinh Avalanche[60]</i> (xem bản đồ 2)
để thăm dò các đồn mà người Annam xây cất ngay gần tuyến phòng thủ của ta, vì khoảng cách quá gần


nên ta dễ bị họ tấn công. Hai tàu nhẹ được dùng để tiến vào kinh, địch bắn rất rát nhưng vẫn tiến được


tới một cơng sự có rào cản canh giữ điểm chốt gọi là "cầu số ba trên kinh Avalanche”. Bên ta khơng có


người nào bị trúng đạn khi tiến tới đây; nhưng cuộc mạo hiểm nhỏ này kém may mắn hơn trên đường


về; trung úy hải quân Hermand bị một viên đạn xuyên ngang đùi, vài người nữa cũng bị thương. Trung
úy Rieunier đo độ sâu và vẽ bản đồ của kinh dưới lằn đạn đại pháo từ các đồn bắn ra; bản đồ này hết


sức là bổ ích về sau.


Tồn thể cánh đồng nằm giữa kinh Avalanche và kinh Tàu bị địch bủa vây bằng các đường hố dài và
nhiều đồn canh gác bố trí cách khoảng nhau. Bất cứ chỗ nào có kinh rạch hay đường xá là người Annam


lập đồn tại đó. Thượng lưu sơng Don-nạ bị chắn ngang. Trái với điều người ta thường nghĩ, hậu tuyến


của hệ thống đồn lũy do người Annam thiết lập cũng được phòng thủ vững chắc như phía trước và hai


bên cánh. Nói như vậy để cho thấy hệ thống phịng ngự của địch cũng có tầm quan trong tương đương


với thành cũ của họ trước kia, chế ngự toàn vùng, kiểm sốt hết các đường về My-thơ, Huế và Cao Miên.
Liên lạc giữa quân Annam và thành phố Tàu vẫn duy trì thường xuyên. Từ thành Ki-hoa rộng lớn, đường



hố tủa ra từ các cửa hầm giống như những cánh tay bóp nghẹt trại quân nhỏ của đồng minh tại Saïgon,
làm cho trại này bất lực mặc dù địch vẫn tỏ vẻ như bất động.


Thành Annam xây theo hình vng, gồm năm khu riêng biệt liên lạc với nhau bằng các đường tắt thơng
thương. Vịng đai của thành là tường bằng đất có ụ bắn, cao 3 mét rưỡi, dầy 2 thước, có đục lỗ châu mai


rất khít nhau; lỗ châu mai phần nở rộng lại ngược bên so với các lỗ châu mai của các thành qch Âu
châu. Khí cụ phịng thủ được tích lũy ở khắp các mặt thành, nhưng chính yếu hơn hết là mặt trước và
mặt sau. Nhờ các trận đụng độ ở Touranne ta biết khá đầy đủ các loại chướng ngại vật này. Thân tre và
cả cành lá gai góc được sử dụng hết sức khéo léo; thân thì làm cọc nhọn cắm trong các hầm chông, hoặc


cắm thành bàn chông, làm rào hoặc làm cọc; cành thì dùng bao phủ trên tường thành tạo ra một lớp rào
chằng chịt đầy gai.


Vùng đất tỉnh Gia-dinh chung quanh thành Annam là đất dẽ và cứng, theo tin dọ thám do ta thu nhặt thì
các giàn pháo chiến thuật có thể di chuyển được trên vùng đất này. Mùa mưa mà ta phải ngưng các hoạt
động chỉ bắt đầu vào tháng 4. Còn về ảnh hưởng của thời tiết thì khó thẩm định rõ ràng; qn lính của


ta vừa mới bảo vệ Sạgon xong trải qua biết bao nhiêu cực khổ; đâu có thể quy hết cho thời tiết Nam Kỳ


miền dưới là nguyên do duy nhứt gây bệnh tật cho toàn thể quân viễn chinh.


Phong tục và tánh tình người Annam ta biết rất ít; người Annam ta thấy ở Sạgon có thân hình mảnh mai,


và có lẽ thuộc vào một sắc dân suy hóa[61]. Họ chỉ có thói hư tật xấu mà thơi, mưu mẹo, thích cờ bạc và
hám lợi. Nhưng thật ra có thể phỏng đốn tính tình người Annam đúng hơn qua sức kháng cự của họ


trong vài trận đụng độ đã xảy ra. Họ tỏ ra đủ sức tự vệ, nhất là trong trận tháng 4 năm 1860. Ta cũng


biết rằng chính phủ của họ rất nhất quyết, kiên nhẫn, mạnh và đoàn kết; họ được huấn luyện để tuân lời



một cách mù qng, tơn thờ một vị hồng đế thiêng liêng quả quyết khơng bao giờ chịu lùi. Mặc dù có
vài sự xúi dục do Tây phương châm vào[62], nhưng mầm nổi loạn ngấm ngầm từ lâu ở Bắc Kỳ vẫn


khơng bộc phát. Quyền lực của hồng đế Tu-duc[63] vẫn ngun vẹn. Chính phủ ta từ Pháp thơng báo


cho vị tổng tư lịnh biết rằng vua Xiêm vừa tuyên chiến với đế quốc Annam và gởi ra trận 60.000 quân


</div>
<span class='text_page_counter'>(17)</span><div class='page_container' data-page=17>

[1] Tức Đại đồn Chí Hòa. - TN
[2] Nguyên bản là “Tonquin". – TN.
[3] Tức Giao Châu. – TN.


[4] Nguyên bản là “Pays aquatique". – ND.
[5] Tức "Ðàng Ngoài". - ND.


[6] Nguyên bản là “Annam septentrional". – ND
[7] Nguyên văn bản dịch là <i>“Annam”</i>. - TN


[8] Nguyên văn bản dịch là <i>“Annam miền trung”. - TN </i>
[9] Tức "Ðàng Trong". - ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(18)</span><div class='page_container' data-page=18>

[11] Nguyên bản là “La basse Cochinchine". – ND.
Nguyên văn bản dịch là <i>“Annam miền dưới”. - TN </i>
[12] Nguyên bản là “Cambodge". – ND


[13] Vương triều đương thời. - TG
[14] Theo cha xứ Alexandre Rhodes. - TG.
1 lieue = 1 dặm, dài 4,445km. - ND.


“Sang-koï” hay “Song-ca” là “sông Cả”, tức sông Hồng ngày nay. - TN


[15] Tức Phan Thiết. - TN


[16] Trên phương diện Ðịa chất học không được đúng lắm, cát vẫn do sơng ngịi bồi đắp. - ND


[17] Trong ngun bản tác giả ghi là sông Cambodge. Tên ngày nay là sông Mekong, tác giả cũng dung tên sông Cambodge để chỉ
chung cho sông Tiền Giang và Hậu Giang. - ND


[18] Tức Hà Tiên. - TN


[19] Tức Vũng Tàu ngày nay. - ND.
[20] Tức Vàm Cỏ. - TN


[21] Tức Long Hồ và Vĩnh Long. - TN
[22] Tức Gia Định. – TN


[23] Tức Mỹ Tho. - TN
[24] Tức An Giang. - TN
[25] Tức Tây Ninh. - TN


[26] Nguyên bản là “Moys” và “Kiams”. – ND


[27] Có khi tác giả viết là Tram-bam hoặc Tran-bam (tức là Trảng Bàng ngày nay), Vĩnh Long thì có khi tác giả viết là Vinh-luong hay
Vinh-long, chúng tôi xin giữ theo nguyên bản trong từng trường hợp. - ND


[28] Tức sông Đồng Tranh. - TN
[29] Tức sơng Sồi Rạp. - TN


[30] Ðơn vị đo lường: dài khoảng 0,3248m. - ND. Nguyên bản ghi là “Pied”. Vậy độ sâu tương đương 4,5m. - TN
[31] Đây có lẽ là cửa Định An của sông Hậu. - TN



[32] Tức Châu Đốc. - TN


[33] Sơng Nhật Bản có lẽ là sơng Mỹ Tho và 2 cửa sơng nêu trên có lẽ là cửa Đại và cửa Tiểu của sông Tiền. - TN
[34] Liễu và cây hoa trà (camellia: trong nguyên bản) là các cây vùng ôn đới thường thấy ở Âu châu. - ND
[35] Nguyên bản ghi “aloes”. - ND


</div>
<span class='text_page_counter'>(19)</span><div class='page_container' data-page=19>

[37] Nguyên bản ghi “Arroyo Chinois”. – ND. Người Việt gọi là “rạch Bến Nghé”. - TN


[38] Cơng trình mới xây dựng sau này. – TG. Đây hẳn là đồn binh nằm ở khoảng giữa thành Gia Định cũ và sơng Sài Gịn, rạch Thị
Nghè mà chuẩn đô đốc Page đã cho xây dựng vào khoảng năm 1860. Đồn được đắp bằng đất nên về sau có địa danh Đồn Đất. - TN
[39] Tức Ðà Nẵng ngày nay. - ND.


[40] Bờ bên phải kể từ nguồn đổ ra biển. - ND.
[41] Tức Gia Định thành. - TN


[42] Ðây là phác họa quang cảnh chung của Saïgon vào tháng 2 năm 1861. Kể từ lúc ấy về sau, nhiều cơng trình được thực hiện,
phần lớn do công binh. Cánh đồng được tháo nước bằng mương rãnh. Ðường phố rộng, đẹp, như những đường cái quan, tạo ra phố
xá Saïgon; chắc rằng nhà cửa rồi đây sẽ mọc lên. Xưởng tàu được thành lập. Tuy thế những xây dựng này cũng khơng làm thành phố
thay đổi bao nhiêu khi nhìn từ dưới sơng lên: cũng vẫn như xưa, khơng có gì cho thấy đây là một thành phố; trước mặt chỉ là một
phong cảnh bằng phẳng, khơng có cá tính gì đặc biệt, sự hiện diện của người ở cũng chỉ thấp thống mà thơi. - TG


[43] Tức Jakarta ngày nay. - ND.


[44] Viết theo báo le Cambodge annamite (Cao Miên Nam Kỳ) năm 1835. - TG.
[45] Tức thành Phụng. - TN


[46] Xin mạn phép thêm vài chi tiết cho rõ ràng vì tác giả cố ý viết một cách mập mờ. Thật sự người Pháp đã khởi đánh Nam Kỳ từ
năm 1858. Vào lúc qn Pháp và đồng mình dồn tồn lực để đánh Tàu thì de Genouilly đem quân đánh Đà Nẵng, nhưng khơng có
người nổi dậy tiếp tay như mong đợi. Vì khơng đủ sức giữ Đà Nẵng, qn lính lại bị sốt rét, dịch tả, kiết lị, chết nhiều, de Genouilly
bèn đem quân vào đánh Sài Gòn, đốt kho gạo… Vì qn ít khơng đủ giữ thành Sài Gịn nên ơng ra lênh phá thành và xây đồn nhỏ hơn


để phòng thủ và chờ tiếp viện. - ND


[47] Câu này khơng liên hệ gì với đoạn vừa viết, chỉ là câu chuyển để tóm tắt và giới thiệu đoạn tác giả sắp viết bên dưới, tiếc rằng
câu chuyển tiếp không được khéo lắm. Ðây là cách viết văn khá xưa. - ND.


<b>[48] Victor Olivier de Puymanel (1768-1799), tên Việt là Nguyễn Văn Tín, từng được chúa Nguyễn Ánh phong chức Cai đội, nên </b>
còn được gọi là Cai Tín. Về sau, ơng được phong chức Thuộc Nội Vệ úy, hàm chánh Tam phẩm, tài liệu Pháp ghi thành "Colonel de la
garde royale". - TN


[49] Đúng ra là chúa Nguyễn Ánh, vì mãi đến năm 1802 ơng mới lên ngơi Hồng đế với hiệu Gia Long. - TN


[50] Tức thành Quy. Đúng ra thành có 3 lớp bảo vệ: ngồi cùng là một lớp lũy bằng đất, một lớp hào nước, rồi đến mới đến tường
thành bằng đá. - TN


[51] Ngun văn bản dịch là <i>“</i>tả ngạn sơng<i>”</i>. Có lẽ dịch giả nhầm. Nguyên bản ghi là “le rive droite” - TN


[52] Tức đồn Hữu Bình, cịn có tên gọi là đồn Vàm Cỏ hay đồn Giao Khẩu ngày nay ở vào khoảng dưới chân cầu Tân Thuận. - TN
[53] Cảng Saïgon được mở cửa ngày 22 tháng hai năm 1860. - TG


[54] Tức đồn Cây Mai. Xưa là chùa Cây Mai, bị Pháp chiếm làm đồn đóng qn. Nay khơng cịn dấu tích của chùa. Phỏng đốn vị trí
ở góc đường Hồng Bàng - Nguyễn Thị Nhỏ ngày nay. - TN


[55] Tức vùng Chợ Lớn ngày nay. - TN


[56] Nguyên bản ghi “La pagode des <i>Mares"</i>. Tên tiếng Annam không rõ, người Pháp đặt là chùa Ao vì có nhiều hồ và ao chung
quanh? Quân Pháp thường chiếm các chùa để làm đồn vì là các kiến trúc có sẳn, xây gạch, cao ráo và rộng rãi. - ND.


Đây chính là vị trí thành Ơ-Ma. Trước khi Pháp xâm chiếm thì là khu vực có chùa Kim Chương và đền Hiển Trung. Vị trí ngày nay là
khoảng ngã tư Nguyễn Trãi - Cống Quỳnh, đại thể là nơi chùa Lâm Tế và văn phịng Bộ Cơng an phía Nam ngày nay. Có lẽ tác giả
muốn nói đến đền Hiển Trung, do đây là nơi thờ các công thần thờ Gia Long chăng? - TN



[57] Tên của người Pháp đặt cho chùa và gọi là đồn của họ. – ND


Trước chùa có tên gọi là chùa Kiểng Phước. Nay dấu tích ngơi chùa đã khơng cịn. Phỏng đốn vị trí của chùa nằm ở góc đường Lý
Thường Kiệt và Hồng Bàng ngày nay, gần bệnh viện phụ sản Hùng Vương. - TN


</div>
<span class='text_page_counter'>(20)</span><div class='page_container' data-page=20>

Có lẽ tác giả muốn nói đến Phịng tuyến các chùa (Lignes des pagodas) chăng? - TN


[59] Không thấy tác giả nói đến số thương vong của người Pháp và người Annam theo Pháp trong đồn. - ND.
[60] Tức kênh Thị Nghè. - TN


[61] Nguyên bản ghi “Race abâtardie"; "abâtardie" có nghĩa là thối hóa, suy đồi. Mạn phép xin độc giả chú ý để so sánh với các đoạn
tác giả viết về người Annam ở chương IX. - ND.


[62] Có lẽ tác giả biết thừa Tây phương ở đây tức là nước nào, ai xúi dục và xúi giục ai nổi dậy chống lại triều đình Huế, nhưng tác giả
không muốn viết ra đấy thôi. - ND


</div>
<span class='text_page_counter'>(21)</span><div class='page_container' data-page=21>

<b>CHƯƠNG III</b>


<b>Ðề cương:</b>


<i>Kế hoạch chiến dịch đánh chiếm Sạgon - Hạm đội chế ngự sơng Don-nạ – Phịng tuyến các chùa cầm </i>
<i>chân qn địch; quân viễn chinh dàn quân hình cung, phong tỏa thành Ki-hoa, đặt quân Annam trong </i>
<i>thế phải lựa chọn, hoặc phải chống trả, hoặc phải chịu nghiền nát và phân tán trong một trận đánh úp </i>
<i>duy nhất. </i>




Ngay hôm đô đốc tổng tư lịnh viễn chinh đến Sạgon[1], qn ta vẫn khơng lơi tay chuẩn bị trận chiến



Nam Kỳ. Tại Woo-sung, quân viễn chinh qui trước đây được phân phát khí giới, hành trang và đưa lên


tàu. Tại Saïgon, quân sĩ đã đến từ trước cũng ở thế sẵn sàng tiến quân và chiến đấu. Cách bố trí và địa
điểm chiến lược đã được quyết định xong, tình báo các nơi cũng đã thu thập và bổ sung. Trọng trách
được phân phối, các vấn đề cá nhân trong quân ngũ cũng được giải quyết xong. Thành phần quân đoàn
thủy binh đổ bộ được lệnh tập họp; tiểu đoàn này gồm 900 người, chia thành 9 đại đội, trong số có một
đại đội mệnh danh là thủy binh đột kích giữ vai trị của cơng binh, đánh mở đường; tất cả đặt dưới sự chỉ


huy của đại tá hải quân de Lapelin.


Đô đốc nghe Ðại tá Tây Ban Nha, cựu chỉ huy trưởng Sạgon, phúc trình về các cơng tác của mình; vị đại


tá này vừa chấm dứt nhiệm vụ phịng thủ Sạgon suốt trong một năm qua. Đơ đốc cùng với các vị chỉ
huy công binh và pháo binh đi xem xét cánh đồng Ki-hoa và sau đó ông cũng đi quan sát đường giới


tuyến phòng thủ do chuẩn đô đốc Page vạch ra từ kinh Avalanche cho đến đồn Cạ-mạ; ơng muốn biết


chắc đường giới tuyến này đất phải khơ, khả dĩ có thể dùng cho pháo binh, mặc dù trên cánh đồng mênh
mông của đường giới tuyến có nhiều ụ đất và hố nhân tạo. Sau khi quan sát, và thấy rằng với phương


tiện hết sức dồi dào của đạo quân viễn chinh hiện nay, ơng có thể đánh bọc hậu bất ngờ quân Annam


trong khi họ đang bận lo phòng thủ ở mặt trước và hai bên cánh. Do đó, ông quyết định kế hoạch hành


quân như sau mà các vị chỉ huy công binh và pháo binh phải nghe theo. Một mặt, hạm đội ngược sơng


Don-nạ, phá sập các chướng ngại do địch dựng lên, phá các đập chắn, san bằng đồn lũy và kiểm sốt


tồn bộ thượng lưu sơng. Tiếp đó là đường tuyến các chùa của ta phải đối đầu và kềm giữ cánh mặt của
địch quân; đường tuyến này sẽ sử dụng pháo binh mạnh mẽ, dựa vào các công sự mới và vịng đai chiến



thuyền neo trên sơng Sạgon, mục đích để cầm chân và dồn địch vào thế bất lực. Sau đó, từ đồn Cạ-mạ


dùng làm căn cứ hành quân, toàn thể đạo quân viễn chinh sẽ tiến lên đánh gãy tuyến phòng thủ Annam


tại một điểm thứ nhất, tiếp tục dùng điểm tựa này tiến lên, tránh tầm đạn của địch bọc ra phía sau để


vây hậu tuyến thành Ki-hoa. Từ vị trí này rất gần sơng Don-nạ, qn viễn chinh sẽ phối hợp với hoạt
động của hạm đội trên sơng khép kín gọng kềm mà nghiền nát địch quân. Trong khi ấy quân Annam khi


bị cắt rời với kho Tong-kéou[2], bị vây hãm trong vịng đai sắt, khơng cịn giải pháp nào khác, họ buộc


phải đánh hoặc bị tấn công và nghiền nát. Tuy nhiên địch vẫn còn một đường tháo thân, nếu trong khi


kịch chiến ta không đặt một đội quân canh chừng tại đây. Ðó là đường giám mục d’Adran; nhưng muốn
đến được đường này thì địch phải vượt qua vùng đầm lầy thuộc kinh Avalanche. Ðây chỉ là đường tháo


chạy chớ không phải là đường rút lui trong trật tự[3].


Ðể bảo đảm tốt đẹp chương trình hành qn nên việc bố trí phải được thực hiện ngay không chậm trễ.


Chuẩn đô đốc Page nhận lịnh chỉ huy hạm đội ngược sơng Don-nạ lên thượng lưu và các phụ lưu, hóa


giải quân địch không cho đổ quân vào vùng đồng bằng Bien-hoa[4]. Các tàu chiến của hạm đội chuyển


xuống các chùa Barbet[5], chùa Clochetons, chùa Caï-maï một số các đại pháo 30 ly nịng có khía[6] và
súng cối 80 ly tạo ra một giàn hỏa lực thật khủng khiếp. Các nhóm qn đóng rải rác phía sau đường


tuyến các chùa cho đến thành phố Tàu, dùng làm hậu quân, phải di chuyển về gần đồn Cạ-mạ, vì đồn



Cạ-mạ sẽ là nơi xuất phát của các nhóm quân này để kết hợp với đại quân cùng tiến lên. Quân lính
chiếm đóng các căn nhà lớn bỏ hoang của dân chúng, nhà cất theo kiểu địa phương, mái thật nghiêng và
hiên thấp chỉ cách mặt đất khoảng bốn chân[7]. Rắn rít đầy dẫy. Ðêm, lính canh phải thận trọng; mỗi
đầu người đều được quân Annam ra giá; chuyện đại úy Barbet bị ám sát là một cảnh cáo thảm khốc mà
mọi người đều nhớ. Quân Annam tấn công thẳng lại không sợ, nhưng phải cảnh giác khi bị phục kích bất


ngờ: địa thế đầy bụi rậm, kẻ thù thì bị và trườn như một con thú dữ[8]. Tình trạng đặc biệt như vừa kể


cho thấy cái hãi hùng không tả nổi trong tiếng kêu cứu của những người lính canh.


Qn sĩ nơn nóng hăng say chờ đối đầu với kẻ thù. Cho đến giờ phút này các giới tuyến vẫn im lìm; từ


chùa Clochetons ta thấy thoang thoáng các chướng ngại vật của người Annam, chẳng hạn như các cành


</div>
<span class='text_page_counter'>(22)</span><div class='page_container' data-page=22>

một bóng người thấp thống, thế thơi. Chiến tuyến địch trải rộng 16 cây số; tổng số địch quân theo tin
đồn lên đến 30.000 người, ta và họ chỉ cách nhau có vài trăm thước nhưng ta thì khơng trơng thấy họ; ta


cịn nghe nói họ có những chỗ cố thủ hiểm hóc trong thành; cũng nên kể thêm tính cương ngạnh của


giống dân này, sức chống cự của họ và ta thì đã đánh suốt một năm chẳng được gì hết, tất cả cho thấy


tầm quan trọng của địch và trận chiến sắp xảy ra. Nhưng ngày nay khơng cịn ai nhớ tới sức mạnh đó


của địch. Về sau này, khi tường thành Ki-hoa bị san bằng, các bàn chông và chà gai bao phủ trở thành
một lớp tro đen, khi kẻ thù bại trận, lang thang và khốn khổ, thì những người từ Pháp đến, cứ lấy hơm
nay để đốn ngày xưa, rồi chế nhạo khi dễ giá trị quân sự của người Annam, khơng chịu phân biệt gì hết


mà coi quân Annam chỉ là bọn giặc cướp.


Trong khi chờ đợi những cuộc dấn thân sắp đến, quân sĩ tìm thấy trong đời sống trước mặt một nguồn



sinh lực mới, một sự vui nhộn tràn trề, mà sau này không ai tìm thấy trong các cuộc hành quân viễn


chinh khác. Những người đã trải qua giai đoạn này đều coi đó là một giai đoạn lý thú và độc đáo trong


cuộc đời mình. Cái mới lạ và vẻ đẹp của quang cảnh Saïgon thật dịu dàng và duyên dáng, tạo ra một bối


cảnh hết sức quyến luyến khi chợt nghĩ rồi đây sẽ phải rời xa nơi này[9]. Kinh Tàu và đường cái nối tiếp


với kinh này trên đất thật đông người và nhộn nhịp, đầy thực phẩm, súng ống và đạn dược chiến tranh.


Trên mặt kinh các tàu sa-lúp[10] màu<i>xám, trước kia chuy</i>ên chở qn lính đưa lên tàu tại Peh-tang, nay
thì chun chở các khẩu đại pháo nịng có khía và các ổ súng cối, bàn đặt súng và những quả đạn dài


đầu nhọn[11].


Kinh Tàu, mà ta vẫn thường nghe nhắc tới khi nói đến Sạgon, rất có thể là một con kinh do người đào,
hoặc ít ra cũng do tay người sửa và vét giúp cho tàu bè thơng thương. Kinh tách ra theo một hướng


thẳng góc với sơng Sạgon, ăn sâu vào vùng đồng bằng, mặt nước phẳng và đều, rộng độ 100 thước.


Kinh Tàu nối liền với kinh Thương mại[12], kết hợp với các kinh khác rồi đổ vào sông Cambodge tạo ra
đường lưu thơng huyết mạch cho việc bn bán trong tồn vùng Nam Kỳ miền dưới. Khi rời khỏi Saïgon,
dọc hai bên bờ kinh vươn lên nhiều chòm cây mãng cầu[13], cây mít, cây bơng lài rất thơm, dứa gai và
lau sậy. Cây cối trên bờ bên trái[14]che khuất những ruộng lúa mênh mơng xa tít tới chân trời. Dẫy cây


bờ bên phải, thỉnh thoảng có chổ trống để lộ ra một cái<i>miao[15]</i> nhỏ, dựng lên để thờ một vị thần quen


thuộc của địa phương; trên bờ có nhiều căn nhà xinh xắn của người Annam, lợp ngói, nhà có trồng
xương rồng bao kín chung quanh khơng cách gì chui qua lọt.



Một con đường cái tình trạng bảo trì khá tốt, rộng như một tỉnh lộ của ta ở Pháp, có cây xinh xắn che
mát, đường chạy dài song song với kinh Tàu chỉ cách khoảng 200 thước. Ðó là một đoạn trên con đường


từ Sạgon đi My-thơ. Từ Sạgon xuống, bên phía mặt là các chùa đã biến thành đồn của ta như đồn
Barbet, đồn Ao, đồn Clochetons, đồn Caï-maï. Cũng về bên phía tay mặt, xa xa sau mặt đường, đất đai


có vẻ cao hơn một chút trải rộng tới chân trời. Các chòm cau và cây cối xanh tươi khơng cịn nữa, chỉ


thấy cây cỏ cằn cọc, vàng úa, thấp lè tè. Tất cả đều cằn cỗi và buồn thảm dưới bầu trời nung đốt; vài mô


đất, vài nấm mồ sơn sáng chói trang trí tranh vẽ trên vách mộ là tất cả những gì đập vào mắt người


nhìn. Cánh đồng mênh mơng đó chính là cánh đồng Ki-hoa. Xa hơn nữa là tuyến phòng thủ Annam, vách


thành thấp, tiệp với màu đất, nếu không có bóng vài kỵ mã và chịi canh thì khó mà nhận ra thành
Ki-hoa.


Thành phố Tàu, dân địa phương gọi là Cho-luen, tên có gốc tiếng Tàu[16], trải dài hai cây số dọc hai bên
bờ kinh. Quang cảnh nhộn nhịp, cu-li Tàu và Annam tấp nập khuân vác gạo, tiền bằng đồng, dê nhỏ và


cá khô. Các mái ngói màu đỏ nổi bật giữa các chịm cau giống như nơi thôn dã; thân cau thẳng băng và


có khía tưởng chừng như đã từng làm mẫu cho các cột của thành quách Hy Lạp. Viễn cảnh trông thấy ở
khúc quanh đầu tiên của kinh tràn đầy vẻ dịu dàng, mềm mại và thanh lịch. Thật nhiều cầu nối liền hai


bờ sông. Càng ra xa Saïgon hơn, vườn tược rộng hơn, nhà cửa dần dần thưa thớt và riêng biệt hơn. Cho
-luen không giống thành phố Âu châu chút nào, mà cũng chẳng giống với một thành phố Tàu hay Annam
nào cả. Người ta có thể nói đây chỉ là một nơi gom tụ của một số nơng trại giàu có. Sân nhà khơng có



tường che khuất như bên Tàu, nên người ta có thể trơng thấy vào giờ cơm, trong sân có kê ba cái bàn


theo hình tam giác. Bàn trong cùng, kê cao hơn hết, dành cho chủ nhân, con cái, bạn hữu và người quản


gia ngồi; cu-li thì ăn ở hai bàn còn lại kê thấp hơn. Lối sống giữa trời như thế cho thấy cái vẻ oai vệ của


chủ nhân. Trên mặt kinh luôn luôn tấp nập, thuyền bè kẹp sát nhau, chỉ còn một lối nhỏ ở giữa. Khi nước


ròng, mực nước rút xuống thật thấp, chỉ còn một dòng nước nhỏ như một con suối, đủ cho thuyền thật


</div>
<span class='text_page_counter'>(23)</span><div class='page_container' data-page=23>

Thành phố Tàu là chìa khóa của tất cả thương nghiệp tại Nam Kỳ miền dưới. Ai kiểm soát được thành
phố này là nắm hết khả năng sinh hoạt của dân chúng trong phần đất Annam này. Các đồn Clochetons


và Caï-maï sẽ giữ nhiệm vụ đánh chiếm thành phố Tàu; một tàu chiến loại lorcha[17] kiểm soát con kinh


mà hai bên bờ là Cho-luen, tàu mang tên <i>Jajaréo</i> thả neo ngay cửa vào thành phố Cho-luen; do trung úy
Hải quân chỉ huy, phụ tá lại là một thiếu úy thủy quân lục chiến, đây là một trong những việc trớ trêu


ngược đời trong trận chiến kỳ lạ này. Thành phố Tàu xây cất theo lối xưa, người Tàu sống ở đây chia ra
thành từng bang hay hội đồn, có thiết lập hẳn hoi quy uớc và xác định những ngoại lệ khỏi đóng góp.


Nhiều người thật giàu có; một số người thuê trực tiếp các tàu Âu châu để gởi đi Ấn Độ, đảo Réunions


hoặc đi Tàu. Cũng phải xác nhận rằng ngày nay tình thế khó khăn vì sự chiếm đóng của Pháp, thương


gia tại Saïgon dựa vào giá cả của thị trường Hong-kong và Shang-hạ, nhưng có khi biết có khi khơng, vì
thế người Tàu lập hẳn một hệ thống chuyển thư riêng của họ giữa Saïgon và Canton.


Trong suốt vùng Cho-leun thuộc tỉnh Gia-dinh, chùa và miao (bàn thờ nhỏ để chuộc tội) thật là nhiều.



Các miếu thờ xây cất rất trang nhã và giống hệt nhau, tương tự như các đền miếu bên Tàu. Ðền miếu


xây cất có lẽ do tiền quyên góp của dân buôn bán người Tàu. Dân Tàu cũng dửng dưng với tôn giáo như
dân Annam, nhưng họ giàu hơn và muốn khoe khoang của cả[18].


Bốn cảnh chùa mà chuẩn đô đốc Page, một năm trước đây, đã biến thành đồn để phong tỏa Sạgon thì
nhìn từ xa cũng thấy rõ nhờ trên mái có các con rồng thật đặc biệt, những con cá đứng dựng trên đuôi
và tượng chó có mắt người ta[19] theo mẫu gốc đặt ở lâu đài Yuen-minh-yuen[20]; chắc chắn các hình


tượng này không phải là các sáng tạo tùy hứng do trí tưởng tượng của người Tàu mà ra. Cảnh sân trước
chùa đều có trồng loại cây dương Ấn Độ có lá lớn gọi là cây Mahâ-phot[21], dưới một trong các cây này
ông Phật đã được vua các thiên thần là Indra phong làm thầy tu.


Cảnh chùa Barbet mang tên một đại úy thủy quân lục chiến trước kia đã từng cai quản chùa này, ông bị


ám sát và bị cắt đầu nơi khúc quanh thứ nhất trên con đường dẫn đến chùa Ao. Buổi chiều hơm đó, ông


cởi ngựa đi tuần tra như thường lệ. Bọn sát nhân rình rập trong một bụi cây, sau này người đi ngang đây


còn chỉ chỏ cho nhau biết. Ông ta bị đột kích bằng giáo té ngay xuống ngựa. Bọn Annam liền cắt đầu, bò
qua các bụi rậm và cỏ cao trở về giới tuyến cũ của thành Ki-hoa. Sáng hôm sau, người ta thấy phần thân


thể còn lại bị kéo bỏ bên vệ đường; con ngựa bị thương nằm bất động kế bên. Người ta kể lại rằng khi
cái đầu ông đại úy đem đến đặt kế bên khay trầu của vị tướng Annam thì ơng này liền đếm tiền thưởng


mà khơng nói gì, rồi sau đó mới thốt ra một lời tiếc thương. Ðại úy Barbet có thân hình và một sức mạnh


lực sĩ, tất cả người Annam đều biết mặt ông.


Chùa Ao trước kia rất nổi tiếng vì là nơi hành hương cho những người đi buôn bán từ My-thô trở về.



Chùa có hai ao nên gọi là chùa Ao, một lớn một nhỏ, nước dơ bẩn, thường thấy thỉnh thoảng có xuất


hiện loại cá sấu cạman[22].


Chùa Clochetons hơi xa hơn các chùa kể trên nhưng cũng trên đường từ Sạgon đi My-thơ. Chùa xây cất


giữa một cánh đồng mồ mả. Các tượng thần[23]sơn vàng, chất đầy chung quanh các gian phòng trong
chùa, vẻ mặt tượng trưng một trạng thái gần hồn tồn thốt tục. Một đàn gà bươi móc khắp nơi, lính


thủy và bộ binh nhìn thấy mà thèm. Trên bàn của các sĩ quan có để vài chai rượu vermouth và absinthe;


trước mặt đồn súng 30 ly nịng dài có khía xếp thành hàngtrên các bệ bắn, lớp sơn đen trầy trụa vì súng
phải khiêng lên khiêng xuống. Các chùa hay đồn binh của ta vừa kể giữ nhiều vai trị: vừa là nơng trại,
đồn canh gác và pháo đội.


Các vị thần Phật giáo hình như đang lạc vào một thế giới khác; nụ cười mỉm của tượng, tuy nhân bản
hơn là chế nhạo, nhưng hình như cũng đồng lõa với những nỗ lực của ta đang xảy ra trước mặt. Cảnh


các tượng thần trước sự nhộn nhịp của đám người phục dịch bận rộn tíu tít và sức mạnh xâm chiếm của


một giống dân tuy lo âu nhưng mạnh mẽ đã tạo ra một sự tương phản lạ lùng[24].


Chùa Caï-maï là điểm chốt xa nhất trên tuyến phòng thủ của quân viễn chinh, cánh mặt của đường tuyến


bắt đầu từ kinh Avalanche. Chùa là vị trí tiền tuyến nhất mà trước đây ta đã chiếm được của người


Annam. Chùa xây trên một gò đất cao do người đắp. Bên trong chùa các chi tiết trang trí cũng giống như
các chùa khác. Phía trước mặt đồn Cạ-mạ là đồn Annam ta gọi là Redoute, đồn này là tiền đồn của cả



hệ thống phòng thủ của địch quân, cạnh bên là một vùng đầm lầy làm chướng ngại thiên nhiên. Chùa
Caï-maï của ta mấy ngày sau bất ngờ được xử dụng làm kho tồn trữ đạn dược cho pháo binh và bộ binh.


Công việc nâng các giàn trọng pháo 30 và các ổ súng cối 80 lên bàn bắn rất là nặng nhọc, các người cai


thủy thủ đảm trách việc này. Trung tá pháo binh đánh bộ là Crouzat, chỉ huy một đội pháo binh phá


</div>
<span class='text_page_counter'>(24)</span><div class='page_container' data-page=24>

các bệ bắn được xây đắp xong, súng từ tàu chuyển đến được nâng lên bệ bắn cùng với 100 quả đạn cho


mỗi súng. Chùa Barbet nhận được 3 ổ súng cối 80 và hai dàn phóng hỏa tiễn tấn công 125 ly; chùa
Clochetons nhận 4 khẩu đại bác của hải qn nịng 30 có khía; chùa Cạ-mạ một khẩu 30 nịng có khía
và một ổ súng cối 80. Các thủy thủ trước đây trách nhiệm về các khẩu súng này trên tàu được phân phối


gởi theo để tiếp tục đảm trách việc sử dụng.


Ngày 16 tháng hai, vị tổng tư lịnh rời tàu <i>Impératrice-Eugénie</i>, tàu bèn hạ cờ hiệu của tổng tư lịnh xuống


rồi chở toàn bộ tổng hành dinh đến trụ sở mới tại một cơng sự gần phía sau đồn Barbet. Vị tổng tư lịnh
giao cho đại tá hải quân de Surville[25]điều khiển các chiến hạm neo dọc trên sơng Sạgon. Vị sĩ quan


cao cấp liền gom tất cả thủy thủ đồn của các chiến hạm trong tay ơng để thành lập các đại đội chuyên
chở tiếp liệu, đồng thời cũng cung cấp pháo thủ cho các đại bác nòng có khía đã chuyển đến các chùa;
suốt 20 ngày, họ phải cong lưng chèo chống, từ sáng đến tối dưới bầu trời thiêu đốt, vận chuyển một số


lớn các thiết bị lưu động cho cả đạo quân, dù chỉ là một đạo quân nhỏ. Rồi đây họ lại được nghe các dàn


đại pháo lẫn tiếng súng nhỏ từ các trận đánh vọng lại. Họ chỉ biết chiến đấu qua việc tải thương, cứu cấp


và an ủi quân sĩ bị thương. Vai trò đòi hỏi một tinh thần hy sinh cao độ. Vị chỉ huy hải quân de Surville



khuyến khích để giúp họ đủ sức kiên nhẫn chịu đựng những khắc nghiệt trong cơng tác khó khăn của họ.


Trung tá Crouzat bố trí và hướng dẫn tốn dọ thám cho biết chắc chắn chỉ có phía trước và bên trái đồn


Cạ-mạ mới có đường di chuyển cho pháo binh để tiến đến một vị trí đất cứng cách tuyến địch độ một
ngàn thước. Ðường dùng cho pháo binh cần phải san bằng, công tác giao cho một đội công binh biệt


phái và một đại đội trên chiến hạm<i>Impératrice-Eugénie</i>đảm trách; quân sĩ làm đường phải chịu hỏa lực


của địch rất khó chịu nhưng không ai bị trúng đạn. - Ngày 19 tháng 2, 20 hỏa tiễn 125 ly của hải quân và
32 hỏa tiễn của bộ binh 90 ly đầu sơn đỏ được phóng đi từ chùa Barbet đến một địa điểm cách xa chừng


5 cây số nằm trong phần doanh trại của địch, mục đích làm cho địch bối rối và lo âu. Ngày 21 và 22
tháng 2, ta tiếp tế thêm cho chùa Caï-maï, nơi làm điểm tựa để chuyển quân đánh bọc hậu, gấp đôi số
đạn dược cho pháo binh và thêm 50.000 viên đạn cho lính bộ binh.


Trên bộ các đội quân viễn chinh tiếp tục bố trí, trên sơng Don-nạ các hoạt động cầm chân địch cũng
được phối hợp và phân bố. Vị phó đơ đốc chỉ huy trưởng vạch ra chương trình hành quân cho chuẩn đô
đốc Page như sau:


“Tôi thật vinh dự cho ông biết các chiến hạm<i>Avalanche, Sham-Rock</i> và pháo hạm số 31 phối hợp với


chiến hạm<i>Renommée</i> để lập ra một sư đồn dành cho ơng hành qn phía thượng lưu sơng, chiến


hạm Renommée sẽ mang cờ lệnh của ông.


“Khi tới ngang địa phận Go-viap[26], và sau khi đã vượt được hết các chướng ngại có thể cản trở hạm
đội của ơng xong, thì ơng biệt phái pháo hạm số 31 ở lại kinh này. Pháo hạm phải hoạt động thật cẩn


thận đừng để bị thiệt hại. Tại vị trí đó, pháo hạm tận dụng tất cả những phương tiện sẵn có để canh



chừng và chận đứng mọi di chuyển của địch quân, cấm bất cứ ai có vẻ nghi ngờ vượt từ bờ sông bên
này sang bờ sông bên kia.


“Phần ông thì đem các chiến hạm <i>Renommée, Avalanche</i> và <i>Sham-Rock</i> tiếp tục tiến lên đến ngang địa


phận Thu-yen-mot[27], cương quyết gây khó khăn cho địch trong việc di chuyển giữa hai bờ sơng, nếu


có thể thì cắt đứt hẳn sự di chuyển của họ."


“Ơng có thể vượt xa hơn Thu-yen-mot trong nhất thời nếu ơng thấy có lợi thế cho ơng, cứ tùy cơ xử trí
để đạt mục đích tơi vừa chỉ định."


"Tơi giao cho ơng trọng trách đối xử với dân chúng khi họ không gây hấn gì. Tạo cho họ tin tưởng là điều


quan trọng, đồng thời cũng nên phô trương cho họ thấy các phương tiện mạnh mẻ của ta.”


“Nếu trong vòng ngày mai bố trí xong thì ơng lên đường ngay khi thấy thủy triều lên.”


Trong mục đích kềm giữ hồn tồn qn địch trong vịng thành của họ (xem bảng hình 1 và 2), pháo
hạm số 18, sau khi chuẩn đô đốc Page xuất quân, sẽ lên đường đến một vị trí trên kinh Avalanche, giữ


cách xa tàu lorcha <i>Espérance</i> một quãng ngắn. Pháo hạm 18 giữ trọng trách cắt đứt liên lạc của địch qua


lại giữa hai bờ sông và phá sập cây cầu thứ hai bắc qua kinh. Tàu được cấp thêm đạn đại pháo và súng


trường. - Về phía mặt trận tuyến, pháo hạm số 31 vì nằm ở một vị trí lẻ loi tại Go-viap nên nhận được


lịnh phải hành động thật thận trọng, luôn luôn giữ chỗ nước sâu, sông rộng để xoay trở dễ dàng. - Sau
hết là pháo hạm số 16, tàu lorcha <i>Jajaréo</i>, pháo hạm số 27 và tàu lorcha <i>Saint-Joseph</i> giữ vị trí bên cánh


trái của quân ta; hai chiếc trước tiến vào kinh Tàu, hai chiếc sau tiến vào kinh Rach-cat[28] tại cửa sông


</div>
<span class='text_page_counter'>(25)</span><div class='page_container' data-page=25>

tiểu đồn 2 bộ binh, nhóm qn này trước đây đã từng tăng cường cho thủy thủ đoàn <i>Saint-Joseph</i>.
Ngày 17 tháng 2, pháo hạm số 27 kéo tàu lorcha về hướng ngã ba sơng Don-nạ và Soi-rap, đổ theo


sông Soi-rap đến một phụ lưu là sông Rach-cat; pháo hạm tiếp tục kéo theo tàu <i>Saint-Joseph</i>ngược


sơng Rach-cat rồi dừng lại giữ vị trí ở cửa sông Rach-baoum. Tất cả bốn tàu hợp sức kềm giữ địch quân


bên cánh trái của ta và tạo ra hai đường tuyến phịng thủ riêng biệt nằm phía sau giới tuyến các chùa,
mục đích là vừa làm hậu thuẫn cho giới tuyến này vừa làm cho bọn Annam khơng cịn trơng cậy gì được


vào các trục giao thơng trên sơng ngịi. Liên lạc giữa pháo hạm số 27 và tổng hành dinh sẽ do pháo hạm


số 16 và đồn Caï-maï đảm trách.


Vị chỉ huy trưởng liền cho quân sĩ hay là thời cơ sắp đến. Ông nói với quân sĩ rằng người Pháp gây chiến


với hồng đế của dân Annam, chớ khơng phải với dân Annam; quân đội viễn chinh Nam Kỳ phải bảo vệ
người dân vô tội, của cải và việc buôn bán của họ.


Với các dân tộc Annam, ông thông báo sự hiện diện của ông tại đây và mục tiêu của cuộc chiến; ơng


vạch cho họ cách xử trí bằng những lời lẽ như sau:


“Charner, đô đốc Pháp quốc, chỉ huy trưởng tồn thể lực lượng Viễn Đơng, đại diện tồn quyền trong


việc bình định đế quốc Annam,


Nhắc cho dân chúng tỉnh Saïgon và tất cả các quận lỵ tùy thuộc tỉnh này biết rằng đế quốc Pháp và



vương quốc Tây Ban Nha đồng tình trong cùng một ý chí, kết hợp sức mạnh chung đến đây để hạch hỏi


chính quyền Annam phải giải thích lý do về tất cả các hành động bội ước và vô ơn mà họ phải nhận tội.


Vì lẽ đó, chúng tơi tn lịnh tơn nghiêm của đại hồng đế chúng tôi để đến đây cùng quân sĩ tra hỏi


ngọn nguồn về tất cả những gì đã xảy ra từ trước.


“Chắc chắn không phải chúng tôi đến đây để gây khổ sở cho dân chúng. Trái lại, điều thiết tha lớn nhất


của chúng tôi là che chở và mở đường thương mại cho họ để càng ngày càng làm cho họ giàu có thêm.
Chúng tơi hứa sẽ đem tới hịa bình và bảo vệ hồn tồn của cải của họ, tính mạng và nhà cửa của họ,


khơng làm gì thiệt hại đến tất cả quan chức dân sự nào, quân sĩ nào, người dân nào chấp nhận mọi sự


việc với một tấm lòng lương thiện. Sự che chở này cũng sẽ mở rộng cho tất cả, không phân biệt những
người đã quy phục chúng tôi cũng như những người chưa có cơ hội để làm. - Nơi nào quân sĩ chúng tôi
không đi ngang thì cứ thản nhiên bn bán như thường lệ, khơng rối loạn và khơng lo sợ gì cả. Cịn
những ai, trước kia vì nhất thời khiếp sợ uy quyền của chúng tôi mà trốn chạy, và những ai, cho đến bây


giờ vẫn chưa kết hợp với dân tộc chúng tơi, nếu có ý chí thật sự muốn quy phục thì chúng tơi vì lịng
nhân từ sẽ đón rước và che chở khơng nệ gì về q khứ.


“Những lời hứa hẹn hịa bình vừa ban ra, xuất phát từ lịng thực tâm của người tổng tư lịnh, khơng phải


là những hứa hẹn chốc lát có hiệu quả ngắn hạn, mà là những lời hứa khẳng định và vĩnh viễn”.


Tất cả các cánh quân đã bố trí xong, quân sĩ sẵn sàng tiến lên và chiến đấu. Vị tổng tư lịnh chỉ thị các



hàng tiền tuyến sẽ tấn công ngày 24 tháng 2.


[1] Đại tá Hải quân Joseph Hyacinthe Louis Jules d'Ariès (1813-1878), chỉ huy trưởng liên quân Pháp – Tây Ban Nha chiếm đóng
Sài Gòn từ tháng 4 năm 1860 đến tháng 2 năm 1861. - TN


[2] Tức đồn Thuận Kiều. - TN


[3] Phúc trình do vị chỉ huy của một trong các lực lượng đặc biệt cho biết như sau:


<i>‘’Ðể đánh bật địch quân ra khỏi trại của họ, thì phải đánh trước mặt hoặc bên cánh trái, hoặc bên cánh phải. Tấn cơng trước mặt </i>


<i>thẳng về hướng Sạgon, sẽ gay go và thương vong nhiều, địch dồn về mặt này đơng nhất, phương tiện phịng thủ cũng tốt nhất. Vững </i>


<i>tâm trong vòng đai cố thủ, địch sẽ chống cự đến cùng. Cịn như tấn cơng bên trái của địch quả là khó khăn, vì lý do phải vượt qua </i>
<i>đầm lầy để xáp đến gần địch. Vậy chỉ cịn cách là tấn cơng bên cánh phải của địch mà thôi.”</i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(26)</span><div class='page_container' data-page=26>

điều sai lầm là ta không chú ý tới hai tác dụng cực mạnh khác là hạm đội và vòng đai đại pháo kéo dài từ kinh Avalanche đến đồn
Caĩ-maĩ mà ta sẵn có. Vả lại, chắc chắn quân địch, khi yên trí trong vòng thành phòng thủ, sẽ chống trả đến cùng; và cịn có thể dựa vào
cách tổ chức từng khu công sự riêng trong doanh trại của họ mà tăng sức kháng cự lên thành bốn. Cịn tấn cơng phía bên phải thì
điều này khơng thể đặt ra được.


Hậu tuyến của Ki-hoa cũng mạnh như tiền tuyến vậy. Cũng phải nghĩ đến chuyện bố trí chiến thuật mà ta ta đặt ra không lọt qua khỏi
sự tiên đoán của vị thống soái Annam. - TG


[4] Tức Biên Hòa. - TN


[5] Ban đầu, quân Pháp gọi đây là “chùa Trước” (Pagode Avancée). Sau khi Đại úy Thủy quân Lục chiến Barbé bị quân Nam phục kích
giết chết năm 1860, quân Pháp gọi là “chùa Barbé” (hay Barbet). Vị trí của chùa được xác định nằm ở vị trí Bảo tàng Chứng tích Chiến
tranh, trên đường Võ Văn Tần ngày nay. - TN



[6] Nòng súng có khía bên trong gọi là đường khương tuyến giúp viên đạn khi bắn ra sẽ xốy trong khơng khí, đi xa hơn và sức xuyên
phá mạnh hơn. – ND.


[7] Khoảng 1,3m. - TN


[8] Nguyên bản ghi là "<i>comme une bête fauve</i>". - ND.


[9] Tác giả vừa tả Sài Gịn buồn thảm chẳng có gì xem ở chương II. Hóa ra: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Kiều - Nguyễn
Du). - ND.


[10] Nguyên bản ghi “chaloupe”. - TN


[11] Trong khi đó các cỗ đại pháo Annam vẫn cịn dùng đạn tròn đúc bằng sắt. - ND.


[12] Nguyên bản ghi “Arroyo Commercial”, tạm dịch là kinh Thương mại, người dịch khơng biết kinh này ngày nay gọi là gì. – ND
Có lẽ tác giả muốn nói hệ thống kênh rạch nối từ sơng Sài Gịn và sơng Tiền? Từ rạch Bến Nghé (Pháp gọi là kênh Tàu) qua kênh
Ruột Ngựa, kênh Tàu Hủ, đến Rạch Cát đổ vào sông Chợ Đệm, vào sông Vàm Cỏ Đông, theo kênh Thủ Thừa, đến sông Vàm Cỏ Tây,
theo kênh Bà Bèo, Rạch Chanh, đổ vào sông Tiền? - TN


[13] Rất có thể đây là các cây bình bát, cùng một giống với mãng cầu, mọc hoang ở mép kinh. – ND.


[14] Các kinh đều nối liền với hai con sơng khác nhau, vì thế đổ ra biển cũng bằng hai cửa khác nhau, mặt và trái dùng ở đây luôn
luôn chỉ bên mặt và bên trái thuận theo danh xưng dùng trong chiến lược và hành quân. - TG.


[15] Tức cái miễu. - TN


[16] Tác giả nhầm. Chợ Lớn là tiếng Annam. - ND.


[17] Lorcha là chiến thuyền gốc Bồ Đào Nha, nhưng vì nhu cầu phải kiểm sốt một số q lớn sơng ngòi, nên được đem sát nhập vào
lực lượng hải quân của ta. Các tàu lorcha có trang bị một khẩu đại bác lớn trên mỗi tàu và phải mang cờ quốc gia của ta. - TG


[18] Tôi trộm nghĩ xây cất chùa miếu có lẽ khơng phải là một cách khoe khoang của cải. Còn việc dửng dưng với tơn giáo thì nếu
khơng có chùa chiền xây gạch khang trang rộng rãi thì quân viễn chinh lấy gì để chiếm mà làm đồn và thiết lập phịng tuyến đánh vào
Đại đồn Chí Hịa? Viễn chinh khơng phải chỉ có những viên đạn đồng phập vào thân xác họ mà cịn có những viên đạn bọc nhung đâm
vào tâm hồn họ nữa. Biết bao nhiêu người đã ngã xuống không phải chỉ để bảo vệ mảnh đất q hương của mình mà cịn để gìn giữ
truyền thống, tín ngưỡng và văn hóa của họ nữa đấy. - ND.


[19] Có thể đây là hình tượng cá hóa long và các con lân. - ND.


[20] Tức Viên Minh viên, còn nổi tiếng với tên Cung điện mùa Hè, tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. - TN
[21] Tức cây Bồ đề. - TN


[22] Một loại cá sấu. - TN


[23] Trong nguyên bản, tác giả viết là "dieux" hoặc là "dieux boudhiques". - ND.
[24] Hay lắm! Nhận xét và mô tả rất khéo. - ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(27)</span><div class='page_container' data-page=27>

[26] Tức Gò Vấp. - TN
[27] Tức Thủ Dầu Một. - TN
[28] Tức Rạch Cát. - TN
[29] Tức rạch Lò Gốm. - TN


<b>CHƯƠNG IV</b>


<b>Ðề cương:</b>


<i>Sáng ngày 24 tháng 2, quân viễn chinh đánh gẫy đường tuyến phòng thủ Annam tại địa điểm gọi là </i>
<i>Redoute. Phó đơ đốc Charner trực tiếp nắm quyền điều khiển quân lính. Ðạo quân Pháp - Tây Ban Nha di </i>
<i>chuyển vòng theo bên cánh rồi dàn ra ở hậu tuyến của địch quân, chiều 24 tháng 2 đóng quân ngay trên </i>
<i>đường tháo lui của địch. </i>





Vào 4 giờ sáng, kèn báo hiệu tập họp chào cờ. Trời còn tối; cũng như các nước nhiệt đới khác, trời chỉ


bắt đầu sáng vào khoảng 6 giờ. Trong đêm tối các tốn qn mị mẫm đứng vào vị trí của mình. Trước
khi lên đường, quân sĩ được uống cà phê và nhận một khẩu phần rượu mạnh. Túi đeo lưng đã chuẩn bị


xong từ chiều tối hơm qua. Trong túi có 8 ngày lương khô và 2 khẩu phần thịt nấu sẵn.


Năm giờ sáng, tất cả các toán quân đều đến vị trí dọc theo đường các chùa. Ðơ đốc và tướng de


Vassoigne dẫn đầu đứng gần cổng đồn Caï-maï, một nhóm nhỏ lính bộ người Phi châu được phái làm lính
bảo vệ. Kế đó là lính bộ Tây Ban Nha, tiếp theo là hai đại đội lính bộ nữa. Pháo binh cắm trại tại Caï-maï
tập họp thành hàng dọc theo thứ tự như sau: 6 ổ súng cối miền núi, hỏa tiễn, 3 đại pháo 4 phân nòng có


khía, 4 đại pháo 12 phân nịng có khía. Bộ binh bố trí trên đường cái theo thứ tự như sau: lính đánh bộ,


cơng binh vác thang; thủy quân xung kích vác thang và chiến cụ linh tinh; thủy quân đổ bộ; thủy quân


lục chiến. Tiếp theo nữa là tùy tùng và ban cứu thương. Một đoàn gồm 600 cu-li người Tàu khuân vác,
100 thú vật chuyên chở giữ vị trí dài dọc theo đường Jajareo, đường này nằm chắn ngang và thẳng góc


với đường các chùa. Cách xắp xếp như thế tránh cho quân lính khỏi gặp trở ngại khi di chuyển.


Năm giờ rưỡi, đoàn quân bắt đầu chuyển động lên đường. Trời bắt đầu sáng, khí trời cịn mát; bụi bặm,


nhờ hơi ẩm ban đêm lắng xuống, lại dấy lên mù mịt. Các toán quân dẫn đầu đổ xuống ruộng và tiến về
hướng đồn Redoute, đồn nằm ở cuối tuyến phòng thủ phía tây của qn địch. Phía trước đồn pháo binh
thì có một đại đội lính bộ phân tán mỏng làm quân biệt kích; pháo binh nhờ đường đã được san bằng



phẳng từ chiều hôm trước nên bố trí khơng gặp khó khăn gì. Các chùa Barbet, Clochetons, Caï-maï đã
bắt đầu bắn suốt một giờ rồi. Tiếng gầm thét của các khẩu đại pháo át hết các tiếng động khác và bao
trùm toàn vùng mặt trận. Quân địch cũng kéo nhau dàn ra các đường phòng ngự, ồn ào chuẩn bị chiến
đấu. Từ vị trí cao trên đồn, ta có thể quan sát địch quân bố trí. Tiếng chiêng và tiếng rít đặc biệt rất dễ


nhận phát ra từ súng của họ chỉ nghe thấy ở khoảng trống giữa những tiếng nổ do các cỗ đại pháo nịng
30 có khía của ta; súng của họ có nịng nhỏ và làm bằng sắt. Các sĩ quan từ Saïgon lên, tập họp ở đồn


Caï-maï, tiến nhanh trên đường cái, họ chỉ kịp chào và bắt tay vội vã những đồng đội đi ngang.


Ðoàn quân dàn trận đã gần xong: đại pháo do ngựa kéo trải rộng ra để bố trí trong ruộng và tiếp tục


tiến lên, khi chỉ còn cách địch độ một ngàn thước liền tản ra thành từng đội, kéo chếch qua phía trái, bất


thần ngừng lại và bắt đầu nhả đạn. Sức rung chuyển sắt thép, kéo dài, rít lên làm điếc tai và vang rền cả
cánh đồng. Các cỗ pháo nòng 12 chĩa thẳng vào đồn Redoute, các cỗ pháo nòng 4 và súng cối vùng núi
cũng như hỏa tiễn hướng vào hai góc đồn hai bên. Ðường bắn được điều chỉnh nhanh chóng và trở nên
thật chính xác. Mặc dù tuyến phịng thủ Annam yếu kém vì súng nhỏ và các điều kiện quân sự thua thiệt,


họ vẫn đốt khói để che và gia tăng sức kháng cự. Súng bắn rát, nhưng nói đúng ra là phía địch đã tận


lực chiến đấu, chớ khơng phải về phía ta.


Pháo binh lâm trận giúp cho bộ binh nghỉ tay lấy lại sức: quân tiến lên từng đại đội xếp theo hình dọc.


</div>
<span class='text_page_counter'>(28)</span><div class='page_container' data-page=28>

chấp chướng ngại như gò và mồ mả, các cỗ đại pháo dàn ra chỉ cách địch quân có 500 thước. Các cỗ


pháo nòng 4, hỏa tiễn, đại pháo nòng 12, tiếp tục luân phiên điều động tiến lên từng chặn một. Bộ binh


tiến lên thêm một chặn nữa. Dọ thám tối hơm trước cho biết có một vùng đầm lầy nằm phía bên trái gần


đồn Redoute. Vì thế bộ binh tiến lệch về phía mặt để tránh, nhưng lại tránh quá xa. Lớp sau lại tiến theo


nên gây ra chậm trễ. Sau khi pháo binh bắt đầu khai pháo trở lại thì một lúc sau bộ binh mới dàn xong vị


trí. Hai mũi tiến quân được thành lập, bên mặt là công binh, lính đánh bộ, lính đánh bộ người Tây Ban


Nha, thủy quân lục chiến; mũi tiến quân này do tiểu đồn trưởng cơng binh Allizé de Matignicourt chỉ


huy. Mũi tiến quân bên trái gồm có thủy quân đổ bộ do trung tá hải quân Desvaux và đại úy công binh


Gallimard chỉ huy.


Trong khoảng cách 500 thước, đạn của đối phương rơi tới tấp vào quân Pháp và Tây Ban Nha. Ðường


bắn của quân Annam chính xác, đúng cả hướng và cả chiều cao. Trong đồn, các cỗ pháo, súng nhỏ cầm
tay, súng trường bắn ra xối xả. Mỗi khi phó đơ đốc, bộ tham mưu và qn hộ vệ của ơng dừng lại chỗ


nào thì trong thành nhắm vào chỗ đó bắn ra rất rát và mảnh liệt. Pháo binh chịu trận trước tiên; chỉ


trong vài phút, nhiều pháo thủ và ngựa bị trúng đạn. Khoảng cách quá ngắn trước mặt địch làm giảm ưu


thế của khí giới có tầm bắn xa và chính xác của ta; mặc dù tầm đạn của ta chính xác, liên tục và ưu thế
hơn, nhưng sức kháng cự của bọn Annam không bị đánh tan cũng không nao núng chút nào. Thương


vong của ta tăng lên; tướng de Vassoigne, đại tá Tây Ban Nha Palanca Gutierrez, chuẩn úy Lesèble và


thượng sĩ Joly bị thương nặng. Đô đốc bèn trực tiếp cầm quân và ra hiệu lịnh. Các hàng quân chuyển
động. Các cỗ súng cối miền núi bắn yểm trợ hai bên cánh. Một đại đội lính đánh bộ xung kích tiến lên
bắn loạn xạ để dẫn đầu cánh quân bên phải; một đại đội thủy quân lục chiến dùng súng nhẹ dẫn đầu



cánh qn bên trái. Lính cơng binh lên trước, tiếp theo sau là quân Tây Ban Nha, bộ binh, thủy quân lục


chiến. Vì phải để dành sức cho phút chót nên tất cả chỉ chậm rãi dấn lên, địch bắn xối xả, quân tấn công


tiến xéo qua bên phải để khỏi rơi vào vùng đầm lầy. Còn khoảng chừng 30 thước, một tiếng thét vang


“Hoàng đế muôn năm!” vụt nổi lên át hết tiếng súng; quân lính ở hàng đầu nhào lên; tuy bị tầm đạn của


súng hỏa mai ngay trước ngực nhưng họ vẫn cố vạch chà tre chằng chịt để bước từng bước trên miệng


các hầm chông, nhảy qua bàn chông, nhào xuống hố, phá chà gai để tiến tới, tay và mặt đầy máu, quần


áo rách tả tơi nhưng vẫn tiến đến bờ thành của địch một cách vinh quang.


Cánh quân bên trái cũng can trường phá gẫy tuyến phòng thủ phía ngồi của địch. Dẫn đầu là thủy binh
đột kích. Họ tự mang lấy thang, câu liêm có cán, sào móc, lựu đạn: bọn cu-li mang thang đều được thay
ở trạm tiến quân thứ hai; việc mang thang kể như là một công tác danh dự. Không có chỗ nào phải chạm
trán xáp lá cà, khi các quân lính Pháp đầu tiên nhẩy được vào bên trong, trên các các bệ bắn phía sau
tường, thì họ thấy bọn Annam thối lui mang theo giáo mác, súng lớn và súng tay của họ. Quân Annam


lùi lại một bước thế thôi, gần như thản nhiên, giống như những người thợ đang làm việc rồi ngưng tay;


thật quả là lạ lùng, mặc dù tình thế cấp bách vì cả một đạo quân đang trèo lên tường để tràn vào; chỉ có


một số thật ít bỏ chạy mà thôi. Trong mấy phút sau là họ rút về phía đại qn có cờ đi nheo phấp phới


bên trong thành Ki-hoa. Trong trận đánh ngày 24 tháng 2 này, quân Annam chấp nhận đối đầu bằng đại


pháo với ta tuy họ yếu kém nhưng không thấy lòng can trường của họ bị sứt mẻ hay nao núng một chút



nào cả: nhiều xác chết rải rác dọc theo tường phòng thủ cho thấy hiệu quả của súng nịng có khía của
ta. Nhưng khi qn ta xung phong, tiến thẳng vào họ, thì họ thối lui nhưng khơng chạy, khoảng cách vẫn


cịn nhìn thấy nhau[1]. Chuyện này cũng thấy ghi trong các phúc trình về những trận đánh trước đây ở


Saïgon và Touranne.


Thiếu úy Thénard của công binh và trung úy hải quân Berger là hai người trèo lên tường thành trước


nhất tại hai điểm phòng thủ bị đánh gẫy: một do đạo quân bên phải và một do đạo quân bên trái.
Trận này làm ta thiệt hại 6 người chết và 30 bị thương, trong số này có một tướng, một đại tá, một


chuẩn úy và một thượng sĩ. Một người cu-li công binh bị giết và một bị thương. Sau cùng cu-li công binh
cũng tiến tới chướng ngại chót, theo đúng với giao ước thường ký như vậy ở bên Tàu, mục đích là dành


cho quân đánh thuê một chút danh dự. Pháo binh có nhiều ngựa và la chết hoặc bị thương. Pháo binh


hành quân trên một địa thế rất khó khăn, lầy lội, giếng, hố, tường chắn rải rác, chướng ngại nhân tạo đủ


loại; địa thế như vậy cực kỳ thuận lợi cho quân đánh bộ, nhưng lại bất tiện cho đại pháo dùng ngựa kéo,


nhất là khi thụt lùi không phải dễ[2].


Trận chiến kéo dài 2 giờ, nhưng pháo binh phải bắn rất nhiều; bắn đi tất cả 228 quả sơn pháo, 146 quả
đại pháo 4, 128 quả đại pháo 12, phóng 80 hỏa tiễn. Tường phịng thủ của địch làm bằng tre đắp đất,


</div>
<span class='text_page_counter'>(29)</span><div class='page_container' data-page=29>

rát để giúp bộ binh tiến lên nắm vị trí của mình, bộ binh bị bóp nghẹt vì đường hẹp và lối thoát ra để dàn
quân cũng hẹp.


Các binh sĩ bị thương trong lúc đang đánh nhau được chở về đồn Caï-maï, từ đây mới gởi đi bằng đường



bộ hay đường sông đến nhà thương Cho-quan[3] trên bờ kinh Tàu. Công binh bắt tay vào việc tức khắc,


phá một mảng tường phòng thủ của địch để kéo trọng pháo. Chuyên chở đạn dược từ đồn Caï-maï thay
vào số đã bắn. Cơng tác hồn tất vào 1 giờ trưa. Suốt ngày và đêm 24, kho tồn trữ tạm Caï-maï được bổ


sung và sửa chữa. Ðạn dược thì lấy từ hai tàu <i>Rhin</i>và <i>Loire</i> đậu ở bến Sạgon. Hai tàu dùng làm kho
thuốc súng vì khơng tìm được nơi nào trên bờ khơ ráo và đủ chắc chắn. - Quân lính trở lại thu lượm các
túi đeo lưng của mình vì trước đó họ phải bỏ xuống đất để tấn công. Vào khoảng 9 giờ sáng, quân lính


của ta chui vào tạm trú trong các căn nhà thấp lè tè mà vài giờ trước đây còn là nơi trú ngụ của quân


Annam. Các túp lều này dơ bẩn, xông lên mùi hôi thối kỳ lạ giống như mùi mắm cá của người Nga. Quân


lính nghỉ ngơi đến 3 giờ chiều. Họ phải thức từ 4 giờ sáng, túi quân trang thì đeo trên lưng, hành quân
trên đường đất bụi mù, tiếp theo là lầy lội, đánh nhau dưới sức nóng tuy là buổi sáng nhưng đã bắt đầu


oi bức. Lịnh nghỉ ngơi ban ra là vì thận trọng chớ khơng vì lịng nhân từ. Ai cũng biết sức nóng của


Saïgon là sức mạnh phụ thêm cho quân Annam, sức nóng tại đây làm phát sinh vi trùng bệnh dịch hạch
đầm lầy với một tốc độ khủng khiếp.


Vào 3 giờ chiều thì cho thổi kèn báo thức và thúc quân lên đường. Một đại đội thủy quân lục chiến đặt ở


lại với một ổ súng cối miền núi để giữ đồn Redoute ta vừa chiếm: làm hậu quân và giúp quân ta vẫn tiếp


tục dựa vào chùa Caï-maï. Quân sĩ lên đường: pháo binh ở giữa xếp theo hàng dọc thứ tự từng giàn
pháo một; bộ binh chia ra thành từng phân đội ngắn, xếp thành hai hàng dọc, bên phải một hàng, bên
trái một hàng. Mặt đất dẽ cứng, phẳng, phủ một lớp rêu thật mỏng, xe chở đạn và xe quân nhu lăn bánh



trên mặt rêu khơng gặp khó khăn gì cả, chân bước trên rêu cũng thấy thích thú[4]. Quân ta tiến lên theo
bên hơng, bọc hậu phía sau qn địch, giữ cách xa, lọt ra ngoài tầm bắn của họ. Ðoàn quân đang đạt


mục tiêu dự trù từ trước: tức tối nay phải cắm quân ở mặt tây thành Annam, chắn ngang đường rút lui
của họ.


Khoảng 4 giờ, một tốn qn địch, tầm quan trọng thật khó đốn, bất thần xuất hiện từ khu rừng chồi


phía bên phải của ta; quân địch có nhiều voi trận, trương cờ đuôi nheo rầm rộ. Quân Annam muốn thử


chận đường tiến của ta hay chỉ muốn di tản đem dấu bớt voi trận, xe quân nhu và quân trang cồng


kềnh? Trong suốt trận chiến, biến cố này vẫn cịn là một bí ẩn hồn tồn, khơng ai biết được chủ đích


của quân Annam. Họ tiến đến gần, nổ súng với bộ binh ta. Chỉ huy trưởng liền cho 3 ổ súng cối miền núi,
ba trọng pháo nịng 4 tiến lên: sức bắn trả có hiệu lực ngay. Ðịch quân dừng lại, một phần rút vào trong
thành, một phần đóng qn bên ngồi dựa vào tường thành của họ.


Quân ta buộc phải tạm dừng quân vì trận đụng độ nhỏ này, nhưng lại tiếp tục tiến lên. Khoảng 6 giờ


chiều thì đến địa điểm cắm quân, tức là ngay sau thành Ki-hoa. Nơi đây đồng ruộng khơng cịn hồn
tồn trống trải nữa: có vài chòm cây rải rác, rừng chồi cũng rải rác một vài nơi. Một ngôi làng gồm vài


căn nhà đổ nát dựa vào một đám cây cách thành địch chừng 2 cây số. Đô đốc đặt đại bản doanh tại một


trong những căn nhà bỏ hoang trong ngôi làng này. Ngay lúc đó thì đại pháo trong thành Ki-hoa cũng


bắn ra vài phát hướng về phía làng. Một viên đạn xuyên ngang mái nhà đại bản doanh, đồng thời súng
nhỏ cũng bất thần bắn tới tấp từ khu rừng chồi vào các lều cắm quân của ta. Bộ binh hướng về phía bìa
rừng để chống trả loạt tấn cơng bất ngờ này. Lính Tây Ban Nha, tiếp theo là đại đội thuộc



tàu <i>Renommée và hai đại đội khác nữa tiến lên đánh xung kích.</i> Ngựa kéo đại pháo đã tháo cương, vì thế


phải dùng tay kéo hai khẩu pháo nòng 4 đặt vào vị trí. Qn địch thì khơng thấy đâu hết mà súng cứ xối


xả thật can trường, suốt nửa tiếng đồng hồ. Phải mất một lúc lâu mới di tản hết bộ binh đến một vị trí xa


khu rừng để khỏi bị đánh bất ngờ. Pháo binh trở nên quá lộ liễu, liền đưa vài pháo thủ giữ vị trí xung


kích: cơng binh cũng dàn ra. Trong khi đó ta cũng đã càn quyét xong khu rừng và cuộc nổ súng cũng im.


Lính Tây Ban Nha, thủy quân, quân đánh bộ và các đạo công binh trở về đóng bên trong trại. Vài nhóm
nhỏ lo nấu ăn. Phần cịn lại thì q mệt vì vừa phải chạy tới chạy lui đánh nhau, dọn trại, chẳng còn hơi


sức đâu mà thổi lửa nấu ăn; họ đành ăn lương khô và uống nước lã, cũng may là cạnh trại có nhiều chỗ


lấy nước. Thế cũng xong buổi ăn tối. Ăn xong mạnh người nào người nấy nằm dài ra đất. - Rồi ngày mai


đây, các khẩu thần công từ các hạm đội, các cỗ súng nịng có khía từ các chùa sẽ nhả đạn và ta sẽ nghe


những tiếng nổ long trời. Phần chúng ta thì sẽ xơng thẳng vào qn thù, hai đạo quân xáp trận, quân
lính hai bên đánh xáp lá cà.


</div>
<span class='text_page_counter'>(30)</span><div class='page_container' data-page=30>

[1] Tuy thua nhưng tức không chịu chạy. - ND.


[2] Một bàn nâng của cỗ trọng pháo 12 bị gãy, hai đầu ốc bu-loong bị bung mất, vít điều chỉnh hướng bắn bị hư. Bàn nâng của cỗ
trọng pháo được thay ngay, bu-loong được xiết trở lại, nhưng vít điều chỉnh đường nhắm phải khó khăn lắm mới sửa được. Chỉ còn
biết cầu khẩn cho cổ trọng pháo 12 này sẽ gặp địa thế khá hơn ,vì trận chiến ngày mai sẽ hứa hẹn thật nhiều gay go. (Trích phúc
trình của trung tá pháo binh đánh bộ Cruzat). - TG



[3] Tức Chợ Quán. - TN


[4] Ði đánh nhau nhưng vẫn thấy thích thú khi bước trên rêu, hóa ra con người cũng giống nhau và thường gặp nhau ở những chỗ
nhỏ nhoi như vậy. - ND.


<b>CHƯƠNG V</b>


<b>Ðề cương:</b>




<i>Quân Pháp - Tây Ban Nha tiến thẳng vào quân thù, chạm trán bên phải, ở giữa và bên trái hậu tuyến </i>
<i>địch - Các tuyến phòng thủ Annam bị gãy sau một trận đánh sắt máu kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ qua </i>
<i>nhiều giai đoạn khác nhau. </i>




Suốt đêm thật yên lặng: kể cả hai bên khơng có một tiếng súng nào. Năm giờ sáng, pháo binh lên ngựa,


mỗi người đều vào hàng ngũ của mình. Các tốn qn di động chung quanh căn nhà dùng làm tổng


hành dinh, một số quân đứng sẵn gần ngay chỗ được xắp xếp, một số phải đi quanh để tìm đúng vào vị


trí của mình. Mười giờ tất cả đạo quân đã vào vị trí, ngay hàng thẳng lối, cách xa mặt bắc của thành
Ki-hoa khoảng 2 cây số. Hai cánh quân đánh bộ hai bên, giữa là pháo binh. Cánh quân bên trái gồm có
cơng binh đi đầu mang thang, kế là thủy quân lục chiến và bộ binh; 4 đại pháo nịng 12, 5 đại pháo nịng
4 có khía, 2 súng cối miền núi thuộc hải quân tất cả dàn theo hàng ngang chiến đấu, tiến lên phía địch
để yểm trợ cánh quân bên trái; cánh quân này cũng dựa theo đoàn pháo binh tiến lên. Cánh quân bên
phải gồm có lính đánh bộ Tây Ban Nha, thủy qn đổ bộ: thủy qn xung kích thì đi đầu và giữ trách vụ
như hôm qua tức là mở đường. Ba ổ súng cối miền núi kéo theo cánh quân bên phải; ba ổ súng này, nếu



có thể, sẽ tập trung bắn phá ngay giữa mặt thành, giúp quân xung phong dễ dàng hơn. - Kể cả hai cánh


quân bên mặt và bên trái, toán quân nào và đại đội nào hơm qua đi hàng đầu thì hôm nay làm quân trừ


bị đi sau.


Mặt đất cỏ dầy chằng chịt, úa vàng vì sức nóng mặt trời, khơng gây ra tiếng động nào; lính thổi kèn đã


ngưng, khơng phóng ra những âm thanh man rợ nữa. Ta ngưng đánh trống, về phía địch cũng thế, thơi
đánh chiêng và cũng ngưng đánh trống. Các đại pháo trong thành Ki-hoa bắn ra, vang rền, tiếng nổ của
súng địch có cường độ giống nhau nên rất dễ nhận, tiếng các quả đạn xé gió rít lên rồi im bặt, khơng có


một tiếng động nào khác. Lúc này, trong đầu quân lính, ý nghĩ cũng chỉ xoay quanh hai chữ xung phong,


và cách tiến lên thế nào cho chắc chắn, họ đã từng để lại phía sau xác chết và những người bị thương,


họ không bao giờ lo sợ hiểm nguy. Họ không mặc áo thêu, khơng màu mè l loẹt: quần áo chỉ có màu
trắng với màu đen, may bằng vải len hay vải thơ[1]. Nơi họ chẳng có gì chói lịa, ngồi cái lưỡi lê trên


đầu súng. Lời nói của họ đầy nghị lực, lòng tin và sức mạnh. Mặc dù nơi đây thiếu hẳn cái hy vọng, mà


người dân Pháp ai cũng ham muốn, hy vọng đó là được ngợi khen trước công chúng, cái ý nghĩ được


sống mãi sau khi chết, tức được kẻ khác biết đến và nổi danh. Họ sẽ ngã xuống, định mệnh đã chỉ định


những ai sẽ ngã xuống, ngã xuống trong bóng tối ở một nơi tận cùng của Á châu...


Tiếng súng của đối phương, lúc đầu thưa thớt, dần dần nhặt hơn. Súng bắn mạnh và chính xác, nhất là
về hướng bắn thì rất đúng. Qn Annam có lợi thế hơn vì mặt trời chiếu thẳng vào mắt quân Pháp. Pháo



binh vừa đạt vị trí 1.000 thước đã thấy có thiệt hại. Ðã có người và ngựa chết hoặc bị thương; một xe tải
đạn có một bánh xe vỡ tan tành từng mảnh. Trung tá Crouzat thúc quân kéo súng rất nhanh đến vị trí
500 thước, rồi 200 thước; ở vị trí gần tránh bớt được nhiều bất lợi bị mặt trời chiếu vào mắt; tia nắng


</div>
<span class='text_page_counter'>(31)</span><div class='page_container' data-page=31>

Hai bên bắn nhau kịch liệt. Ở khoảng cách này, tự nhiên thấy tuờng thành làm bằng đất và tre cao hẳn


lên và các lỗ châu mai thì phun khói trắng liên tục gần như mỗi giây một phát. Trên ruộng khơng có chỗ


nào ẩn núp, chỉ biết đưa thân cho súng đạn. Thiệt hại đã khá rõ. Chỉ còn biết lợi dụng vào chiến thắng


vừa đạt được hơm qua khích động qn sĩ để họ xông lên. Túi đeo lưng bỏ xuống đất; bọn cu-li mang


thang được thay thế: đô đốc ra lịnh cho hai cánh quân tiến lên. Bây giờ ta sẽ đặc biệt nói về cánh quân


bên phải[2] và các hiệp tấn công của cánh quân này. Ðại đội số hai[3] tiến lên xung kích; gồm 80 người


tinh nhuệ xơng lên mở đường. Có một mơ đất duy nhất trong cáng đồng, cách tuyến địch độ 150 thước.


Ðại tá hải quân de Lapelin hướng dẫn cánh qn bên phải tiến lên vị trí mơ đất này một cách can trường.


Tại vị trí mơ đất qn lính bắt đầu nhận ra các hầm chơng đầu tiên cách đó 50 thước, tức là cách bờ
thành 100 thước. Các chướng ngại phòng thủ thứ yếu như hầm chông được phân bố hết sức là tinh xảo.


Sáu hàng hầm chơng có các rào cản ngăn cách, tức là có 7 hàng cọc nhọn tất cả; tiếp theo là 2 hào sâu


sát tường thành có đóng chơng tre vạt nhọn, nước và bùn ngập khoảng 3 chân[4], sau hai lớp hào là bờ
đất nghiêng dựa vào tường thành cắm chông nhọn tua tủa, trên đầu tường thành lại xếp một hàng bàn
chông rất chắc chắn; chà gai cắm trên đất phủ lên các bàn chông: tay chân mà đổ máu rồi thì hết leo
qua tường. Bờ tường thành cũng cao đến 15 chân[5]. Hầm chông sâu 5 chân[6]: nghi trang bằng phên



đan mỏng có trồng cỏ bên trên. Ðáy hầm cắm giáo hoặc cọc vót thật nhọn. Các chướng ngại này dùng


để chận thú dữ thì đúng hơn là chận người, nhưng quân sĩ ta phải vượt qua. Trong lúc quân tấn cơng mị
mẫm, chậm chạp, cẩn thận lần theo các miệng hầm chơng thì súng hỏa mai và pháo binh địch gia tăng


bắn gắt thêm. Trên khoảng đất một 100 thước trước bờ thành, tiếng khô khan của các cành cây bị gẫy


vang lên liên tục, đạn rơi rào rào như đang rung cành để nhặt quả hồ đào[7]. Nếu ai tưởng tượng nổi,


thì cứ tưởng tượng xem những người mang thang, câu liêm, sào móc phải cực khổ như thế nào, và lính
cầm súng phải vướng víu như thế nào, giữa nơi đầy cạm bẫy chướng ngại như thế, để vuợt tới đích mà
khơng chết, khơng thương tích. Phần lớn qn sĩ mang thang, vì chậm chạp hơn các người khác, nên
hoặc lọt hầm chông hoặc bị thương. Thang dùng để bắc ngang miệng hào làm cầu. Thang nhẹ làm bằng


tre, không nặng quá 30 cân[8]. Hầu hết thang bị gãy khi qn lính bước lên. Tuy nhiên cịn 3 chiếc thang


nguyên vẹn đem đến được vòng hào sau cùng. Nhưng khi đến được bờ đất dựa tường thành thì hai bên
lại đánh nhau kịch liệt nhất, chưa từng thấy giữa người Annam và người Âu châu. Quân sĩ nào mà leo lên


được tường thành, thì hoặc dùng thang, hoặc trèo lên vai các đồng đội, hoặc níu vào các cọc thấp của


các bàn chông, họ bị bắn ngay trước mặt, hoặc bị nồi lửa của địch ném phỏng mặt mày, hoặc bị giáo
đâm lọt ra ngoài. Những người trèo lên trước nhất trên tường thành, và trước khi bị đánh bật trở xuống,
đều thấy một cảnh tượng khác hẳn khi trèo lên tường ngày hôm trước: bên trong trên bệ đứng bắn đầy


lính phịng ngự, kẻ thì mang súng dài, kẻ thì mang giáo hay súng ngắn, rình qn ta bên ngồi trèo vào.
Ngay vào lúc ấy, tình thế trở nên nghiêm trọng, thì có lịnh ném lựu đạn. Hai mươi quả được ném ra, may


mắn đều tới đích vì tầm ném gần như là thẳng đứng và thật nguy hiểm. Ba lính thủy ném được móc câu



dính cứng phía bên trong của tường thành. Bọn quân Annam tháo gỡ không được vì vướng chà gai, bên
ngồi ta thấy giáo mác của họ tua tủa nơi này thì biết; chà gai làm chướng ngại cho ta thì bây giờ lại gây


trở ngại cho họ. Móc câu lại có tác dụng như cái bừa, phá ra được 3 lỗ hổng. Nhưng các lỗ xa nhau quá,


từ 10 đến 20 chân[9], mỗi lỗ chỉ đủ cho một quân lính chui qua. Ba quân lính chui qua trước, một thuộc


tàu <i>Renommée,</i> bị giết ngay; hai người kia thì bị thương. Cả ba bị xơ ngược ra phía sau và rớt xuống
hào. Quân lính khác theo sau, trèo lên tường rồi nhẩy xuống thềm đứng bắn bên trong, thềm thì trơn


trợt vì máu me linh láng. Dọc chân tường la liệt xác quân Annam bị giết vì mảnh đạn bộc phá hay bị bắn.
Quân Annam ngưng đánh vì thấy rào gai bị phá thủng, rút xa vài phút trước khi quân Pháp ập vào, họ


rút lui rất trật tự, thật chậm dọc theo bờ tường thành. Một nhóm qn lính của ta rượt theo, nhưng
khơng ăn thua gì; vì địch quân rút hết vào một lớp thành khác trước khi quân Pháp đuổi tới. Quân chiến


thắng liền vây quanh các vị chỉ huy của họ xem phải làm gì. Thật là đúng lúc; vì ta đang lọt vào một khu


chung quanh đều có tường đất chắc chắn; trận chiến chưa ngã ngũ, còn phải tấn cơng một đợt nữa, mà
ta thì khơng có chỗ nào để che núp trước một tuyến phòng thủ thật phi thường. Ðịch quân ngưng bắn


một lúc, để quân lính của họ vào hết trong lớp thành mới, rồi lại tiếp tục bắn hết sức là mãnh liệt. Giống
như ở Dettingue, ở Fontenoy[10], ta phải đánh nhau trên một mặt trận có tường kín mít chung quanh.
Ðể giúp theo dõi các giai đoạn của trận đánh ngày 25 tháng 2 năm 1861, ta cần hiểu sơ lược cách tổ


chức phòng thủ trong thành Ki-hoa. Cho đến giờ này, quân viễn chinh mới chạm trán với quân địch ở


một giới tuyến nhỏ của thành Ki-hoa chỉ dài 1.000 thước, tức là đồn Redoute. Thành Ki-hoa thật rộng lớn
xây đắp theo hình vng,(xem hình số 2). Mặt hậu tuyến của thành Ki-hoa có xây ụ phịng thủ nhơ ra ở



hai góc: mặt hậu tuyến là một thành hẳn hoi, xây kín, gọi là thành Giữa, dùng làm cổng sau cho cả


</div>
<span class='text_page_counter'>(32)</span><div class='page_container' data-page=32>

bảo vệ lẫn nhau. Tầm súng của địch trong thành có thể quét quân tấn công khi đến gần vùng ven biên,


nơi mà quân ta phải xông vào. Hơn nữa, như ta thấy, vùng ven biên được bảo vệ bằng hầm chông, hào
và bàn chông trong khoảng rộng 100 thước kể từ chân tường thành. Nhìn từ xa, ta thấy các ụ phòng thủ


và thành Giữa đều thẳng băng, khơng có góc nào nhơ ra hay thụt vào. Nhưng bên trong lại có một lớp
tường thẳng góc với lớp tường bên ngoài và ngăn thành Giữa ra làm hai khu; tường ngăn có bệ đứng và
có lỗ châu mai để bắn; lại có hào và một khoảng đất cắm cọc nhọn chéo nhau để bảo vệ thêm. Tường


thành bên trong có hai ụ bắn nhơ ra để làm ổ phịng ngự: trong các phúc trình của ta, vòng thành này ta


đặt tên là đường tuyến thứ hai để dễ gọi. Ngay ở góc nơi hai bờ tường nối với nhau, có một cửa lớn đầy


cạm bẫy, cửa giúp hai khu thông thương với nhau khi bình thường. Khu bên trái gọi là thành Quan, danh


xưng ta đặt ra vì tại đây có một đồn cố thủ với thật nhiều chiến cụ, đến mười lần nhiều hơn nơi khác.


Khu bên phải bố trí để chống trả tấn cơng nếu có từ khu bên trái sang, tức là có tường chắn và ụ nhọn


lồi ra để phịng thủ, ngồi ra cịn có một đồn cố thủ nằm trong góc.


Quân viễn chinh đụng độ phía bên phải, ở giữa rồi kế tiếp là phía trái của mặt phịng tuyến địch, một


phần qn trừ bị (thủy quân lục chiến) giữ trọng trách tấn cơng vị trí ụ phịng thủ phía trái, như vậy là ta
có tất cả 3 mũi tấn cơng. Nếu cả 3 mũi tấn công đều đạt kết quả, và quân thù cũng bị đánh gãy tại 3 nơi


cùng một lượt, và cũng kể như họ rải đều lực lượng, thì địch sẽ bị thua tồn bộ trong một lúc, thay vì


tháo lui từng chặn một, bên phải rồi bên trái. Nhưng sức đụng độ của cánh quân bên phải quá mạnh làm
cho tuyến địch bị thủng sau 15 phút. Hai mũi tấn công kia phải mất 3 lần lâu hơn[11]. Thủy quân đổ bộ
và lính Tây Ban Nha, cùng đánh bên cạnh nhau ngày hôm đó, đánh xong sớm hơn đươc nửa giờ, họ lọt


vào một vịng đai kín như lọt vào trong một cái bẫy vậy. Thái độ vững vàng của họ thật anh hùng, đã
làm chuyển hướng một phần đáng kể lực lượng địch và gián tiếp tăng cường đắc lực cho sức tấn công
của hai cánh quân ở giữa và bên trái.


Đô đốc cưỡi ngựa, tư thế rất lộ liễu, ngay trước dãy hầm chơng đầu tiên. Ðồn lính bộ hộ tống gần như


ai cũng bị thương. Cạnh bên ông là vị tham mưu trưởng[12] tổng hành dinh, đại tá hải quân Laffon de


Ladébat, và chỉ huy trưởng đại đội kỵ binh tổng hành dinh[13] de Cools. Quân trừ bị vừa đến tăng cường


cho cánh giữa, và nhất là cho cánh phải, vì địch gia tăng bắn riết tại đây[14]. Chỉ còn một nửa đại đội ở


lại coi chừng các túi quân trang; ba ổ súng cối miền núi đáng lý ra phải đâm thủng mặt trước của thành
Annam, thì lại khơng có đủ người sử dụng. Lúc này trận chiến trở nên ác liệt vì cả hai bên đều cố gắng ra


sức, một bên thì tấn cơng, một bên thì phịng thủ; tình thế thật nguy ngập. Cái vơ tình và thản nhiên của


tạo hóa chung quanh càng làm nổi bật sự hăng hái cực độ của con người, trận chiến cứ lộng hành như


một trận cuồng phong dữ dội dưới thái độ bình thản của bầu trời trong xanh[15]. Những tiếng thét
“Hồng đế mn năm!”[16]đã ngưng bặt từ lâu. Tiếng nổ lộp bộp của súng nhỏ bắn nhau, tiếng rít của
đại pháo, thỉnh thoảng lại có tiếng rên siết của một người sắp chết tất cả là những nhân chứng duy nhất
cho cái hăng hái cực độ của 25.000 người mà một vách tường đất mỏng manh đã chia làm hai phe, cái


vách tường với khoảng cách nhỏ nhoi mà người ta có thể đưa tay cho nhau, nhưng một bên thì muốn



trèo qua, một bên thì cản lại. Biết bao nhiêu bảng tuyên ngôn, bao nhiêu sức huy động con người và tàu
chiến, một khoảng đường cách xa 6.000 dặm, vàng bạc tiêu pha vô kể, để đi đến cái cảnh trước mắt


này. Bốn mươi lăm phút tấn công không kết quả: sau những phút đầu hăng hái, phản ứng của quân lính


trở nên yếu kém rõ rệt. Cường độ tấn cơng suy giảm mà cường độ phịng thủ thì tăng.


Trong khi ấy, khu bên trong thành nơi thủy qn và lính Tây Ban Nha lọt vào, tình trạng được quyết định
như sau: tất cả nỗ lực của đám quân này dồn vào hai vị trí chính: vị trí thứ nhất là cổng thành Quan, nơi
thơng thương giữa hai khu, vị trí thứ hai là khu ở giữa của bức tường chắn ngang, đầu tường bên trong
là ụ phịng thủ, đầu tường bên ngồi là cửa thành Quan. Nhưng hai chỗ dồn quân này hoàn toàn trống


trải, khơng có chỗ núp; vị trí và tầm đạn của địch tại đây đã nghiên cứu trước, vì thế trong cái khoảng


trống thảm thương này ngập tràn xác chết và bị thương. Một trong những cố đạo tuyên úy của quân
đoàn chạy tới chạy lui, hết người hấp hối này đến người hấp hối khác, cuối xuống họ và cầu kinh lẹ lẹ


bằng tiếng Latin. Chỗ này có kẻ bị thương cịn đứng vững, hoặc đã ngã xuống rồi nhưng cố đứng lên,


như đại úy hải quân de Foucault, trung úy hải quân Berger, các chuẩn úy Noël và Frostin; hạ sĩ hải quân


Rolland bị mắt cá chân bể nát tự băng bó lấy rồi vừa lết vừa chiến đấu; người lính thổi kèn Pazier, lúc
mới khởi sự tấn công đã bị trúng thương ngay trán, vẫn đứng dậy và thúc kèn tấn cơng. Cạnh đó trung


úy hải qn Jouhaneau-Laregnère té xuống, cả phần hông bên trái bị văng mất; những người chạy đến


cứu đều bị ông xua đi đánh tiếp và bảo cứ để mặc ông. Trong cái khoảng kín của khu này những người
Tây Ban Nha như Jean Laviseruz và Bernabe Fovella đã ngã xuống và sau này ai cũng biết đến, nhưng


</div>
<span class='text_page_counter'>(33)</span><div class='page_container' data-page=33>

Cái thảm kịch kể trên đến giờ phút này cũng chưa ngã ngũ, nhưng rồi cũng chấm dứt. Mỗi người chỉ huy



dẫn theo vài người tiến thẳng về phía tường chắn, băng qua hào, đến tận chân tường; đồng thời tại vị trí


thứ hai, tức cửa thành Quan, ta cũng khởi sự tấn cơng cùng một lúc với nhóm ở giữa bức tường. Đại úy


hải quân Jaurès, đệ nhị sĩ quan tùy tùng của đô đốc, tập hợp vài người gan dạ lấy búa phá cửa nơi góc
tường chắn; đồng thời thành giữa cũng bị công binh chiếm; thủy quân lục chiến, bộ binh, đại đội quân
địa phương[17] do vị tiểu đoàn trưởng là Deleveau huấn luyện, hăng hái tràn vào phía bên trái. Tất cả
quân Annam người nào chạy không kịp đều bị giết sạch; trận chiến chấm dứt bằng một cảnh tượng tàn
sát cuối cùng.


Trong trận chiến này, ta có 300 người bị loại khỏi vòng chiến. Mười hai bị giết tại trận. Nhiều người bị
thương không cứu được. Trung úy Jouhaneau-Laregnère thở hơi cuối cùng trong ngày hơm đó, sau 5


tiếng đồng hồ quằn quại đau đớn vô cùng. Trung tá Testard thuộc thủy quân lục chiến bị thương và ngày


hôm sau mới chết. Những người bị thương khơng ai kêu la, hay thỉnh thoảng mới có vài người rên siết.


Họ là những kẻ thật giản dị và đáng ngợi khen; vài người mà sự sống sắp từ giã họ mà họ không thốt ra


một lời nào ta thán hay hối tiếc đã chết ở một nơi xa xôi, xa quê hương của họ là nước Pháp. Sự can
trường tột bực đã cho thấy cái giá trị tinh thần của đạo quân viễn chinh Nam Kỳ[18].


Một trăm năm mươi đại pháo, hai ngàn súng nhỏ Saint-Étienne[19] tình trạng bảo trì hồn hảo; đầu đạn


tròn, đầu đạn súng cối chưa cho thuốc súng, hai ngàn ký thuốc súng; giáo, chĩa, kích cùng một số lớn


tiền đồng được tìm thấy trong thành. Súng tay thì bắn bằng đá lửa[20]; đó là súng từ thời đệ nhất đế


chế. Các quả đạn thuộc loại láng, bằng gang, đúc cũng khá tròn; thuốc súng cũng mịn, cán khá đều hạt.



Trong thành Ki-hoa không thấy có súng bắn bằng bùi nhùi lửa, cũng khơng có cung, khơng có nỏ. Ta cịn
tìm thấy một số bản đồ Annam; các bản đồ khá đúng giúp ta làm bản đồ trinh sát.


Danh sách quân lính trong đồn được cha Croc dịch ra; cha Croc thuộc Hội thừa sai[21], và là thông dịch


viên của vị tổng tư lịnh; danh sách cho thấy có 21.000 qn sĩ chính quy. Ngồi ra ta cịn biết có một
ngàn tá điền của quân đội, gọi là Don-dien[22]. Trong thành còn có thêm 10.000 nghĩa qn. Trong trận


tấn cơng chính thì đám nghĩa qn này đóng giữ ở mặt giữa và hai cánh của thành Ki-hoa. Nếu kể luôn


quân số đóng giữ tại các đồn trên thượng lưu sơng Don-nạ khoảng 15.000 người, về phía qn Pháp và
qn Tây Ban Nha hợp lại là 8.000 qn lính, thì ta có thể nói rằng trong ngày 25 tháng 2, 50.000 người
đã xáp chiến trong một khoảnh đất mà tiếng đại pháo có thể nghe thấy từ đầu này đến đầu kia. Quân
thù để lại 300 xác chết trong khu phía mặt và khu phía trái. Xác chết phần lớn là người Bắc Kỳ, khỏe


mạnh và to lớn hơn những người Nam Kỳ miền dưới; ngay khi đã chết, nét mặt họ vẫn hết sức là rắn rỏi.


Trận đánh ngày 25 khác hẳn với trận đánh ngày 24, về mặt chiến thuật và sức kháng cự của quân địch.


Pháo binh bắn 204 quả súng cối và 36 thùng đạn: “Ðây chỉ là một nửa số đạn đã được dùng so với ngày


hôm trước, nhưng trận đánh lại gay go hơn và hăng say hơn”[23]. Vì tánh cách mãnh liệt và sáng chói
của trận đánh này nên ta sẽ phân tích và nói đến nó nhiều hơn các trận đánh khác; ta nhận thấy trong


trận này pháo binh can thiệp quá ít trong một thời gian cũng q ngắn, phần tình báo cũng khơng đầy
đủ. Bên địch có khả năng chận đứng các mưu toan tấn công của ta.


Trong trận ngày 25, pháo binh bị nắng rọi vào mắt vì thế phải xoay trở trong điều kiện bất lợi. Trận đánh



ngày 24 cho thấy quân địch chịu đựng dễ dàng sức tấn công của ta ở khoảng cách xa nhờ vào công sự


của họ làm bằng đất và cành cây, không cao lắm nên không bị sập, đạn đại pháo không gây hề hấn gì,


đạn súng cối cũng chẳng cơng hiệu gì hơn. Vì vậy trong trận ngày 25, quân lính bắt buộc phải tiến gần
để yểm trợ pháo binh và phải chịu thật nhiều gay go. Ðịa thế khơng có một chỗ nào để núp. Tình thế


thật nguy hại: để tránh kéo dài tình trạng bất lợi vị tổng tư lịnh đã thu ngắn tác động pháo binh và xua
qn tấn cơng, vì ơng hồn tồn tin tưởng ở quân sĩ. Nếu áp dụng cùng một chiến thuật như ngày 24


biết đâu thương vong còn cao hơn nữa, vì ta khơng phá được các lỗ hở để tấn công.


Nhiều sĩ quan đã thám sát địa thế từ chiều ngày 24 tháng 2 đến sáng ngày 25. Tuy sự thám sát cịn
thiếu sót nhưng thật bổ ích. Thành Annam thấp và màu thì tiệp với màu đất, nên khơng thấy rõ các bố trí


bên ngoài bờ thành của hậu tuyến địch. Ðể quan sát cách bố trí bên trong thành Ki-hoa rộng lớn thì phải


có chỗ cao để nhìn vào, ta chỉ có thể trông vào một bụi cây lớn duy nhất để trèo lên nhìn, bụi cây nằm


lọt hẳn trong tầm bắn của địch vì gần ụ phịng thủ phía trái của thành. Xạ thủ địch đã núp trong đám


rừng nhỏ này để phục kích ta chiều hơm trước, và ta đã phải khó nhọc lắm mới làm yên được tiếng súng


</div>
<span class='text_page_counter'>(34)</span><div class='page_container' data-page=34>

vào phía này. Từ vị trí trinh sát trên cây ta thấy có một lớp tường phịng thủ bên trong thẳng góc với
tường thành phịng thủ bên ngồi, tường chia bên trong làm hai khu khác nhau; nhưng cịn một chuyện


nữa khơng đốn được là bức tường dùng để phòng thủ chống lại sức tấn công từ khu bên trái sang khu
bên phải hay từ khu bên phải sang khu bên trái? Dựa vào trại Quan ở khu bên trái để đoán là khu này
quan trọng hơn thế thôi. Chắc chắn là nếu ta biết trước tầm quan trong của khu bên phải, thì bắt buộc



phải tránh khu này mà chỉ đưa quân vào đánh ở giữa và ụ phòng thủ bên trái mà thơi,và trước đó thì
phải chiếm đóng khu làng dựa vào khu rừng có cây cao trước đã. Nhưng chiến thuật này chỉ đưa ra sau


khi trận chiến đã kết thúc, làm sao biết trước để thực hiện như vậy.


Chống lại ý kiến này, ta cũng có thể cho rằng, ngay như việc trinh sát được thực hiện đầy đủ và chiến


thuật vừa kể đem ra áp dụng, quân địch không bị lừa và phân tâm do thủy quân đổ bộ của ta và lính Tây


Ban Nha đánh lạc hướng trong suốt 30 phút, mà lại dồn hết sức kháng cự vào phía trái thì biết đâu sẽ
đẩy lui được quân ta[24] - và cũng phải hiểu rằng ngay cả việc trinh sát được thực hiện đầy đủ và chính


xác giúp quân lính hăng say vượt qua tường thành nhưng biết đâu họ khơng cịn đủ sức và bình tỉnh để


tiếp tục chiến đấu như họ đã làm? Ai mà chẳng thấy những người lính bộ hay lính thủy vừa vấp ngã vừa


lần mò từng bước trên miệng hầm chơng quanh co để tìm đường tiến lên dưới lằn đạn địch. Nếu trinh


sát thực hiện được và biết hết con số hầm chơng thì bất cứ ai cũng sẽ kết luận rằng cuộc tấn công không


thể nào thực hiện nổi. Nhưng sau cùng, trận chiến ngày 25 đã đem đến kết quả; mặc dù ta đã phải trả


một cái giá tương xứng cho sự thành công này, đó là cái giá của sự may mắn trong chiến tranh. Thật vậy


may mắn hay rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ trận chiến nào, chỉ cần một chút xíu biến cố cũng có thể
đem đến chiến thắng hay chuyển thành thất bại dễ dàng, chẳng hạn một cơn mưa rào bất thần, một bờ


dốc bị máu hoặc nước mưa làm trơn trợt, một người lính nào đó nhào lên để hy sinh và bị giết.


Vị chuẩn đô đốc Page, theo kế hoạch dự trù từ trước, đã đánh chiếm nội trong ngày 25 tháng 2 tất cả


các đồn trên thượng lưu sông Don-nạ và nhất là trên sơng Yen-lock[25]. Sư đồn đặt dưới quyền của


ơng gồm có các tàu <i>Renommée, Forbin, Monge, Avalanche</i>, pháo hạm số 31, tàu <i>Sham-Rock</i>, và
tàu <i>Lily.</i> Tất cả các tàu này đều bị trúng đạn của địch, có nhiều người chết và bị thương.


Vị tổng tư lịnh đóng bản doanh trong khu trú ngụ của Quan trấn thành[26]. Quân sĩ sau khi thu lượm các
túi đeo lưng liền được đưa vào trú ngụ trong các nhà của quân Annam trước kia, dọc theo một con
đường kéo dài cho đến phía bắc thành Ki-hoa. Một nữa số bị thương được đồn Caï-maï chuyển về nhà


thương Cho-quan. Số còn lại đưa vào một trạm cứu thương ngay trong thành Ki-hoa. Chiều hôm ấy, các
đồn chun chở lấy đạn ở đồn Cạ-mạ thay vào số đã bắn khi đánh nhau buổi sáng và lấy thêm 3.000


viên đạn nữa để thiết lập kho dự trữ trong thành Ki-hoa. Trong vài ngày mà quân viễn chinh đã tiến sâu
vào vùng đất địch, vì thế một kho đạn dược trung gian thật cần thiết.


Thái độ của người Annam trong ngày 25 thật là lạ, ta nhìn thấy được sự yếu kém về nghị lực của họ qua


nét mặt không tỏ lộ của người Á châu. Cứ chỗ nào phải đánh nhau mặt giáp mặt thì họ sợ hãi cho đến


nổi chỉ nghĩ đến chịu chết mà không chịu tiếp tục chống trả[27]. Làm sao giải thích được việc này, nếu


khơng cơng nhận đó là bản chất yếu kém về nghị lực của những giống dân phương Ðơng. Chỉ có vài


trăm người Âu châu mà cứ mỗi lần tiến đánh đều thắng hàng ngàn quân địch mặc dù rất dũng cảm, lần


nào cũng vậy. Sự thua thiệt về khí giới khơng đủ để giải thích điều này: vì rõ ràng là họ đã chấp nhận
đánh cận chiến, mà đánh cận chiến thì ưu thế của khí giới tối tân bị giảm đi; giết nhau sát ngay trước


mặt thì một khẩu súng cổ xưa loại loe nòng hay một khẩu súng trường loại cac-bin cũng không khác xa



bao nhiêu. Ngày 25 tháng 2, chuyện quân Annam không thối lui và hầu hết bị giết ngay trên thềm bắn là
một chuyện gần như ngoại lệ. Chỉ vì họ nghĩ rằng, thứ nhất là quân Pháp và quân Tây Ban Nha không


sao tràn qua được các hầm chông, kế tiếp là quân ta phải lui vì bị mâu và kích của họ đâm, hoặc bị bắn,


hoặc bị pháo lửa và nồi lửa của họ ném ra.


Các đội quân viễn chinh tỏ ra hăng hái và đoàn kết. Những ai đã dẫn họ tiến lên đều có thể tự nhủ như


Montluc[28]: "Tôi quay lại ba lần, đều thấy họ vẫn cịn theo tơi”. Lịng tin của họ lúc nào cũng nguyên
vẹn, hiểm nguy làm cho kỷ luật thêm chặt chẽ. Tiếc thay, giữa vô số chướng ngại vật và khói mù mịt từ


súng hỏa mai của địch, các vị chỉ huy chỉ thấy và công nhận thành tích của một số nhỏ những người


chiến đấu bên cạnh mình mà thơi. Quần áo của họ đâu có chứng tỏ gì là những người lính thủy và lính
bộ khác thường: cũng chỉ mặc áo len và đeo lon đã cũ nát[29]. Người chỉ huy không thấy hết các thành
tích của quân sĩ là một điều thật bi thảm mà tất cả mọi người đều phải gánh chịu, nhất là hàng binh sĩ


</div>
<span class='text_page_counter'>(35)</span><div class='page_container' data-page=35>

Đô đốc cảm ơn từ cấp bực cao nhất đến cấp bực khiêm nhường nhất trong quân đội về sự hào hùng và
hy sinh của họ, cho đến cả tánh mạng của họ. Trong cùng một gian phòng, tất cả các cấp bậc đều họp


chung với nhau, đô đốc ngỏ lời công khai ngợi khen và tuyên dương công trạng một vài người. Tuyên


dương công trạng là phần thưởng coi như cao quý nhất từ thời kỳ đệ nhất đế chế. Khơng có hn
chương nào sánh bằng tun dương cơng trạng. Dù ta có ca ngợi q lố đi nữa thì cũng khơng làm mất


cái giá trị vĩnh viễn của sự tuyên dương, nó làm xúc động con tim mỗi người và làm sống dậy những kỷ


niệm của một trận chiến máu lửa mà họ đã dấn thân. Trên cái mảnh đất xa xôi này, huân chương nào



mà lại không xứng đáng để được thêm lời tuyên dương! Ai được tuyên dương đều nghĩ đến rồi đây cha


mẹ mình và bạn bè mình sẽ biết đến cơng trạng của mình. Họ sẽ quên hết hiểm nguy và gian khổ đã trải


qua; rồi bỗng nhiên cái khoảng không gian cách trở giữa người lính thủy, người lính bộ nơi cái xứ Nam


Kỳ xa xơi này và q hương họ hình như đã vụt biến mất. Cái nhìn trìu mến của nước Pháp bên cạnh họ
đã an ủi họ[30].


[1] Không thấy tác giả tả đồng phục của quân viễn chinh, áo len và áo vải thơ ở đây có thể chỉ là cách nói tâng bốc, của tác giả. Viết
hay lắm, tuy có hơi rỗng và rẻ tiền. - ND.


[2] Có lẽ tác giả thuộc cánh quân này? – ND.
[3] Thủy quân đổ bộ, đại úy Proubet. - TG
[4] Khoảng 1m . - TN


[5] Khoảng 4,9m. - TN
[6] Khoảng 1,6m. - TN


[7] Quả noix (tiếng Pháp), quả walnut (tiếng Anh). - ND.
[8] 1 cân Pháp = 0.5 Kg. – ND. Tức không quá 15 Kg. - TN
[9] Khoảng 3 đến 6,5m. - TN


[10] Các trận chiến trong lịch sử Pháp, trận Fontenoy xảy ra ngày 11 tháng 5 năm 1745, quân Pháp đánh thắng liên quân Anh – Hòa
Lan và mở đầu chiến dịch chiếm nước Bỉ. Trận đánh Dettingue người dịch không biết. - ND.


Trận Dettingue là trận đánh xảy ra ngày 27 tháng 6 năm 1743, giữa quân đội của Pháp dưới sự chỉ huy của công tước Louis de
<b>Noailles (1713–1793, được phong Thống chế Pháp quốc năm 1775) đã đánh thắng liên quân do nước Anh cầm đầu. - TN </b>


[11] <i>“Khi tiến đến chân của bờ đất dựa vào chân tường, thì sự chống cự bên trong trở nên càng lúc càng mãnh liệt; thang của ta bắc </i>



<i>lên liền bị quân lính bên trong dùng kích mà hất ra, sức bắn của địch tăng gấp đơi; ta bắt đầu thất vọng vì khơng dựng thang lên </i>


<i>được, cơng binh thì mới bắt đầu đào lỗ ở tường thành, ngang với tầm bệ đứng bên trong; vị chỉ huy cơng binh vì thấy sức tấn công </i>


<i>kéo dài suốt 45 phút đã bắt đầu suy yếu liền cho người đi xin thêm hai đại đội tăng viện (người này là đại úy hải qn Rouvier), vừa </i>
<i>lúc đó thì vài người đã trèo qua được đầu tường. Khu có tường bao quanh này chính là hậu tuyến của cả hệ thống nội thành bên </i>
<i>trong, và cũng là nơi trú ngụ của quan trấn thủ; ta đánh chiếm khu này. Nhưng trong khi đó ta lại mù tịt về số phận của cánh quân </i>
<i>bên trái; cánh quân này sau khi phá được đường tuyến bên ngồi của địch, thì lọt vào vịng thành bên trong vừa ngay tầm bắn của </i>
<i>quân Annam đứng trên bệ dọc theo vách thành Quan xây thẳng góc với tường thành bên ngồi, họ bị qn Annam bắn thẳng ngay </i>


<i>mặt...” </i>


(Trích phúc trình của tiểu đồn trưởng công binh Allizé de Matignicourt báo cáo liên hệ tới cánh quân đánh vào giữa trong ngày 25
tháng 2 năm 1861). - TG


[12] Nguyên văn bản dịch ghi “chỉ huy tổng hành dinh”. - TN
[13] Nguyên văn bản dịch ghi “chỉ huy tư linh đại đội kỵ binh”. - TN


[14] Ðại đội 6 và 7 quân đánh bộ tăng cường cho cánh quân bên trái; đại đội 8 phụ trách ba khẩu sơn pháo bên cánh phải. - TG
[15] Giữa cảnh hiểm nguy và sắt máu mà tác giả vẫn thấy được cái vô tình và thản nhiên của Tạo hóa và vẫn cịn trầm tĩnh để mượn
cái tương phản đó thì thật là hay lắm, xin phép được ngợi khen. - ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(36)</span><div class='page_container' data-page=36>

[17] Ðại đội quân địa phương gồm 80 người Annam, cho theo đánh chung với thủy quân lục chiến, tỏ ra rât hữu hiệu. - TG


[18] Trung úy hải quân Laregnère bị bắn văng mất hông bên trái. Khi đem đến ban cứu thương, người ta ném một tấm ra trải giường
lên người ông để ruột gan khỏi lộ ra ngồi. Ơng này đau đớn q chừng, thật tội nghiệp! Ơng há hốc miệng; khơng nói gì cả, nhưng
mặt đầy nét lo âu, nhăn lại như cố kềm hãm những tiếng kêu thảm khốc chỉ chực vọt từ trong miệng ra.


Trung tá Testard khi đem đến trạm cứu thương thì vùng dậy, đứng lên mà đi, trần truồng như nhộng, miệng thốt ra những lời bực bội


“Coi nè! Cái gì thế này? Tao thấy cái đầu nặng chịch, có cái gì trong đầu tao vậy?”. Rồi ông ta lấy tay ôm đầu một cách tuyệt vọng.
Một viên đạn chui vào thái dương bên trái của ơng ta, sâu cỡ nửa ngón tay (ngón = đơn vị đo chiều dài độ 27 mm. - ND). Người lính
hầu của ơng kéo ơng ta về giường nằm; và cứ mỗi lần về giường, ông ta lại đứng lên. Một bác sĩ giải phẫu, đứng ở góc phịng, chỉ biết
nhìn con người nửa sống nửa chết đó đang nói lảm nhảm, vài giờ nữa thì sẽ hết nói. Khơng làm thế nào mà băng bó cho ơng ta được,
dù có băng bó cũng chẳng ích lợi gì. Hơm sau thì ơng ta chết, đúng ngày 26 tháng 2, khoảng 3 giờ sáng ở nhà thương Cho-quan. Cho
đến phút cuối cùng, ông ta vẫn khỏe, mặc dù viên đạn trong đầu và thêm một vết thương ở vai.


Một thương binh khác, bị một viên đạn vào bụng, vẫn ngậm ống píp thản nhiên. Khi ông gặp ông cố đạo tuyên úy đi ngang, ơng liền
nói với ơng này rằng: “Ơ! Tơi hả, này ơng linh mục, tơi khơng cịn lâu nữa đâu. - Vậy thì anh bạn ơi, anh bạn có muốn chuẩn bị
khơng? - Sẵn sàng”. Ơng này liền xưng tội và một giờ sau thì chết. Ðó là một người thuộc giới bình dân, ăn nói bộc trực và tự nhiên,
một kẻ mà ta thường gặp nơi miền trung nước Pháp. - TG


[19] Một tỉnh ở miền trung nước Pháp nổi tiếng về kỹ nghệ làm sung. - ND.
[20] Súng hỏa mai. – ND.


[21] Nguyên văn bản dịch là “Dòng truyền giáo xứ nước ngoài” (Société des Missions Etrangères). - TN
[22] Tức Đồn điền. - TN


[23] Báo cáo của trung tá pháo binh đánh bộ Crousat. - TG


[24] Vị chỉ huy công binh, khi thấy sức tấn công kéo dài trong gần 45 lăm phút đã giảm... (Xem báo cáo của pháo binh ngày 25 tháng
2 năm 1861)


[25] Có lẽ là sơng Vàm Thuật ở Gị Vấp. - TN


[26] Giữa khu này có một cái hồ, trong hồ có một con cá sấu khá lớn ni làm kiểng. - TG


[27] Dù sao tất cả đã đi vào lịch sử, tôi cũng không muốn tranh luận với một người đã nằm xuống với lịch sử, chỉ tiếc rằng tác giả cho
thấy quá nhiều mâu thuẫn trong sự xét đoán và quá vội vã trong những kết luận của mình? Tác giả vừa cho biết xác quân lính trong
đại đồn Chí Hịa nét mặt vẫn cịn rắn rỏi. - ND



<b>[28] Blaise de Montluc (c. 1502 - 1577), thống chế Pháp, trong quân ngũ của hai i hong : Franỗois nht v sau ú hong </b>
đế Henri đệ nhị. - ND.


[29] Tác giả ca ngợi hơi nhiều một chút, có thể hóa ra quá lố chăng: xứ Nam Kỳ trời nóng lắm có lẽ quân Pháp không mặc áo len đâu.
- ND


[30] Khi thấy tác giả dài dòng về vinh dự của người lính được tun dương, tơi cũng nghĩ tới cơng trạng của tác giả. Trong một phần
ghi chú trước đây, tác giả tả những người bị thương ở Chợ Quán: trung úy Laregnère bị đổ ruột người ta dùng một tấm trải giường để
che, trung tá Testard ôm đầu trần truồng như nhộng, một người lính bị một viên đạn trong bụng nhưng vẫn ngồi hút thuốc..., đọc
đoạn ghi chú này tôi đã lo cho tác giả, có lẽ chính ơng cũng bị thương? Khi tìm trong bảng tun dương cơng trạng, quả đúng tơi thấy
có một người tên Pallu, bị thương. Có lẽ chính là tác giả quyển sách này.


</div>
<span class='text_page_counter'>(37)</span><div class='page_container' data-page=37>

<b>CHƯƠNG VI</b>


<b>Ðề cương:</b>




<i>Quân viễn chinh đánh chiếm các vị trí Tong-kéou, Oc-moun[1], Rach-tra[2] và tiến lên tận Tram-ban. </i>
<i>Toàn vùng bị chiến hạm và các đạo quân lưu động của ta lục soát. Trinh sát sơ khởi về Bien-hoa và </i>
<i>My-thô. </i>




Tầm quan trọng của chiến thắng ngày 25 phải đến hôm sau mới biết hết. Ngày 26 khi vừa hừng đông,


một đội pháo binh trang bị đại pháo nịng 4 yểm trợ một đồn thám sát đi sâu vào thành Ki-hoa, suốt


chiều dài của thành đến tận kinh Avalanche. Bốn khu công sự của Ki-hoa vừa mới vừa cũ đều lọt vào tay


ta cùng một lúc. Quân Annam bị đánh bật khỏi khu thành Quan liền theo các ngõ tắt chạy về đồn


Avalanche của họ dưới hỏa lực đại pháo ta bắn ra từ các chùa. Vị trí của đồn Avalanche nằm sát Sạgon,
phía tây-bắc của thành phố; chung quanh là nước và sình lầy, có cắm chơng bao bọc; cách phịng thủ


khá rắc rối. Nhưng từ đồn Avalanche, quân Annam lại hối hả bỏ chạy, băng ngang vùng đầm lầy bằng


hai lỗ trống trong bụi rậm giống như đường đi của thú dữ, quân Âu châu đuổi theo trong đầm lầy thật


khó nhọc, vừa thương tích vừa lạc đường. Sau cùng quân Annam đến được con đường giám mục Adran,


tại đây họ tổ chức lại, chuyển việc tháo chạy thành rút quân trong trật tự, tiến sâu vào vùng lãnh thổ của


họ, qua các ngõ Tong-kéou, Oc-moun, Tay-theuye[3]. Họ đem chôn hầu hết các cỗ súng chiến thuật


trong các cánh rừng thưa, có ghi dấu hẳn hoi để sau này sẽ đào lên[4]. Con đường Sạgon được tự do
lưu thơng trở lại, ta cũng dẹp bỏ kho súng Caï-maï.


Trong những ngày 25, 26, và 27 tháng 2, quân ta dồn sức đắp một con đường di chuyển cho pháo binh
trên vùng đất khơ phía tây thành Ki-hoa. Hầm chơng tại đây đều được lấp đi; bàn chông, cọc nhọn, chà


gai đều được tháo bỏ. Công việc không phải dễ; người Annam đào xới trong mùa mưa thì đất mềm, nay
đất khô cứng dưới ánh nắng mặt trời, ta cuốc không nổi. Qn lính vừa làm vừa cố tìm cách nghỉ ngơi,


họ vừa phải làm đường, làm trại, lại phải trinh sát Saïgon và Tong-kéou (thành phố thuộc xứ triều cống


cho Annam). Tong-kéou là thành phố đầu tiên trên đường đi sâu về vùng phía bắc (hướng bắc-tây-bắc).


Theo lời khai của tù binh thì vùng này rất nhiều gạo và tiền đồng, có ba khu thành phịng ngự, rào tre



thưa hơn so với thành Ki-hoa, nhưng bảo trì tốt đủ sức kháng cự. Các thành này cũng là kho của quân


Annam.


Giữa Tong-kéou và thành Ki-hoa là một vùng đồng ruộng mênh mông, thỉnh thoảng mới thấy vài khu


vườn trồng thuốc lá; cây thuốc lá nhỏ chỉ cao độ hai chân, khi ta lấy tay vị nát lá thì ngửi thấy một mùi


thơm rất mạnh; lá khô rơi xuống thành những vệt nâu trên mặt đất. Vùng này có sơng Tam-léon[5] chắn
ngang đường đi: cây cầu bắc ngang sông đã bị phá xập; nhưng chếch về phía trái thì mặt đất lại cao lên,


do đó chỉ cần đi xéo qua trái một chút là có thể vượt qua sơng. Cánh đồng khơ ráo, di chuyển dễ dàng
trong mùa khô, nhưng qua mùa mưa thì ngập lụt, chỉ cần nhìn những hố do nước đào xới cũng biết; hố


không sâu cũng không rộng lắm không làm cản trở cho người và ngựa. Ðịa thế đất đai được thám sát


ngày 27 tháng 2 cho thấy pháo binh có thể di chuyển dễ dàng; vì thế mà vị tổng tư lịnh đã phát lịnh trực


chỉ Tong-kéou ngay ngày hôm sau, tức 28 tháng 2, trước khi trời sáng hẳn. Ðoàn quân viễn chinh tiếp


tục chinh phạt xa hơn để giúp đơ đốc Page dễ dàng khống chế tồn vùng thượng lưu sơng Don-nạ. Ta
có thể nghĩ rằng qn Annam rút về Tong-kéou, dựa vào sơng Don-nạ để tạm làm đường rút lui về mặt


bắc đồng thời dựa vào các tỉnh miền nam để lập lại thế kháng cự giống như thành Ki-hoa. Nhưng nhìn kỹ


ai cũng thấy là họ vừa thua trận một cách nặng nề thảm thương và khơng cịn tinh thần nữa.


Pháo binh xuất trại trước, vào lúc 6 giờ sáng, đã gặp ngay vài rủi ro (một xe đạn lọt xuống hầm chông);
pháo binh mang theo 4 đại pháo 12, 3 đại pháo nịng 4 có khía, 5 ổ súng cối miền núi và hỏa tiễn, tất cả



xếp thành đội ngũ ngay bên ngoài thành. Kế tiếp là bộ binh ra theo bằng một cửa nhỏ đục ở bờ tường


thành. Xong xuôi tất cả đạo quân lên đường đúng 6 giờ 30 sáng. Pháo binh ở giữa; bên phải pháo binh
là lính đánh bộ Pháp và lính đánh bộ người Tây Ban Nha; bên trái là lính thủy đánh bộ. Thủy quân làm
trừ bị.


</div>
<span class='text_page_counter'>(38)</span><div class='page_container' data-page=38>

phía bên phải, gần một đám cây có thể nhìn vào thành. Lính phóng hỏa tiễn thì nhắm vào các cơng sự


lớn trong thành; đại pháo 12 hướng vào khu pháo đài; đại pháo nịng 4 và hai súng cối thì bắn vào bất


cứ lỗ châu mai nào có đạn đại pháo của địch bắn ra. Đơ đốc, vì muốn tránh bớt cho qn sĩ vai trị tiến


cơng khó nhọc mà họ đã chịu đựng trong ngày 25, nên đã thay đổi chiến thuật dựa theo địa thế và kiến


trúc của công sự mới này. Công sự ở vị trí cao lại có kho và pháo đài rất lớn, vì thế đơ đốc ra lịnh cho


pháo binh giữ vai trị chính. Pháo binh tiến lên trước, từng khẩu một, ngựa kéo súng phóng nhanh theo


nước kiệu: dừng lại từng trạm 800, 600 rồi 200 thước. Súng của pháo binh ta bắn ra rất chính xác và
mãnh liệt, thế mạnh hơn quân địch thấy rõ, mỗi súng bắn đúng 50 quả rồi ngưng. Pháo binh địch bắn lấy


lệ để che cho việc rút quân, họ có khoảng 8.000 quân lính. Quân sĩ của họ tiến theo pháo binh từng đợt


một và dừng lại tại một đồn khác, cạnh bên có một ngơi làng.


Tong-kéou bị ta lấy mà khơng có thiệt hại gì nhiều. Tuy vậy cũng có một số khá lớn quân sĩ bộ binh bị
trúng đạn địch, bị thương hoặc bị trầy xướt. Ngay khi khởi đánh, trung tá Crouzat bị thương nặng ở đùi
vì khơng may do tai nạn gây ra: ngựa ơng đang cưỡi nghe tiếng rít của hỏa tiễn hoảng sợ mà nhẩy dựng


lên, hất ông ta ngã xuống đất.



Thành phố của xứ Triều cống là kho quan trọng của quân Annam. Ta chiếm được ba thành, thu được


1.400 tấn gạo, vô số thuốc súng, đạn pháo, lao, giáo, súng cỡ nhỏ, 20 đại pháo đúc bằng gang nòng 16,
quân trang và tiền kẽm mà địch chưa kịp đốt dây buộc, tiền kẽm mất dây xỏ xâu thì cũng mất giá trị đi


nhiều.


Quân Annam vẫn theo thói thường mang theo hết những người bị thương, phần lớn các thương binh là


từ thành Ki-hoa đưa về. Những căn nhà ta chiếm tường còn bê bết máu.


Xa hơn Tong-kéou là Oc-moun, một vùng trồng trầu và buôn bán trầu khá quan trọng, trầu là một loại
dây leo lớn cho lá gọi là trầu. Kế tiếp Oc-moun là Rach-tra và Tay-theuye. Vào 3 giờ chiều, quân vẫn tiếp


tục đi. Ðường đi dẫn thẳng tới Tay-theuye; Tay-theye nằm lọt vào một vùng cây có tầm cao trung bình,
lá cây khơng bóng lại úa, màu hung đỏ giống như tôn bị sét rỉ, chẳng thấy gì là vẻ xum xuê của cây cối


miền nhiệt đới. Chỉ có sức nóng của mặt trời thì giống như ở Ấn Độ; nóng như thiêu đốt. Con đường


mòn, chỗ rộng chỗ hẹp, đầy cát thật mịn, thật nhiều và nóng bỏng. Qn lính mệt lả cứ đi bừa khơng


thẳng hàng thẳng lối gì hết. Vào giờ này, mọi người đã kiệt lực, thân xác nặng như chì; ai cũng muốn


dừng lại mà ngồi xuống nghỉ. Trong ngày hơm đó, một số qn sĩ của ta đờ đẫn, ngất ngư vì nóng bức,


một số phát điên.


Hai bên vệ đường có vài căn nhà mà quân Annam đã phá sạch trên đường rút lui. Dân chúng ẩn nấp



trong những cánh rừng thưa cách đó vài trăm thước. Thỉnh thoảng từ trong bụi rậm họ ló đầu ra nhìn rồi


kinh sợ mà ù té chạy. Ở ngưỡng cửa mỗi nhà đều có một lu bằng đất nung màu đen đựng đầy nước. Vì
khát chẳng ai nghĩ tới thuốc độc, đều tranh nhau mà uống. Ðến tối, có vài người nơng dân bớt sợ đến


gần và làm quen với ta, họ đề nghị giúp qn ta khiêng những người lính vì nóng ngã lăn ra bất tỉnh ở
hai bên đường.


Vào khoảng 5 giờ chiều, các toán quân dẫn đầu tràn vào thành Tay-theye đã bỏ trống. Trong thành có
tiền bằng bạc, một số thật lớn tiền đồng và ba khẩu đại pháo. Thành này canh giữ con đường mà quân
lính vừa đi qua, tiếp nối với con đường này là một đường đê dẫn tới ranh giới Cao Miên. Một khẩu đại
pháo đặt thẳng trước mặt biểu dương tầm quan trọng của vị trí mà ta vừa chiếm. Nơi này cũng là ranh
giới của khu rừng Oc-moun. Ở bìa rừng có một vùng đất cao và phẳng, có vài cây lớn. Quân ta quyết
định đến cắm trại tại chỗ này. Xa xa là một vùng đầm lầy xa tít tới chân trời, những cánh đồng hoang vu


của vùng Sologne[6] cũng không đến nỗi buồn và hiu quạnh như nơi đây. Mười bốn thuyền chiến của
địch nằm phơi khô trên mặt đất cạnh một bờ đê từ ngày ta đánh chiếm Sạgon năm 1859 vẫn cịn đó. -
Ðịch qn rút đi khơng để lại một dấu vết nào khác ngồi thi hài của 6 nơng dân Annam bị chặt đầu vài
giờ trước đó, xác vẫn cịn mang gơng. Sau này[7]người ta mới biết rằng những kẻ bị khổ hình đó là


những người theo Thiên Chúa giáo[8]. Ngày hôm sau người đầu thú kéo đến rất đông; các làng dọc theo


hữu ngạn sông Don-nạ và hai bờ sơng Vạ-co xin ta bảo trợ. Tàu <i>Dragonne, ngược sông Va</i>ï-co đông đến


thẳng Tay-ninh, sát với biên giới Cao Miên. Tàu <i>Dragonne</i> kiểm soát vùng lãnh thổ Annam nằm giữa hai


sơng Don-nạ và Vạ-co. Như thế là toàn tỉnh Gia-dinh đã thuộc vào tay ta rồi, ta chiếm hết thành quách,
thu hết súng ống và lương nhu.


</div>
<span class='text_page_counter'>(39)</span><div class='page_container' data-page=39>

mát thành từng nhóm nhỏ, lội hoặc dùng thuyền vượt qua sơng Don-nạ hoặc cả hai sơng Don-nạ và


sơng Vạ-co; một số về Bien-hoa, một số đổ xuống các tỉnh miền nam là My-thô và Vinh-long. Vị tổng chỉ


huy Annam[10] bị thương nặng ở tay trốn về Bien-hoa.


Có thể nói rằng quân Annam đã bỏ lọt vào tay ta tỉnh trù phú nhất của Nam Kỳ miền dưới. Ta lợi dụng


tình thế này ngay tức khắc. Các cánh quân lưu động và tàu chiến đổ đi lục xét khắp nơi trong xứ, từ phía
đơng, phía tây đến phía bắc. Chỗ nào cũng thấy người Pháp tra xét. Nhờ thế mà ta biết thành
Tay-theuye có hình tam giác, góc nhọn lớn nhất là ụ phong thủ hướng về phía bắc, góc tây nam có đầm lầy


bao bọc kéo dài cho tới sơng Vạ-co đơng.


Ngày 3 tháng 3, có một bức thư đến tay vị chỉ huy trưởng cho biết người Annam tìm cách tập trung trở


lại và dùng Tram-ban làm điểm kết hợp; năm 1859 họ đã từng dùng Tram-ban làm trung khu của họ khi
đánh với ta. Tức thời tiểu đoàn trưởng Comte và một đội biệt phái rất hùng hậu được gởi đi ngay chiều


hơm đó. Ơng ngủ lại Rạch-tra (Tay-theuye) và sáng hơm sau thì đến Tram-ban, nơi này chỉ cách Cao


Miên có 30 dặm. Ơng dẫn theo bộ binh, qn đánh bộ Tây Ban Nha, một nửa giàn pháo nòng 4, lính
phóng hỏa tiễn, và một đội cơng binh. Nhưng thật ra quân Annam đã hoàn toàn bại trận; ở Tram-ban
không thấy voi trận, không thấy xe vận chuyển, chẳng có kho hàng và qn lính gì cả. Trước khi rời nơi


này, vị chỉ huy Comte đã liên lạc với thuyền trưởng tàu <i>Dragonne</i>đang hoạt động trên sơng Vạ-co đơng.


Tàu bè lớn và chiến hạm của ta tấp nập trên ba con sông, rộng, chắc chắn và sâu, đổ từ phía bắc xuống;


vùng lãnh thổ nằm giữa ba con sơng này có nhiều rừng và ruộng là tỉnh Gia-dinh cịn gọi là tỉnh Sạgon.
Chuẩn đơ đốc Page giữ trọng trách kiểm sốt sơng Don-nạ và phong tỏa Bien-hoa. Trung tá hải quân



Bourdais kiểm soát hai nhánh sơng Vạ-co và canh chừng kinh Bưu điện[11]. Ðích thân ơng thì hiện diện
trên sơng Vạ-co tây với các tàu <i>Monge</i> và <i>Lily</i>đặt dưới quyền sử dụng của ơng. Trên sơng Vạ-co đơng
đổ lên tới Cao Miên thì có pháo hạm <i>Alarme</i>, pháo hạm này và các tàu của trung tá Bourdais hai bên chỉ


cách nhau bằng một dãi đất khá hẹp.


Phó đơ đốc Charner ra lịnh cho các vị chỉ huy thám sát trên bờ cũng như dưới nước phải tiếp xúc với các
trưởng làng và chánh tổng để chính thức đưa cho họ bảng tuyên cáo mang theo, ông tiếp lời và huấn dụ
như sau:


“Các ơng nói với họ rằng: luật pháp và thông lệ của họ sẽ được tôn trọng; họ có thể canh tác và bn
bán tự do, mang sản phẩm về Saïgon. Họ nên tin chắc rằng thời kỳ các quan chức trước kia đã chấm dứt
và thay vào đó là quan chức người Pháp, chúng ta sẽ hồn tồn che chở cho những ai cơng nhận uy


quyền của chúng ta và phục vụ trung thành chúng ta.


“Ðể xóa bỏ hết tàng tích cũ, đi tới đâu nếu các ơng thấy đồn lũy thì san bằng hết, các ông phải huy động


dân chúng sống trong vùng, đơng chừng nào hay chừng đó, và bắt tự tay họ phải phá hủy các thành


đồn. Các ông phải chống thẳng tay không thương tiếc bọn thổ phỉ trên bộ và quân cướp hăm dọa thuyền
bè trên sông. Nhưng các ông để yên các thuyền bè đánh cá và buôn bán. Sau hết là các ơng thu góp hết


trên tồn xứ các tài liệu liên hệ đến thể chế, luật lệ, tình trạng phịng thủ, sức sản xuất và phương tiện
thương mại của họ.”


Thành Tay-ninh gần biên giới Cao Miên được sửa chữa lại, mở rộng thêm và trang bị thật mạnh súng ống


và chiến cụ. Mối liên hệ giữa ta và Cao Miên được vạch ra. Nước Cao Miên giáp với Nam Kỳ miền dưới về



phía bắc và phía tây. Nước Cao Miên liên lạc thường xuyên với ba tỉnh Annam là My-thô, Vinh-long,
An-gian nhờ vào con sông lớn mang tên là sơng Cambodge. Người Cao Miên vẫn cịn cãi vã, tranh chấp, và
luyến tiếc xứ Nam Kỳ miền dưới. Vì lẽ đó mà vị chỉ huy trưởng khơng từ nan điều gì để biến xứ Cao Miên
thành một đồng minh. Ơng nói với vị sĩ quan đầu não cầm quyền chính trị ở Tay-ninh do chính ông bổ


nhiệm rằng:


“Ông giữ trọng trách về chỉ đạo chính trị trong mọi việc, nhất là những gì liên hệ với người Cao Miên.
Ông nên dùng lời hứa hẹn, giúp đỡ và bảo vệ tất cả những người dân Miên nào hiền hậu sống trên lãnh
thổ của ta, ông nên hội ý với vị chỉ huy quân sự của ta ở Tay-ninh để thực thi các việc này. Ơng nên tìm
cách tái lập ban giao tốt với các quan chức Cao Miên. Ơng nói với họ rằng chúng ta đã giữ thế không gây


chiến với họ và chúng ta vẫn muốn duy trì tình thế này. Tóm tắt là ơng phải hết sức nỗ lực để tạo lập


yên ổn và an ninh chung quanh ông, ông phải nhớ báo cáo thường xuyên với tôi về tình hình liên quan


đến vùng thuộc địa mới thành hình của ta.”


</div>
<span class='text_page_counter'>(40)</span><div class='page_container' data-page=40>

“Các biến cố tại Nam Kỳ mới đây có lẽ Hồng thượng đã được thơng báo. Hồng thượng biết rằng các
đạo qn Pháp - Tây Ban Nha đánh đuổi người Annam ra khỏi chiến lũy Ki-hoa; Saïgon đã được giải tỏa,


quân thù Annam tan rã bỏ chạy kắp nơi. Dân chúng trong vùng cũng như những nơi xa đều kéo đến xin


quy phục và chấp nhận sự bảo hộ mà chúng tôi ban ra cho họ.


“Ý đồ của nước Pháp là bảo toàn lâu dài đất đai đã xâm lược, tạo dựng ở Nam Kỳ miền dưới một thuộc
địa và mang tới đó những lợi ích của văn minh Âu châu.


“Nước Cao Miên vẫn giữ những mối liên lạc thân hữu với nước Pháp. Tôi hy vọng rằng những liên hệ



giữa chúng ta càng ngày càng nhiều và càng trở nên thắm thiết hơn.


“Với danh nghĩa là chỉ huy trưởng của các lực lượng quân đội trên đất và trên mặt biển tại xứ Nam Kỳ, và


là đại diện của nước Pháp, tơi xin cam kết với Hồng thượng hảo ý của chúng tôi về vương quốc Cao
Miên và tơi xin đáp lại những đề nghị hịa bình và hữu nghị mà Hồng đế vua cha của Ngài từng đưa ra
trước đây, thưa Ngài, cho vị đại diện của Hồng đế cao cả của cơng dân Pháp tại Sạgon.


“Tơi cũng hết sức vinh dự báo cho Hồng thượng rõ tơi có ý định, trong một ngày gần đây, sẽ đem quân
đánh My-thô và chiếm cứ vùng này, điểm phòng thủ cuối cùng của người Annam về phía Cao Miên.
“Vị chỉ huy hộ tống hạm đưa tin của Hoàng đế và Hoàng tộc quốc gia chúng tôi là tàu<i>Norzagaray</i>, sẵn


sàng liên lạc với Hồng thượng, nếu Hồng thượng chuẩn y.
“Xin kính dâng Hồng thượng...”


Sự vận động này đã thành công mỹ mãn. Từ đây về sau, nước Cao Miên không bao giờ làm việc gì gây
bối rối cho sự xâm lược của Pháp. Nhà vua đáp lại bằng các lễ vật và bằng cách gởi sang một ban sứ


thần đáng kể (gồm 80 người), đi từ Kom-pot đến Saïgon bằng đường bộ. Sau hết cũng nên nói rõ là các
tin tình báo trước đây chuyển cho chính phủ Pháp hồn tồn sai, tại Cao Miên người ta khơng nghe nói gì
hết về đạo quân Xiêm 60.000 người, đạo quân này nếu có thật sẽ là một lực lượng tiếp tay giúp ta chống


lại người Annam. Vài tháng sau, có một kẻ ngấp nghé cướp ngơi đã dấy qn chống lại nhà vua đang trị


vì tại Cao Miên[12]. Ðường lối chính trị của đơ đốc Pháp, trong tình thế này cũng dễ hiểu; trừ một vài


người vụ lợi ra cịn phần đơng, ngay cả đến hơm nay, vẫn coi giải pháp của ơng là hồn hảo nhất: tức là
khi nào những người lãnh đạo Cao Miên còn muốn giải quyết những tranh chấp giữa họ về chủ quyền


lãnh thổ mà ta chiếm được thì ơng sẽ ngăn chận họ, bằng một cách giản dị là đưa họ vào cảnh đánh


đấm lẫn nhau ở một nơi khác[13].


Ngày 10 tháng 3 năm 1861, các đạo qn viễn chinh quay về Sạgon. Một tốn qn lưu động và hai ổ


súng cối miền núi được giữ lại ở Tong-kéou; thêm một đại đội thủy quân lục chiến và một đại đội lính
người Annam tại Tay-theuye, phần khí giới thì cấp thêm cho họ một khẩu đại pháo 30 của hải quân. Một
đại đội thủy quân lục chiến đóng tại Ki-hoa. Pháo binh trở lại đóng giữ chùa Ao. Thủy qn đổ bộ thì lại


trở về đóng ở thành phố Tàu như trước. Các tốn bộ binh khác đóng rải rác dọc theo các chùa bỏ


hoang[14]dài cho đến đồn Avalanche. Nhà cửa ở đây san sát nhau, gần như liên tục từ Saïgon đến Cho
-leun, nối liền hai thành phố, khơng khí vui nhộn và thân thiết như ở thôn quê. Những ngôi nhà nhỏ lụp


sụp của thành Ki-hoa, đủ để 20.000 qn Annam trú ngụ, khơng cịn thích nghi để phân phát cho qn
lính đã có thói quen với đời sống Âu châu. Các căn nhà này đã bị sập trước khi các tuyến phòng thủ bị


san bằng. Nhà cửa hư nát, vơ số quần áo rách cịn bê bết máu, xác người rải rác trong các hầm chông


làm phát sinh cả một thế hệ ruồi nhặng tủa bay dầy đặc trong khơng khí; hàng triệu con ruồi khát máu,


tàn khốc bao phủ hết thành Ki-hoa như bâu quanh một vết thương mới bị lở loét, biến Ki-hoa thành một


hầm chôn người không thể nào ở nổi. Phải chờ cho đến khi nào đây để những xác chết hóa thành bụi,
đám mây ruồi nhặng nhơ nhớp sẽ lắng xuống, và những bầy quạ bay đi xa? Vì thế mà thành Ki-hoa bị


san bằng trừ một đồn duy nhất nằm trên đường về Saïgon, đồn có tên mới là đồn Testard, tên của trung


tá Testard bị giết ngày 25 tháng 2. Vòng thành Ki-hoa mênh mông trước đây, người ta tưởng là do một


vị hồng đế Ai Cập nào đó đã huy động vơ số tay người xây lên, nay chỉ cịn lại một đồn lẻ loi, tên đồn


dùng để nhắc lại cái chết vinh quang của một con người hào hùng và cao đẹp.


Chợ búa của Saïgon và thành phố Tàu thật dồi dào sản phẩm. Tất cả các nơi trong tỉnh đổ về; nhờ quyết
định của vị chỉ huy trưởng, lương hướng từ Paris cấp cho quân lính gia tăng, đem đến cho họ một sự vui


thích vơ ngần; thật là một điều quí giá khi người lính có một ít tiền trong túi. Tiền phụ trội giúp từng


nhóm quân cải thiện bữa ăn hằng ngày: vả lại những người bán hàng Annam kéo đến vì người mua sẵn


</div>
<span class='text_page_counter'>(41)</span><div class='page_container' data-page=41>

nhớ tới cái lúc mà những ghim thịt nướng bốc khói thơm lừng trở đều liên tục trên bếp than hồng dưới


bóng mát của những hàng cau ở Cho-quan và Cho-leun; họ nhớ tới để vừa thích thú lại vừa tiếc rẻ.


Ðạo quân viễn chinh, trong vòng 15 ngày, đã đánh 5 trận, thực hiện 12 cuộc trinh sát, hành quân dưới


bấu trời gay gắt, phải chịu hiểm nguy, ăn lương khô uống nước bẩn; đêm thường thức suốt vì đám muỗi
độc địa và đàn<i>kiến lửa[15]</i>đâm chích. Quân sĩ thật sự cần được nghỉ ngơi. Nhưng khơng thể nói là họ
đã hồn tồn kiệt quệ khơng thể nào khơng cho họ nghỉ.


Ngay ngày hôm sau khi đô đốc cho thượng cờ hiệu của ông trở lại trên chiến hạm<i></i>


<i>Impératrice-Eugénie</i>đang thả neo trên sơng Sạgon, tức là ngày 12 tháng 3 năm 1861, liền tức thời ông ra lịnh phải


thám sát các vùng chung quanh Biên-hoa và My-thô. Fou-yen-mot[16] là một đầu cầu chắc chắn của ta


trên một trong hai con đường dẫn đến Bien-hoa. Tiểu đoàn trưởng Comte và quân đánh bộ đi dọ thám


vùng ven biên của Bien-hoa bằng cách mượn đường băng ngang Fou-yen-mot. Ðồng thời, một ủy ban


khác gồm có đại tá hải quân du Quilio, chỉ huy trưởng đại đội kỵ binh tổng hành dinh de Cools và vị tiểu


đồn trưởng cơng binh Allizé de Matignicourt, giữ trọng trách thám sát sơng Vạ-co tây tại cửa kinh Bưu
điện. Cuộc trinh sát không tiến xa hơn được vì kinh bị chận, con đường Bưu điện đi về My-thô phải băng


ngang nhiều sông rạch mà cầu lại bị phá hết. Ðường xá trên ruộng là các đường rất hẹp, chỉ đủ cho một
người đi. Ủy ban trinh sát đều nhất trí cho rằng phải mất ít nhất là 15 ngày để đắp lại con đường Bưu
điện để cho pháo binh sử dụng.


Mọi người đều biết giá trị của các vị chỉ huy trong quân ngũ và những thử thách mà họ đã trải qua; vị đơ
đốc q mến họ, từng hãnh diện và công khai đề cao họ; tất cả các điều này đã giúp tiếng nói của họ


khơng bị bỏ ngồi tai, họ đã chính thức đệ lên vị tổng tư lịnh chỉ huy ý kiến của họ, đại khái nói lên
rằng<i>“quân sĩ đã mệt mỏi, sức người thì có hạn; cuộc chiến của ta khơng giống với một cuộc chiến nào </i>
<i>khác, ngay cả so với cuộc chiến trải qua bên Tàu mà khí hậu nơi đó vừa mới tha chết cho họ. Rằng hai </i>
<i>lần di tản liên tiếp mà chưa mang đi hết người bị thương tại các bịnh viện Saïgon và Cho-quan.”</i>


Nhiều vị khác cũng nói lên rằng<i>“ta vừa thắng một trận lớn, đừng nên làm gì lu mờ uy danh của ta. Rằng </i>
<i>việc đánh hạ thành Ki-hoa là một chiến thắng vẻ vang cho quân đội, ta phải giữ lấy uy thế. Ta đi đánh ở </i>
<i>đâu bây giờ? Ðánh My-thô thì mùa mưa sắp tới rồi. Ði đánh Bien-hoa thì ta đừng quên là còn phải chỉnh </i>
<i>đốn phần lãnh thổ đã xâm lược, cai trị một đám dân đang lâm vào một tình trạng hỗn loạn vì những </i>
<i>người cai quản họ trước đây đã bỏ chạy hết.”</i>


Những ai có chủ trương như vừa nói rồi đây sẽ đổi giọng cho xem.


Chuyện thật rõ ràng là trong vòng tháng 3, tình báo của ta về Bien-hoa cũng như khi ta phân tích các
thơng tư của vị quan chỉ huy thị trấn này đều cho thấy nếu tiến đánh Bien-hoa thì thị trấn này cũng sẽ


lọt vào tay ta dễ dàng như Tong-kéou và Tay-theuye mà thôi.


Nhưng đơ đốc cho rằng khơng nên đánh chiếm Biên-hịa, ơng quyết định chiếm My-thơ. Vì thế, ơng hối



hả vì mùa mưa sắp đến, ông sai dọ thám các cửa biển đổ vào sông Cambodge, đồng thời cũng cho người


tìm kiếm trên đất xem có đường nào nằm giữa sơng Vạ-co tây và con Sơng Lớn[17] khả dĩ pháo binh có


thể dùng được, đồng thời cũng xem có con kinh nào giúp các pháo hạm có thể di chuyển được để tiến về


My-thơ. Ơng chỉ thị cho đại úy hải quân Lespès, tức thuyền trưởng tàu <i>Norzagaray</i>, phải dọ thám sông


Cambodge, ông đưa ra những huấn dụ như sau:<i>"Ngài đã từng dọ thám sông này và biết nơi nào nguy </i>
<i>hiểm, vậy hãy lợi dụng khi trời tốt đo chiều sâu các đường sơng, tìm các điểm chuẩn trên bờ để hướng </i>
<i>dẫn các tàu di chuyển về sau. Nếu gặp dân chài lưới, thì phải cố gắng hỏi và thu thập tất cả các sự kiện </i>
<i>cần thiết. Không những chỉ biết chiều sâu và tính chất của đáy kinh mà cịn phải cố gắng biết trước </i>
<i>những loại chướng ngại nào địch dựng lên mà ta phải phá để vượt qua khi tiến gần đến My-thơ. Vì vậy, </i>
<i>phải biết bắt đầu từ khoảng cách nào thì địch lập các đập cản, đập làm bằng loại vật liệu gì. - Kinh rộng </i>
<i>hay hẹp? Ngoằn ngoèo hay thẳng? Kinh nằm vào hướng nào so với các đồn địch trên bờ? Ðồn trang bị </i>
<i>súng ống như thế nào và cách thành địch bao xa? Bờ sơng có dễ đổ bộ hay khơng? Sau hết là tình trạng </i>
<i>My-thơ ra sao? Trại qn có đơng khơng? Qn lính có sẵn sàng chiến đấu hay khơng? - Chắc gì đã tìm </i>
<i>được người trả lời cho ta hết các câu hỏi này, nhưng điều hệ trọng là thu thập tối đa tin tức tình báo cần </i>
<i>thiết nếu có thể được.”</i>


Thuyền trưởng tàu <i>Norzagaray</i> là một sĩ quan gan dạ và là một nhà thủy học lanh lợi, nhưng ơng quay về


mà khơng tìm ra cửa kinh để vào sơng Cambodge[18]. Một vài tin tình báo, vừa khơng chính xác lại vừa


có vẻ bịa đặt, cho biết vào mùa mưa có một cửa rạch về phía tây của con kinh hiện nay, theo đó các tàu
của hạm đội trang bị súng lớn cũng có thể sử dụng được. Dù sao, nếu như khơng thể nào dùng tàu để


</div>
<span class='text_page_counter'>(42)</span><div class='page_container' data-page=42>

vẫn không thể đưa tàu lọt vào mặt nam của thành My-thô, thì ta đành đổ bộ lên một hịn đảo nằm giữa


các kinh rạch để đánh thành My-thô ở mặt bắc vậy. Nhưng quyết định sau cùng là thám sát một lần nữa



hệ thống kinh rạch đổ vào sông Cambodge. Hai hộ tống hạm của ta là tàu <i>Lily</i> và tàu <i>Sham-Rock</i> tiến


vào những nơi mà tàu<i>Norzagaray</i>đã trinh sát 8 ngày trước. Hai thuyền trưởng của các hộ tống hạm là


các đại úy hải quân Franquet và Rieunier, đã từng ở Nam Kỳ từ 4 năm nay. Kỹ sư thủy học Manen vẫn


tiếp tục được phép cho tháp tùng trong công tác trinh sát này. - Thêm một lần nữa cũng khơng tìm thấy
đường rạch nào có thể đưa vào sơng Cambodge. Cịn nơi đổ bộ thì khơng có gì thuận lợi lắm; các đồn
địch chia nhau canh phòng một vùng rất rộng lớn.


[1] Tức Hóc Mơn. - TN
[2] Tức Rạch Tra. - TN
[3] Tức Tây Thới. - TN


</div>
<span class='text_page_counter'>(43)</span><div class='page_container' data-page=43>

chinh đã không được thực hiện như ý muốn. Tác dụng của một đồn kỵ binh khơng thể thay bằng vài cỗ súng miền núi: vì lý do ta đã
sử dụng tồn thể qn sĩ vào việc tấn cơng thành địch, nên khơng cịn người để đuổi theo qn địch rút lui. - TG


[5] Tức Tham Lương. - TN


[6] Sologne là một vùng đầm lầy rộng lớn ở cửa sông Loire, thuộc miền trung nước Pháp. Biết đâu tác giả chẳng phải là người của
vùng này, ơng có tả một người lính bị thương ngồi hút píp, ăn nói bộc trực và tự nhiên, ơng nhận ra ngay cái cung cách của một
người bình dân thường gặp nơi miền trung nước Pháp? - ND.


[7] Hai chữ “sau này” có vẻ mơ hồ và kém thành thực. Tác giả viết rất chi tiết về chuyện trên đây trong một bài báo ngày 1 tháng 9
năm 1861. Xin xem phần cuối, trích dẫn 3. – ND.


[8] Ngày hôm sau, người ta lại đào được 7 xác chết khác vùi dưới một lớp đất mỏng, xác bị chặt đầu, ta nhận ra trong số này hình
như có xác của một trung sĩ thủy qn lục chiến, đã bị quân Annam bắt làm tù binh từ 6 tháng nay. - TG



[9] Tức Gị Cơng. - TN


[10] Chỉ Nguyễn Tri Phương (1800-1873), Thống đốc qn vụ trấn giữ đại đồn Chí Hịa. Em ơng là Nguyễn Duy tử trận. - ND.
[11] Nguyên bản ghi “<i>Arroyo de la Poste</i>”. Tên Việt là “rạch Vũng Gù” hay “sông Bảo Định”. Người dân thường gọi là kênh Trạm vì có
các trạm sơng để chuyển cơng văn của triều đình. Vì thế người Pháp mới gọi là kênh Bưu điện. - TN


[12] Vua Cao Miên là Norodom bị chính người em là Si-Vattha cướp ngôi, phải bỏ trốn sang Xiêm. - ND.


[13] Câu này trong nguyên văn cũng hết sức lắc léo, ta thấy tác giả muốn ám chỉ bàn tay của vị phó đơ đốc đã lợi dụng sự bất đồng
chính kiến trong hồng gia Cao Miên về sự chiếm đóng Nam Kỳ của Pháp để đưa họ vào cảnh tự diệt lẫn nhau. Người Cao Miên vẫn
còn mong mỏi sau này sẽ chiếm lại Nam Kỳ, không muốn người Pháp phổng tay trên. Về sau người Pháp lại giao cho một người
truyền giáo sang Xiêm La thuyết phục Norodom đưa ông về cướp lại ngôi, nhưng phải chấp nhận sự bảo hộ của Pháp. - ND.
[14] Bị chiếm đóng đúng hơn là “bỏ hoang”. - ND.


[15] Trong nguyên bản là “<i>fourmis de feu” </i>viết theo lối chữ nghiêng, có lẽ là dịch thẳng từ tiếng Annam là <i>kiến lửa</i>mà ra. - ND.
[16] Cũng là Thủ Dầu Một. Có lẽ tác giả dùng một cách viết khác. - TN


[17] Nguyên bản ghi “Grand Fleuve”. Tức sông Tiền ngày nay. - TN


</div>
<span class='text_page_counter'>(44)</span><div class='page_container' data-page=44>

<b>CHƯƠNG VII</b>


<b>Ðề cương:</b>




<i>Ðánh chiếm My-thô - Chiến thuật tấn công - Thành Annam bị vây hãm trên đất liền và từ mặt sơng </i>
<i>Cambodge. - Chương trình hành qn vẫn được duy trì mặc dù bịnh dịch tả, sốt rét, kiết lỵ, chướng ngại </i>
<i>thiên nhiên và nhân tạo; tàu di chuyển khó khăn, cọc cừ đóng dài cả dặm; thành đồn trang bị súng ống </i>
<i>rất mạnh và địch biết sử dụng thành thạo. - Sau khi thành My-thô bị đánh bại, mùa mưa bắt đầu mãnh </i>
<i>liệt. - Các cuộc hành quân phải hoãn lại. </i>





Các lực lượng hải quân, công binh, pháo binh, tổng hành dinh thay phiên nhau thăm dị sơng Cambodge
từng giờ một và đồng thơi thám thính vùng ven biên My-thơ.


Có hai con rạch nối liền sơng Vạ-co tây và thành phố My-thô. Một trong hai con rạch đổ thẳng vào sơng


Cambodge, đó là kinh Bưu điện, kinh này trong các báo cáo thời ấy mang tên Annam là Rach-run-ngu[1].
Con rạch thứ hai là kinh Thương mại. Kinh Thương mại đánh vòng xa hơn kinh Bưu điện nhưng cũng đổ


vào sông Cambodge, cách My-thô chừng 8 dặm về phía thượng lưu, tức thuộc vùng hậu tuyến thành


My-tho. Kinh Thương mại nối dài với con kinh huyết mạch là kinh Tàu tạo ra đường lưu thông bn bán nối


liền các vùng phì nhiêu thuộc tỉnh My-thơ và Sạgon. Nếu dùng làm đường chiến lược để đánh My-thơ thì


kinh Thương mại thuận lợi hơn kinh Bưu điện. Kinh Thương mại không giống với kinh Bưu điện vì kinh


Bưu điện khi gần đến thành My-thơ thì trở nên hẹp và hướng thẳng vào thành, các pháo hạm nhỏ trở


nên quá lộ liễu khi tiến gần đến thành địch. Tốt nhất là đặt vài tàu nhỏ trên kinh Thương mại để chận
đường rút lui của địch trong khi ta dùng kinh Bưu điện để tấn cơng. Kinh Thương mại khơng có đập chắn


cũng khơng có cắm chơng, cũng khơng có đóng đồn; nhưng kinh lại cạn, cỏ nhiều rất vướng, các phương


tiện thủy vận của ta không dùng kinh này được.


Rốt lại chỉ còn kinh Bưu điện. Quân địch làm đập chắn và phịng thủ rất chặt chẽ kinh này, vì biết đây là



đường nước sâu nhất mà các pháo hạm bằng sắt của ta có thể dùng để tấn cơng vào thành. Trinh sát và
phúc trình của bọn gián điệp đều cho biết có rất nhiều đập chắn ngang, các đồn canh lại trang bị khí giới


hùng hậu, rồi đây quân ta bắt buộc sẽ phải gặp sức kháng cự mạnh mẽ. Ðường cái quan từ sơng Vạ-co


đến My-thơ thì người Annam đã phá hư hỏng khơng còn sử dụng được nữa, cầu bắc qua các kinh nhỏ đã
bị phá sập. Ðường cái có 7 kinh nhỏ cắt ngang, đường vịng như hình cánh cung mà dây cung là con


kinh Bưu điện.


Vì vậy là trên bờ, dưới sông hay trên mặt biển, tất cả đều cho thấy chuyến này đánh vào thành My-thô là
một chuyện khó khăn và nhiều rủi ro. Nhưng sau khi ta phá hết đập, hạ hết các đồn canh giữ trên kinh


Bưu điện, các pháo hạm bằng sắt sẽ có thể dùng kinh này để tiến đánh thành Mỹ-thơ. Các cỗ súng nịng


có khía đem đặt trên tàu sẽ giữ vai trò giống như đại pháo do ngựa kéo, hai bên bờ sẽ có bộ binh yểm


trợ. Khi các toán quân viễn chinh tiến gần tới thành thì biết đâu nhờ may mắn ta sẽ gặp một con nước


lớn bất ngờ trên sơng Cambodge để có thể đưa cả hạm đội tới gần để đánh thành địch ngay trước mặt


và cả bên hông thành[2].


Chương trình chiến thuật được quyết định như vừa kể, và ngày 26 tháng 3, trung tá hải quân Bourdais,


từ 15 ngày nay đóng nút chận tại cửa kinh Bưu điện nhận được lịnh bắt đầu hành quân đánh My-thô và
phải khởi sự phá ngay các đập đầu tiên. Pháo hạm lớn <i>Mitraille</i>, do thuyền trưởng Duval chỉ huy; pháo


hạm số 18, do thuyền trưởng Peyron chỉ huy; pháo hạm số 31, thuyền trưởng de Mauduit Duplessix chỉ
huy; đại đội quân đổ bộ theo tàu <i>Monge</i> do đại úy de la Motte-Rouge chỉ huy; 200 thủy quân đổ bộ



(thuộc các đại đội 2 và 5, do hai đại úy Prouhet và Hanès cầm đầu); 30 người Tây Ban Nha do trung úy


Maolini chỉ huy; 1 ổ súng cối miền núi và 10 người phụ trách ổ súng này thuộc chiến hạm<i></i>
<i>Impératrice-Eugénie</i> thì giao cho trung tá Bourdais sử dụng và điều khiển. Ðại úy công binh Mallet và đại úy tham
mưu Haillot được biệt phái thêm cho đồn qn xuống đánh My-thơ.


Đơ đốc đưa xuống cho trung tá Bourdais những lời chỉ thị của ông liên quan đến cuộc hành quân và nhất


là cách phải đối xử như thế nào khi ra mắt phó vương Annam[3]: "Ơng phải nói với phó vương Annam


trấn giữ thành My-thô, khi trao thư tôi cho ông ta, rằng ông ta phải để ta chiếm giữ thị trấn này và cả


vùng tứ giác mà ranh giới là sơng Vạ-co tây, kinh Bưu điện, kinh Thương mại và sông Cambodge, mà


</div>
<span class='text_page_counter'>(45)</span><div class='page_container' data-page=45>

“Nếu ông ta muốn về Sạgon, xin ơng cứ cấp cho ơng ấy một tờ giấy thơng hành. Ơng ta sẽ được đối đãi
trọng thể. Nếu ông ta muốn đầu thú sang hàng ngũ của ta, ông ta sẽ được giữ nguyên tước phong,
nhưng phải trở về dân sự. Nếu ông muốn rút lui an phận trên lãnh thổ Annam thì ta sẽ cấp cho phương


tiện.


“Ơng hãy thận trọng khi thám sát và lúc tiến về Mỹ-thơ. Ơng đừng quên là nếu bất cứ một người nào của


ta bị địch bắt làm tù binh tức là một sự thất bại của ta; ngay cả lọt vào tay họ sống hay chết cũng thế. -
Mặc dù khi ông yết kiến vị phó vương cũng khơng được phép qn mục tiêu tối hậu của ta là chiếm My


-thô (27 tháng 3 năm 1861).”


Vị chỉ huy Bourdais tìm cách đưa tàu vượt kinh Thương mại trong suốt những ngày 27, 28, 29, và 30
tháng 3. Các pháo hạm bị lún bùn và bị cỏ quấn; càng ngày tàu càng gặp nhiều khó khăn, quả thật phải



cơng nhận là kinh Thương mại không thể nào dùng để đưa tàu đến Mỹ-thơ được. Vì thế vị chỉ huy


Bourdais phải dồn tất cả lực lượng dưới quyền ông vào kinh Bưu điện. Ngày 1 tháng 4 ông đã tập hợp


hết tàu bè của ông vào kinh này.


Tàu <i>Mitraille</i>, sau nhiều lần tìm cách vượt kinh Thương mại khơng xong thì nhận được lịnh trở về kinh
Bưu điện. Tàu <i>Mitraille</i>khi vào kinh Bưu điện phá được hai đập đầu tiên trong kinh này. Đại úy hải quân
Gardoni, hai đêm trước đó cũng đã tìm cách tiến được đến đập thứ ba nhưng chạm trán với hai đồn trấn


giữ nằm hai bên bờ; đạn bắn xéo từ hai đồn làm cho tàu không tiến lên được nữa.


Ngày 1 tháng 4, hai đoàn dọ thám trên bờ xác định vị trí hai đồn này. Tức thời pháo binh kéo súng bắn
vào: nhưng vị trí vẫn cịn cách xa 1.200 thước nên không biết rõ kết quả. Hôm sau, ngày 2 tháng 4,
tàu <i>Mitraille </i>tiến lên, theo sau là tàu <i>Alarme; nhưng tàuMitraille </i>lại bị mắc cạn cách đồn thứ nhất 400
thước và làm nghẽn đường tiến của tàu <i>Alarme </i>phía sau. Tuy vậy, kinh cịn đủ rộng để các pháo hạm số
18, 31 và 20 len qua được. Ba pháo hạm tiến đến sát đồn địch, khoảng cách chỉ còn bằng tầm súng


ngắn cầm tay, chỉ trong mấy phút là khống chế được đồn này.


Cả hai đồn (đồn thứ nhất và đồn thứ hai), xây cất trên bùn, chung quanh có hào, nước sâu đến 2 thước


Mỗi đồn có đục 12 lỗ châu mai. Các khí cụ phịng thủ phụ thuộc gồm có bàn chơng, cọc nhọn và nhất là


chung quanh đồn lại đầy bùn sình, vì thế khơng thể nào đánh thẳng vào được. Từ xa ta chỉ biết nã súng


vào đồn. Ðồng thời, tuy dưới làn đạn của địch từ trong đồn bắn ra, ta vẫn phá thêm được hai đập (đập


thứ ba và thứ tư). - Trong trận này, trung tá hải quân Bourdais trương cờ chỉ huy của mình trên pháo


hạm số 18. Hai tàu <i>Mitraille</i> và <i>Alarme</i>, mặc dù một bị mắc cạn, một bị nghẽn không lên được, nhưng cả
hai đã dùng hỏa lực để góp phần vào chiến thắng ngày mùng 1 tháng 4.


Ta mất suốt hai ngày, 2 và 3 tháng 4, để phá đập. Ðịch nhận chìm nhiều sọt đá dưới đáy kinh, qn lính


phải mò lên từng tảng một. Cọc nhọn và cừ bằng thân cau cắm rất sâu dưới lòng kinh, ta phải dùng cần


trục để nhổ lên. Ðể nhổ cọc ta đóng giàn thật chắc trên bờ, sau đó luồn lịi tói qua rịng rọc để buộc cừ


cọc ngập trong bùn sình rồi kéo lên. Quân ta phải lội xuống kinh, sình ngập ngang người, phần phía trên


phơi ra nắng nóng bỏng. Dịch tả lan tràn trong đồn qn viễn chinh. Người nào khơng bị dịch tả thì bị


sốt rét hoặc kiết lỵ. Từ lúc ta dùng đại pháo để hạ các đồn xong thì ngày đêm quân lính phải ra sức vét


kinh, nhất là khi nhìn họ làm việc lom khom rét cầm cập dưới bầu trời thiêu đốt, ta thấy rằng sức nhẫn


nại của họ đang thúc dục ta phải đánh thành My-thô càng sớm càng hay. Người nào ngã xuống thì cho
các sa-lúp dùng chở ngựa đem họ về tàu <i>Mitraille</i> và <i>Alarme, </i>bị mắc cạn và kẹt ở phía sau từ ngày 2
tháng 4.


Ngày 3 tháng 4, đập phá xong, ba pháo hạm bằng sắt tiến lên, được 20 phút lại chạm trán và bắn nhau


với một đồn khác (đồn thứ ba) nằm phía bờ bên trái. Ngay phút đầu người chỉ huy Annam trong đồn bị
thương văng mất một bên vai. Sức phòng thủ liền giảm đi, đồn bị ta hạ, địch bỏ chạy. Ðại đội 2 của ta


chiếm lấy đồn. Ðồn có 4 lỗ châu mai dùng canh giữ hai đập cắm cọc và cừ nhọn (đập thứ năm và thứ
sáu); đồn địch nằm vào khoảng giữa hai đập. Ðập thứ nhất cũng giống như các đập trước đây, tức cắm


bằng thân tre và thân cây cau vạt nhọn; xa hơn một chút là một thuyền chiến chở đầy đất mà địch đem


đánh đắm giữa kinh. Khoảng giữa hai đập thứ năm và thứ sáu có neo 25 chiếc bè chất đầy lưu huỳnh và
bùi nhùi. Vị trí này là nơi hai dịng nước trên sơng Vạ-co và Cambodge gặp nhau, nên bùn đất dồn lại,
đáy kinh rất cạn; ngay khi nước lớn cũng chỉ sâu một thước rưỡi. Chiếc thuyền chiến thì địch đánh đắm
ngay vào nơi hai dòng nước gặp nhau.


Sau khi đồn thứ ba bị hạ, vị chỉ huy Bourdais liền ra lịnh cho thuyền trưởng Duval nội trong ngày mang
tàu <i>Mitraille</i> quay về báo cáo tin chiến thắng của quân viễn chinh với vị tổng tư lịnh chỉ huy, đúng theo


</div>
<span class='text_page_counter'>(46)</span><div class='page_container' data-page=46>

ba đồn, phá được năm đập; và chậm nhất là ngày 5 tháng 4 sẽ phá xong đập thứ sáu để tiến lên; ông
cũng đã đi được nửa đường từ sơng Vạ-co đến sơng Cambodge. - Vị sĩ quan lãnh trọng trách mang báo


cáo sơ khởi về Sạgon cũng gặp nhiều khó khăn. Tất cả sơng rạch ông phải đưa tàu đi đều tùy thuộc vào
thủy triều lên xuống, khi nước rịng thì nhiều nhánh cạn khô.


Nếu ba pháo hạm cứ tiếp tục liều lĩnh tiến lên mà khơng có bộ binh yểm trợ, ít nhất từ một trong hai bên
bờ, sẽ phải gặp nhiều khó khăn. Hai bên lườn pháo hạm thường chạm với cây rừng mọc hai bên bờ kinh;


địa thế ta không biết rõ; địch quân lại gia tăng thêm sức chống trả. Ta đang lâm vào một giai đoạn thật


nguy hiểm trên đường tiến đánh My-thô. Ngày 4 tháng 4, từ Saïgon ta hối hả thành lập một đội quân
tăng viện, nhờ hộ tống hạm<i>Echo</i> do thuyền trưởng de Vautré chỉ huy đưa xuống. Ðạo quân tăng viện


gồm 200 lính bộ do hai đại úy Lafouge và Azières cầm đầu; 100 thủy quân, 2 đại đội thủy quân lục chiến,


hai cỗ đại pháo nòng 4, hai súng cối miền núi nịng có khía trang bị đầy đủ thùng bọng và xe đạn, nhưng


khơng có ngựa kéo, tất cả do đại úy Amlaudrie du Chauffaut cầm đầu; một đội công binh biệt phái gồm
50 người do đại úy Bovet cầm đầu và trung úy hải quân Amirault biệt phái sang công binh làm phụ tá.


Thiếu úy pháo binh Mahieu cũng đi theo, viện quân có chở thêm 20.000 viên đạn dự trữ cho bộ binh.



Ðồn qn viễn chinh trở nên khá đơng và quyền chỉ huy chuyển sang tay của đại tá hải quân Le


Couriault du Quilio, ông là sĩ quan tùy tùng của chính đơ đốc. Vị tiểu đồn trưởng cơng binh là Allizé de


Matignicourt làm tham mưu trưởng cho vị chỉ huy mới. Hai hôm sau tức ngày 6 tháng 4, lại có thêm
nhiều tốn qn tăng viện nữa do trung tá hải quân Desvaux chỉ huy và hướng dẫn đưa từ Saïgon đến


Rach-run-ngu[4]. Ðồng thời trung úy pháo binh Guilhoust ở Thu-yen-mot cũng được lịnh đem theo
xuống tàu 3 ổ súng cối miền núi và trực chỉ My-thơ.


Ngày 4 tháng 4, phó đơ đốc Charner ra huấn thị cho vị chỉ huy mới của đồn qn viễn chinh đi đánh


My-thơ bằng những lời lẽ như sau: “Tơi giao cho ơng thống lãnh đồn viễn chinh đi đánh My-thô... Sau
khi được báo cáo tình trạng hạm đội của ta trong kinh, và địa thế chung quanh thành My-thơ, ơng liệu
xem có đủ sức đánh chiếm My-thô không, hay ông cần thêm yểm trợ nữa. Ông hãy cân nhắc và hành


động thật cẩn thận không để xảy ra một rủi ro nào hết. Theo tình báo của người Annam đưa thì chung
quanh thành có nhà dân vì thế ơng có thể dùng cho quân ta ẩn nẩp và đặt một giàn pháo để phá thành
nếu cần. - Nếu ông thấy ta có thể đào mương để tháo nước trong hào chung quanh thành thì hãy thực


hiện vào ban đêm, chuyện này cũng khơng phải là khó khăn lắm. Ðây là một vấn đề phải nghiên cứu tại


chỗ. - Nếu vị phó vương đề nghị thương thảo với ơng, thì ơng sẽ trả lời rằng phải để ơng chiếm thành rồi


mới nói chuyện[5]. Khơng một phút nào ơng được phép quên là ông đang liên hệ với một <i>con cáo </i>
<i>già[6]</i>sẵn sàng đánh lừa ông.”


Và ngày 6 tháng 4:



“Ơng xem thử có thể đưa các pháo hạm bằng sắt vượt qua các địa thế mà ông đã thấy để vào sơng
Cambodge hay khơng. Rất có thể ông còn phải phá thêm nhiều đập nữa, và cũng có thể cịn nhiều ghe


thuyền địch đánh chìm để làm nghẹt kinh. Chưa nói đến là các pháo hạm bằng sắt của ta sẽ cịn gặp khó
khăn vì nước cạn. Tuy nhiên, đáy kinh là bùn nên các pháo hạm có thể vừa cày sâu xuống bùn một


chân[7] mà vẫn có thể tiến lên được.


"Người ta cho tơi biết ở My-thơ có nhiều thuyền chiến rất tốt, có thể quân Annam đem vài chiếc ra chống


với ơng đó. Vì thế phải cẩn thận mới được. Hủy diệt được các thuyền này là điều hết sức mừng cho ta;
nhưng nếu bắt được các thuyền này thì lại cịn tốt hơn nữa; mục đích là cắt phương tiện rút quân của
địch.


“Tàu <i>Lily</i> và tàu <i>Sham-Rock</i>, vắng mặt từ 8 hôm nay, sẽ không gia nhập vào lực lượng của ông.Ý định
<i>của tôi là sau khi tiếp tế cho các tàu này xong sẽ cho hai pháo hạm giúp sức cố tìm đường để lọt vào </i>
<i>sơng Cambodge.</i>


“Ơng cũng chịu khó để ý xem là có thể thử đem hai tàu <i>Mitraille</i> và <i>Alarme</i>vào sông Cambodge được
khơng. Nước thủy triều có thể giúp sức thêm. Ông xem thử ta có thể dùng hai thuyền buồm đáy bằng


kéo pháo hạm giống nhự ngựa kéo để giúp pháo hạm thêm sức lướt lên hay không?”


Trong khi đó vào ngày 5 tháng 4, sau khi đã phá xong các đập thứ năm và thứ sáu (ngày 3, 4, và 5


tháng tư), hạm đội, khi đó vẫn còn dưới quyền điều khiển của trung tá Bourdais và được tăng cường


thêm pháo hạm số 16 do thuyền trưởng Béhic chỉ huy, đã tiến tới một đập nữa (đập thứ bảy). Lần đầu


các tàu gặp địch quân chống trả từ hai bên bờ cùng một lúc; quân địch bắn xuống, các pháo hạm bắn



</div>
<span class='text_page_counter'>(47)</span><div class='page_container' data-page=47>

nhiều vết máu. Một đại đội thủy binh đổ bộ (đại đội 2) dừng quân và đóng tại địa điểm nơi hai dòng


nước gặp nhau để làm quân yểm trợ, vừa để chống trả quân Annam thường tấn cơng lẻ tẻ ban đêm.
Lúc này thì bộ binh của ta hai bên bờ, vừa bị quân số thu hẹp, vừa phải cực nhọc phá đập nhổ cừ, nhổ


chơng, kiệt sức vì bịnh kiết lỵ, dịch tả và sốt rét, nên khơng cịn đủ sức yểm trợ cho pháo hạm dưới sông


nữa. Họ trông chờ đám quân tăng viện từ Saïgon đưa xuống để tiếp sức bảo vệ các pháo hạm; ngồi
cơng tác bảo vệ, qn tăng viện còn phải trinh sát để hướng dẫn pháo hạm, xác định vị trí đồn địch để


tránh khỏi bị phục kích bất ngờ. Nhưng việc thực hiện thật khó khăn, nhiều khi khơng làm nổi: vì bọn
gián điệp nói láo, hoặc hai bên nói với nhau khơng hiểu.


Tình báo do người Annam cung cấp (chỉ dẫn rất đúng) là bên tả ngạn chỉ có một kinh phụ, trong khi đó


bên hữu ngạn có đến năm con rạch vừa lớn vừa nhỏ đổ vào Rach-run-ngu. Khi cách thành My-thô 2.000


thước, con đường cái quan dọc bờ kinh có thể đắp lại và dùng được. Vì vậy qn ta quyết định tiếp tục


hành quân theo bờ bên trái, sau đó khi gần đến My-thơ sẽ đổi sang bờ bên mặt.


Nhóm qn tăng viện từ Sạgon đi theo tàu <i>Écho</i> đổ bộ sáng ngày 5 tháng 4 ở ngã ba sơng Vạ-co và
sơng Run-ngu; địa điểm này do chiến hạm <i>Rhin</i> trấn giữ. Ngay ngày hôm sau, đại đội 2 bộ binh và thủy


quân lục chiến được cho xuống các sa-lúp do pháo hạm số 22 kéo theo; di chuyển thường trễ nải vì cừ


cọc khi phá đập vẫn còn nổi lều bều làm tắc nghẽn nhiều nơi trong kinh Bưu điện. Gặp chỗ đáy cạn,


pháo hạm phải tháo bỏ các ghe sa-lúp để vượt qua trước, cịn ghe sa-lúp cứ thả trơi theo dòng nước.



Mặc dù bị mắc cạn nhiều lần, nhưng bộ binh và thủy quân lục chiến cũng đến được vị trí đập thứ tám


vào lúc ba giờ chiều. Tiểu đoàn trưởng Allizé liền cho lịnh đổ bộ và tiến lên theo bờ phía trái. Ðại đội 10


thủy quân và 50 lính Tây Ban Nha do trung úy Maolini chỉ huy cũng nhập chung trong đám quân này.
Ðất mềm, sình lầy, cây cối chằng chịt, thân dẽo lại gai góc, ngựa và la khơng tiến lên được, các ổ súng


cối mang theo đành phải khuân vác trên vai. Cứ bốn cu-li mang một cỗ súng, bốn cu-li khác thì vác bàn
bắn, hai cu-li khiêng một thùng đạn. Cứ chia nhau như vậy và họ đi thật nhanh.


Các pháo hạm theo sau cách khoảng độ một trăm bước: nhưng pháo hạm mới tiến lên được 500 thước


lại phải dừng lại vì thân cau địch chặt và ném ngổn ngang dưới kinh. Vừa dừng lại thì đồn địch (đồn thứ
tư) bắn túa ra; ta cũng khơng biết vị trí đồn chỗ nào.


Chính nơi này địch tập trung tất cả mọi phương tiện phòng thủ của họ. Dưới nước các chướng ngại


khổng lồ bít hết kinh. Trên bờ họ dàn trận theo một đường tuyến dài một cây số, trước trận là quân xung
kích, phía sau có pháo binh và qn trừ bị. Phía ta, bộ binh, thủy quân, lính Tây Ban Nha, thủy quân lục


chiến đổ quân tràn ra đồng. Bộ binh dàn ra làm qn xung kích, bên phải có thủy quân và lính Tây Ban
Nha hỗ trợ, bên trái có thủy quân lục chiến hỗ trợ. Quân xung kích hai bên liền bắn nhau. Trận chiến bất


thần ngã ngũ sau hai loạt tấn công của bộ binh Tây Ban Nha do trung úy Maolini hướng dẫn rất gan dạ;
địch lui quân, trái với thường lệ, họ không mang theo xác chết. Ta liền biệt phái một nhóm bộ binh chiếm
đồn. Số qn sĩ cịn lại cắm trại trong một ngơi làng gần ngay phía trước đồn.


Pháo hạm phải dừng lại trước các chướng ngại khi quân hai bên đụng nhau trên bờ. Các loại chướng ngại
có kích thước thật đang nể. Ðập dưới đáy kinh thật chắc chắn (đập thứ tám) lấp một phần kinh dài suốt


90 thước gồm ba chặn, mỗi chặn có 9 ghe nhận chìm chở đầy bùn đất, phía sau đập suốt 1.100 thước thì


địch dùng một số thân cau ném chắn ngang mặt kinh, một số đóng xuống đáy kinh san sát giống như


một nơi ương cây giống. Sau trại cây giống lại có một đập nữa (đập thứ chín). Ðập thứ chín nằm ngay
phía trước đồn mà ta vừa chiếm xong và phía trước ngôi làng quân ta đang cắm trại, các pháo hạm cịn
kẹt lại phía sau.


Ngày 7 tháng 4, ta khởi cơng phá đập. Chờ lúc nước rịng, ta vét bùn trong các thuyền nhận chìm. Người


Annam nhận chìm ghe nhưng đục lỗ quá cao không đục ở đáy, nên khi vét hết bùn thuyền lại nổi, thủy


triều dâng lên thì thuyền trơi đi. Cơng việc phá đập nặng nhọc hơn các ngày hôm trước nhiều, nước ngập
lên đến vai, đầu ló ra khỏi nước thì trời nóng như thiêu như đốt. Bộ binh nhiều người bị dịch tả: thủy
quân đã bị dịch tả từ mấy ngày trước rồi. Càng ngày càng phải huy động thêm bác sĩ cho đồn viễn


chinh; những người lính đánh bộ không bao giờ quên sự tận tâm của các bác sĩ Champenois và Azaĩs;


bên thủy quân có bác sĩ Dugé de Bernonville. Ngay khi đến đập thứ bảy đã có đến 150 quân sĩ bị bịnh


phải di tản: mỗi người một bịnh địi hỏi phải săn sóc khác nhau; y tá cũng thiếu, bọn cu-li Tàu bị dịch tả


phải tự xoa bóp cho nhau. Nhiều tàu sa-lúp móp méo dưới móng ngựa từ khi cịn ở Peh-tang bên Tàu
bây giờ lại tệ hơn, bị thủng đáy và nước tràn vào; phần lớn các ghe thuyền cướp được của quân Annam


cũng bị nước vào. Xác của qn lính ta thâm đen vì tai ương dịch tả, tạm thời đặt ở gầm tàu, cứ mỗi lần


</div>
<span class='text_page_counter'>(48)</span><div class='page_container' data-page=48>

thương. Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mà trung úy hải quân Vicaire đã thấy trên chiếc sa


-lúp <i>Loire</i> năm người trút hơi thở trước mắt mình. Thuyền trưởng và sĩ quan trên tàu<i>Monge </i>tiếp tục chỉ



huy thủy thủ phá đập, đây là số quân lính duy nhất từ khi khởi sự phá đập đến nay mà vẫn cịn đứng


vững. Trong số thủy thủ đồn của tàu <i>Monge</i> nhiều người đã chết, người nào còn sống sót chắc lâu lắm


mới đủ sức hồi phục. Vị chỉ huy Bourdais bị sốt; những hôm gần đây ai cũng thấy ơng suy yếu rõ. Ơng


thường xuống xuồng nhỏ để huy động, nếu thấy quân lính chèo xuồng lơi tay vì mệt lả thì ơng quay sang


người cầm đầu bọn lính chèo mà nói rằng: “Bảo họ cố gắng lên, tao sẽ đề nghị gắn huân chương cho
mày”. Cứ như thế mà ông thúc họ cố gắng them. Vị chỉ huy Bourdais, người điều động lính chèo và năm


anh chèo xuồng, người nào cũng ngất ngư như sắp chết. Vào một buổi chiều, khi đập thứ chín đã phá
xong và sức chịu đựng đã cùng cực, người ta để ý thấy có một vài người Pháp và người Tagal bắt đầu


than phiền.


Trong hai ngày gánh chịu cực nhọc và thương vong để phá đập, các pháo hạm bằng sắt đã vượt được


khúc kinh bị chận để gặp đám bộ binh chiếm đồn Annam cịn đang đóng qn để chờ. Kinh Bưu điện đổi
hướng một cách bất ngờ tại vị trí này. Một khuỷu sông rất gắt làm kinh xoay hướng, cách đó vài trăm
thước kinh lại đổi hướng một lần nữa cũng rất gắt làm cho Rach-run-ngu trở lại hướng bắc nam như
trước.


Bọn gián điệp mà ta tra hỏi cho biết trước khi đến My-thơ cịn có một đồn quan trọng nữa trên kinh Bưu
điện. Sau khi xác định vị trí của đồn, quân ta chọn chiến thuật như sau: dùng cu-li mang vài khẩu đại


pháo bọc hậu để bắn vào phía sau đồn, trong khi đó hạm đội sẽ tấn cơng vào mặt trước. Ngày 9 tháng
4, nhóm quân sĩ tăng viện cuối cùng đã đến nơi và nhập hết vào đạo quân viễn chinh đánh My-thô; pháo
hạm số 20 (thuyền trưởng Gougeard) vừa đến cũng tháp tùng theo các pháo hạm số 18, 31, 16, để tiến



lên dẫn đầu. Ðạo quân trên bộ tiến dọc theo kinh Bưu điện. Ðiểm tập họp của hạm đội và quân trên bộ


là cửa một con kinh nhỏ đổ vào Rach[8].


Các pháo hạm tới điểm tập họp nhanh chóng. Nhưng cả đồn qn trên bộ lạc đường. Tên dẫn đường


Annam cố tình đánh lạc hướng đồn qn hay chính anh ta bị lạc cũng khơng biết, hoặc có thể anh ta


cũng khơng hiểu qn ta muốn gì. Việc di qn hết sức cực nhọc, vì đồn qn lọt vào một vùng toàn
ruộng, kinh rạch chằng chịt, rừng thưa rải rác[9]. Gần các bờ rạch, đất ướt sũng và mềm vì nước thủy


triều lên xuống; bên trong, cách bờ một chút, thì người Annam theo tập quán đào dẫn mương rãnh khắp
nơi, rễ cau bò ngập trong mương; quân lính ta chịu thua, loanh quanh khơng tiến lên được. Cả đạo quân


phải nhắm chừng mà đi không hay rằng lạc hướng, càng đi càng xa con kinh Bưu điện, sai một góc đến


30 độ. Bỗng quân ta gặp một ngơi làng có rất đơng qn lính Annam. Quân Pháp liền dàn ra chuẩn bị
đánh nhau, trong khi đó quân địch lại rút lui mất hết. Quân ta liền chiếm làng chẳng phải đánh gì cả. Ta


xem lại thì thấy ngơi làng nằm đúng trên con rạch mà cửa rạch là nơi tập họp; làng chứa đầy súng, lao


và quân dụng. Quân ta biết cửa kinh là điểm tập họp nhưng cửa kinh còn cách bao xa thì thật khó tính
cho ra; đúng tên dẫn đường đánh lạc hướng quân ta rồi, phải cẩn thận có thể lọt bẫy. Quân ta lại tiến


lên hy vọng tìm được một nơi tạm ổn để cắm quân. Nhưng cả đoàn lọt vào một vùng đầm lầy, hố mương


chằng chịt, cỏ mọc bít bùng; địa thế vừa nguy hiểm, lại vừa không giữ được trọng trách giao phó là yểm


trợ cho đồn pháo hạm.



Qn ta tiến lên lại vơ tình lọt vào cạnh ngay đồn địch mà ta đang lùng tìm để đánh; bọn gián điệp bảo


thế; thiếu tá[10] Allizé cũng có linh cảm như thế. Quân ta liền quay lại đường cũ và cắm qn trong ngơi


làng vừa rồi. Ít ra là nơi đây, dựa vào con rạch ta có thể để liên lạc với hạm đội. Ðoàn quân cắm trại vừa


xong thì đại đội 3 của đại úy Sénez được lịnh lên đường hộ tống một đoàn vận tải lương thực sắp đến;
đại đội phải đi đêm mà không được nghỉ ngơi gì.


Vào khoảng 11 giờ tối (ngày 9 tháng 4), bỗng nghe thấy tiếng la và tiếng báo động của quân canh. Một
vùng sáng choang đang di chuyển trên kinh Bưu điện. Trung úy hải quân Joucla trên tàu Echo, chỉ huy
đoàn vận chuyển đạn dược và lương thực, liền nhảy xuống ghe nhỏ xáp đến phía đi các pháo hạm


thơng báo tình trạng nguy hiểm. Sau đó thì hướng ghe vào bờ kinh, nơi mà đồn tàu vận chuyển đang


tập họp, ơng ra lịnh phải nhổ neo thật gấp. Nhờ nước lớn và chảy mạnh nên việc tách bến cũng nhanh.


Ông tiến lên trước và kéo một thuyền hỏa công của địch. Trung úy hải quân Besnard, do thiếu tá Allizé
đưa đi thám thính cũng kéo một thuyền hỏa cơng khác ra xa. Ðó là hai thuyền buồm chở đầy dầu; cả hai
đều được khéo léo đưa vào một nhánh kinh nhỏ của Rach-run-ngu, thật là may phước. Hai thuyền hỏa


công cháy rực, lửa sát tới mặt nước; cỏ và cây bị cháy nám cả một vùng rộng lớn. Phản ứng và hành


</div>
<span class='text_page_counter'>(49)</span><div class='page_container' data-page=49>

Nước trong kinh chảy mạnh khoảng 2 hải lý, vì thế thật nguy hiểm. Các pháo hạm phải buộc dây vào


nhau. Ngay đêm đó phải dựng một hàng cọc chắn bảo vệ các pháo hạm, và từ đêm hôm sau vị chỉ huy
đoàn quân cứ tối đến là cho giăng xích sắt chận ngang kinh.


Ngày 10 tháng 4, từ mờ sáng, ta lại đổ đi tìm xem đồn địch ở đâu.



Một đoàn trinh sát do đại úy pháo binh du Chauffaut hướng dẫn (gồm bộ binh Tây Ban Nha, một đại đội


bộ binh, một đại đội thủy quân lục chiến) băng đồng mà đi. Tên dẫn đường Annam trước hết dẫn họ đi


xéo qua phải; vì bị quân ta hối thúc q và sau đó thì đánh hắn, hắn bèn đổi hướng đi và dẫn cả đoàn
trinh sát của ta thẳng tới sát My-thơ. Cả tốn qn cãi nhau huyên náo và hỗn loạn; trong khi ấy bọn lính


Tây Ban Nha gốc người Tagal và một chiếc ghe Annam hai bên bắn nhau vài phát. Ðoàn trinh sát lại


quay về; trên đường bị một khẩu đại pháo không biết từ đâu bắn tới một quả: vài người trong đoàn cho
rằng chỗ đại pháo bắn ra tức đúng là đồn địch rồi: vài người khác thì cho rằng chưa chắc[11]. Trung úy
hải quân Amirault (thuộc công binh) đề nghị dùng ghe đổ xuống Rach-run-ngu xem sao. Ghe bị bắn,
nhưng tìm ra đồn và ông quay ghe ngược trở về. Việc dùng ghe thám thính như thế nguy hiểm lại chưa


có phép của cấp trên. Vài nông dân cho biết rằng kinh không có canh phịng và các đồn đều di tản hết


rồi.


Trinh sát thì quá mơ hồ, nhưng ta lại phải mang qn tiến lên. Trong tình thế này, vì khơng biết đích xác
đồn ở đâu, nên ta cứ kể như đồn địch đã di tản hết chỉ còn lưu lại một ít pháo binh; vì thế vị chỉ huy du


Quillo cho lịnh trung tá Bourdais cứ tiến đánh My-thơ. Ơng chỉ thị cho trung tá Bourdais phải hết sức cẩn


thận và cũng cho ông này biết là sáng nay ta vừa bị một phát đại pháo nhưng không biết ở đâu bắn tới.


Trung tá Bourdais dẫn ba đại đội quân tăng viện, bộ binh, thủy quân, thủy quân lục chiến tiến về Mỹ-thô,
tất cả là 300 người. Họ có lịnh khi gần đến My-thơ cịn độ 2.000 thước thì dừng lại chờ đạo quân viễn
chinh đi sau. Vào 3 giờ chiều, các toán quân của trung tá Bourdais xuống tàu sa-lúp, phía trước là các
pháo hạm: cả đoàn lên đường, pháo hạm số 18 dẫn đầu mang cờ hiệu của trung tá Bourdais; tiếp theo



là các pháo hạm 31, 22, 16. Pháo hạm 20 bỏ neo ở lại khơng theo đồn tàu. - Một lúc sau có lẽ chính
đồn địch mà ta tìm kiếm từ 2 ngày nay (đồn thứ năm) bắt đầu nổ súng[12]. Các pháo hạm của ta cứ


nhắm hướng phỏng chừng mà bắn trả, rồi tiếp tục tiến lên. Ta vẫn khơng biết đính xác đồn địch ở đâu


hết. Bất thình lình, đồn hiện ra ngay trước mặt chỉ cách 400 thước, đúng vào một khúc quanh của con


kinh. Pháo hạm số 18 đi đầu có mang cờ hiệu của trung tá Bourdais bắn một quả đạn. Ðồn Annam liền


bắn trả ba quả, ba quả đạn Annam đều có hiệu lực. Một rớt lên tàu, một làm bị thương một quân lính


của ta; quả thứ ba làm bay mất quả tim và cánh tay trái của trung tá Bourdais. Tức thời pháo hạm 18 vọt


lên, theo sau là pháo hạm 31. Cả hai được các pháo hạm 16 và 22 dàn ra yểm trợ. Bốn đại pháo nịng 30


có khía phóng đạn liên hồi vào đồn Annam. Ðồn bị lủng nát, quân phòng ngự bỏ đồn rút lui. Quân Pháp


liền chiếm đồn. - Kể từ lúc đó kinh Bưu điện được hồn tồn khai thơng.


Như vậy là đường My-thơ được khai thông bằng cái chết của trung tá hải quân Bourdais. Quân sĩ đều


phát lộ niềm xúc cảm khó tả, lẫn lộn giữa chiến cơng và mất mát: thơi ta cứ để những xúc cảm đó gắn


bó với nhau. Sức mạnh của xúc cảm làm cho mọi người phải bật lên tiếng kêu Trời; nhưng rồi từ từ cũng


lắng xuống. Người ta phủ lên xác của ông một lá cờ để làm vinh danh ông, và cũng có thể là để che cảnh
tượng khủng khiếp đừng cho những người cịn đang chiến đấu phải nhìn thấy. Khi thu nhặt các phần thi


thể, ta tìm được cánh tay của ơng, nhưng trái tim thì tìm không thấy. Trong suốt 8 ngày trước đây, ngày


nào ông cũng phá được một đồn hay san bằng một đập. Ơng tiến lên, xơ ngã những chướng ngại trước


mặt bằng cánh tay lúc nào cũng nơn nóng, những cảnh chết chóc và hấp hối khơng làm sờn lịng hay
nhụt chí của ơng. Ðó là hình ảnh của cuộc đời ơng. Ơng chưa đầy 40 tuổi; và vừa thăng chức đại tá hải


quân trong vinh dự, trong cái tuổi mà người khác còn trong cấp bực thứ yếu. Khơng phải vì thiếu sĩ quan
mà ơng đã được thăng cấp, tiếng vang từ Paris cho biết: chính tiếng nói của chỉ huy trưởng và của cả
đồn quân viễn chinh đã đem đến cho ông cấp bực ấy. Nhưng ơng đã ngã xuống khi vừa thấy đích, trợt


chân trên một vũng máu. Chúng ta phải sống. Ơng ta khơng cịn nữa. Chẳng có gì xảy ra cả.


Trung tá hải quân Desvaux[13] nhận quyền điều khiển các pháo hạm thay chỉ huy[14] Bourdais. Tất cả
đoàn quân viễn chinh còn lại từ từ di chuyển, đến sáng ngày 11 thì đến đồn thứ năm mà quân ta đã
chiếm trước đây: đoàn quân lên tàu khi trời cịn tờ mờ, qn lính trèo lên tàu rất mau và trật tự tại một


nhánh kinh phụ. Hai đoàn trinh sát cho đi trước. Quân trên bộ bỏ hẳn bờ bên trái, đổi sang đi trên đường


</div>
<span class='text_page_counter'>(50)</span><div class='page_container' data-page=50>

qua ba con rạch nhỏ cắt ngang đường cái quan, rồi tiến đến gần thành địch, chỉ còn cách có 200 thước.


Bắt đầu ngày 10 tháng 4, cả đạo quân viễn chinh đã đến gần sát My-thô. Bỗng trong toán quân biệt phái


trinh sát của đại úy Bovet nổi lên tiếng đôi co: chia làm hai phe cãi nhau om sòm[16]. Suốt phần còn lại


trong ngày 11 tháng 4, ta quyết định dành để tưởng niệm chỉ huy Bourdais[17], không hành quân nữa.


Việc tưởng niệm một người chiến hữu thì tồn thể qn sĩ ai cũng cho là phải nhưng đã làm ngưng trệ


việc hành qn: làm cho cả đồn qn mất cơng đầu, tức là chiếm My-thơ trước tiên. Chỉ chậm trễ có vài
giờ mà đành mất ưu thế: My-thô đã lọt vào tay chuẩn đô đốc Page.



Ðêm 11 tháng 4, lại có thêm qn bổ sung từ Sạgon xuống nhập vào đồn viễn chinh: vì ta chưa biết


chắc là chỉ cần trở bàn tay để chiếm thành hay phải vây hãm lâu dài. Viện binh gồm có một đội pháo


binh nịng 12 có ngựa kéo, phân đồn 4 pháo binh mang theo ngựa và xe tải đạn, vì cho đến giờ này ta
vẫn phải dùng sức người thay ngựa. Ngày 12 tháng 4, tất cả đạo quân đều tụ họp tại làng Tam-léon; tiền
quân ta đóng cách thành địch chỉ có 1.500 thước; trung úy Aigueparses chỉ huy tốn tiền qn gồm 50


lính bộ binh đóng tại một bìa rừng cau và dừa, phía sau khu rừng dừa là thành phố My-thô. Ðường cái
đã làm lại, tất cả các cầu cũng bắc lại. Ðoàn pháo hạm bỏ neo phía trước đạo quân một quãng ngắn,
cách thành địch 1.500 thước, pháo hạm bắn vào thành 7 quả đạn súng cối có khía. Vào khoảng 11 giờ


sáng, ta thấy một đám khói bốc lên ngay cửa vào tỉnh My-thô. - Quân viễn chinh qua nhiều lần tăng viện,
đã trở thành một lực lượng 900 người. Riêng dàn pháo binh, không kể đại pháo trên tàu sa-lúp và các
ca-nô vũ trang, đếm được 18 miệng lửa, trong số này có 6 súng cối. - Ngày 13 tháng 4, đã biết rõ địa


thế nên quân ta tiến lên: gồm công binh mang thang, súng cối miền núi, hỏa tiễn, bốn đại đội thủy quân


lục chiến. Ta cũng bố trí để phịng hờ địch tấn cơng ta từ bên ngồi thành: bằng cách cho đại đội 4 bộ
binh làm xung kích đi trước dị đường và tìm vị trí thuận lợi để tấn công. Chỉ huy du Quillio đang nghĩ


cách ra tay đánh úp vào thành. Khi quân ta tiến gần khoảng cách chỉ cịn bằng tầm đạn của địch thì lại


thấy cờ tam sắc phất phới trên tường thành từ lúc nào rồi. Ngày hôm sau, 14 tháng 4, quân sĩ mới kéo


vào bên trong thành.


Ðoàn chiến hạm của chuẩn đô đốc Page, tiến từ cửa biển vào theo đường thủy mà ta đã khổ cơng dị
tìm; hạm đội oanh liệt và gan dạ phá chông trên sông Cambodge dưới lằn đạn của địch tiến đến sát



thành My-thô khoảng 2 giờ sáng ngày 12 tháng 4. Thành đã bỏ trống, thủy thủ đồn chiếm thành khơng
phải nổ một tiếng súng nào cả.


Một mặt đoàn thám thính của ta sáng ngày 10 tháng 4 đã tiến đến thẳng trước mặt thành My-thơ, một


mặt đồn pháo hạm cũng oanh liệt tiến lên làm cho quân địch mất tự tin; đến đêm 11 một đoàn trinh sát
khác của ta lại xáp đến gần thành chỉ còn cách 200 thước, đồng thời trên sơng Cambodge đồn chiến


hạm của đô đốc Page cũng bắt đầu nhả đạn, người Annam bị áp lực ở mặt tiền tuyến và cả hậu tuyến.


Họ rút lui.


Sự trùng hợp có vẻ bất ngờ của hai lực lượng sử dụng hai phương tiện hành quân khác nhau thật sự đã


được nghiên cứu trước và chuẩn bị từ trước. Ngày 6 tháng 4, phó đơ đốc Charner cho chỉ huy trưởng


chiến dịch My-thơ biết trước là có thể trơng cậy vào một lực giúp sức hiện diện kịp thời trên sông
Cambodge: “Hai tàu <i>Lily</i> và <i>Sham-Rock</i>, vắng mặt từ 8 hơm nay, khơng theo đồn qn chiến dịch My


-thơ; ý đồ của tôi là cho hai pháo hạm đi theo hai tàu này để cố tìm đường biển đưa vào sông


Cambodge.”. - Vị chỉ huy trưởng phải chờ đến ngày 8 tháng 4 mới có thể thẩm định được việc di chuyển
của hạm đội trên sông Cambodge từ cửa biển vào và khả năng phòng thủ của địch hai bên bờ. Trên bờ
đạo quân viễn chinh cũng tỏ ra đang thắng thế và sắp tiến đến gần My-thơ. Lúc này chính là lúc có thể


phối hợp hai đạo quân: một từ biển vào và một do chỉ huy du Quilio dùng sông rạch để đem quân đến


My-thơ. Vì vậy trong ngày 8 tháng 4, phó đô đốc Charner đưa các lời huấn thị như sau cho chuẩn đơ đốc


Page cịn đang đóng qn gần Bien-hoa:



“Tôi giao cho ông hai tàu <i>Lily</i> và <i>Sham-Rock, sau khi thăm d</i>ị sơng Cambodge xong sẽ bất thần quay về
Sạgon để được tiếp tế.


“Ơng có thể trương cờ hiệu của ông trên bất cứ chiến hạm nào trong đồn chiến thuyền mà ơng thích:
trên chiến hạm <i>Fusée, Lily, Sham-Rock</i>, hay cả trên chiếc<i>Dragonne</i> cũng được, tàu này hiện đang giữ vị


trí tiền quân của ta.


“………


“Ơng phải hành động cẩn thận, ơng phải hết sức nỗ lực theo đường biển ngược sông Cambodge để đánh


</div>
<span class='text_page_counter'>(51)</span><div class='page_container' data-page=51>

“Tơi tiếc rằng, ngồi số qn và chiến hạm sẵn có, tơi khơng thể giao cho ơng hơn nữa. Ðiều tối quan


trọng dưới mắt tôi là kết quả trận này có thể tháo gỡ cho hồn cảnh khó khăn của ta hiện nay. Hạm đội


của ông xuất hiện trên sông Cambodge chắc chắn sẽ đánh lạc hướng qn địch, góp phần làm cho
My-thơ mau sụp đổ và làm cho quân thù phải sớm điều đình.”


Chuẩn đơ đốc Page rời Bien-hoa ngày 10 tháng 4, vào 10 giờ sáng, bằng tàu <i>Fusée</i> do thuyền trưởng
Bailly điều khiển. Theo sau có tàu <i>Lily</i> và <i>Sham-Rock</i>. Ơng vượt các bãi cạn ở cửa sơng Cambodge, gần
đó có tàu <i>Dragonne</i> của thuyền trưởng Galey đang thả neo làm tiền đồn; pháo hạm <i>Dragonne</i> tháp tùng,
dẫn đầu và chỉ đường cho cả hạm đội. Vào 2 giờ sáng thì hạm đội thả neo cách đập thứ nhất 400 thước.


Thật may mắn cho ta đêm tối đen chưa từng thấy, khơng có một ánh sao nào trên trời, ta phá cọc và cừ
để lấy đường cho tàu; trong khi đó các đồn địch bắn loạn xạ. Sáng ngày 11, hạm đội ngược sông


Cambodge bằng nhánh phía nam nhưng lại phải ngừng lại nơi đầu một hịn đảo vì có đập chắn; hịn đảo



chia sông thành hai nhánh (nhánh nam và nhánh bắc). Hai bên đập có đồn canh giữ, mỗi đồn có 18


khẩu pháo[18]. Ngày 12 tháng 4, đoàn tàu nã pháo vào hai đồn, đồng thời phá cừ cọc để đi. Vào một


giờ rưỡi trưa, hạm đội thả neo trước thành My-thơ chỉ cách thành có 200 thước; nhưng thành My-thơ đã
di tản trước đó 3 giờ đồng hồ rồi. Thủy thủ đoàn của hạm đội do đại úy hải quân Desaux hướng dẫn


chiếm thành và thượng cờ tam sắc[19]. Ðạn súng cối do cánh quân trên bộ của ta phóng vào thành
trong các ngày 12 và 13 tháng 4 may mắn không trúng quân sĩ nào của ta trong thành.


Sông Cambodge nằm vào mặt nam của thành phố My-thơ, sơng Run-ngu nằm bên phía đơng. Ðối với
kinh Bưu điện thì thành phố nằm trên hữu ngạn. My-thô là một vùng nhà cửa rộng lớn, nhà lợp bằng lá


dừa lùn theo tập quán của người Annam, nhìn xa giống như nhà lợp rơm của ta. Bộ mặt chung của thành
phố có vẻ nghèo nàn; nhưng dọc theo kinh Bưu điện thì nhà cửa có vẻ thanh nhã một cách đáng nể; nhà
xây cất theo lối nông thôn, nối nhau liên tục, mái lợp ngói nổi bật trên những vùng trồng dừa và cau, tất


cả cho thấy vẻ phong lưu, thỉnh thoảng vài nhà tỏ ra thật giàu có. Ta chỉ có thể dùng cảnh hào hoa của


Cho-quan và kinh Tàu mới có thể so sánh được cảnh tượng hai bên bờ Rach-run-ngu mà thôi. Cây dừa ở
đây to lớn hơn các cây ta thấy ở Saïgon: quân viễn chinh đánh My-thô uống thật là đã khát.


Thành My-thô xây cất theo lối Âu châu. Thành vng vức có ụ làm pháo đài. Hào chung quanh rộng có
nước; tường thành cao rất dầy. Vài nơi chung quanh thành là đầm lầy, vì vậy sức phịng thủ do cơng


trình nhân tạo cịn có thiên nhiên hỗ trợ nữa. Khí giới của thành My-thơ thì có đại pháo nịng lớn. Thành
kiểm sốt hết sơng Cambodge và các đường thủy đổ vào sơng này. Do đó thành có một vị trí chiến lược


quan trọng. Hơn nữa My-thơ cịn là vựa thóc lại vừa là thị trường lúa gạo quan trọng của cả đế quốc



Annam. Nếu trong mùa mưa mà đánh thành My-thơ khi có thêm ba tỉnh miền nam hỗ trợ, thì quả thật ta


khơng thể nào đánh nổi.


Vị phó vương của sáu tỉnh[20], trước khi bỏ thành, thả hết người Thiên Chúa giáo, ơng nói với họ rằng


“Hãy cứ đi theo các bạn người Pháp của quý vị”. Ðó là một gương nhân từ mà về sau cả người Annam và
kể cả kẻ thù của người Annam tức là người Pháp chúng ta khơng ai làm nổi. Ơng cho đốt hết các kho
nhà nước, và cả các xâu tiền kẽm. Ta chẳng cịn vớt vát được gì.


Gạo cháy dở dang bán giá rẻ mạt chỉ để nấu rượu gọi là sam-chou[21], một loại rượu trắng của người


Annam. Tiền kẽm chỉ có giá khi cịn bó lại thành xâu. Buộc lại thì cơng nhiều lắm, vì thế tiền mất hết giá.


Tại các ụ đóng ghe ta cướp được vài thuyền quan thật đẹp bằng gỗ giá tị là một loại gỗ rất quí. Ta liền


tu sửa các ghe cướp được, trang bị khi giới, đem tăng cường cho hạm đội của ta.


Quyết định của địch quân rút bỏ thành My-thơ làm cả đồn qn tăng viện do chỉ huy trưởng viễn chinh
đưa từ Sạgon xuống trở nên vơ ích. Tóm lại tất cả cuộc hành quân chỉ gồm có giai đoạn chuẩn bị chớ
khơng đánh đấm gì cả, thôi cũng là chuyện may. Tin thắng trận My-thô đến tai của vị chỉ huy trưởng


và tướng de Vaissoigne khi hai ông thân hành đi thăm mặt trận My-thơ. Chiến thắng giúp cho vị chỉ huy


có thể lần lượt phân phối đưa quân đội giữ nhiệm vụ ở các nơi khác. Quân lính hầu hết là qn tình
nguyện. Trước khi thành My-thơ mất đã có vài đám mưa rào báo hiệu mùa mưa đã tới, mưa gây ra tình
thế càng ngày càng khó khăn hơn, có vẻ như muốn cho thấy là ý kiến của những người trước đây chống


lại việc tiến đánh My-thơ là có lý. Thư từ qn lính gửi đi theo từng chuyến định kỳ, tức ngày 11 tháng 4,
chắc phải nhắc tới việc này. Nhưng thành My-thô lại mất quá sớm vào ngày 12 tháng 4; vì thế khi tàu



đưa thưÉcho đến Singapour thì trong số thư chống lại việc tiến đánh My-thơ cũng có cả thư báo tin chiến


thắng thành My-thô gửi về Pháp.


Ðô đốc cử một sĩ quan đóng tại My-thơ đại diện cho ông ở đây: trước khi rời My-thô, ông hoạch định cho


</div>
<span class='text_page_counter'>(52)</span><div class='page_container' data-page=52>

chính và chính trị. Ơng đừng quên là kẻ thù còn trước mặt: vậy phải bảo trì pháo binh và bộ binh. Vùng
lãnh thổ tứ giác giữa các sông Cambodge, Bưu điện, Thương mại và khúc sơng Vạ-co tây là do qn ta
chiếm cứ. Dân chúng sẽ được thông báo về việc thành lập lãnh thổ ta bằng một tuyên cáo. Ðối với người
dân lương thiện ông áp dụng sự công minh, khoan dung và nhã nhặn. Ơng chống lại cướp bóc để che


chở họ. Ơng khơng nên tìm cách tự ý bành trướng việc chinh phạt của người Pháp. Dân chúng ở phía bắc


vùng tứ giác ta nên xem như đồng minh hơn là kẻ thù. Giải hết tù về Saïgon. Chuyển hết thương mại về


Saïgon. Saïgon phải là trung tâm thương mại duy nhất của ta.” Nhờ sự tín cẩn đặc biệt của đơ đốc đối


với mình nên đại tá hải quân Devaux mới được giao những trọng trách lớn lao như vậy trong suốt mấy
tháng đầu tiên sau khi chiếm My-thơ. Phó đơ đốc chỉ huy trưởng, trước khi quay về tổng hành dinh ở
Sạgon, đã giải quyết hết những gì liên hệ đến việc phịng thủ My-thơ: 400 người đóng giữ thành. Ðại


pháo của hải quân thì đem dùng trang bị cho thành mới chiếm.


Toàn thể pháo binh đánh bộ trở về Sạgon, qn sĩ pháo binh trở lại đóng chỗ cũ trong thành phố Tàu và
dọc theo các chùa như trước kia để chờ qua hết mùa mưa. Tình trạng sức khỏe của qn lính đi đánh


My-thơ suy sụp một cách nghiêm trọng; vào cuối tháng tư, các bịnh viện chật cứng bịnh nhân sốt rét và
thổ tả. Trong lúc đánh nhau con người sống một đời sống giả tạo: khi nghỉ ngơi, ta cứ tạm cho như vậy,



thì sự thực lại trở về với họ, vi trùng của tinh thần và thể xác phát sinh và bành trướng: tinh thần buồn


nản, xác thân rã rời. Mùa mưa thật sự đến rồi, cả Nam Kỳ miền dưới biến thành một vùng đầm lầy mênh
mông. Bầu trời mất hết vẻ trong sáng: từng chập trời đổ mưa như thác. Chỉ có cảnh xanh tươi của miền


nhiệt đới là tồn tại, ngồi ra chẳng có gì khác hơn là màu tối tăm của mưa dông đầy trời. Mùa màng thay


đổi trên quê hương ta hình như cũng phù hợp với bản tánh dễ biến đổi của ta. Nơi xứ Nam Kỳ y chang


muôn thuở của thiên nhiên, lúc nào cũng như nhau, tạo cho ta một nỗi buồn thảm vô biên[22]. Dịch tả


vẫn hoành hành: nạn nhân vẫn lẩn quẩn trong đám quân đi đánh My-thơ. Vị tiểu đồn trưởng cơng binh


là Allizé de Matignicourt chết liền sau khi ngã bịnh có hai ngày. Thế là kỳ viễn chinh sau hết đã làm thiệt


mất hai vị sĩ quan lớn. Trung tá Bourdais bị quân thù giết; thiếu tá Allizé, kém may mắn hơn khơng có cái


vinh dự đó, đã bị dịch thổ tả mang đi. Dịch tả trong 15 ngày đã gây chết chóc nhiều hơn là đại pháo và
súng bắn trong một trận hỗn chiến.


Ðám tang của ông là một tang lễ thật lớn. Gần như tất cả sĩ quan của toàn thể đạo quân viễn chinh đều


hiện diện: công binh, pháo binh, thủy quân, bộ binh, thủy quân lục chiến, các cơ quan bịnh viện đều có


cử người đại diện. Ðồn người đưa đám chật ních cả nghĩa trang của người Annam, mà bây giờ đây đang
chôn đầy người Pháp. Mười hai cái hố đào sẵn ở nghĩa trang ngập nước do cơn mưa từ tối hôm qua,
mưa đã biểu lộ sự đau đớn của mình bằng màu nước hịa với chất sét trong đất trở nên đỏ như máu. Gió


mùa tây-nam lộng hành mang đến cho bầu trời những đám mây màu chì: một cảnh nửa đêm nửa sáng



bao phủ mặt đất, buồn thảm hơn cả một ngày nhật thực. Mưa trút như thác đổ: hình như có sự giận dữ
nào đó đã vơ hết mưa gió để ném xuống mặt đất từng mảng lớn[23]. - Những nỗi niềm chán nản và yếu


mềm đã thấy xuất hiện trong nhóm dân đi chiếm thuộc địa. Mục đích của chúng ta trở nên tốităm: ta tự


hỏi biết bao nhiêu nhân mạng phải hy sinh để được lợi ích gì đây? Chung quanh ta đều thiếu thốn tất cả,


thiếu cả trời cả đất; xem kìa những lỗ huyệt há hốc sẵn sàng chờ đón ta, khép kín bạn hữu của chúng ta,


giống như những tiếng điểm danh của con quái vật sẵn sàng ngấu nghiến chúng ta. Ta chỉ biết khẩn cầu


và chờ đợi một tiếng nói vươn lên giúp ta sức mạnh và chịu đựng để chống chỏi với những tại họa này.
Bỗng có một người bước ra[24], tiến đến bờ huyệt cất lên những lời nói đó:


“Thưa q vị, người ta nói rằng mảnh đất này, để trả thù cho việc xâm lược của ta, đã nuốt sống cái tinh


khiết nhất của dòng máu chúng ta. Chính vì thế, mà chúng ta đã nhìn thấy tận mắt những vị chỉ huy của
quân đoàn nổi danh đã ngã xuống, như Labbé, Deroulède, Livet; và ngày hôm nay một lỗ huyệt mở ra
để đón phần thân xác của thiếu tá Allizé.


“Cái chết của thiếu tá Allizé là một cái tang chung. Các vị chỉ huy của ơng tơn vinh ơng vì kiến thức rộng


rãi của ông và sự can trường vững chắc của ơng; thuộc hạ của ơng thương mến ơng vì tính tình nhã
nhặn của ơng. Ơng đã đem đời mình đóng góp cho cơng cuộc đánh chiếm My-thơ: sự hy sinh đời sống


cao cả của ông làm cho chúng ta vững tâm hơn là làm cho chúng ta xao xuyến; sự hy sinh này rồi đây sẽ


làm nẩy nở được chăng cơng trình mà tất cả chúng ta bắt buộc phải làm!”


</div>
<span class='text_page_counter'>(53)</span><div class='page_container' data-page=53>

[3] Nguyên bản ghi <i>“vice-roi”</i>. Có lẽ tác giả muốn chỉ Tổng đốc Định Tường Nguyễn Công Nhàn(1789-1872)? - TN



[4] Một đại đội thủy quân đổ bộ, đại đội 7, đại úy Galache điều khiển; hai súng cối nòng 16 và 200 quả đạn cho mỗi khẩu, trung úy
pháo binh Savilly trách nhiệm điều khiển; hỏa tiễn chiến thuật ; 1 tàu sa-lúp trang bị một súng cối nòng 15 do trung úy hải quân
Vicaire điều khiển; pháo để phá các đập chắn; các tấm tôn để sửa chữa các pháo hạm bằng sắt bị thủng. Đại úy hải quân Delassaux,
giữ vai trò phụ tá quản lý đạo thủy quân đổ bộ đi cùng tàu với vị chỉ huy là Desvaux. - TG


[5] Câu nói này đã nêu rõ ý đồ của chỉ huy trưởng quân Pháp. - TN
[6] Nguyên bản ghi “renard”. - TN


[7] Tức khoảng 32cm. - TN


[8] Nguyên văn. Tức rạch Vũng Gù. - TN


[9] Xem bảng hình 3, nơi nào có cây cối đều vẽ rõ, phần cịn lại là ruộng. - TG


[10] Nguyên văn bản dịch là “<i>trung tá</i>”. Thực ra “<i>commandant</i>” vừa có nghĩa là “<i>chỉ huy” vừa có nghĩa là “thiếu tá”, cả hai nghĩa này </i>
đều sử dụng đúng ngữ cảnh với Allizé. - TN


[11] Sau này người ta mới biết rằng cỗ đại pháo đặt tại một ụ đóng ghe của tỉnh My-thô. - TG. Cách mô tả cho ta thấy là tác giả hiện
diện trong nhóm trinh sát này. - ND.


[12] Đây có lẽ là đồn Tân Hương (nay thuộc huyện Châu Thành, Tiền Giang), do Phó Đề đốc Đặng Đức và Phó Lãnh binh Bùi Đức trấn
giữ. – TN.


[13] Cấp bực của Bourdais là <i>capitaine de vaisseau</i>, cấp bực của Desveaux là <i>capitaine de frégate</i>, vaisseau là đại chiến hạm, frégate
là hộ tống hạm hay chiến hạm cỡ nhỏ ba cột buồm. - ND. Ở đây, ý nói là cấp bực của 2 người là ngang nhau, nhưng do Bourdais
được truy phong lên đại tá nên đứng trên Desveaux một cấp. - TN


[14] Trong ngành hải quân thường có thói quen tăng cấp chỉ huy lên một bậc. – ND. Nguyên văn bản dịch là <i>“thiếu tá”</i>. Trường hợp
này dịch giả nhầm lẫn vì trong ngữ cảnh này <i>“commandant”</i>có nghĩa là “người chỉ huy”. - TN



[15] Có lẽ tiếng Annam là “Tham Lương”? – ND. Đây là đồn Trung Lương, không phải Tham Lương như ở chương VI. - TN


[16] Ðây là cách viết nửa chừng của tác giả: quân sĩ chia làm hai phe, một phe muốn làm đám tang cho trung tá Bourdais, một phe
muốn tiếp tục tiến qn, do đó hai phe cãi nhau om sịm. - ND.


[17] Ðồn nơi trung tá hải quân Bourdais gục ngã được đặt tên là đồn Bourdais, theo chỉ thị của tổng tư lịnh viễn chinh. Xác của vị chỉ
huy Bourdais được mang về My-thô. - TG


[18] Đây là đồn cửa Tiểu (do Bố chánh Đỗ Đệ trấn giữ) và đồn cửa Đại (do Lãnh binh Nguyễn Mơ trấn giữ). - TN.
[19] Sách “Quốc triều Chính biên Toát yếu”, quyển V, chép về sự kiện thành Mỹ Tho như sau: - TN


<i>“Lính Đại Pháp đánh phá thành tỉnh Định Tường. Trước khi ấy có 14 chiếc tàu vào đậu vũng Cù Oác; sau vài ngày lại tới thêm một </i>


<i>chiếc nữa; còn cửa Đại, cửa Tiểu, đều có tàu Pháp đâu ở ngồi biển. Lãnh Tổng đốc Nguyễn Công Nhànđưa thư qua lại, quyền làm kế </i>


<i>hoãn binh. Tàu Đại Pháp lại tới thêm 3 chiếc, đều vào đậu phần biển làng Tường Khánh. Bọn Công Nhàn xuất binh dõng qua đồn Tân </i>
<i>Hương cứu viện; đạo binh Pháp xơng đến ngồi lũy bắn ln mấy ngày, quân ta bắn không lại, lui giữ đồng Tịnh Giang, rồi cũng chạy </i>


<i>tan, binh Pháp liền bức tới thành tỉnh, Công Nhàn nhảy xuống chiếc thuyền con lánh đi chỗ khác, quân lính chạy trốn hết thảy; lãnh </i>
<i>Tuần phủ Nguyễn Hữu Thành mở cửa thành chạy.” </i>


[20] Có lẽ tác giả nhầm. Chức quan cao nhất trấn giữ thành Định Tường khi ấy là Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn chỉ là chức vụ cao
nhất một tỉnh lớn. - TN


[21] Người dịch khơng đốn ra được tiếng Annam thật sự viết như thế nào. – ND. Đây có lẽ là “cơm rượu” chăng? - TN.
[22] Trời mưa tác giả nhớ nhà. - ND.


[23] Tác giả tả mưa ở một xứ nhiệt đới rất tài tình, lại phù hợp với hồn cảnh chết chóc và tâm trạng của người lính viễn chinh. Quả
thật là khéo. – ND.



</div>
<span class='text_page_counter'>(54)</span><div class='page_container' data-page=54>

<b>CHƯƠNG VIII</b>


<b>Ðề cương:</b>




<i>Cục diện Nam Kỳ miền dưới sau khi thành Ki-hoa và thành My-thô bị mất. - Chỉnh đốn binh bị. - Tổ chức </i>
<i>dân sự. </i>




Chiến thắng Ki-hoa và Mỹ-thô gây tiếng vang vô cùng rộng lớn trên toàn cõi Á châu. Bọn phiêu lưu dẫy
đầy trên các vùng biển nước Tàu kéo nhau đổ đến Saïgon, - từ dân miền núi Fo-kien, dân đảo Hải Nam,


dân Quảng Đông, dân Ả rập, Ấn độ, cho đến dân các bộ lạc Karing và Xong. Bọn phiêu lưu người Âu


châu tại Shang-haï, Hong-kong, Batavia và Manille vì cịn e ngại các cuộc biểu dương lực lượng qn sự


cịn có thể xảy ra nên vẫn đứng xa chờ đợi. Người Annam bị rúng động mạnh. Họ nhiều lần khoe khoan


với triều đình Xiêm La và Cao Miên là người Pháp không thắng họ được, họ thường dẫn chứng các trận
đánh ở Touranne như là các chiến thắng vẻ vang của họ, tuy có những lần tạm thời thua chạy nhưng


khơng phải vì thế mà họ thất bại[1]. Vị phó vương Annam cho các quan chức của hai tỉnh vừa bị mất hay


rằng ông không thể ra lịnh gì cho họ cả trước khi có sự chuẩn y của triều đình Huế. Từ nghìn xưa đến


giờ vẫn thế, cứ mỗi lần có sự xáo trộn ở Nam Kỳ miền dưới là giặc cướp xuất hiện khắp nơi; tình trạng xã
hội tại hai tỉnh lỵ xinh đẹp của ta là Saïgon và My-thô lâm vào mối nguy bị tan rã là vậy.



Trong hồn cảnh đó, vị tổng tư lịnh nghĩ rằng nên tạm thời ngưng việc chinh phạt, nếu không muốn


trông thấy phần lãnh thổ đã lọt vào tay ta lâm vào cảnh điêu tàn. Quân sĩ đã kiệt lực, thương vong quá


nhiều do dịch tả, sốt rét, kiết lỵ; mùa mưa biến Nam Kỳ miền dưới thành một vùng lầy lội mênh mông,
hồ ao rải rác khắp nơi; quả thật là những lý do mạnh mẽ để ngưng việc đánh chiếm thêm. Ðây là lúc mà


người Pháp phải tự xử lý những hậu quả do chính mình gây ra sau khi chiếm đoạt một vùng lãnh thổ


3.000 dặm vuông và đuổi hết những người cầm quyền cũ. Sau đây là lời một vị hồng đế Ðơng phương
đã nói với một vị thái thú Trung Đơng: “Ơng nghĩ rằng tơi có thể đứng từ xa để cai trị được không? Tại
sao các ông đến đây để chinh phạt chúng tôi, mà lại không cai trị nổi chúng tôi?”. Tất cả phương châm


của chiến tranh chinh phạt đều nằm trong nét dễ hiểu này.


Vì vậy các cuộc hành quân đều ngưng lại, các hoạt động quân sự được giới hạn trong khu vực lãnh thổ


thuộc hai tỉnh đã chiếm mà thôi. Thành Ki-hoa bị san bằng đã trả lại cho con sơng Don-nạ một quang


cảnh tuyệt vời; đối với sông Cambodge, sau khi thành My-thô đã bị chiếm, quang cảnh cũng trở lại như
xưa. Ðó là hai con sơng tuyệt đẹp, mà ta hoàn toàn chủ động dễ dàng với những phương tiện sẵn có.


Tuy nhiên, sơng khơng thể so sánh với núi hay sa mạc trên phương diện biên thùy, nhất là trong một xứ
mà người dân rất thích sống lưu động trên sơng nước. Thật ra thì vùng Lưỡng Hà[2] này mới chỉ bao


gồm có tỉnh Bien-hoa, giữa Nam Kỳ miền dưới và lãnh thổ Huế cịn có cả một vùng núi non làm biên giới


thiên nhiên. Ta chỉ có thể so sánh nơi đây là vùng Lưỡng Hà khi nào chiếm hết toàn thể lãnh thổ mà
thôi. Xâm chiếm tức khắc không thể thực hiện được vì các lý do vừa kể: quân lính kiệt lực, mùa mưa và



tình trang hỗn loạn hiện nay.


Cũng đúng lúc để ta đặt lại vấn đề có nên đánh chiếm thành Bien-hoa hay khơng và nếu đánh gục
đường tuyến địch trên sơng Don-nạ để đặt đầu cầu trên đất địch, tức là Bien-hoa, thì có lợi ích như thế


nào? Ðánh chiếm vị trí này để mở đường lên phía bắc, thì quả là người Annam sẵn sàng dâng cho ta, chỉ


cần báo trước họ là đủ; nhưng vào thời điểm này chỉ là một chiến thắng quân sự vô nghĩa. Một khi đánh


chiếm Bien-hoa sẽ đưa tới hai quyết định ta phải chọn: hoặc là tàn phá hết vị trí này hoặc là chiếm giữ.


Giải pháp thứ nhất đưa đến một hậu quả vô bổ; giải pháp thứ hai đưa đến một hậu quả nguy hại.


Vậy thì Bien-hoa là gì? Là vỏn vẹn một vị trí ranh giới. Ví như chúng ta phá hủy Bien-hoa, người Annam


sẽ rút về hậu tuyến, tức trên đường ra Huế, như thế họ lọt ra ngoài tầm kềm tỏa của ta. Hiện nay là mùa
rất thuận lợi cho việc đào xới. Ta có thể tin rằng họ sẽ chờ ta đánh và dành cho ta những bất ngờ bằng
cách đào hào đắp lũy cố thủ với các chướng ngại phòng ngự phụ thuộc mà họ thành thạo một cách phi
thường. Tóm lại chẳng có lợi gì cho ta cả.


Cịn nếu ví như ta chiếm giữ vị trí này. Bien-hoa sẽ trở thành một đầu cầu của ta nằm hẳn trên đất địch,
nhưng lại hồn tồn cơ lập. Nếu chúng ta muốn phong tỏa nhanh chóng Bien-hoa, cũng như phong tỏa
Sạgon trước kia, thì cần có 500 qn, một số đồn nhỏ để nối liền với tỉnh Gia-dinh, một số pháo hạm để


</div>
<span class='text_page_counter'>(55)</span><div class='page_container' data-page=55>

Theo ý kiến chung cũng như theo ngun tắc qn sự thì trong hồn cảnh như thế ta nên chú ý vào bối


cảnh tồn diện hiện nay mà khơng nên để ý đến khía cạnh riêng của một vấn đề; vì vậy khơng thể nào
có quyết định gởi một đạo quân viễn chinh đi đánh Biên-hịa. Sơng Don-nạ là một biên giới tạm thời;



hữu ngạn thuộc về ta, tả ngạn thuộc người Annam trừ ra hai vị trí trên tả ngạn ta phải giữ: một là ngôi
làng Thiên Chúa giáo nằm đối diện với Saïgon, hai là Fou-yen-mot do ta trang bị mạnh mẽ để kiểm sốt


tồn vùng. Làng Thiên Chúa giáo trung thành với ta, bảo vệ họ là chính đáng và rất đúng trên phương


diện chính trị. Fou-yen-mot dùng để canh chừng toàn xứ, và cũng là nơi ta lấy gỗ để bán; ngoài ra khi
cần thiết ta sẽ xuất quân từ đây để đánh bọc hậu vào phía bắc Bien-hoa khi cần chiếm vị trí này.
Ðể khống chế tồn lãnh thổ ta thiết lập hệ thống bố trí quân sự như sau:


Thành lập một đường tuyến chiến lược chắc chắn từ đồn Testard, các đồn Tong-keou, đồn Oc-moun,


đồn Tay-theuye cho đến thành Tay-ninh, các đồn lũy liên đới hỗ trợ với nhau, kéo dài từ Saïgon dọc theo


biên giới giữa Nam Kỳ và vương quốc Cao Miên. Sơng Don-nạ sâu, tàu bè cỡ lớn có thể lưu hành dễ


dàng vào sâu tới 60 dặm trong đất liền kể từ bờ biển; trên sông tấp nập tàu bè chuyên chở lớn nhỏ, hộ


tống hạm, pháo hạm. Như thế kể như tại tỉnh Saïgon và mặt giáp ranh với tỉnh Bien-hoa, ta có hai đường


tuyến quân sự, hỗ trợ nhau và cách nhau từ 5 đến 8 dặm. Ðường tuyến thứ nhất gồm các lực lượng lưu
động trên sông, có khả năng hiện diện khắp nơi; có thể đặt đại pháo ở hàng trăm vị trí khác nhau để


nhắc nhở cho quân thù là bất cứ một manh nha khởi nghĩa nào cũng sẽ bị quân sĩ tăng viện của ta đến


tận nơi để trừng trị. Ðường tuyến thứ hai gồm có thành đồn trải dọc song song với sơng Don-nạ. Về


phía sơng Cambodge, My-thơ là trại quân lớn và ta có cả một hạm đội canh chừng mạnh mẽ khắp phần


tứ giác phía đơng và phía tây, kiểm sốt tất cả kinh rạch và sơng Cambodge. Qn sĩ hành qn ngồi
Sạgon lên tới 1.425 người, như thế ta đã chiếm tối đa diện tích lãnh thổ mà ta có đủ sức để giữ.



Nếu như quân Annam dám mạo hiểm để tấn công ta thì cách bố trí vừa thấy đủ sức chống lại họ. Bị đẩy


lui về Bien-hoa, quân Annam thấy phía sau lưng họ, quân ta có thể dồn lại dễ dàng bất cứ chỗ nào để
đánh tan họ nếu họ có ý muốn tấn cơng. Cho đến bây giờ, nếu ví như ta chưa đủ sức ngăn chận các


cuộc hành qn từ Huế vào, thì đã có các biên giới thiên nhiên giữa Nam Kỳ miền dưới và Nam Kỳ miền


trung bảo vệ: đó là vùng núi non xuất phát từ núi Vi. Phần đất của người Âu châu chiếm giữ dựa vào dãy


núi đá, về phía nam thì có sơng Cambodge làm ranh giới và ba tỉnh miền nam áng ngữ, khơng có gì phải


sợ quân địch xua quân từ miền bắc; nhưng thực ra ta lại gặp phải nhiều khó khăn trong việc bình định


phần lãnh thổ đã chiếm. Người Annam khơng để ta yên một lúc nào hết, họ dung túng giặc cướp trong


khắp Nam Kỳ miền dưới[3]. Các tỉnh Ha-tien, An-gian, Vinh-long phì nhiêu một cách kỳ lạ, họ hồn tồn
có thể tự túc được. Chỉ cần vỏn vẹn một vài hiệu lịnh của triều đình, một vài tuyên cáo, không hơn không


kém là các tỉnh này sẽ lọt ra khỏi lãnh thổ thuộc địa tương lai mà ta hoạch định thiết lập cho nước Pháp.


Ðiều khó khăn để ta biểu dương uy quyền của kẻ xâm lăng là bản chất thiên nhiên của toàn vùng, nơi


này gồm hàng ngàn đường sơng rạch có thể so sánh với một vùng Kabylie[4] đầy sơng ngịi. Sơng rạch


tạo ra một hệ thống mạng lưới quá rộng lớn đầy kẽ hở không thể ngăn chận hết sự xâm nhập của người


Annam


Khi toàn lãnh thổ rộng lớn từ bờ biển Tàu cho đến ranh giới Cao Miên lọt vào tay ta, thì các quan chức



của triều đình Huế từ các cấp tổng đốc, <i>phou[5]</i> và <i>huyen[6]</i>đều bỏ trốn hết; nhưng các chánh tổng, xã


trưởng và các viên chức hội đồng xã đều ở lại làng của họ. Các điều khoản trong tuyên cáo của ta vào


tháng 3 và tháng 4 năm 1861 bảo đảm luật pháp, tài sản và phong tục cho họ. Ta khơng vội gì áp dụng


những cơng thức tuyệt vời của Tây phương mà chỉ nên bảo đảm tài sản sẵn có, tìm cách tránh cho họ


những thói xấu mà họ chưa hề biết, nhất là cứ để họ như trước, tức là người nông dân lo trồng lúa và


đánh cá. Thật vậy, nếu có một đường hướng chung để giúp ta cai trị thì ta phải sớm khám phá ra nó,


càng sớm càng hay, sau khi ta xâm chiếm Sạgon và My-thơ. Vị chỉ huy trưởng Pháp phải đối đầu với một


dân tộc mà luật lệ của họ, phong tục của họ ông ta đều mù tịt; ngôn ngữ họ dùng là một trong ba ngôn
ngữ của cả vũ trụ này mà khi nói lên thì giống như hát. Những người thơng ngơn thì thiếu, hành chánh
Annam bị nứt rạn, một nửa nhân viên đã bỏ trốn. Sau hết ta có thể xem như dân tộc Annam bị những
người lãnh đạo của họ bỏ rơi, đang thèm khát tự do, sẵn sàng bảo vệ đức tin Thiên Chúa của mình[7].
Ta phải công nhận khi bước chân vào sâu trong lãnh thổ Nam Kỳ miền dưới, ta nhận thấy ngay dân
chúng được nhào nặn theo lối uy quyền phụ hệ của Á châu. Ta cũng có ngay cảm giác là các quan chức


Nam Kỳ khác xa với các quan chức hành chánh hèn nhát và lạm quyền của Tàu. Về phần người theo
Thiên Chúa giáo, trước đây thì họ trốn lánh; nhưng trên đường chinh phạt My-thô, khi các pháo hạm
đem đến nhiều chiến thắng cho thấy người Annam càng ngày càng khó bảo vệ vùng tứ giác, thì họ ra


</div>
<span class='text_page_counter'>(56)</span><div class='page_container' data-page=56>

My-thơ, người nào không rút về Bien-hoa hoặc các tỉnh miền nam Cao Miên thì làm giặc cướp để sinh


sống; sau đó họ lại trở về đầu quân và gây thêm nhiều lẫn lộn và bối rối cho ta. Chỉ cần những xáo trộn



thật nhỏ cũng có thể nguy hại đến phong tục của một dân tộc, dân Nam Kỳ miền dưới gánh chịu nạn
cướp bóc là thế. Trong những ngày đầu, sau tiếng sét giáng xuống thành Ki-hoa, một mối kinh sợ bao


trùm tâm hồn người Annam. Nỗi kinh hoàng bị người Âu châu xâm chiếm họ giữ kín khơng nói ra; các


làng mạc xin đầu thú và xin ta cử người cai quản. Trước bộ tham mưu của ta, các xã trưởng và chánh
tổng nối đuôi nhau không ngớt. Họ quỳ gối và dập đầu để thỉnh nguyện, theo cái tư thế tuy đã thành
khuôn mẫu ở Á châu, nhưng lại va chạm mạnh đến quan niệm của người Âu châu về nhân phẩm con
người. Bằng một giọng như cầu kinh của người Annam, họ vừa run vừa cầu khẩn ta đừng bỏ rơi dân


chúng trong thôn xã của họ và bày tỏ sự sợ hãi giặc cướp hoành hành.


Hoàn cảnh đặc biệt đó cho thấy ngay các quyết định ta phải làm. Ngay trước mắt là cơ cấu thị xã của họ


ta phải giữ nguyên một cách cẩn thận. Các cấp bực của triều đình Huế, như tổng đốc, tỉnh trưởng, quận


trưởng đều trốn hết, phần sợ hãi người Pháp, phần vì trung thành với hồng đế Annam. Vị chỉ huy
trưởng của ta đưa một số sĩ quan đến những nơi còn bỏ trống để làm đại biểu cho mình bên cạnh dân


chúng Annam. Vai trò của họ đối với dân Annam vừa chinh phục xong cũng giống như các đại biểu gọi


là <i>Missi Dominici[9]</i> ở thế kỷ XVIII. Một số mang chức<i>phou</i>, một số mang chức<i>huyen</i>. Họ vẫn dùng lại
ấn dấu của người Annam, vì dưới con mắt người Á châu điều này rất hệ trọng. Chức vị của các đại biểu


hồn tồn có tánh cách dân sự; nhưng họ có thể trưng tập quân đội được cử bên cạnh để trợ lực cho


mình và để bảo đảm uy quyền. Vì vậy ở mỗi tỉnh, mỗi quận đều có một vị chỉ huy quân sự và nhân viên
dân sự. Các ông <i>phou</i> và các ông <i>huyen</i> cứ mỗi 8 ngày là phải phúc trình với vị chỉ huy trưởng về tình
hình trên tồn xứ. Ranh giới lãnh thổ vẫn giữ nguyên như trước, các vị đại biểu chỉ huy các cơ quan



Annam vừa kể không được vượt quá giới hạn các thành phố và làng mạc đã qui định trong khu vực của


mình.


Việc cử người đại diện cho chính quyền Pháp trong vịng tứ giác từ phía đơng do biển bao bọc cho đến


biên giới sát với nước Cao Miên cũng chẳng phải là việc khó khăn gì; cái khó là họ khơng biết tiếng


Annam mà phải đối đầu với những trường hợp phản bội và những người thơng ngơn chỉ biết nói bập bẹ.


Tại xứ này bắt buộc phải biết tiếng Annam và tiếng Tàu để giao dịch và viết lách văn thư, nhưng đó là


những thứ ngơn ngữ ta khơng hiểu thấu nổi. Cần có sự cải tiến chung cho Á châu bằng cách đưa 24 chữ


cái vào ngôn ngữ của họ để làm sáng tỏ bất thần cả một thế giới huyền bí mà ta có thể bị gạt gẫm dễ


dàng; tất cả đều quanh co, lắc léo. Trong số các rào cản mà Á châu dùng ngăn chận ta thì chữ viết là
thành trì kiên cố nhất. Người Âu châu nào cũng khựng lại trước những chữ viết bằng dấu gẫy gập lại,


giống như tâm trí con người sống ở cái phần đất này trên thế giới đã do ảnh hưởng chung quanh mà bị
méo mó đi. Sách vở tiếng Annam ta có vào năm 1861 vỏn vẹn chỉ có một cuốn tự điển, giá bán khá đắt,


gồm một vài ngữ vựng dịch ra bằng 4 thứ tiếng: muốn hiểu các ngữ vựng này thì phải biết tiếng Latin, vì
thế khơng thể nào phổ biến tiếng Annam một cách thỏa đáng cho quân sĩ nào của ta chỉ biết đọc qua


loa. Vị chỉ huy trưởng liền cho phiên dịch gấp rút một sách ngữ vựng Pháp-Annam và Annam-Pháp: hệ


thống dấu do cha Al. Rhodes sáng chế ra được giữ nguyên để soạn sách ngữ vựng, hệ thống dấu dùng


để xác định cách chuyển giọng trong một ngôn ngữ giống như hát mà không cần phải ghi chú thêm.


Quyển sách này phải đem đi in tận bên Ấn Độ: vì cách đánh dấu q khó làm trở ngại rất nhiều cho việc
ấn loát. Trong khi chờ đợi sách phổ biến, ở Sạgon có hai trường học được thành lập, một dùng đào tạo


thông ngôn, một dùng để dạy tiếng Pháp cho trẻ con Annam. Trường thứ nhất do một linh mục sẵn sàng
chiếu cố giúp ta, ông này biết rành tiếng Annam, thật là một điều hiếm hoi, kể cả những người nói được


ngơn ngữ này cũng không biết rành rọt được như ông. Ông buộc lòng phải ứng biến mà tạo ra một
phương pháp giảng dạy khác hơn cách mà ông đã học, và ơng đã vui lịng thực hiện việc này cho qn


đội viễn chinh. Học trị của ơng gồm một số sĩ quan và nhất là thủy quân và lính bộ có phép đặc biệt cho


miễn cơng tác, họ là những người quyết tâm lưu lại luôn trong xứ. Hầu hết người Pháp nào kiên trì đeo
đuổi việc học đều trở thành những người thông ngôn mà ta có thể tin được phần nào. Trường học tiếng


Annam góp cơng giúp nền quản lý của Pháp thốt ra khỏi ảnh hưởng giáo điều Cơ đốc, vì các vị giám


mục xem sự quản lý của Pháp là thiếu hạnh kiểm; có một danh từ Latin đại khái ám chỉ điều này như


một sự mưu mẹo, lạm quyền và tham nhũng giống như của châu Á[10].


Trường học tiếng Annam còn mang lại một điều tốt nữa. Hiểu biết một ngôn ngữ là phương tiện hay nhất
để thấu hiểu phong tục của một dân tộc: muốn hiểu một chữ hay những cách nói lắc léo của một ngôn


</div>
<span class='text_page_counter'>(57)</span><div class='page_container' data-page=57>

là cả một thế giới ý tưởng vô cùng phong phú: nếu hiểu rằng người Annam cũng là con người thì sự


hung bạo của ta sẽ bớt đi. Nhưng khi ta trừng phạt nặng nề những kẻ nào làm hại ta thì cũng là một việc


dễ hiểu thôi. Khi ta biết được một chữ, ta thường hay lập đi lập lại; ta sẽ kính nể một dân tộc hơn khi ta
có thể nói được ngơn ngữ của họ, nhất là một ngơn ngữ khó cực kỳ như vậy. Sau hết ta cũng tự lấy làm
lạ có những người Pháp chịu rời bỏ xứ sở của mình để cùng sống với một dân tộc xa xôi; đương nhiên họ



chấp nhận sẽ chết ở đây, cuộc sống lưu vong là mục đích của đời họ; điều lạ lùng này đã làm xúc động
và sưởi ấm một vài con tim với một chút lịng từ thiện Thiên Chúa.


Mục đích của trường học thứ hai là dạy tiếng Pháp cho trẻ em Annam. Việc dạy tiếng Pháp mới có lần
đầu trong xứ Annam: vì từ trước người Annam học ngoại ngữ chỉ gồm có tiếng Latin và tiếng Anh. Giáo
điều Thiên Chúa ở các tỉnh đều giảng bằng tiếng Latin. Theo thơng lệ, hồng đế Tự Ðức mỗi năm gởi 15


học sinh trẻ sang Singapour học tiếng Anh.


Tiếng Annam và tiếng Pháp đồng lượt được truyền bá là giai đoạn tối cần trong việc chinh phạt của ta,


kết quả lại tạo ra một thứ ngôn ngữ chung giống như ngôn ngữ <i>sabir[11]</i> mà người Ý đã mang đến cho
nước Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng phải nói rằng người Tàu tích cực hơn người Annam vì họ là những người đầu
tiên được ta huấn luyện. Mỗi tối, người bn bán ở Sạgon và Cho-leun sau khi ghi chép sổ sách xong thì
họ thay phiên nhau lập đi lập lại bài học mà họ gọi là học tiếng Pháp. Một vài thành ngữ quy ước và vài
tiếng Mã Lai cũng thường nghe nhắc đi nhắc lại trong các mẩu đối thoại dùng như những điểm chuẩn


cho dễ hiểu nhau. Việc chiếm đóng Canton từ trước và sự sinh sống lẫn lộn giữa 1.500 cu-li người Tàu và


quân đội Pháp cho thấy một vài dấu hiệu chứng tỏ bắt đầu có sự hiểu ý lẫn nhau. Cũng như tất cả các


dân tộc chọn chủ nghĩa hình thức, lễ độ là cả một khoa học xã hội; những thương gia từ khắp miền biển
Tàu đổ về đây chăm chú nghiên cứu học hỏi cách ăn nói, cười hỏi, xã giao của các người lính thủy và lính
bộ; quân lính của ta là những người duy nhất mà họ có thể gần gũi để tìm hiểu tập quán người Âu châu.


Các dân tộc Á châu đều có tinh thần nhất quán trong cách suy luận: khơng có một thương gia nhỏ nhoi


nào ở Sạgon này mà lại khơng tin rằng mình đã đánh giá đúng nước Pháp sau khi mới tiếp xúc với một
người dân Pháp duy nhất; nói một cách khác thì họ tin rằng một người cai và một vị tướng cũng đều có



cùng một cách cư xử như nhau.


Vì thế đã phát sinh một ngơn ngữ chung, mặc dù ảnh hưởng của Anh ngữ cho đến nay vẫn hết sức là
mạnh; ngôn ngữ chung đã phát sinh từ khi có 20.000 quân Pháp sang đánh bên Tàu và sau đó kéo


xuống đánh chiếm Nam Kỳ.


Một vài sĩ quan trong số người được cử nắm giữ các chức vụ hành chính chịu khó học tiếng Annam và
nghiên cứu phong tục của người Annam. Nhưng sau những hung bạo của chiến tranh, việc học hỏi dù có


đi chăng nữa cũng mang rất nhiều thiển cận. Tinh thần suy nghĩ bình đẳng thật là hiếm hoi; trong một
vài trường hợp đặc biệt lắm mới có một người Âu châu chịu hạ cố mà nhìn xuống xem những gì đã xảy


ra cho một dân tộc nổi danh man rợ, để đủ sức hy sinh mà trút bỏ định kiến có sẵn của mình đối với họ.


Vào thế kỷ XVII và XVIII, vài người hiểu biết rộng rãi và nhiều nghị lực như Pallu du Ruault, giám mục


Héliopolis, Pigneau de Behaine, giám mục Adran, Victor Olivier, đại tá công binh, không tin rằng họ đã hy


sinh đời mình một cách vơ ích để khai hóa cho người Annam. Thật quả họ là những người Pháp vĩ đại mà
vết tích cơng trình vẫn cịn đó, từ biển Tàu cho đến ranh giới tận cùng của đế quốc Annam! Họ biết cách


làm lắng xuống cái ngạo mạn của một dân tộc khuấy động nhất và hiếu chiến nhất ở Á châu[12]. Người
Annam đều nghe họ. Nhưng tất cả những gì mà họ quan sát thấy đã theo họ mà mất mát khi họ vĩnh


viễn ra đi. Có lúc người Hịa Lan và người Anh cũng làm như họ nhưng đều thất bại: ví dụ như Crawfurth


và Mackensie chẳng hạn. Cho đến mãi gần đây, cũng chưa có ai biết rõ ràng về đặc tính nhân chủng của
người Annam. Khi đi sâu và sống chung trong làng mạc của họ, giữa ruộng đồng và rừng rú của họ, ta



mới nhận ra những nét đặc biệt của tánh tình người Annam; trước đây ta chỉ biết cơ cấu quản lý thôn xã,
tổ chức hành chính và tánh khí đặc biệt chung của các dân tộc Á châu nơi họ mà thôi; trong đó gồm có


sự kính trọng tập thể làng mạc và uy thế vương quyền. Một vài nét mà ta nhận thấy trên diện mạo và
tính tình người Annam cịn xa mới tượng trưng được bản chất tồn diện của họ; nhưng phải nói hẳn ra
đó là duy nhất những gì mà ta có thể hy vọng đã quan sát được đúng. Hình như cũng có một sự trùng
hợp nào đó trong những thiếu sót của chân dung người Annam mà ta không biết được; càng tìm cách


xác định cho thật đúng, ta càng nhận ra một cách rõ ràng những điều ta chưa biết nơi họ. Nghiên cứu về
đặc tính, diện mạo và tinh thần người Annam không phải là một chuyện vô bổ khơng hợp thời trong hồn
cảnh chiến tranh ở Nam Kỳ như hiện nay: tìm hiểu tường tận về khả năng và phong tục của dân tộc


</div>
<span class='text_page_counter'>(58)</span><div class='page_container' data-page=58>

[1] Xin mạn phép được nhắc lại là phó đô đốc Rigault de Genouilly và vị cố vấn quân sự và chính trị của ơng là Giám mục Pellerin sau
khi đánh chiếm Ðà Nẵng (1858), trông chờ vào việc nổi dậy của một số người Annam để tiếp tay đánh vào Huế, nhưng việc nổi dậy
không xảy ra. Ðóng binh cố thủ tại Ðà Nẵng, qn lính bị dịch tả, sốt rét, kiết lỵ đành phải bỏ nơi này để đánh Sài Gòn (1859). Tại Sài
Gòn cũng không thấy ai nổi loạn, lại phải cố thủ chờ đại binh kéo từ Tàu sang (1861), (theo Stanley Karnow, Viêtnam, WGBH, 1983). -
ND


[2] Trong nguyên bản là “Mésopotamie”, tức vùng Trung Đông nằm giữa hai con sông Tigre và Euphrate, thuộc Iraq ngày nay. Một
trong những nền văn minh sáng chói và lâu đời nhất của nhân loại (thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ I trước Công nguyên) đã phát sinh ở
đây; tổ chức làng mạc sinh sống về canh nông cũng đã phát triển tại vùng này từ những thế kỷ thứ IX đến thứ VII trước Công
nguyên. - ND.


[3] Biết đâu cũng có du kích lẻ tẻ lẫn lộn với giặc cướp khắp nơi? - ND.


[4] Kabylie là một vùng núi non thuộc bắc Algérie, rất khó kiểm soát, hầu hết do sắc dân Berbère cư trú, họ luôn luôn nổi dậy và yêu
sách quyền bảo tồn văn hóa và ngơn ngữ của họ. - ND.


[5] Tức quan “phủ”. - TN


[6] Tức quan “huyện”. - TN


[7] Những người nông dân Annam chất phác ở giữa thế kỷ 19 thèm khát tự do, và dân tộc Annam sẵn sàng bảo vệ đức tin Thiên Chúa
của mình? Có lẽ hơi khó hiểu một chút! – ND.


[8] Nguyên văn là "…avaient reduit les paĩens en une sorte d’esclavage". Xin minh chứng để tránh hiểu lầm. Ðộng từ “réduire” trong
câu tiếng Pháp có nghĩa nặng hơn động từ “biến” trong câu tạm dịch. - ND.


[9] Khâm sai, quan thanh tra. – ND.


[10] Hóa ra nền văn minh Âu châu mà họ tự hào mang đến đây để áp đặt cho người Annam chẳng qua cũng thế mà thôi hay sao? –
ND.


[11] Nói chung là một loại ngơn ngữ đơn giản hóa, pha trộn nhiều ngơn ngữ khác nhau, dùng vào việc buôn bán và giao dịch thông
thường. - ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(59)</span><div class='page_container' data-page=59>

<b>CHƯƠNG IX</b>


<b>Ðề cương:</b>




<b>Diện mạo của người Annam - Ðặc tính tinh thần - Sự chuyên chế phụ hệ.</b>




Người Annam là một sắc dân thuộc giống người mà các nhà nhân chủng học xếp vào giống Mơng Cổ. Họ


có vẻ nhỏ con. Hai chân cứng cáp, hông nhỏ, thân dài và gầy, vai khá rộng, ngực nở nang, các bắp thịt



cổ cũng vậy, đầu có kích thước tương xứng với cả thân hình, hai bàn tay nhỏ nhưng ngón dài có nhiều


mấu. Nước da tùy thuộc theo trình độ giáo dục, địa vị xã hội và công ăn việc làm; màu da thay đổi từ
màu sáp ong đến màu gỗ gụ. Trán tròn, hai bên thái dương lõm vào và xương gị má nhơ cao; cặp mắt
đen, chỉ hơi xếch một chút, toát ra một vẻ dịu dàng, buồn thảm và rụt rè. Mũi thì q rộng về phía trên:


đó là nét đặc biệt chung của gương mặt Á châu. Người đàn ông Annam khoảng 30 tuổi mới có râu; ngay


khi có râu cũng chỉ lưa thưa ở mơi và cằm. Ðàn ơng để tóc dài, giống như tóc của người Tàu trước thời


kỳ bị giặc Mông Cổ xâm chiếm; cách nay 60 năm một số dân miền núi Fo-kien vẫn cịn để tóc dài chống


lại lịnh phải cạo đầu do người Mông Cổ thống trị ban ra. Người đàn ông Annam coi trọng việc để tóc, họ
búi tóc để hở hai vành tai. Người giàu đội khăn nhiễu Tàu che búi tóc, khăn nhiễu xếp thật khéo và rất


nghệ thuật; người nghèo ra đường không đội khăn; đôi khi ta thấy họ xổ tóc, vừa lắc đầu vừa giũ tóc, cổ


ngửa thẳng ra giống hệt cử chỉ của người phụ nữ. Người đàn ơng Annam có dáng đi thật lạ và khoan
thai: nhất là đầu có một dáng dấp đặc biệt, chắc là do búi tóc gây ra. Ta có thể nghĩ rằng vì cách để tóc
mà người Tàu, người Annam so với người Âu châu đầu và cổ có giáng dấp khác nhau. Nhưng phong tục


làm ngạc nhiên người Âu châu hơn hết tại phần đất Á châu này là nhuộm răng đen, thật không đẹp chút


nào cả: trông xa giống như rụng hết răng. Người Annam, giống như tất cả các dân tộc Mã Lai lúc nào
cũng nhai trong miệng nhiều thứ hợp lại gồm lá trầu, cau, thảo quả, vơi, có khi thêm cả thuốc lá nữa.
Hương liệu này có mùi vị rất dễ chịu nhưng rất cay và chát. Nếu ta cho rằng người Annam răng đen là vì


ăn trầu là sai: răng của họ nhuộm đen bằng một loại thuốc nhuộm làm bằng các vị thuốc Tàu. Nhiều
người đàn bà Âu châu ở Macao cũng lén ăn trầu nhưng răng họ vẫn trắng.



Y phục của một dân tộc thường bị chi phối bởi bản chất cơ thể của họ. Y phục của người đàn ông Annam
là áo dài cài nút ở bên hông, quần cắt theo lối Tàu đoan trang hơn quần của ta[1], chân mang dép da


đỏ. Ấy là y phục của người Annam có vị thế, giàu có hoặc là thương gia; cịn hầu hết dân dã, nông dân
và những người sinh sống trên ghe thuyền, thì chỉ dùng một miếng vải rộng buộc bằng dây lưng gọi


là <i>can-chian[2]</i>. Trẻ con thì hồn tồn trần truồng. Tuy nhiên cũng có vài đứa mặc một miếng vải hình
trái tim che bộ phận sinh dục. Trẻ con cạo trọc chỉ chừa vài chỏm tóc ở vài chỗ trên đầu. Y phục của phụ


nữ cũng không khác của đàn ông bao nhiêu: cũng áo dài lụa và quần. Mặc quần bốn màu rực rỡ là cách


ăn mặc thật thanh lịch của phụ nữ, vải màu ráp theo chiều dọc. Dáng đi của người phụ nữ có vẻ quả


quyết lạ lùng[3]. Ai thấy họ đi trên đường phố Saïgon sẽ để ý ngay, trên vai có một con két lơng xanh,
hai cánh tay đong đưa có lẽ là để đánh nhịp theo bước chân? Áo lụa ôm sát với thân người phơ trương


tất cả vẻ thiên nhiên của thân hình họ. Có nhiều người phụ nữ Annam rất đẹp: mặt tròn trỉnh, hai mắt
như nhung và xếch rộng, da nhợt và mờ, dáng dấp mong manh và thanh nhã như trẻ thơ[4], nói chung
cũng khơng khác biệt gì với quan niệm về sắc đẹp phụ nữ ở Âu châu.


Người đàn bà Annam ham mê nữ trang còn hơn cả những người đàn bà Âu châu. Họ đeo nữ trang từ


trên tóc, trên cổ, ở cánh tay và cổ chân; tùy theo giàu nghèo nữ trang làm bằng vàng, cẩm thạch, bạc


hay thủy tinh. Nữ trang thật tinh xảo khơng rườm rà, thơ kệch và khó coi như ở Ấn Độ và Ả Rập. Người
ta để ý thấy có ba loại vịng đeo tay mà người phụ nữ mang tùy theo từng giai đoạn của cuộc đời mình:
khi mới có chồng, sau khi có con đầu lòng, và sau hết là lúc tuổi già. Vòng đeo tay có hình tượng trưng


bốn[5] hoặc tám con vật huyền thoại. Người đàn bà Annam cũng đeo dây chuyền ở cổ bằng bạc, dài và
phẳng, còn đeo vịng ở cổ chân nữa[6]. Nhẫn thì có ba loại: dẹp, có nhiều mặt nhỏ hoặc là các kiểu



hoa. Hoa trên trang sức có kẻ gân hết sức là tinh vi. Thợ nữ trang cực kỳ khéo léo: họ tự nấu vàng, cán


vàng. Người Âu châu nào thấy họ làm cũng phải chịu thua.


Nếu quả đúng là tánh khí của một dân tộc biểu lộ từ nơi ăn chốn ở, thì phải nó rằng người Annam để ý
chăm sóc và dồn hết mọi sáng kiến để trang hoàng nơi ở của họ sau khi chết. Mồ mả xây hết sức rắc rối,
nhưng thường thấy hơn hết là xây theo hình trịn, sơn màu hồng hay tím nhạt thật sáng, tất cả tạo ra


một vẻ dịu dàng và đẹp mắt. Nhưng nhà họ ở thì tối tăm, kín đáo và buồn thảm. Nhà xây theo lối ba


</div>
<span class='text_page_counter'>(60)</span><div class='page_container' data-page=60>

trong tối om ngay cả giữa ban ngày, nhưng cũng vì thế mà trong nhà mát rượi rất dễ chịu, mặc dù bên
ngồi trời nóng bức. Nhà người nghèo thì lợp lá dừa lùn xếp chồng lên nhau như nhà lợp rơm của ta;
sườn nhà thì làm bằng tre và người Annam chỉ cần hai đến ba ngày là làm xong một căn nhà, nhờ cha


mẹ hay bạn bè giúp tay. Nhà cửa của người giàu thì lợp bằng ngói đỏ, kèo nhà làm bằng gỗ cẩm lai, rất


dễ đánh cho bóng láng. Trước ngưỡng cửa nhà của người Annam hoặc trên mũi ghe của họ cũng vậy, có


nhiều chậu cây kiểng đặt gom lại với nhau, gồm có cây mạ, một loại cây thân mập và một loại cây nhỏ


giống như cây sim hay cây lựu mà cành thì uốn nắn thành chữ Tàu.


Nếu thật sự muốn tổng hợp chân dung người Annam từ những điều quan sát của một nhà nhân chủng


học thì ta chỉ có thể tạo ra một tấm tranh phác họa thô sơ mà thơi, khơng tình cảm cũng khơng có sự


sống. Mô tả chi tiết đường nét của một sắc dân khơng khó gì cả, chỉ cần chú ý một chút là đủ; nhưng


muốn tạo ra vẻ mặt của một người suy tư, thương yêu và đau khổ thì dù muốn dù không ta phải thêm


vào bức chân dung cái vị trí xa xơi của q hương họ, cái nóng bức của miền nhiệt đới, cho đến cái


khung cảnh chung quanh cuộc sống của họ. Nói vắn tắt là phải gần gũi với họ. Ta phải nhìn xuyên qua
cái vẻ bên ngoài bất di bất dịch của Á châu, xuyên qua cái khuôn đúc duy nhất tạo ra vóc dáng y hệt


nhau, ta mới thấy được cá tính bên trong của từng con người. Nhưng ngày nay khó mà nhìn thấy đặc


tính tổng hợp của người Annam. Chính những quang cảnh vui chơi của họ đã bị chiến tranh tàn phá hết.


Ta nghe kể lại rằng trước đây gần Sạgon có nhiều chợ búa, nhà hát, vòng ngựa quay cho trẻ em. Một


trong những quang cảnh biểu diễn tài tình nhất là cảnh chơi cờ tướng, sân cờ là một vùng đất rộng


mênh mơng, trị chơi giống như hai đồn kỵ binh đánh nhau. Hai bên đấu với nhau cạnh tường thành
Sạgon. Hai vị hồng đế cưỡi ngựa và mặc áo thêu rồng ở ngực, quan và quân lính mặc áo màu sặc sỡ.
Cách chơi vạch rõ trên mặt đất như một bàn cờ khổng lồ.


Nhưng bây giờ thì người Annam chỉ biết ngồi bên những chiếc bàn gỗ thô sơ kê sát ngưỡng cửa trong


làng của họ, miệng đỏ lịm vì nhai trầu; họ ngồi trong một tư thế suy tư làm ta liên tưởng đến các giống
thú nhơi lại; hình như họ đang buồn tiếc so sánh những cảnh đang diễn ra trước mặt họ với những cảnh
vui chơi tràn đầy kỷ niệm trước đây mà ta khơng hề biết. Chính trên mặt sơng người Annam có thể đã
tìm lại được bản chất tự nhiên của họ. Những người chèo ghe ngược xuôi trên mặt nước, dừng lại trò
chuyện với nhau về việc mua bán mới đây của người Pháp; họ chỉ mặc một tấm vải màu xanh dương hay


màu nâu nhạt, thân để trần màu xậm như gạch, tóc thì đen lánh, tất cả tạo ra một sự kết hợp màu sắc


hết sức dung hòa và nhả nhặn; Tuy họ khơng có vóc dáng của một giống dân lực lưỡng nhưng ta phải


nói rằng người Annam chịu đựng việc cởi trần rất giỏi. Mặc dù ăn mặc giản dị như thế, họ đưa thân ra



nắng mà chẳng e dè gì hết, khơng bao giờ da bị phỏng nắng tàn bạo như người Âu châu; quả thật đất
đai của họ đã sinh ra họ, họ sinh sống vào đúng vị trí của họ trên địa cầu này.


Người Annam rất ơn hịa, dễ bảo mặc dù bên trong vẫn có sức kháng cự; dễ gập mình nhưng cũng đầy


khả năng để vươn thẳng lên; suy tư, rụt rè nhưng khá vui vẻ.


Họ ham vui chơi, khi làm được tiền là xài ngay; đây là đặc tính khác hẳn với người Tàu. Họ khơng thích


cũng khơng có một khả năng gì về thương mại: đất cát phì nhiêu lạ lùng của xứ Annam thu hút người


ngoại quốc, họ đổ xô đến đây và nắm hết việc thương mại trong xứ. Người Anh và người Hòa Lan từ lâu


tìm cách bn bán với Nam Kỳ nhưng khơng thành cơng.


Hàng thương mại chính là gạo: nếu cứ bỏ mặc cho người Annam thì họ chỉ trồng lúa vừa đủ để sống


không dư thêm một hạt. Họ là nông dân và làm nghề chèo chống chuyên chở bằng thuyền bè: hai nghề


có vẻ trái ngược nhau, nhưng thật ra rất phù hợp và bổ túc cho nhau, vì mùa màng có định kỳ rõ rệt,
đến đúng mùa mới gieo mạ và cấy lúa. Ðời sống như thế hết sức phù hợp với sở thích và khả năng của
người Annam. Họ thích đi dạo chơi, khơng chủ đích gì hết, đi dạo thế thơi. - Anh làm gì vậy? - <i>Lam </i>
<i>ray, </i>tơi trồng lúa. - Anh đi đâu vậy? - <i>Didoy[7], tôi đi chơi. Mới nh</i>ìn hai hành động này có vẻ khơng phù
hợp với nhau nhưng thật sự hết sức hợp lý: một năm chỉ có hai mùa lúa nên họ có nhiều thì giờ vui chơi,


lối sống như thế đã trở thành phong tục của họ.


Người Annam trồng một ít mía đủ cho nhu cầu mà thơi. Ðường mía của họ rất ngon, trong chiến dịch



1861 ta tìm thấy nhà nào ở tỉnh Gia-dinh cũng có. Trong xứ cũng có vài nơi trồng cây chàm làm thuốc


nhuộm và trồng bông vải với phẩm chất rất tốt. Nam Kỳ sau này có thể cung cấp bơng vải cho thị trường
Âu châu. Nhưng khơng phải chuyện gì đương nhiên cũng có, muốn gặt hái thì cũng phải có người trồng,


phải phối hợp nhiều cố gắng, và phải có hịa bình.


Ðất Nam Kỳ miền dưới phì nhiêu, người dân có nhiều phương tiện để trở nên sở hữu chủ mảnh ruộng


</div>
<span class='text_page_counter'>(61)</span><div class='page_container' data-page=61>

trên hết; tất cả các điều vừa kể giúp người dân Annam sinh sống dễ dàng và không nghĩ đến việc vượt


biển mà di cư đi nơi khác. Nền giáo dục của họ cũng khơng khuyến khích họ bỏ xứ, chưa kể họ đã có sẵn


bản chất luyến tiếc đất đai của họ. Luật pháp quốc gia cấm việc vượt biên, và người Annam thì rất tơn


trọng luật pháp. Người ta không gặp một người Annam nào trên đất Tàu, Phi Luật Tân, đảo Java hay Ấn
Độ thuộc Anh. Chỉ trên đất Xiêm La có một số trại người Annam bị vua Xiêm bắt về làm nô lệ trong


những lần đánh nhau với hồng triều Huế[8].


Chính những lý do kể trên đã giúp người dân Nam Kỳ không làm cu-li, đời sống và nhà cửa quá dễ dàng;
nếu cần họ chỉ việc dọn đi nơi khác trong xứ để làm ăn mà không cần vượt ra khỏi biên giới. Nhưng hình


như mối dây buộc chặt họ với đất đai chỉ có tính cách bề ngồi mà thơi. Khi lúa đã gặt và bó xong, thì


người nông dân trở thành người chèo chống trên mặt sông ngòi, di chuyển khắp nơi trên đất Nam Kỳ.


Trong một số trường hợp, vì sợ bắt làm nơ lệ hoặc vì áp lực chính trị, họ có thể kéo nhau bỏ hết nguyên
một tỉnh để ra đi. Họ để lại phía sau cả một sa mạc hoang tàn cho kẻ địch. Cũng chính vì thế mà sau một



trong các lần xâm lược của Cao Miên trước đây vào Nam Kỳ dân chúng tỉnh Gia-dinh đồng loạt bỏ đi hết.


Cách giải quyết như thế, hình như rất phù hợp với tính tình của người Annam, và khơng giống với bất cứ


một dân tộc nào khác ở Á châu. Họ chịu vặn mình để nhịn nhục, dù có lấy tay để xiết họ thì họ cũng tìm
cách lọt ra và biến mất, đó là thái độ và hành động mà họ đã chọn. Khi ta ngược đãi họ, họ sẽ bỏ đi


ngay nếu có thể được; họ khơng thích bất cứ gì có vẻ nóng nảy và giận dữ. Vì sự mù tịt của người Âu


châu về ngôn ngữ của họ, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược, và vì nhu cầu tránh bỏ mọi


phiền phức đối với người da vàng bại trận, mọi quyền hành ta đều giao cho những thuộc hạ ở cấp thấp


nhất, họ thực thi bằng những cử chỉ sỗ sàng, giận dữ và hung bạo. Thái độ của người Annam trong hồn
cảnh đó là nhịn nhục và khơng phán đốn, phục tùng trước một sức mạnh mà họ coi là điên rồ và mù
quáng; tất cả cho ta thấy một thứ gì âm ỉ, ghê sợ khơng kềm hãm được và đó cũng đủ cho thấy sự khác


biệt giữa hai giống dân.


Cũng phải nói cho rõ là cái đám tạp dân Á châu tại Sạgon khơng thể gây cho ta những ý tốt vềcác dân


tộc tại đây, nhất là đối với dân tộc Annam. Người ta vẫn nói rằng người Annam bị úa tàn khi giao tiếp với


nền văn minh của chúng ta, giống như những vị thuốc mà ta đưa cho họ khơng thích hợp với cơ thể của


họ, hay nói đúng hơn là với tính khí của họ. Có ai tin rằng trong số đám người kia đang cúi đầu bị dẫn đi
làm lao động có những kẻ đã đủ sức đương đầu một tiếng rưỡi đồng hồ với quân đội Pháp trang bị vũ


khí tối tân? Nhưng thật ra ta chỉ nhận thấy những biến cố hằng ngày đập vào mắt mà thôi, ta phải nhìn
sát vào quang cảnh của một dân tộc đang bị đưa vào ách nơ lệ thì mới hiểu được tại sao họ đã liều lĩnh



chiến đấu đến cùng. Người Annam có nhiều can đảm, có thể nói là họ rất hào hùng trong hồn cảnh khó
khăn của họ; nhưng đánh giá đúng những điều này thật khó cho ta, những ý nghĩ nẩy mầm và phát triển
trong đầu một người Á châu hoàn toàn khác với chúng ta; vì lẽ khơng có gì tương đồng để xét đốn vì
thế trên phương diện này ta chỉ nên nhìn vào những điều quan sát hơn là đưa ra những kết luận[9].
Trong xứ Annam con người hòa mình trong đám đơng hình như khơng thấy để lộ một cá tính riêng biệt


nào hết, sự tơn thờ hồng triều đã san bằng mọi con người, khơng có ai nhô đầu cao hơn kẻ khác: nơi
đây không cịn có chỗ cho sự ganh đua; trong một số đạo quân Âu châu thì trái lại sự ganh đua thật là
náo nhiệt. Người Annam chiến đấu mạnh khi họ tự tin rằng họ sẽ đẩy lui được quân địch. Vì vậy mà
trong một ngày may mắn quân đội ta đã làm lung lay lòng tin của địch khi họ dựa vào những chướng


ngại phòng thủ mà họ cho là ta không phá nổi; khi họ tháo chạy thì tán loạn như một đàn chim vụt cất


cánh, họ chui vào các bụi rậm như một con cọp, đối với họ không phải là một sự nhục nhã khi biết rằng


khơng cịn cách gì chống cự được[10]. Cũng chính là những con người như thế đã dùng lao chống lại


súng các-bin của ta trên đồng ruộng My-thô. - Sau các trận chiến ở Touranne và Saïgon vào những năm


1859 và 1860 ai cũng tin chắc rằng chiến thuật của họ là cố thủ trong các thành đồn kiên cố mà thôi, họ
không dám đánh dàn trận với ta hoặc phiêu lưu trên địa thế trống trải. Các trận Go-cung[11], các trận


khởi nghĩa năm 1861 và 1862 chứng minh rằng chẳng những họ dám chiến đấu với ta trên địa thế mà
còn dám khơi chiến với chúng ta trên các loại mặt trận như vậy.


Trận chiến mà người Annam gánh chịu trong gần 6 năm đã biến đổi hẳn chiến thuật chung về tấn cơng


cũng như phịng thủ, nhưng khí giới thì vẫn thế, khơng thay đổi gì. Rõ ràng là sau khi thành Ki-hoa bị



mất, họ cũng mất hết tin tưởng vào thành lũy mênh mông và các chướng ngại phụ thuộc mà họ thiết lập


một cách vô cùng tài tình; nhưng họ vẫn chỉ tiếp tục dùng lao, súng hỏa mai cổ lỗ mồi bằng đá lửa, pháo
vác trên người, súng nòng 4 cũng vác trên vai mà bắn. Tuy các dàn đại pháo là phần duy nhất có một


</div>
<span class='text_page_counter'>(62)</span><div class='page_container' data-page=62>

nhiều đại pháo như vậy? Ta thấy chỗ nào cũng có: một phần họ chôn dấu trong rừng, đánh dấu cẩn


thận để dễ tìm, một phần thì họ dấu dưới các đống lúa gạo, kho bọng. Tóm lại họ thích tiếng nổ của


thuốc súng; giống như cái say mê của trẻ con người Tàu, họ thích pháo như thế nào thì họ cũng thích


tiếng nổ của đại pháo như vậy.


Cịn nói về bản chất của chính người lính, ta có thể nói rằng họ quen chiến trận, và những biến cố sau
này đã cho ta hiểu rõ hơn bề trong của bản tính người Annam. Uy quyền của triều đình Huế bị nứt rạn ở


các tỉnh do quân Pháp chiếm tạo dịp cho một số người nhiều nghị lực đứng lên tạo lập công danh, nhất


là khi họ thấy căn bản sinh tồn của dân tộc họ bị hăm dọa. Những người lãnh đạo các nhóm du kích sau


khi đã ăn<i>gan[12] </i>và uống vài ly <i>sam-chou</i>, họ thề thà chết quyết tâm đánh giặc Pháp, rồi họ lên đường.


Hầu hết những người này phải chết một cách khốn đốn và nhục nhã, nhưng hình như cái chết của họ


khơng làm thối chí họ hàng và bè bạn họ[13].


Ngoài cái can đảm của người Annam mà những vị lãnh đạo can trường đã truyền lại cho họ, ta cịn thấy
trong đó có sự dị đoan khủng khiếp nữa. Khi một người đồng đội bị giết, họ liền mổ thây móc lấy tim cịn


thoi thóp để chia nhau mà ngấu nghiến. Sau đó họ tiến lên, khơng có gì cản nổi: họ có đầy<i>gan[14]. - </i>Có


một nhà tu người Annam tỏ ra là người rất hào hùng và quả quyết, cách đây vài năm đích thân tìm


đường ra Huế để kiện tụng: vì có người muốn đuổi ơng ta để chiếm đất. Một tên chánh đảng cướp biết


tin tìm đến ngôi nhà mà ông tá túc trên đường ra Huế. Khi đến nơi anh tướng cướp thấy có một người


chết vừa được tắm rửa. Những người chung quanh đang lo tẩm liệm liền chỉ xác chết mà bảo chính là
xác của nhà tu, nhưng thật sự những người này nói dối để tìm cách cho nhà tu trốn đi. Tên trùm đảng
cướp liền nói rằng: “Nếu quả thật như vậy thì để xem có cơng hiệu đúng như người ta nói khơng: hắn


phải có<i>gan</i> lớn lắm mới dám ra tới Huế mà kiện thưa”. Thế rồi bọn cướp moi tim xác chết mà ăn. Từ đó


nhà tu lặng câm, khơng hó hé gì nữa. Ơng ta là người lanh lợi và thận trọng, theo lời đồn đãi thì ơng ta
có nhiều thoi vàng và bạc, thật quả ông ta vừa chết hụt[15].


Truyền thống ăn<i>gan</i> của các trùm đảng cướp cũng như nhục hình áp dụng trong phần đất này của Á


châu có thể làm cho ta tưởng lầm là một quôc gia vơ nhân đạo. Nhưng ta có thể khẳng định ngược hẳn


lại, người Annam rất khiếp sợ cảnh máu rơi. Ở Âu châu, giết người thường đi đôi với cướp bóc: vì giết
người là để bảo đảm việc cướp bóc dễ dàng; bọn cướp bóc Annam chỉ lột sạch nạn nhân nào lọt vào tay
họ nhưng không giết; trước năm 1859[16], chưa chắc đã có đến ba vụ giết người trong một năm. Ta
khơng nói đến những năm sau này, vì án mạng ta đều ghép vào tội chính trị[17]. Sau hết luật pháp


Annam, giống như ở Xiêm La và bên Tàu quy tội hết cho cả làng, đó cũng là cách chận đứng sự lan tràn
tội phạm. Trong xứ Annam, án mạng xảy ra là một chuyện cực kỳ hệ trọng, luật của người Annam buộc


họ sống theo bản tính thiên nhiên của họ, tức là khơng bao giờ giết chóc.


Sự khiếp sợ máu rơi không cấm cản được sự độc ác của họ theo lối Á châu; có nghĩa là họ áp dụng hình


phạt bằng cách tra tấn mà chỉ có quỷ sứ thoát ra từ địa ngục mới sáng chế ra được. Ta hãy thử tìm hiểu


nguyên do vì đâu lại có sự mâu thuẫn giữa việc sợ hãi máu rơi và sự tàn bạo, hai hành động thật trái


ngược nhau. - Say mê chế độ, viễn tưởng ấu thời dai dẳng đeo đuổi con người Annam trong hoàn cảnh


thực tế mơ hồ, tin các lý thuyết do trời định, sự lẫn lộn giữa quy luật tôn giáo và chính trị, nhân viên nhà


nước q đơng và uy quyền quá mạnh, tất cả tạo ra thần quyền mà đầu não là Huế, thần quyền đó đã


áp đặt bàn tay của mình lên những động lực tế nhị nhất của linh hồn con người, để xúc phạm, nhào nặn


làm cho linh hồn úa tàn. Sau khi san bằng tất cả mọi linh hồn họ lại làm tan tành thể xác bao bọc cái linh
hồn đó[18]. Từ tác dụng này đến tác dụng khác, tránh sao chẳng có liên hệ, có thể vì thế mà ta khơng
ngạc nhiên gì khi thấy nhân viên của một chánh quyền phụ hệ và chuyên chế, bẻ gẫy, cắt cụt, tháo gỡ
con người từng mảnh như một hình nộm. Tội ác khơng thể tha thứ trong xứ là phản nghịch hoàng triều,


tội phạm bị xử<i>lan-ti[19]: </i>tức bị xẻ thây làm trăm mảnh, xong bỏ hết vào một cái lu đem đặt trước nhà
của kẻ tội phạm. Phải hiểu rằng trong đầu của các dân tộc này khi đày đọa xác chết tức làm gia tăng


hình phạt cho nặng nề thêm. Hình phạt có nhiều loại, ta có thể kể ra đây những loại khủng khiếp nhất:
như kéo thân phạm nhân trên những thân tre cắt dọc, thân tre cắt như hằng ngàn lưỡi dao cạo; kẹp


bằng kềm nguội hay nung đỏ; dùng dao sét rỉ; lưỡi cày nung nóng; ghế có đóng đinh nhọn; kể cả bỏ rắn


vào quần kẻ bị kết án nữa[20].


</div>
<span class='text_page_counter'>(63)</span><div class='page_container' data-page=63>

trong những trường hợp kể ra sau đây cho thấy những kẻ man rợ đó xứng đáng là bậc thầy để dạy ta


những bài học về nhân đạo.



Một trung sĩ pháo binh của ta bị địch bắt năm 1860[22], mang về thành Ki-hoa, nhưng được đối xử tử tế
và nuôi dưỡng đàng hồng. Người này cịn được gởi cả tin tức về cho ta nữa. Khi các đường tuyến


Annam bị đánh bại, qn sĩ chạy trốn tán loạn thì ơng ta bị giết; nhưng chỉ bị chặt đầu thế thôi, không


giống như ở các nước Tây Tạng, Miến Điện xác chết cịn bị thêm nhục hình thật ghê tởm. - Một chiếc


thuyền buôn loại hai cột buồm do thương gia của ta ở Saïgon thuê mướn đi từ Hong-kong đến Sạgon,


nhưng khơng may bị mắc cạn ở một eo biển gần mũi đất Ti-wane[23], ngay giữa vùng đất địch. Tuy


rằng dân chúng đói kém vì lệnh cấm gạo[24], và mặc dù tình trạng chiến tranh khơng hề dung tha do ta


gây ra, những người bị đắm thuyền được tiếp đón, ni dưỡng, lại cịn được giúp để đưa tin tức; khi ta
đến cứu thì thấy họ được tiếp đãi trọng hậu hơn cả một số những nơi tử tế mà ta có thể biết trên bờ


biển Âu châu. Ðó là một vài nét cho thấy một dân tộc khơng thiếu tình nhân đạo[25].


Người Annam chấp nhận phút khổ hình cuối cùng với một thái độ giản dị, trầm tĩnh, đáng kính nể: khơng


một cử chỉ nào, khơng một lời nói nào cho thấy sự thất vọng, sợ hãi, hay hèn nhát. Trong một số khá lớn
các trường hợp ta chỉ thấy có một người Annam duy nhất đã khóc, đó là một thanh niên còn nhỏ chưa
đến tuổi trưởng thành[26]. Trong vòng tháng 6 năm 1861, khi đầu quân sĩ viễn chinh được treo giá thêm
một lần nữa, và khi bản tuyên cáo của triều đình Huế sớm lọt vào tay ta thì ta bắt được hai mật sứ trẻ


mang các bảng tuyên cáo này của triều đình gần Tran-bam; hai mật sứ giống trẻ con hơn là vị thanh
niên. Ta giải hai đứa nhỏ này về Saïgon để đưa về tổng hành dinh trên mẫu hạm của đơ đốc là
chiếc <i>Impératrice-Eugénie</i>. Khi cịn đang trên sơng Don-naï, chúng xin ta ban cho chúng một ân huệ;



chúng xin với một vẻ giản dị và hồn nhiên đến nỗi lúc đầu ta cũng không nghĩ đến mục đích của những


lời van xin đó: hai đứa xin phép ta được nhảy xuống sông để tự tử. Tất cả người Annam đều biết lội:
nhưng ta không nghĩ rằng hai đứa bé tìm cách trốn, thật sự là chúng xin được tự tử, có thể vì sợ bị tra


tấn; theo chúng thì khi bị bắt tức là phải chịu tử hình. Cái tuổi cực kỳ trẻ thơ của hai tội phạm thật là


đáng chú ý, và trong trường hợp này sự thương hại lớn hơn những lý do chính trị[27].


Ta tự đặt câu hỏi từ đâu đã phát sinh ra sự trong sáng như vậy mà ta có thể so sánh với sự thanh thản ở


cấp bực của linh hồn? Có phải bên trong họ có một hình ảnh nào đó đã an ủi họ, như một lời hứa hay


một kỷ niệm chẳng hạn? Họ có so sánh giữa sự sống và cái chết hay khơng, hay họ xem cái chết cịn tốt
đẹp hơn sự sống? Có phải là bản chất tơn giáo hay tánh khí của họ đã trợ lực cho họ? Chắc chắn không


phải là bản chất tôn giáo rồi: ta khơng thấy gì khác biệt trên phương diện này giữa người Annam Thiên


Chúa giáo và người Annam ngoại đạo; những người ngoại đạo rất tin những pháp lý của vị Phật sau
cùng, nhưng những giáo lý của ông Phật không vượt lên tới cấp bậc tư tưởng thiên tính, và ơng Phật chỉ


là một vị thánh lương y mà thơi[28]. Cịn người theo Thiên Chúa giáo thì ngày nay ta đã biết giá trị của


họ thế nào rồi. Những gì làm cho người Annam rắn rỏi là ý chí của họ, điều này làm họ khác hẳn với các


sắc dân khác ở Á châu. Chính ở những kẻ yếu kém sự linh hoạt và mềm dẻo của trí tuệ càng phát hiện


một cách rõ rệt hơn, chính đó là bản chất của tính khí người Annam. Thường thường đàn bà và trẻ con
Annam tỏ ra can đảm và liều lĩnh hiếm có.



Người đàn bà Annam được tự do hơn bất cứ một nơi nào ở Á châu. Người ta kể rằng ảnh hưởng của họ


rất lớn nơi thôn quê làng mạc. Nếu có một người nơng dân nào bị tù tội phi lý, vợ hắn bế con trên tay
tìm đến cổng quan mà kêu oan: khơng ai có thể cản nổi bà này. Người phụ nữ trong các sách truyện


Annam, cũng như trong những mẩu đối thoại chuyển thành thơ[29] mà họ hát tay đôi với nhau giữa
đồng ruộng, hoặc trong các vở kịch giản dị trên ghe thuyền ta đều thấy một dáng dấp, một âm giọng cực


kỳ dịu dàng và tế nhị của người phụ nữ; điều này cho thấy rõ ràng đặc tính cá biệt của người đàn bà
Annam trên toàn cõi Á châu. Ta tự hỏi cịn có gì diệu dàng và chất phác hơn những lời ta thán của một
người si tình ngỏ lời với một gốc chanh?


“Tơi xin chào và khen ai trồng chanh - tôi muốn hái quả chanh ngon. - Khi thấy hoa thấy trái, tôi thấy


tâm hồn của chanh; - nhưng đụng phải gai, nên tơi phải tránh, - Có biết bao nhiêu những kẻ tài tử giai


nhân - dịm ngó săn đón chung quanh. - Chanh ơi! tôi muốn bước tới chỗ thương yêu: nhưng chanh từ


chối. - Tại sao, tàn nhẫn quá, chanh làm cao quá vậy, có phải chanh coi thường tôi chăng?”[30]


Hôn nhân và mai táng là hai sự kiện quan trọng nhất trong đời người Annam, trong những trường hợp


này người nghèo cũng được ngang hàng như người làm lớn hay người giàu có: tức là họ được mặc áo


</div>
<span class='text_page_counter'>(64)</span><div class='page_container' data-page=64>

gặp đám cưới hay đám ma của một người nhà quê, dù thấp hèn cách mấy đi nữa, cũng phải xuống ngựa
và nhường bước cho đám đơng.


Ðám cưới có tới 6 lễ[31]; nhưng thơng thường thì chỉ giữ có ba, có khi cịn giữ hai lễ mà thơi, như sau:
người thanh niên phải tìm một người làm mơi giới[32]báo trước cho cha mẹ người con gái rồi chọn ngày
và giờ. Ðúng ngày đã chọn, người con trai cùng với người mai và các người chứng thân hành đến nhà


cha mẹ cô gái. Một người trong số những người chứng bưng một mâm khảm xà cừ, trên mâm có bày
trầu, trái cau, vôi, thảo quả, và trong một cái hũ nhỏ có một cặp bơng đeo tai, tất cả được phủ bằng một


tấm lụa đỏ. Mọi người đều mặc áo dài lễ phục; mâm cau có người đi kế bên che lọng. Người con trai


dâng trầu cau cho cha mẹ cô gái: nhưng không mời cô này gì hết[33].


Lễ thứ hai cũng giống lễ thứ nhất. Ðúng ngày gọi là đính hơn, người con trai, người mai và các người làm
chứng lại thân hành đến nhà cha mẹ người con gái. Trên mâm có một cặp vịng đeo tay chạm hình tám


con thú tượng trưng thích nghi theo tình trạng sắp làm vợ của người con gái. Nhiều người khác trong
đám đội mâm có để ba áo dài và một cái quần. Lễ vật đều có đậy khăn đỏ và che lọng. Người ta cũng


thấy dẫn theo một con heo đen để làm lễ vật.


Lễ đính hơn xong. Mười lăm ngày sau là lễ hợp hơn. Người con trai đã đính hơn lại tới nhà cha mẹ của


nguời hôn thê với nghi lễ giống như trước. Anh ta dẫn cô dâu về nhà mình, có cha mẹ cơ gái và tất cả


những người làm chứng đi theo; tất cả dự tiệc thật lớn, tiệc chấm dứt vào lúc 6 giờ chiều, vì người
Annam khơng ăn đêm. Cha mẹ cơ dâu rút lui; nhưng trước đó, vài người ứng khẩu đọc thơ, theo nghĩa
trong đó là chúc hai vợ chồng hịa thuận, hạnh phúc và có nhiều con. Ðơi khi người con trai thưa với cha


mẹ vợ là nhà chưa được tươm tất, tiện nghi để đón vợ mình về xin hẹn thêm 3 ngày nữa. Ðó là cách nói
thật thà ngỏ ý mình khơng phải người hấp tấp.


Trẻ con Annam có bẩm tính linh hoạt, tự tin và gây sự. Chúng có vẻ mặt rất cởi mở, bầu bĩnh và khả ái:


càng lớn, vẻ dịu dàng mất đi; hai gị má nhơ ra nhiều hơn sự cần thiết; hai má nhô lên nơi người Annam
như là một biến đổi về cơ thể, tình cảm cũng thay đổi trên nét mặt. Không phải là chuyện lạ khi thấy trẻ


con đứng cách xa vọt miệng gán cho người lính của ta một tiếng kỳ cục[34]. Cha mẹ của những đứa trẻ


thì ngồi chồm hổm ở ngưỡng cửa, họ càng có vẻ buồn bã bao nhiêu thì vẻ mặt của trẻ con lại vơ tư bấy


nhiêu[35]. Cái tương phản lộ liễu đó chẳng qua là tại chiến tranh mà ra. Trong 4 cuộc chiến tranh leo
thang liên tiếp, người Annam trở nên âu sầu và buồn thảm quá chừng, người thì mất nhà, người thì mất


cặp trâu, kẻ thì mất ruộng. Chỉ có con cái của họ là hưởng được cái cảnh nhộn nhịp biến đổi khơng


ngừng làm chúng thích thú.


Người Annam có thói ham mê cờ bạc cao độ. Những phu khuân vác do công binh ta mướn ở các công
trường xây cất khi vừa lãnh lương xong được vài đồng kẽm là tụm nhau mà đánh bạc, họ chơi bằng cách


nắm tay và chơi chẵn lẻ. Cử chỉ của họ chính xác, co giật cực kỳ mau lẹ[36]. Trị chơi thật mau ngã ngũ:
thống là đã thua sạch, chỉ có một người ăn duy nhất. Họ lại mượn trước tiền lương của ngày hôm sau
và tiếp tục chơi. Thường những người ở vùng biển, sống bằng nghề chuyên chở giữa vùng ven bờ và


My-thô, ra đi trên những ghe thật đẹp chở đầy ắp hàng hóa, khi về thì thua hết vì cờ bạc, chỉ cịn có cái <i></i>
<i>can-chian</i>trên người.


Những người Annam ta thấy lúc nào cũng hối hả đem những gì họ kiếm ra để chơi cờ bạc và hình như họ


khơng tìm thấy sự thích thú khi tom góp của cải để làm giàu; họ có những rung cảm cao độ về cảnh
nghèo khó. Bài thơ sau đây, mà ta thấy họ hát trên khắp các mặt sông rạch ở Nam Kỳ miền dưới, sẽ nói
lên điều đó. Bài thơ khơng có tên tác giả. Người thơng dịch Annam lúc nào cũng nhắc lại rằng: “Ở
Annam, người ta làm nhiều thứ lắm, nhưng khơng bao giờ tìm cách phơ trương giá trị của chuyện mình
làm.”


“Cảnh nghèo đói ơi, mi nói cho ta nghe. - Tại sao mi theo ta từng bước, chẳng khi nào mi để ta yên? -


Cảnh vườn hiu quạnh, cỏ mọc đầy. - Căn nhà ba cột, nhìn mái nhà dịm thấy trời xanh. - Phần số của ta


chỉ có bấy nhiêu đó. Trước cửa chủ nợ địi khan hết tiếng, trong nhà con nít đói khóc hết hơi. - Số phận


của ta phải chịu nghèo; nhưng cảnh nghèo chỉ cịn vài năm nữa mà thơi, - Rõ ràng đâu phải ai cũng


nghèo hồi.”[37]


Khi ta nhìn vào các dân tộc sống ở những nơi tận cùng của Á châu, thì khơng thể nào ta lại khơng chú ý


</div>
<span class='text_page_counter'>(65)</span><div class='page_container' data-page=65>

nội thương, ngoại thương trong xứ. Họ có tinh thần hấp thu và khả năng hịa mình dễ dàng với hồn
cảnh chung quanh, điều này giúp họ bành trướng ở Annam và ở những nước khác khi họ tụ tập lại; chỉ


cách Sạgon có mấy dặm ta thấy Cho-leun giống như là trên đất Tàu. Những người giàu có hay khá giả


nếu có lấy vợ người Annam thì họ ép buộc người đàn bà phải sống trong chỗ tối tăm kín đáo, khơng


được hoạt động gì cả; người đàn bà mất hết tự do và ảnh hưởng của mình trong gia đình và xã hội,
không như khi họ lấy chồng người Annam. Người Tàu trả một số tiền gọi là thuế thân và khỏi đi lính, nếu
khơng đóng thì khơng được mua đất và không được ghi tên trong sổ bộ của nhà vua. Người Annam phải


chịu đựng ảnh hưởng của người Tàu và khơng thích họ chút nào. Họ gọi người Tàu là <i>quiet[38],</i> danh từ


có tính cách miệt thị; nhưng khi họ cần đến người Tàu giúp đỡ, và chuyện này thường thấy xảy ra, thì


người Tàu là “các vị sáng suốt”.


Người Tàu xâm nhập khắp nơi. Mặc dù chiến tranh, cướp bóc hiểm nguy đủ loại, nhưng chính người Tàu
ngược xi trên khắp miền kinh rạch, đi vào từng nhà người nông dân Annam dọc theo từng con kinh,
thương lượng, thông thường là bằng cách hăm dọa, để mua trọn mùa lúa của họ. Cứ như vậy mà từ nhà


nông dân này qua nhà nông dân khác họ mua lúa từng số lượng nhỏ rồi chở về My-thô hoặc Cho-leun.
Từ đó việc bn bán và chuyển lên tàu lớn thì cũng giống như ở Âu châu hoặc các nơi khác ở Viễn Đông;


tại Singapour cũng một phương pháp như vậy. Chuyện gì xảy ra ở Singapour thì cũng xảy ra ở Sạgon,
khơng tránh khỏi được. Người Tàu tự làm môi giới buôn bán với nhau, không cần trung gian chi phí, gom


hết lợi nhuận và tạo ra những gia tài kếch xù Người Âu châu, - nói chung người Anh và những người Âu


châu khác, - phải qua tay bọn thương gia địa phương: người Anh ở Singapour chỉ là người nhận ký gởi


hàng hoá và thu tiền hoa hồng môi giới mà thôi. Những gia tài thật sự kếch xù ở trong tay người Tàu,


trước kia họ chỉ là những người làm thủ công nghệ ở Quảng Châu hay Hải Nam. Việc người Âu châu đến


Sạgon khơng làm nao núng người Tàu chút nào, họ không sợ sự cạnh tranh của người Âu châu. Họ tin
tưởng ở cách làm ăn của họ, người Âu châu không thể nào xâm nhập vào nổi. Trong thời buổi khó khăn,
dưới sự xâm chiếm của Pháp, mặt ngồi họ giả như theo về phía quan quân Annam, và họ cũng có theo


thật, chẳng qua là lúc đó My-thơ và các tỉnh miền nam vẫn còn trong tay người Annam và người Annam


còn đủ sức đảm bảo việc thương mại của họ.


Trung tâm xâm nhập của người Tàu vào Annam là Cho-luen, chỉ cách Sạgon có 2 dặm. Ðó là một thành
phố hồn tồn Tàu. Dân Tàu ở đây gồm có 7 bang hội[39], mỗi bang có một người cầm đầu gọi là <i></i>
<i>hong-phoo[40]; các ngườihong-phoo</i>đeo một cái nút màu vàng là dấu hiệu của khoan dung và uy quyền.
Sau trận đánh chùa Clochetons năm 1860, ta thấy hết sức rõ ràng là thị trường Tàu vĩnh viễn sẽ lọt vào


tay ta, các người <i>hong-phoo</i>đều xin ta bảo trợ, và ta đã chấp thuận.


Dân Tàu ở Nam Kỳ miền dưới hàng năm vẫn tăng lên một cách đáng kể vì số thủy thủ người Tàu hàng


loạt đổ đến từ Fo-kien, Kouang-ton[41] và Hải Nam. Sau các biến cố Ki-hoa và My-thô ta thấy dân khắp
nơi đổ xơ đến đây, những người nghèo đói và bần cùng vì nghiện ngập thuốc phiện hoặc vì cờ bạc, bọn
cướp bóc hết thời cũng nhập vào số đó, tuy cũng có người làm ăn nhưng khó phân biệt họ với cái cặn bã
do miền biển Tàu thải ra như vừa kể trên; họ là những người có nghề nghiệp, - như thợ hồ, thợ lợp nhà,
thợ mộc làm nhà, làm tàu, thợ rèn, - kể cả một vài người khá giả mang theo vốn liếng để kinh doanh.
Xin ngưng ở đây những nhận xét về các nhóm dân ở Nam Kỳ miền dưới. Nghiên cứu chính thức của


chính phủ ta về họ hình như chỉ dựa vào những tình trạng mới thích ứng của họ về sau này thôi.


Người Annam tôn thờ vua như cha mẹ của mình, như một giáo chủ, một người ở bậc tối thượng, chun
chế, nhưng khơng độc tơn. Hình thức chính phủ khơng khác gì chế độ chun chế phụ hệ ở Tàu, người
Annam được giáo huấn trong chế độ như vậy. Hoàng đế là một người cha; tùy tùng của hồng đế có


quyền như người trưởng tộc; thần dân thuộc hàng con cái mãn đời: hoàng đế tại triều đình gọi dân là


con đỏ,<i>xit-eu[42], để ám chỉ m</i>àu da của trẻ con mới đẻ, vì lẽ người cha càng thương một đứa con hơn


khi thấy nó càng yếu đuối. Ý tưởng này cảm động biết bao nhiêu nếu mà thực hiện được! Nhưng nếu
con người chỉ là một đứa trẻ yếu đuối, không xứng đáng, không đủ sức tự bước đi và suy nghĩ thì sao!


Hồng đế Annam, như đã nói, khơng phải là người chuyên chế độc tôn: các thành viên của hội đồng tư


vấn[43] có thể bắt vua nghe theo mình bằng văn bản hoặc bằng lời biện luận cương quyết[44]. Các văn


bản mà ta tìm thấy trong cung mùa hè của các hoàng đế Tàu cho ta một ý niệm về sự tự do lạ lùng
trong các lời diễn đạt của các quân sư.


Hoàng đế nhận lãnh phụ cấp một cách minh bạch: mỗi tháng, bộ trưởng ngân khố quốc gia[45]cấp một


số tiền mà ta có thể biết rõ ràng; nhưng số tiền này khơng đáng kể lắm, nếu ta cứ tạm so sánh với số



</div>
<span class='text_page_counter'>(66)</span><div class='page_container' data-page=66>

Tuy nhiên hồng đế Annam có các nguồn lợi khác, và được xem như một trong các hoàng thân giàu nhất


Á châu. Giống như vua Xiêm, ơng có quyền làm thương mãi, trên thực tế ông là thương gia lớn nhất
trong nước. Ở Ðông phương điều này không làm hại đến uy quyền của ngơi vua.


Tại Huế, hồng đế cũng có tổ chức những buổi xuất hành trọng thể; nhưng ông cũng thường du hành
với một đồn tùy tùng thật ít người. Trong trường hợp trọng thể thì đi đầu có hai qn sĩ truyền lệnh:
thơng báo là hồng thượng sắp xuất hiện, phải tránh bước nhường đường. Kế đó là các quan cưỡi ngựa
và cưỡi voi, sau cùng mới đến hồng đế. Phía sau là đồn tùy tùng che lọng khá đơng đảo. Dân chúng


q gối hai bên đường: nhưng vẫn có quyền đến gần để dâng lên vua đơn thỉnh nguyện của mình. Một vị


quan cao cấp bên cạnh hoàng đế đứng ra nhận đơn; thường là chính hồng tử con vua thân hành nhận
đơn[47]. Những người đưa đơn ngậm ở miệng một tờ giấy màu xanh. Tục lệ này là do sự tích thật xưa:


có một người oan ức nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi xô, bèn ngậm một tờ giấy xanh trong miệng mà kêu
khóc, tiếng kêu oan lên đến tận trời. Ta thấy trẻ con Annam ngày nay cũng hay chơi trò thổi còi bằng


cách dùng lá dừa quấn làm cịi, đó cũng là cách tượng trưng chuyện đưa đơn vừa kể[48]. Ta thấy những
người kêu oan trên đường, cất lên những tiếng kêu khóc, giọng ré lên rất cao hoặc ồ xuống rất trầm, họ


cố gắng thay đổi âm điệu[49].


Hồng đế Annam có một vợ do mẹ chọn, ơng tiếp nhận người vợ chính thức trước hội đồng bô lão đúng


theo nghi lễ quy định. Ngồi ra ơng có thêm 7 bà thứ phi. Hồng cung xây cất tại một địa thế có vị trí


trắc trở của thiên nhiên, trong cung chỉ có đàn bà hầu cận. Các hoạn quan chỉ canh giữ gần cửa thành



nơi hoàng đế tiếp các vị đại quan vào những ngày nhất định; nhưng sự hiện diện của hoạn quan vẫn là


trường hợp đặc biệt; ta có thể nói chung quanh hồng đế chỉ có đàn bà.


Chỉ cách đây 12 năm, hồng đế Annam cịn phải thân hành ra đến biên giới Tàu, áo mão trịnh trọng, tiếp


sứ thần của hoàng đế Tàu để làm lễ đăng vương. Nhưng hồng đế hiện nay thì lên ngơi tại H.


Khi hồng đế lên ngơi thì phải bỏ tên cũ của mình và khơng được phép dùng tên này nữa, đồng thời một


số chữ khác cũng cấm không được dùng[50]. Tên của Tu-duc gọi là Haong-giâm[51]: chữ haong bị cấm


trên khắp nước; người ta không được phép dùng trong khi nói chuyện, thi cử giấy tờ bộ đời[52]. -
Than[53], là tên mẹ của một trong số các hồng đế Annam, dân gian cấm khơng được dùng tên Than
trong một thời gian, và trên toàn nước phải gọi là Thiet. Mẹ vua Tu-duc tên là Thi: hiện nay người ta gọi


là Thim trên toàn cõi Annam[54]. Chẳng những các cuộc tranh luận trong dân chúng cũng phải tránh


tiếng này; nhưng ngay cả trong những dịp hệ trọng hơn mà nhà nho nào lỡ dùng chữ này trong văn thư


cũng bị xử đánh bằng gậy. Việc đánh đòn là điểm đặc biệt làm tổn thương đến sự nhạy cảm của người


Âu châu, nhất là trên đất Pháp; nhưng thật ra hoàng đế Annam bắt toàn dân phải đọc trại đi một chữ


hồn tồn khơng phải vì sự chun chế độc đốn, mà đây chỉ là một qui ước về lễ độ theo đúng tục lệ


mà thôi.


Tên họ ở nước Annam có tầm quan trọng đặc biệt và khác lạ hơn cả với bên Tàu. Trên tồn nước khơng
có hơn quá 40 họ. Người Annam thêm vào họ một chữ nữa ám chỉ các đức tính tốt, sự xinh đẹp, hoặc



dựa vào mùa màng, thiên nhiên: như<i>suan </i>tức là mùa xuân, <i>quê</i> là quế;gen-seng[55] là một loại thuốc


thảo mộc tuyệt vời.


Các viên chức nhà nước khi được bổ nhiệm thường chọn cho mình một tên mới có tính cách trừu tượng


khơng phải là tên cũ của mình, nhưng là tên để đặt cho quận, cho tổng hay cho làng[56]. Vì thế lần lượt


làng bỏ tên cũ và chọn tên mới có vẻ Tàu, êm tai hơn, hoặc để tránh khơng có chữ nào cấm: vì tính thận


trọng của nho sĩ trong sự tơn trọng luật lệ. Kể từ ngày đó, tên làng chính thức được dùng trong mọi giấy


tờ hộ tịch; nhưng dân làng vẫn dùng tên cũ trong khi nói chuyện, dần dần cho đến lúc tên chính thức trở


nên quen thuộc, tên cũ gác qua một bên rồi quên đi, hoặc có trường hợp lại đổi qua một tên mới nữa khi


có quan chức mới đến thay.


Ở Annam người ta có thể đổi tên mà khơng cần thủ tục gì cả; nhưng cấm khơng được dùngtên của bạn


bè, của một người quen biết: vì đó là một sự lăng nhục. Như ta thấy, những ý tưởng này thật khác biệt


với quan niệm Thiên Chúa giáo hay La Mã liên hệ đến việc bảo hộ hay nhận con đỡ đầu.


Mỗi tỉnh do một quan tổng đốc cai quản, quan tổng đốc có hai cấp: cao và thường, tùy theo tầm quan


trọng của tỉnh mình cai quản[57]. Nam Kỳ miền dưới, như mọi người đều biết, có sáu tỉnh, ba tỉnh lớn và
ba tỉnh nhỏ, trước đây hợp lại làm một phó vương quốc đặt dưới uy quyền tối thượng của một đại biểu



triều đình Huế gọi là <i>king-luoc[58]</i>. Các phụ tá của vị tổng đốc gồm quan thuế vụ, quan án, một vị tướng


giữ việc quân sự và một quan văn[59]. Duới tổng đốc là các <i>quan-phou</i> và <i>quan-huyen[60]</i> nắm giữ


</div>
<span class='text_page_counter'>(67)</span><div class='page_container' data-page=67>

dòng khi cần xác nhận ở đây là các danh từ ta tạm dùng để chỉ định tương đương tỉnh trưởng và quận
trưởng khơng có cùng định nghĩa như trên đất Pháp. Một tỉnh trưởng Pháp có thể viết văn thư trực tiếp


lên cấp bộ trưởng, trái lại vị<i>quan-phou</i> khơng có quyền này. Một vị<i>quan-huyen</i> hiếm hoi lắm mới phúc


trình những việc mình làm lên <i>quan</i>-<i>phou </i>mà ta gọi tương đương là tỉnh trưởng. Ơng ta khơng cần chứng


tỏ sự hiện diện thường trực của mình cũng như sự tùy thuộc của mình vào cấp trên tức<i>quan-phou</i>theo
nghĩa thơng thường mà nói.


Các <i>quan-huyen</i> là cấp bực thấp nhất trong các quan chức chính thức do nhà nước tuyển chọn bằng thi


cử, không bắt buộc có liên hệ mật thiết gì hết với nơi mà ông đến nhậm chức. Dưới ông là chức sắc hội
đồng xã do dân chỉ định: một số người ở hội đồng xã chịu trách nhiệm trực tiếp với nhà nước, nên có
tính cách chính thức, một số khác chỉ liên hệ trực tiếp với dân mà thôi. Người cai quản trực tiếp


dưới<i>quan-huyen</i> là <i>cạ-tong[62]; đó là người quản lý của tổng; vịcaï</i>-<i>tong</i>được chọn ra trong số 12 hay


15 xã trưởng bằng cách bầu cử. Như vậy là ta đang nói đến tầng thấp nhất trong mơ hình kim tự tháp
mà đỉnh chóp là hồng đế: tầng thấp nhất chính thực là dân gian trong nước và những người tự họ bầu
ra, tượng trưng là cấp làng mà cách tổ chức như sau:


Trước nhất có<i>ong-xa</i>. Ở Pháp ta gọi là “ơng xã”[63]: ơng có ấn dấu và giữ việc đối ngoại, trực tiếp trình
tấu với quan nhà nước. Ông được dân bầu và phải được nhà nước chuẩn y. Ông thực thi quyền hành


trong ba năm, sau ba năm nếu quản lý tốt thì được cử vào hội đồng xã.



Dưới<i>ong-xa</i> có hai <i>ly-truong[64]</i> phụ tá. Có những làng q nhỏ khơng có<i>ong-xa</i> mà chỉ có một ơng <i></i>
<i>ly-truong</i> cai quản, làng sẽ tùy thuộc vào xã trưởng của làng cạnh bên. Chức sắc thấp nhất của hội đồng xã
là <i>pho-ly[65]</i> trợ tá cho<i>ly-truong</i>, sau cùng là các <i>ong-huong[66]</i> phụ giúp cácpho-ly.


Ðó là các viên chức vừa tùy thuộc vào chính quyền lại vừa tùy thuộc vào dân làng; nhưng ngoài ủy ban


hành chính liên hệ thường xuyên với chính quyền tỉnh và quan chức nhà nước cịn có cả một hệ thống
đẳng cấp rất uy thế, mặc dù khơng có tính cách chính thức gì hết; một vài người trong đẳng cấp này còn


đứng cao hơn cả ông xã trưởng.


Ðẳng cấp này là <i>ong-ca[67],</i> một người cao niên đã làm nhiều việc tốt, đã từng là xã trưởng. Ðó là vị


“cao niên nhất trong lớp người lớn tuổi”. Làng nào có nhiều vị cao tuổi đáng kính như vậy thì dân làng
rất là hãnh diện và làng được đặc biệt ân sủng. Ðối với người Annam sự kính trọng tuổi già cũng lan rộng
ra đến việc kính trọng những cổ thụ trăm năm, mà họ coi là một biểu tượng của sự phồn thịnh. Vị bơ lão
tức<i>ong-ca</i> cịn có quyền trên trước ngay cả với ông xã trưởng, nhất là trong các yến tiệc và ở chùa.
Sau <i>ong-ca</i> là <i>huong-thanh[68]</i>, chức vị như một cố vấn xã, có quyền đưa ra ý kiến và ứng cử đại


biểu. <i>Huong thanh</i>là người có học của làng. <i>Hong-hao[69]</i>là người thủ quĩ. Ông ứng tiền cho nơng dân


khi thất mùa, mặc dù giàu có và ln ln có vẻ hào phóng nhưng ít khi ơng xóa nợ cho người


nghèo[70]. Ơng cũng là người làm chủ lễ và dạy dỗ cho trẻ em cách chào hỏi, vâng dạ, thưa gởi. Dân


cũng phải tuân theo những khuyến cáo của ông để khi các<i>phou</i> va<i>huyen</i> có xuống thì được sng sẻ. –
o<i>ng-cai-dïnh[71]</i> có trọng trách bảo trì dinh thự nhà nước và chùa chiền. - Các người<i>ap[72]</i> giống như


các thừa phát lại của ta, vì cấp bực thấp khơng gọi bằng<i>ong[73]. Người ta cũng chọn trong số những </i>


người<i>ap</i>để làm cai hướng dẫn từng nhóm 10 người đi làm xâu. Họ cũng được cử làm vệ sĩ nữa[74]. -
Sau hết là ở mỗi phủ có mộtong-huong-diong[75], trơng giữ thành đồn, đây là một chức vụ mới đặt ra
khi đánh nhau với người Pháp. Vai trò của họ rất quan trọng trong các cuộc khởi nghĩa.


Ông xã xét xử những lỗi nhẹ, tội nhẹ; nhưng khi có ai phạm lỗi nặng và trọng tội thì ơng phải đưa lên


trình quan án của tỉnh. Ơng có một số người tùy tùng là các vệ sĩ để sai thi hành lịnh của ông; nhưng


trên thực tế ông có hết làng để sai bảo; gần như khơng bao giờ có lính: trong việc giải quyết các vấn đề


nội vụ ở Annam ta không bao giờ thấy sự hiện diện của người lính.


Các hình phạt mà ơng xã áp dụng là việc đánh đòn. Người chịu tội nằm sấp bụng, người xử phạt dùng roi


để đánh vào hai mông lột trần. Nếu thấy có vết roi phạm trên thắt lưng, thì người cầm roi sẽ bị phạt phải


chịu đòn. Thường khi chịu địn thịt văng lên khơng khí. Dân chúng, ngồi sự trừng trị khốc liệt vì trọng


tội ra, thì bị phạt như trẻ con: người già như người trẻ đều bị roi vọt. Những tay cự phách ở Pháp về các


cách trừng trị sầu não nhất cũng chưa chắc có dịp nhìn thấy một người lớn tuổi phải nằm xấp trong cái


tư thế nhục nhã như vậy, và khi đứng lên thì run rẩy, mặt đầy nước mắt. Nhưng phải nói gì đây khi


những người chứng kiến xem đó là một cách làm gương rất hữu hiệu, và ta có nên tin hay khơng khi
nghĩ rằng có một số người trong tận cùng thâm tâm của họ lại thích trơng thấy sự đau đớn của xác thân


</div>
<span class='text_page_counter'>(68)</span><div class='page_container' data-page=68>

Người xã trưởng rất ngại bị roi vọt. Nhưng đơi khi việc xử địn lại là một vinh dự, một niềm hãnh diện
công khai trước dân chúng. Khi một xã trưởng bị phạt roi bởi tận tình địi hỏi quyền hạn của dân trong



làng, thì ơng được dân chăm lo săn sóc và trọng vọng. Người dân biết ơn; cả làng mang tiền đến cho
ông; để tránh ý giiễu cợt đối với một người phải chịu oan, dân chúng bảo nhau rằng vị xã trưởng tuy


chịu đòn nhưng rất hãnh diện.


Ðơi khi chuyện phạt địn chỉ là hình thức: chánh tổng hay xã trưởng chỉ sửa sai răn dạy cả hai phía đi


kiện mà thơi; sau đó khơng xong mới xét xử. - Khi có một kẻ nào đưa đơn khiếu nại lên hồng đế thì
phải chịu 30 roi trước đã: đây là cách chịu tội đã xúc phạm đến hồng thượng; nhưng khơng có nghĩa là


đơn khiếu nại vì thế mà bị bỏ qua, thường là họ thắng kiện vẻ vang.


Nhưng khơng phải chỉ có các các quan chức nhà nước là có quyền phạt roi dân chúng; mà ngay những


bơ lão cũng có quyền. Các xã trưởng khơng chen vào: vì coi là một chuyện nội bộ trong gia đình. Khi đến


thời kỳ đóng thuế thì chuyện phạt địn xảy ra nhiều nhất ở Nam Kỳ, vì nhiều người tuy bị phạt roi vẫn


không chịu trả thuế; họ thà chịu đánh mà khơng trả thuế vẫn cịn lợi hơn. Trong khi đó ta cũng phải nói


thêm rằng chuyện phạt roi khơng xảy ra nhiều như ta kể chuyện đâu. Họ sống trong một chế độ rất hiền


từ, như trong một gia đình mà thơi. Quan qn khơng hung dữ, uy quyền nhu nhược. Trong chế độ tồi


tệ đó ta thấy một chiều hướng rất hịa hỗn khơng có gì cho thấy cảnh dân chúng bị trừng trị[77].


Tất cả sinh hoạt của người Annam đều phát huy và tập trung nơi làng mạc. Làng là nơi người Annam dựa
vào để phát huy một chút tự do cho mình; làng cũng là một thể chế cho phép họ được hội họp và liên hệ


với nhau. Ðể chỉ uy thế ngang nhiên của một người nông dân và vợ lên tìm quan án để biện giải người ta


thường dùng lời phát biểu như sau: "Coi kìa làng lên tới nơi rồi đó”.


Các thể chế của làng giúp cho người nông dân Annam khéo léo, lanh lợi hơn người nông dân Âu châu.


Họ biết tranh luận trong công việc liên hệ đến họ, biết luật lệ, quyền hạn của mình và địi thực thi những
điều lệ đó. Họ biết cách chào hỏi, cách ngồi, cách thỉnh nguyện đúng theo nghi lễ. Họ bầu trực tiếp xã


trưởng của họ và các nhân viên khác nắm giữ hành chính trong làng xã. Căn nhà lợp lá dừa lùn của họ
được kính trọng, đúng theo luật pháp. Nếu một tùy viên của quan<i>phou</i> hay quan <i>huyen</i>bước qua khỏi
ngưỡng cửa là người đàn bà trong nhà tấn công liền.


Hệ thống cai trị của chính phủ Annam vừa hữu hiệu vừa bảo đảm mọi quyền hạn của người dân, khơng


thấy gì sơ hở; trừ ra cá nhân con người bị mờ đi trong tập thể chung; có thể nói là mất hẳn. Vì được cư


xử như thế, nên người Annam tuy bị kềm chế nhưng không nghi ngại cũng chẳng có cảm giác phải lệ


thuộc sự điều khiển của nhà nước. Nếu sai lệch đều bị roi vọt; dưới vẻ tự do bề ngoài, đời sống tập thể ở


làng mạc chỉ có thể tồn tại khi người nắm quyền cịn đủ sức duy trì. Các ý tưởng chính trị, tinh thần trào
phúng, cách diễn đạt bóng gió hoặc ý nhị, xa xơi, là nguồn động lực duy nhất của các dân tộc bị áp bức,


khơng thấy xuất hiện trong dân chúng Annam[78], có thể người Annam không phải là một dân tộc bị áp


bức. Tất cả những diễn biến tốt đẹp đó là do lịng kính mến pha lẫn sự sợ hãi đối vơi nhà vua mà ra. Tuy


lịng kính mến và sợ hãi có giảm đi đối với các cấp đại diện của triều đình ở những nơi xa xơi trong nước.


Các biện pháp của ta áp dụng vào những tháng đầu năm 1861, như đã có nói trước đây, là phát huy
chung quanh ý tưởng đạo đức và lương thiện: mục đích để tách xa người Annam khỏi những thói xấu



mới phát sinh do chiến tranh và cố gắng giữ họ trong khuôn phép cũ để duy trì họ trong tình trạng dễ


dạy, ngoan ngỗn như trước kia. Nhưng tiếc thay, phải công nhận rằng người Tây phương vì bản chất và


định kiến quá nhiều, quả khơng thích nghi chút nào để quản lý người Ðông phương. Nền hành chánh pha
trộn nhiều thứ làm mất đi đức tính tơn trọng con người của ta; đơi khi ta có thể nghĩ rằng tinh thần rộng
lượng đối với kẻ yếu kém và người bại trận đã suy giảm trong số những người viễn chinh. Tính khí vẫn


cịn là một chướng ngại: người Annam quen tiếp xúc với quan chức của họ lúc nào cũng trầm lặng,


chừng mực, họ khơng hiểu gì hết khi thấy ta múa may giận dữ, mất kiên nhẫn, la hét, những tia máu


làm mặt mày ta méo mó. Không hiểu biết ngôn ngữ làm cho mọi sự trở nên phức tạp và gây ra vô số tai


họa, nhưng lỗi khơng phải hồn tồn do những người mới đến. Sau hết nếu ta nhìn vào khía cạnh tinh


thần hay trên phương diện thực tế của phương pháp trị dân bằng roi vọt của người Annam, ta sẽ thấy
dưới nhãn quan của họ cách trừng phạt đó không làm tổn thương đến danh dự họ chút nào hết[79], ý


tưởng là trẻ thơ đã không làm cho họ nghĩ tới phẩm cách cá nhân của mình. Người Pháp khơng thể nào
giữ vai trị quyền uy phụ hệ để trị con cái như vậy được; họ cũng khơng ước mơ làm được chuyện đó.


Trong khi ấy họ lại cứ nghĩ là nên bảo tồn phương pháp trừng trị của những người cầm quyền cũ, không


hiểu rằng một khi bản chất - tức đạo làm con - đã mất đi thì phương pháp chỉ là giả tạo mà thơi. Ví dụ


</div>
<span class='text_page_counter'>(69)</span><div class='page_container' data-page=69>

người khi đem ra xử đều có quyền chọn lựa luật pháp áp dụng cho mình. Ví như nếu người Annam mà có
cái quyền đó, chắc là họ khơng chọn luật lệ của ta mà họ sẽ đòi hỏi những quan án cũ của họ xét xử họ.
Trước khi người Pháp đến, các dân tộc Annam được quản lý bởi một luật pháp pha lẫn tôn giáo, phép vệ



sinh trong xã hội, chánh trị và đạo đức[80]; tất cả đều chi phối lẫn nhau và lẫn lộn với nhau. Một số điều


rất đúng và cực kỳ khéo léo, không trái ngược với quy luật thiên nhiên chút nào Bộ luật liên hệ đến dân


quyền của ngườI Annam được soạn thảo dưới thời hoàng đế Gia Long sau nhiều thời kỳ giặc giã xâm lấn,


vì giặc xâm lược thường thấy xảy ra. Trong bộ luật này, tính cách chuyên chế đặc biệt của Tàu vẫn còn
nặng nề, nhưng ta thấy ảnh hưởng tục lệ Nhật Bản thật sâu đậm; nổi bật hơn hết là tính chất hiền lành
và chất phác đặc biệt của người Annam trong bộ luật.


Vì lý do thận trọng, vì chủ trương khai hóa nền văn minh Thiên Chúa của ta, ta có nên hủy bỏ khơng áp


dụng đối với người Annam luật pháp dựa trên bộ luật còn nguyên vẹn của họ: chẳng hạn ta có nên giữ


hình phạt đưa đến cái chết từ từ, và có nên dựa theo đẳng cấp các hình phạt ở Á châu hay khơng? Ta


nghĩ rằng vừa có thể chứng tỏ việc bành trướng và sự hiện diện của kẻ xâm lược như ta, ta vẫn có thể


kính trọng thói tục của người dân trong xứ. Sau hết nếu ta muốn tránh những nguyên do thúc đẩy người


Annam lánh xa ta, thì một mặt phải cần dẹp bỏ quyền xử phạt quá sơ lược mà quan quân Annam áp
dụng; và mặt khác các dân tộc Annam phải đạt được mức tin tưởng chắc chắn là sự khác biệt của ta đối


với họ chỉ có trên vẻ mặt của ta, trong cử chỉ của ta; ta cịn có những gì vượt cao hơn những thứ đó,và
những khác biệt nếu có thì chỉ trên ngun tắc mà thơi. Ví như ta có thiếu những đức tính tốt, và cả tính


xấu của quan qn Annam, để khơng đủ sức cai trị họ, thì tốt hơn hết cho ta là cứ đem áp dụng cho họ


chế độ cũ mà họ đã quen: nhưng tiếc thay kinh nghiệm thực tế đã cho thấy cách áp dụng này hoàn toàn


thất bại. Ngay cả chế độ mà triều đình Huế áp dụng cho họ và khống chế họ, người Annam trong một số
trường hợp, đã bộc lộ một cách mạnh mẽ phẩm cách cá nhân của mình: ta có thể đưa ra ví dụ về sự can
trường khi bị tra tấn, hành hạ và hành động tuẫn tiết của họ, điều này không phải phần lớn do ảnh
hưởng từ lịng quyết tâm mà vì khí tiết nóng nảy và bướng bỉnh của họ đã trỗi dậy. Trước mặt người


khâm sai của triều đình, người dân Annam có cảm giác như một đứa trẻ nhỏ, nhưng trong lòng họ sẽ


nảy sinh tức khắc một mối tử thù khi có người ngoại quốc nào muốn cầm roi đánh họ. Nếu những ai coi
người Á châu như một đàn cừu vơ giác trước cái đẹp tinh thần thì thật quả là những người điếc đặc
không đủ sức để hé mở lịng mình. Họ phải là những người hồn tồn ngu dốt mới tin như vậy, họ khơng


hiểu rằng chính những người Á châu đó đã từng rơi nước mắt khi nghe kể chuyện một vị lương y thông
thái, con vua, một bậc thầy thánh thiện đã từ bỏ vợ con, ngai vàng, để đi thuyết giảng cho con người


những quy luật thiên nhiên mà họ đã quên[81].


[1] Có lẽ tác giả muốn nói quần của người Annam khơng có kht cái lỗ để tiện việc tiểu tiện như quân Tây? - ND
[2] “c<i>an-chian” </i>làcái chăn? - ND.


[3] Có lẽ tác giả muốn tả dáng vừa đi vừa bơi của mấy bà? Nhận xét đúng và tả hay vô cùng. - ND
[4] Theo tác giả có lẽ phụ nữ Sài Gịn đẹp hơn các cơ gái ở Thượng Hải? - ND.


[5] Long Lân Quy Phụng? - ND.


[6] Tác giả tỉ mỉ và “dịm” kỹ q. Tính đa nghi rất xấu, nhưng biết đâu tác giả đã từng đi chọn nữ trang? Nhất là thấy “cách nhìn” và
“tình cảm” của tác giả về dân tộc tơi đã thay đổi “khá nhiều” so với những chương đầu của quyển sách. - ND.


[7] <i>Lam ray</i> và <i>Di doy</i> là những chữ chép lại theo nguyên văn trong nguyên bản. <i>Lam ray</i>: có lẽ là làm rẫy. <i>Di doy:</i> có lẽ là đi chơi, tác
giả đã âm theo giọng nói miền nam? - ND.



[8] Một đại biểu của đảo Réunion sau khi đến Saïgon năm 1860, đã tin chắc khó có thể đưa dân Nam Kỳ miền dưới di dân ào ạt như
bên Tàu, mà đảo Réunion đã lợi dụng trước đây để có cơng nhân làm việc. - TG


[9] Người dịch e rằng tác giả khá mâu thuẫn với mình, nếu chú ý ta sẽ nhận thấy tác giả thường đưa ra nhiều kết luận vội vã làm
giảm bớt giá trị của quyển sách. Trong đoạn này ta cũng thấy tác giả mặc tình cho nhận xét và tình cảm của mình trào ra đầu ngọn
bút, liên tục từ ý này sang ý khác; chẳng qua tác giả còn trẻ quá, nhưng cũng chính vì thế ta đã thấy được một chút gì thành thật.
Trong chương này và một số chương khác ta cũng bắt gặp nhiều đoạn tương tự. Dù sao với đoạn vừa đọc ta cũng thấy được một chút
nào sâu sắc, một chút nhận bản và tình người bộc lộ trong lòng tác giả.- ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(70)</span><div class='page_container' data-page=70>

[11] Tức Gị Cơng. - TN


[12] Chữ này chép lại theo đúng trong nguyên bản, không phải là những chữ đã dịch sang tiếng Việt. - ND.
[13] Để so sánh với câu này, xin người đọc chú ý trong một đoạn sau, tác giả sẽ tả người Annam bị xử tử. - ND


[14] Ðúng theo nguyên văn: "ils ont du <i>gan". </i>Ăn tim như có đầy gan, do đó người dịch mạn phép nghĩ rằng tác giả không phải là một
nhân chứngtrong câu chuyện này. Tác giả lẫn lộn gan và tim chẳng qua vì đều là “đồ lòng” cả, cái lẫn lộn trong đầu mới hệ trọng và
nguy hại hơn. - ND.


[15] Câu chuyện có vẻ hoang đường rõ rệt, khơng có gì hợp lý, chính xác về địa danh cũng như thời gian. Đây có lẽ là một câu chuyện
cổ tích trong dân gian, ngày nhỏ tơi cũng đã được nghe, khơng có một giá trị gì so với những điều tác giả viết với tư cách một nhân
chứng. - ND


[16] Tức là trước khi người Pháp khởi đánh Nam Kỳ. - ND.


[17] Câu này cho thấy cướp bóc, án mạng gia tăng sau khi người Pháp chiếm Sài Gòn và Mỹ Tho. Người Pháp xử tử rất nhiều, có lẽ
ghép tất cả trọng tội vào chính trị để gây khiếp sợ cho người Annam, khơng cho họ nổi dậy. - ND


[18] Tôi e rằng tác giả đi hơi xa trong sự suy luận. Trong đoạn trên tác giả vừa viết là ta chỉ nên xác nhận những gì quan sát mà thơi,
khơng nên đưa ra một kết luận nào hết. Trong đoạn này tác giả lại thả cho trí tưởng tượng của mình tha hồ tung hoành, đưa ra
những giả thuyết và những giải thích có thể đã vượt hơn khả năng của mình.



Nhưng thật tình, quả là ái ngại khi thấy một người chân ướt chân ráo từ xa đến lại xét đoán một dân tộc khác một cách hết sức ôm
đồm trên quá nhiều lãnh vực không thuộc phạm vi của mình. Tác giả trong khi viết có lẽ quên mình là một kẻ xâm lược đi chiếm thuộc
địa, và nơi quê hương mình Napoleon đệ tam đang đưa chế độ quân chủ vào một giai đoạn độc tài cao độ nhất. Tác giả có tả ở các
phần trước, khi quân viễn chinh xung phong thì đồng loạt hét lên: "Hồng đế mn năm” (Vive l’Empereur!). Qn Annam tuy có tơn
thờ hồng triều nhưng khơng nghe kể lại khi xung phong có hét lên: “Hồng đế muôn năm” hay không. - ND.


[19] Tức “lăng trì”. - TN


[20] Ðành rằng trong luật pháp thời xưa ở Việt Nam có tội tùng xẻo, lăng trì, voi giày, ngựa xé, nhưng tôi trộm nghĩ quân viễn chinh
vừa chiếm xong hai tỉnh Gia Định và Mỹ Tho, quan chức triều đình Huế bỏ trốn cả, lấy ai trừng phạt tội phạm cho tác giả xem. Có thể
tác giả nghe kể chuyện rồi thuật lại như chính mình đã trơng thấy thật. Ai chẳng đồng ý với tác giả ta nên tố cáo và chống lại sự hung
bạo bất cứ từ đâu đến. Ngày nay người ta có thể đến viếng một vài lâu đài cổ trên đất Pháp có những hầm bí mật nhốt người và
trưng bày những dụng cụ tra tấn cực kỳ tinh xảo của thời trung cổ Âu châu; tôi nghĩ rằng cái cày nung nóng, con dao rỉ sét hay bỏ rắn
vào quần thì tơi cũng chẳng thấy gì cầu kỳ hơn và độc ác hơn những khí cụ tôi thấy ở Âu châu (chưa kể là tác giả tả người Annam
không mặc quần, chỉ quấn một tấm vải rộng như tác giả thấy, vậy bỏ rắn vào đâu?). Những hình phạt ghê rợn được đồn đại trong dân
gian có tính cách răn dạy hơn là sự thực, tác giả cũng có nói trong đoạn dưới là việc trừng phạt bằng roi cũng chỉ có tính cách tượng
trưng. Chắc nhiều người cũng nghe nói dưới thời Pháp thuộc, trong bót Catinat Sài Gịn người Pháp tra tấn bằng cách cho điện giật,
treo tay lên trần nhà rồi đổ nước xà bông vào miệng hay treo ngược hai chân ngày đêm cho đến chết hoặc phải khai; thỉnh thoảng ta
cũng thấy phim tài liệu trên màn ảnh truyền hình về cuộc thảm sát Mỹ Lai, cảnh những người viễn chinh cuối cùng bị bắt sau trận
Ðiện Biên Phủ, họ bị hạ nhục, bỏ đói, bịnh tật và chết gần hết; theo lời tác giả thì khi đại đồn Chí Hịa thất thủ qn Annam nào chạy
không kịp đều bị giết sạch. Sự hung bạo tái diễn liên tục trong lịch sử con người, chỉ thay đổi bộ mặt đơi chút để thích hợp với từng vị
trí và giai đoạn thế thơi. – ND.


[21] Có lẽ tác giả muốn nhắc đến việc kéo qn đi đánh Hóc Mơn, vừa bị nóng bức vừa khát nước, người lính viễn chinh cứ tranh
nhau uống bừa nước trong lu của người dân để trước nhà mà khơng để ý là có thể có thuốc độc trong đó. Tiếc rằng tác giả khơng
nhắc thêm là những người nông dân chất phác và thật thà sau khi bớt sợ đã kéo ra khiêng giúp những người lính trong đạo quân viễn
chinh ngã lăn ra bất tỉnh vì nóng. - ND.


[22] Người này đi vào thành phố Tàu, lúc đó vẫn cịn thuộc lãnh thổ địch. Một đám đông bao quanh: vài người Annam trỏ một con gà


mái và thách người lính của ta bắn xem có trúng khơng. Rõ ràng chỉ để đánh lừa người trung sĩ của ta. Anh nâng súng cac-bin mà nhả
đạn, chưa kịp nạp đạn khác thì đám đơng ập vào tóm lấy anh. - TG


[23] Trong nguyên bản ghi là “cap Ti-wane”, không biết nơi nào ở cửa sơng Saigon? - ND. Có lẽ là mũi Thần Mẫu (Thị Khiết, Bà Kéc) ở
cửa Cần Giờ chăng? - TN


[24] Quân Pháp cấm chở gạo từ vùng Nam Kỳ lên phía bắc lãnh thổ để gây đói kém cho vùng chưa chiếm, tác giả sẽ nói đến trong
chương X. - ND.


[25] Có lúc tác giả mô tả giống dân Annam là một giống dân thối hóa, hung tợn, nhiều thói hư tật xấu… Quả thật có quá nhiều mâu
thuẫn và thiếu mạch lạc trong tác phẩm của tác giả. - ND


</div>
<span class='text_page_counter'>(71)</span><div class='page_container' data-page=71>

[27] Người dịch những dòng này xin chắp tay chân thành cảm tạ và biết ơn lòng nhân đạo của những người lính viễn chinh đã tha
chết cho hai đứa bé. Có những người anh hùng vơ danh khơng cần tuổi tác và có những người lính viễn chinh cịn giữ được một chút
lương tri. - ND


[28] Lắm khi ta trộm nghĩ biết đâu chỉ cần một vị lương y giỏi là đủ, hơn là có một linh hồn nơ lệ. - ND.
[29] Có lẽ đây là hị của những người làm ruộng. - ND.


[30] Đây có lẽ là bài Lý cây chanh.
<i>“Xăm xăm bước tới</i>


<i>Chanh cây tình, chanh lắm tình le ơi!</i>


<i>Chanh cây tình, chanh lắm tình le ơi!</i>


<i>Muốn bẻ sợi nhành gia chơng tình gai lăm tình le ơi muốn bẻ sợi</i>


<i>Nhành gia chơng tình gai...”</i>



Do tác giả khơng hiểu được lời bài hát, nên đã phóng tác ý của bài chăng? - TN


[31] Tác giả đã chú ý rất kỹ phong tục cưới hỏi của người Nam Kỳ. Sáu lễ như sau: <i>Vấn danh, Dạm ngõ, Ăn hỏi, Sỉ lời, Nạp tài</i> và <i>Lễ </i>
<i>cưới. Tác giả cũng mơ tả khá chi tiết 3 lễ chính là Dạm ngõ, Ăn hỏi và Lễ cưới.- TN </i>


[32] Tức ông mai bà mối. - TN


[33] Con trai Annam khơng biết “nịnh đầm”. - ND


[34] Có lẽ đây là một lời chửi tục mà tác giả không muốn nói trắng ra. - ND
[35] Tác giả rất thích dùng phương pháp tương phản để mô tả. - ND
[36] Có thể đây là trị chơi oảnh tù tì của trẻ con ngày nay? - ND.


[37] Chưa rõ đây là một điệu hò hay một điệu lý của người Nam Kỳ bấy giờ. Do tác giả chỉ phóng tác lại nên càng khó tìm được
ngun tác. - TN


[38] Có lẽ là phiên âm của tiếng “<i>chệt”. - </i>ND.


[39] Năm 1802, cộng đồng người Hoa được tổ chức thành 7 bang hội. Bảy bang hội đó là Quảng Triệu, Khách gia (hay Hẹ), Triều
Châu, Phúc Kiến, Phúc Châu, Hải Nam và Quỳnh Châu.Sau năm 1885, tổ chức lại thành 5 bang là Quảng Đông (bang Quảng Triệu cũ),
Phúc Kiến (gồm bang Phúc Châu và Phúc Kiến cũ), Triều Châu, Hạ Phương (bang Khách gia cũ) và Hải Nam (gồm bang Hải Nam và
Quỳnh Châu cũ). - TN


[40] Có lẽ tác giả phiên âm từ “bang chủ”, tức bang trưởng? - TN
[41] Là phiên âm của Quảng Đông. – TN.


[42] Tác giả phiên âm từ “xích tử”, nghĩa là con đỏ. - ND


[43] Có lẽ tác giả muốn chỉ Viện Cơ Mật? Hay là Hội nghị triều thần? - TN



[44] Theo Trần Trọng Kim (trong “Việt Nam sử lược”), người ta "thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghĩa của các nước
Âu Tây ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau..."


Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn
bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày. Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hồng đế tuy
có quyền lớn nhưng lại khơng được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám sát Ngự sử có quyền
can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này. - TN


[45] Đây có lẽ là quan Thị lang, hàm Chánh tam phẩm, phụ trách Thương trường, cơ quan chuyên trách về thóc gạo tiền của nhà vua.
- TN


</div>
<span class='text_page_counter'>(72)</span><div class='page_container' data-page=72>

Thời Tự Đức không đặt ngôi Thái tử, tức hồng tử kế vị. Khơng rõ tác giả ghi chi tiết này từ đâu? Hơn nữa, vợ của hồng tử khơng gọi
là “cơng chúa” mà là “hồng tức”. - TN


[47] Chi tiết này rất đúng vì hồng đế Tự Ðức khơng có con và một vị đại thần phải đứng ra nhận đơn. - ND


[48] Ðây chỉ là trị chơi của trẻ con, khơng liên hệ gì đến việc dâng đơn kêu oan lên nhà vua. Sự suy luận bằng cách liên tưởng của
tác giả có thể đã được đẩy đi quá xa. - ND


[49] Mặc dầu không hiểu nghĩa những lời ta thán, nhưng tác giả mô tả âm giọng lời kêu van thật chi tiết. Ðiều này chứng tỏ tác giả có
thể đã chứng kiến thật sự cảnh hồng đế xuất hành. - ND.


[50] Có lẽ tác giả khơng hiểu điều này. Khi lên ngôi, vua chọn đế hiệu, tên vẫn còn. Dân gian tránh dùng một số chữ là sợ phạm húy.
- ND


[51] Tức Hồng Nhậm. - ND


[52] Do kỵ húy mà phải gọi là “hường”. - TN
[53] Tức là Thân. - ND.



Có lẽ tác giả muốn chỉ đến vợ của vua Minh Mạng là bà Hồ Thị Hoa, tức bà nội của vua Tự Đức. Bà được vua Gia Long đặt tên là Thật.
Vì vậy, theo phép kỵ húy phải gọi kiêng từ “hoa” thành “huê”, “thật” thành “thiệt”. - TN


[54] Không rõ tác giả lấy thông tin này từ đâu. Mẹ của vua Tự Đức là bà Phạm Thị Hằng, tức Từ Dụ Thái hậu. – TN.
[55] Có thể tên là Sâm, cịn tên <i>gen-sen</i> có lẽ hơi lạ? – ND. Đây có lẽ là “nhân sâm” chăng? – TN.


[56] Thật ra thì người dân ghép cho ông phủ, ông huyện, ông cai tổng,... tên của phủ, của huyện, của tổng... để tránh gọi tên tục của
các ông này mà thôi. - ND.


[57] Cấp cao gọi là Tổng đốc, cấp thấp gọi là Tuần phủ. - TN
[58] Tức “Kinh lược” - TN


[59] Các vị này gồm: “Bố chánh” trông coi thuế má, đinh điền và hành chánh, “Án sát” trơng coi hình luật, tố tụng và bưu chính,
“Lãnh binh” phụ trách quân sự và “Đốc học” phục trách giáo dục. - TN


[60] Tức “quan phủ” (hay “tri phủ”) và “quan huyện” (hay “tri huyện”). - TN


[61] Tạm dịch các chữ Préfecture và Sous-préfecture là tỉnh và quận, ta cũng có thể dịch là quận và huyện. Nói chung khơng có sự
tương đồng khẳng định trong cách phân chia hành chính từ cấp tỉnh trở xuống giữa Annam và Pháp. - ND.


[62] Tức “cai tổng”. - TN


[63] Nguyên bản ghi “monsieur le maire”. - ND. Còn gọi là "Xã trưởng". - TN
[64] Tức “Lý trưởng” - TN


[65] Tức “Phó lý” - TN
[66] Tức “ơng hương” - TN


[67] Tức “ơng Cả”. – ND. Cịn gọi là “Hương cả”. - TN
[68] Tức “Hương thân” hay “Hương thôn”. - TN


[69] Tức “Hương hào” - TN


[70] Có lẽ tác giả nhầm. Hương hào là chức dịch làm nhiệm vụ làm nhiệm vụ tuần phòng, kiểm tra an ninh trật tự. Hương chánh mới
là chức dịch làm nhiệm vụ thu thuế, chi xuất, phân công sai phái. Xem các danh xưng của chức dịch làng xã ghi chú ở dưới. - TN
[71] Tức “ơng cai đình” - TN


</div>
<span class='text_page_counter'>(73)</span><div class='page_container' data-page=73>

[73] Tức “ông” - TN


[74] Theo Minh Điều Hương ước 1852 , các làng tùy theo lớn nhỏ được tùy nghi công cử các chức vụ như sau: (TN)


1. Trưởng Mục (có nơi gọi là Cả trưởng, Hương trưởng, Hương chủ...và phổ biến là Hương cả) là Hương chức đứng đầu Hội đồng Kỳ
mục, được quyền đề cử nhân sự vào hội đồng.


2. Hương Chủ: Phó Trưởng mục, là Hương chức chịu trách nhiệm luật lệ, được quyền phân xử các vụ việc khiếu kiện.
3. Hương Sư: Hương chức làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra.


4. Hương Chánh: làm nhiệm vụ thu thuế, chi xuất, phân công sai phái.


5. Hương Quản: chức vụ chuyên trách giữ gìn an ninh trật tự, kiểm tra nhân khẩu.
6. Hương Thân: làm nhiệm vụ giáo hóa thuần phong mỹ tục.


7. Hương Hào: làm nhiệm vụ tuần phòng, kiểm tra an ninh trật tự.


8. Thơn trưởng: (có Phó thơn hoặc Lý trưởng giúp việc) là Hương chức trung gian giữa địa phương và chính quyền cấp trên. Người
thừa hành công vụ thu các loại thuế, chi xuất nhu phí, giữ mộc triện.


9. Phó thơn: (tùy nơi, có khi gọi là Phó xã, Phó ấp, Phó phường hoặc Lý trưởng) là chức việc phụ tá Thôn trưởng, giữ gìn sổ bộ của
xóm ấp.


10. Lý trưởng: là chức vụ trưởng một lý (một xóm) theo Thôn trưởng sai phái, chỉ huy đội dân canh, thúc giục dân đóng thuế.


11. Cai lân: Thừa sai của Lý trưởng, phân xử các việc trong lân.


12. Trưởng ấp: tương tự như Cai lân, thừa sai của Lý trưởng.
13. Cai tuần: Đội trưởng dân tuần phòng.


14. Biện đình: ngang hàng với Lý trưởng, là thư ký giúp việc khi làng tổ chức lễ hội Kỳ yên, nhưng có thể giúp Thư lại khi tu chỉnh sổ
bộ.


15. Thư lại: thư ký.


Bên cạnh ban Hội tề cịn có các dịch mục chun trách gồm:


1. Kế hiền: là người có đạo đức, uy tín, dịng dõi các vị Tiền hiền hoặc Hậu hiền, thay mặt dân làng dâng hương cầu nguyện trong
ngày Kỳ Yên.


2. Hương quan: một nhân sĩ cố vấn việc lễ nghi.


3. Chánh bái: Người kế tục Kế hiền, giữ gìn truyền thống văn hóa địa phương.
4. Tham trưởng: người đã kinh qua chức Thôn trưởng, làm cố vấn cho Thôn trưởng.


5. Hương lễ, Hương văn và Tri văn: ba nhân sĩ phụ trách việc quan, hôn, tang, tế tại địa phương.


6. Cai đình và Tri đình: hai chức việc có nhiệm vụ giữ gìn, tu tạo ngơi đình làng hoặc trang trí, trần thiết khi có Kỳ yên, lễ hội.
7. Hương ẩm: chức việc phụ trách việc khen thưởng nội bộ và tổ chức yến ẩm khi có lễ hội.


8. Hương sư và Tri khách: hai chức việc sai phái khi có quan trên về làng, phục dịch trà nước khi có lễ hội. Ngồi ra cịn làm thêm
nhiệm vụ phịng gian, ngừa hỏa hoạn.


9. Hương giáo: người trong coi việc giáo dục tại làng, cũng có thể giúp Thơn trưởng thu thuế.
10. Cai binh: chức việc thúc giục dân binh trình diện đúng lệ.



</div>
<span class='text_page_counter'>(74)</span><div class='page_container' data-page=74>

12. Thủ khốn và Thủ bổn: chức việc chuyên trách giữ gìn địa bạ, làm thủ quỹ hoặc giữ gìn tài sản cơng cộng. Có nơi đặt chức Thủ
sắc phụng giữ sắc thần Thành hồng Bổn cảnh.


[75] Tức “ơng hương dõng” – ND. Còn gọi là “hương dũng” - TN
[76] Tác giả lại tìm cách giải thích - ND.


[77] Xin người đọc so sánh với những đoạn trên khi tác giả tả những phương pháp trừng trị man rợ của quan quân Annam. Luật pháp
của người Annam dựa vào sự răn dạy hơn là trừng phạt trong mục đích trả thù. - ND.


[78] Rất tiếc là tác giả mới đến đánh chiếm Annam, làm sao có đủ thời giờ và khả năng đi sâu vào ngôn ngữ, văn hóa và nghệ thuật
của một dân tộc. Văn chương bình dân Annam, tức là ca dao, hát hị, hát vè, các vở kịch giản dị trình diễn trên ghe thuyền mà tác giả
đã thuật ở các đoạn trước là hình thức phát biểu rất bóng bẩy, tượng trưng, sâu sắc những xúc cảm, ước mơ, những gương tốt về
đạo đức, phản ảnh hoàn cảnh chung quanh họ. Văn chương trào phúng và châm biếm thì có lẽ người Annam rất sở trường, người dịch
có dịp tiếp xúc với khá nhiều dân tộc trên thế giới, nhưng chưa có dịp may chung đụng với một dân tộc nào vừa lanh lợi, vừa châm
chọc lại vừa tếu như dân tộc Annam. Bằng cớ là tác giả có tả con nít Annam chọc lính Tây ở đoạn trên bằng những tiếng kỳ cục. Tôi
nghĩ rằng nền văn chương châm biếm không bắt buộc phải là hậu quả phát sinh từ một một dân tộc bị áp bức. Tơi rất biết ơn và kính
phục những nhận xét nhiều khi rất khách quan của tác giả về dân tộc tơi, nhưng mỗi lần tác giả tìm cách giải thích hay kết luận thì tơi
hơi thất vọng một chút. - ND.


[79] Dịch câu này tôi nghĩ đến câu tục ngữ: “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. - ND.
[80] Tác giả nhận xét rất đúng. - ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(75)</span><div class='page_container' data-page=75>

<b>CHƯƠNG X</b>


<b>Ðề cương:</b>




<i>Người Annam một mặt cầu hòa một mặt chuẩn bị chiến tranh. - Trong khi đó dân chúng chịu ách nô lệ. - </i>


<i>Người Pháp tiếp tục bành trướng và củng cố thuộc địa. - Phó đơ đốc hải quân Charner trao lại quyền </i>
<i>hành ngày 30 tháng 11 năm 1861. </i>




Hai mươi ngày sau khi ta đánh thắng thành Ki-hoa, bộ trưởng tài chính của đế quốc Annam, sứ thần của


triều đình Huế và phó vương của sáu tỉnh Nam Kỳ miền dưới[1], cho người chuyển thư nghị hòa lên
chiến hạm <i>Impératrice-Eugénie</i>. Vị quan trung gian cho việc cởi mở đầu tiên này trước kia nắm giữ một


chức vụ hành chánh quan trọng của tỉnh Gia-dinh; trước đây ông bị giáng cấp, nói theo cách nói của
người Annam là vì ơng <i>“ăn của dân”</i>[2] quá nhiều. Những hành động nghiêm khắc như thế của triều đình
Huế khơng phải là hiếm thấy. Tuy nhiên, trong xứ chuyện ăn hối lộ không phải là một hành vi làm mất


danh dự và cựu chánh án Sạgon khơng phải vì thế mà bị mất chức hẳn. Ông được xem như người rất


giỏi văn chương Tàu và tiếng Bắc kỳ; dân tại Saïgon ai cũng biết ơng và cho rằng chính ơng là người


soạn thảo các văn thư chính thức để trao đổi với ta. Bề ngồi tuy có chức vị nhỏ, nhưng thực tế vai trị
của ơng rất hệ trọng. Ta đưa xuồng ca-nơ của tàu <i>Primauguet đón ơng</i>[3], đồn tùy tùng rất ít gần như


khơng có ai. Tàu <i>Primauguet</i> thả neo trên sơng Don-nạ tại một khúc uốn cong hướng ngược về phía


Sạgon, tại đây có hai nhánh sông và ở giữa là đường lên Bien-hoa. Thông điệp của người Annam gồm


những câu rất tổng quát ta thường thấy dẫy đầy trong các văn thư Tàu: đó là những câu liên quan đến
tai ương và thảm họa chiến tranh. Sau cùng, vị sứ thần của triều đình Huế khơng chấp thuận một điều


khoản nào hết của ta đưa ra để tái lập sự thuận hịa giữa hai đế quốc: ơng cho rằng “Tất cả chỉ lợi cho



Pháp; khơng có một điều nào thủa đáng cho phía Annam”.


Vị tồn quyền Pháp trả lời (ngày 26 tháng 4 năm 1861): “Rằng nếu hòa ước được ký kết, thì ngoại
thương của người Annam hiện nay hồn tồn sụp đổ vì các tuần dương hạm Pháp khống chế, sẽ được tự


do hoạt động trở lại, - rằng nước Pháp thay vì tạo khó khăn, có thể trong vài trường hợp, sẽ hậu thuẫn


cho chính quyền Huế. Ơng chuyển những ý kiến này lên sự khôn ngoan của nhà Nguyễn[4], và ông sẽ


rất hài lòng nếu nhận được lời phúc đáp cho thấy hé mở chút gì có thể hịa giải được”.


Vị phó đơ đốc nói đến việc thương mại suy sụp vì các tuần dương hạm phong tỏa là cách làm áp lực của
ta đối với sứ thần Annam. Một nghị định của ta, ký ngày 23 tháng 4, cấm chở gạo lên vùng phía bắc lãnh
thổ. Hậu quả của lệnh cấm gạo cho thấy ngay tại sao ta đã đánh chiếm My-thơ. Gạo là vấn đề quan tâm


chính của chính quyền Annam.


Tin này làm dân Annam kinh hồng. Ngay sau khi mất My-thô, họ vẫn tiếp tục hy vọng là khắc nghiệt


của chiến tranh không đến nỗi nào ảnh hưởng nguy hại đến việc cung cấp gạo là nguồn sinh sống duy


nhất của họ. Sứ thần của hồng đế Tu-duc phải kêu lên vì những khắc nghiệt do ta tạo ra, về những sự


việc đã rồi, về những điều kiện quá cứng rắn mà ta đưa ra cho họ, và sau hết là cái thảm họa mới này


(công hàm ngày 3 tháng 5 năm 1861). “Từ ba năm nay các ông gây chiến với chúng tơi, trong cái xứ


khốn khổ này khơng có gì thốt khỏi tay các ơng. Các ơng đốt hết kho tồn trữ của chúng tôi, chiếm cứ và


phá tan đồn lũy của chúng tôi, đốt chiến thuyền, phá sạch nền thương mại; ghe thuyền chở vải quí cũng



bị đánh chìm, giết quân sĩ, đốt nhà của chúng tơi. Các ơng cịn hạch sách tiền bạc bồi thường; chúng tơi


nghèo lắm rồi. Nói có Trời những cảnh tang thương mà các ơng gây ra có vui sướng gì? Ngày nay các
ơng lại cấm gạo; dân tình sẽ chết đói mà thơi.” Sau hết, ơng nói tiếp bằng vẻ kiêu căng: “Vì lẽ Ngài chỉ


cịn dành cho chúng tơi một giải pháp cuối cùng, thế thì chúng tơi đành phải cầm khí giới để chiến đấu


vậy.”


Vị phó đơ đốc hải qn trả lời (ngày 7 tháng 5 năm 1861) rằng: “ơng sẽ dùng vũ khí để đẩy lui vũ khí.”


</div>
<span class='text_page_counter'>(76)</span><div class='page_container' data-page=76>

“Tơi nhanh chóng phúc đáp thư của Ngài mà tôi hân hạnh đã nhận được, tôi tin rằng trong thư trước đây
tôi đã cho biết một cách chi tiết những căn bản theo đó chúng ta có thể đi đến một thỏa ước hịa bình
lâu dài.


Tuy nhiên, vì sợ cịn thiếu sót, tơi xin nhắc lại những điều kiện mà tôi cần thương nghị:


“1. Tự do hành đạo Thiên Chúa;


“2. Giao nhượng hẳn thành phố Saïgon và tỉnh Saïgon;


“3. Giao nhượng hẳn thành phố My-thơ và tồn vùng lãnh thổ chung quanh;
“4. Giao nhượng hẳn thành phố Fou-yen-mot, thuộc tỉnh Bien-hoa;


“5.Tự do lưu thông trên các sông ngòi miền tây;


“6. Người Âu châu tự do đi lại bất cứ nơi nào trên toàn cõi Annam, với điều kiện là họ tuân theo luật


Annam;



“7. Phải giao trả người Âu châu phạm luật cho vị lãnh sự xứ họ tại hải cảng gần nhất;


“8. Hai bên chính quyền Pháp và chính quyền Nam Kỳ có quyền cử đại diện tại tòa án của mỗi bên;
“9. Thiết lập tòa lãnh sự và người Âu châu tự do thương mại tại các hải cảng chính;


“10. Ân xá tất cả tội phạm liên hệ đến chiến tranh;


“11. Bồi thường 4 triệu đồng bạc[6];


“12. Phải để cho sứ thần Tây Ban Nha dự vào tất cả các thỏa ước trong tương lai.


“Cho đến bây giờ Ngài chỉ chấp nhận có hai điều khoản là tự do hành đạo Thiên Chúa và sứ thần Tây


Ban Nha dự phần vào các thỏa ước.


“Ngài vẫn tiếp tục than phiền về sự q đáng trong những địi hỏi của tơi, nhưng tơi vẫn tin rằng Ngài
cực lực mong muốn hịa bình, mặc dù thế đến giờ phút này tôi thấy Ngài vẫn tránh né không chấp nhận


những điều nhượng bộ mà Ngài phải làm đối với chúng tôi.


“Nhiều lần Ngài gợi ý cho biết để đáp lại các điều lợi mà chúng tơi địi hỏi, chúng tơi khơng có một điều


khoản nào bù đắp lại và việc giao nhượng tỉnh Sạgon cũng ví như là giao hết các tỉnh miền tây Nam Kỳ.


“Tôi rất vinh dự trả lời Ngài thêm là hịa bình sẽ cho phép đế quốc Annam thực thi việc bn bán chắc


chắn và có ưu thế hơn; tránh khỏi chúng tôi dùng quân sự để tiếp tục đánh; Ngài có thể tiếp tục liên lạc


với các tỉnh miền tây mà hiện nay đã lọt ra khỏi quyền chủ động của Ngài.



“Trái lại, nếu chiến tranh tiếp tục, thì tình trạng đế quốc Annam chỉ trở nên trầm trọng mà thôi. Chắc


chắn Ngài cũng đã thấy điều đó.”


Trong khi danh từ hịa bình được hai bên trao đổi, tất cả nỗ lực của vị chỉ huy trưởng Pháp dồn vào việc


bình định và tổ chức lãnh thổ vừa xâm chiếm. - Tù binh giao về làng của họ và bắt phải ghi danh. Ai chỉ


chỗ chơn dấu khí giới tại các tỉnh thì được thưởng. Vị chỉ huy trưởng tìm cách đánh lạc hướng quần


chúng không cho họ nghĩ đến chiến tranh, ơng duy trì các lời hứa trước đây khi ông khởi động chiến


dịch, miễn thuế một năm cho dân chúng. Ơng tiếp đón tử tế những người dân địi nhà, họ thú thật rằng


vì lúc đầu quá sợ hãi họ phải bỏ nhà mà trốn. Ông cho kiểm kê đất đai nhà cửa, ra hạn định phải thiết


lập chủ quyền và muốn bán phải có phép của chính quyền người Pháp. Ơng ra lịnh giữ ngun ranh giới


lãnh vực hành chính trong tỉnh My-thơ cũng như ơng đã giữ ngun tại tỉnh Sạgon, như thế để tránh


không gây thêm rắc rối sau những rúng động cực kỳ mãnh liệt vừa qua.


Không được giết trâu, tuy quân viễn chinh có thiếu thịt tươi nhưng cứu vãn được việc canh nông. Gạo lúa


trong kho My-thơ chưa cháy hết, người nào vớt vát được thì cho; không áp dụng với họ sự trừng phạt


theo luật hàng hải liên quan đến tàu bè bị bể và bị đắm, biện pháp này đã tạo một ảnh hưởng tốt từ lúc


ta mới nắm việc đô hộ. Ðồng tiền kẽm phải tồn kho và bảo vệ chống lại những tổ chức đầu cơ, bọn này


chỉ cần đi từ Sạgon xuống My-thơ và từ My-thơ lên Sạgon để chuyển tiền, ứng tiền cho vay nặng lãi mà
thủ lợi.


Biên giới phía nam do một biệt đội canh giữ, thêm một hải đội gồm các tàu <i>Prégent, Sham-Rock</i>, pháo
hạm số 27, pháo hạm số 22 và chiếc xà-lan <i>Soledad</i> của Tây Ban Nha giao cho lính thủy Pháp sử dụng.


</div>
<span class='text_page_counter'>(77)</span><div class='page_container' data-page=77>

của bọn cướp bóc. Tàu <i>Sham-Rock</i> và hai pháo hạm bằng sắt ngược nhánh tây nam (27 tháng 5, 13


tháng 6) của sông Cambodge trên suốt 40 dặm đến tận tỉnh Chau-doc[7], nơi đây là cửa kinh Can
-cao[8] đổ vào sông Cambodge. Kinh này vừa hẹp lại nhiều cỏ mọc, chỉ sâu từ 4 đến 5 chân[9], đi ghe


phải mất 4 ngày mới đến cảng Ha-tien: con kinh này vắng vẻ vì có nhiều bọn cướp vặt người Cao Miên
rình rập.


Việc phong tỏa Cao Miên đã cơng bố như đã nói trước đây, tức ngày 23 tháng 4 năm 1861, làm cho
thương mại phải chuyển khỏi My-thô để đổ dồn về Saïgon. Quân đội ta đã khống chế và bảo vệ an ninh


hoàn toàn vùng biên giới; ta làm chủ được hết các đường sông rạch trên phần thuộc địa đã chiếm và


đang chuẩn bị để khai thác trong hịa bình tất cả những tài ngun phong phú của vùng đất đai này.
Càng ngày ta càng tin rằng người Annam sẽ khơng cịn để ý đến vấn đề độc lập quốc gia nữa. Khi lúa đã
cấy thì mọi việc sẽ thay đổi hết.


Diễn biến của tình thế cho ta nghĩ rằng lúc đầu vì khơng ngờ ta đòi giao vĩnh viễn quyền lãnh thổ nên


người Annam rất thành thực khi đưa ra những đề nghị hịa bình. Nhưng khi biết rõ ý đồ của ta thì nỗ lực
thương thuyết của họ, kể từ tháng 5, chỉ để đánh lừa ta mà làm kế hoãn binh, họ tìm cách làm ta nản


lịng vì tình trạng cướp phá phách trên sơng ngịi.



Các hành vi cướp bóc và đạo tặc xảy ra trước và tiếp theo là các cuộc khởi nghĩa: đó là mối lo của ta.
Quan tâm lúc đầu tìm kiếm một giải pháp tốt nhất để thống trị người Annam thì nay không phải là điều


quan trọng và cấp bách nữa. Hiện nay điều làm ta bối rối, ngoài đạo tặc và cướp bóc, là sức kháng cự


của người Annam, nhiều nơi có tánh cách rõ rệt là những cuộc khởi nghĩa vũ trang.


Chẳng hạn ngày 22 tháng 6 năm 1861, tại Go-cung, người Annam biểu dương một thái độ chống đối


mãnh liệt.


Go-cung là một thị xã nằm vào trung tâm tứ giác, gồm sông Cambodge, biển Tàu, kinh Bưu điện và sơng
Vạ-co. Ðối với người Annam đây là một vùng đất thánh. Nơi sinh của ông ngoại hoàng đế Tu-duc, tức


quan-quê[10] ở Go-cung. Trong thị xã có 30 gia đình kết nghĩa[11] với hồng đế Annam. Ngơi chùa thờ


tổ đặt tại đây, có nhiều nghi thức hành lễ đặc biệt.


Chung quanh Go-cung là đồng ruộng phì nhiêu, có thể nói là phì nhiêu bậc nhất của cả Nam Kỳ miền
dưới, trong xứ người ta vẫn thường nói với nhau là 1 hột lúa gieo ở Bien-hoa cho 6 hột, đem gieo ở Go
-cung cho tới 90 hột. Về phía biển, từ đơng bắc xuống đông nam của tỉnh ta thấy làng mạc nối tiếp nhau


san sát: một số là đồn điền của quân đội, một số là nông trại của dân thường; họ sinh sống lẫn lộn với
nhau, nhưng tổ chức của họ không thông minh chút nào. Việc phân chia đất đai cắt toàn vùng thành
từng mảnh đất nhỏ: nhiều thơn ấp chỉ có mười bếp lửa là thường[12].


Về phía hữu của Go-cung, có một con kinh đổ vào sông Cambodge và một con kinh nữa là kinh
Rach-la[13] đổ vào sơng Vạ-co. Chiến thuyền<i>Amphitrite được đưa tới kinh n</i>ày và nắm giữ vị trí chỉ cách thị


xã chỉ ba dặm, trước mặt là một ngôi làng thật lớn có tên là Tan-hoa[14]. Tại đây ta có một tỉnh trưởng,



quyền uy dựa vào một đội thủy quân lục chiến 25 người do một chuẩn úy điều khiển. Thị xã cũng giống
như tất cả các thị xã khác của người Annam, gồm một khu đất lớn dùng làm chợ; các đường phố khá


nhỏ hẹp dẫn từ chợ về các thôn làng; một ngôi chùa, nhưng chùa ta đã chiếm và làm đồn vũ trang.


Ðó là tình trạng vào tháng 6 năm 1861, trong lúc ấy vị toàn quyền của hoàng triều Huế đang chuyển cho


tổng hành dinh của Pháp bản công hàm thứ tư, và cũng vào lúc đó có một người Annam rất cương quyết


và hào hùng, tên là Dinh[15], trình diện trước vị tổng trấn Bien-hoa cho biết sẽ dấy loạn khởi nghĩa trong


toàn xứ. Người này được phong chức<i>vin-teut</i>[16] (tức con quan), và lãnh ấn đúng theo chức vị này, với


chức vị được phong ơng có đủ tư cách đề cử những người lãnh đạo các nhóm quân khởi nghĩa. Cha của


vị này là một người rất được trọng vọng của đế quốc Annam; ông ngự ở triều đình Huế có chức là <i></i>
<i>Thiey-ve-sam</i>[17]; cấp bực của ơng ngang hàng với một thiếu tướng [18]của ta tại Pháp. Hai bộ hạ của Dinh là


hai đội trưởng suất đội[19] đã đến Bien-hoa từ tháng 3; hai người vợ của hai người đội trưởng này đều
là người Go-cung. Cuộc khởi nghĩa tại đây được tổ chức nhanh chóng, chỉ trong vài ngày, vị<i>vin-teut</i> đã
quy tụ được 600 người vũ trang. Ðạo quân này gồm 200 dân quân, cịn gọi là Don-dien[20], 200 qn
chính qui của trung đồn đóng trong thành Ki-hoa rơi rớt lại, 200 nghĩa quân địa phương kết nạp trong


số họ hàng của hoàng đế và bạn hữu của họ.


Vài mật thám cho quân ta biết họ sẽ sớm tấn công trong những ngày gần đây. Một toán nhỏ quân ta


</div>
<span class='text_page_counter'>(78)</span><div class='page_container' data-page=78>

trung úy hải quân, tên là Vial, liền huy động quân sĩ dưới quyền. Ông đặt vài người canh giữ cổng chính



của chùa và dặn các người này phải chiến đấu đến cùng; sau đó ơng dẫn số qn lính cịn lại đổ ra đồng
để thăm dị thực lực của địch. Vừa đi hết đường cái, ông đã gặp ngay quân Annam chia ra làm ba toán
mỗi toán 200 người từ ruộng đang tiến lên. Họ đi rất oai nghiêm và liều lĩnh: đúng là phải liều lĩnh lắm


mới dám tiến lên giữa đồng trống trong tay chỉ có súng ngắn, trong khi ta dùng súng cac-bin nịng dài.


Người tên Dinh chỉ huy tốn nghĩa quân địa phương. Quân Pháp chống trả hiệu quả vì khoảng cách
khơng xa. Nhưng ngay lúc đó thì vị trung úy hải quân của ta được thông báo là ta đang bị đánh lạc
hướng. Ông liền đặt hai người lính ở lại canh tại một đầu đường và hối hả dẫn số lính cịn lại quay về


quảng trường của thành phố. Vừa tới nơi thì cũng đúng lúc quân địch xuất hiện. Quân Annam nào tiến
lên trước đều bị giết sạch, xác làm nghẽn cả lối đi; nhưng phía sau lại tiến lên. Họ cầm lao đứng sát vào


tường, ta chỉ có việc bắn như bắn những tấm bia người thế thôi. Quân Pháp cứ bắn từ từ, sau đó thì tiến


lên nhả hết đạn và xơng vào qn Annam. Tức thời có một người lính thủy đánh bộ, trong số được giữ


lại gác chùa, thấy quân ta đang đánh xáp lá cà liền nghĩ rằng phải tiếp tay với họ, liền bỏ chùa tiến ra.


Anh lính này vừa xơng ra nơi đánh nhau, thấy vị trung úy hải quân đang đối đầu với quân thù rất đông,
đang bị thương ở cạnh sườn, anh liền lấy thân che cho vị trung úy và anh bị trúng ngay một phát đạn


chết tức khắc. Cây súng các-bin vẫn còn nguyên đạn chưa bắn phát nào: xác anh ngã xuống bị đâm


thêm nhiều nhát lao nữa vào lưng. Trong mấy giây liền sau đó, vì khơng có người che nên vị trung úy hải


quân bị bắn lủng đùi, đồng thời bị đâm trúng cánh tay, trúng chân và bị phỏng ở một mắt vì pháo của
địch, sáng hơm đó quân Annam dùng pháo buộc ở đầu lao để bắn đi.


Nhũng người chỉ huy ba cánh quân địch bị giết gần hết, vì họ tiến lên hàng đầu, địch quân khơng cịn ai


hỗ trợ nên yếu thế và đánh tháo lui. Vị trung úy hải quân của ta liền lên chiến thuyền, nhìn thấy qn
địch cịn đang rút đi trên ruộng, ông cho lịnh bắn theo vài quả đại pháo, có thể là khơng trúng địch vì họ
rút đi theo hàng một, nhưng cũng làm cho họ rút nhanh hơn. Lúc đầu ta cứ tưởng nội trong ngày họ sẽ


quay lại đánh nữa; nhưng chẳn thấy tên nghĩa quân, tên chính quy hay tên don-dien nào tập hợp và
mang khí giới đến gần. Quân ta chỉ có một người chết và một bị thương nhưng ảnh hưởng trong vùng
này còn mạnh mẽ hơn hàng trăm người chết trong một trận đánh lớn. Một số dân quân trình diện xin ghi


tên vào danh sách của làng và nói rằng họ khơng muốn làm don-dien nữa. Ta cho ghi tên hầu hết trong


số những người xin.


Những người cầm đầu địch quân vừa chết vừa bị thương còn nằm la liệt ở quảng trường. Một xác chết
được nhìn chính là Dinh, tức người đã tổ chức và hướng dẫn cuộc khởi nghĩa; nhưng thật ra người này
khơng bị ta bắn trúng; sau đó được hoàng đế phong chức<i>quan</i>[21] và tiếp tục lây lất chiến đấu chống


chính quyền của Pháp trong vùng tứ giác phía đơng. Một người cầm đầu khác cũng cịn sống; mặc dù là
kẻ chiến bại, bị thương không cịn chiến đấu được nữa, ơng này vẫn giữ vẻ mặt trầm lặng vượt lên trên
nghịch cảnh. Ta kéo ông từ nơi bị thương cho đến nơi xử bắn, mặc dù thương tích, ơng vẫn ln ln


bộc lộ khí tiết ngang nhiên của một chiến sĩ bị bắt làm tù binh: người nào thấy cũng đều thuật lại rằng


ông vô cùng hãnh diện khi hay tin quyết định của ta đem ơng xử bắn, thay vì treo cổ[22]. Ông đã chết


giống như những người mọi da đỏ mà lịch sử đã ghi chép một cách kính nể: khốn đốn nhưng vô cùng


cao cả, không phải ông chết mà linh hồn của một quốc gia đã chiến đấu với ông và thở hơi thở cuối cùng
với ông.


Ngay ngày hôm sau trận Go-cung, hộ tống hạm<i>Duchayla</i> đến thả neo trên sơng Vạ-co, tại cửa kinh



Rach-la, ta bắt đầu cuộc chiến tranh trừng trị[23]. Nếu dấy loạn dám tái diễn trong vòng lãnh thổ tứ giác
phía đơng thì cịn phải chờ một thời gian lâu; nhưng hình như kháng chiến lại chuyển sang vùng tứ giác


phía tây mà trên bản đồ đều có ghi rõ là vùng do quân đội Pháp chiếm giữ. Các tàu <i>Duchayla, Mitraille, </i>
<i>Dragonne</i> thay nhau tuần tiểu trên kinh Bưu điện. Chính con kinh này trước đây dùng làm đường vận


chuyển cho đạo quân viễn chinh đánh chiếm My-thô.


Ðể chống lại ta, quân Annam không thấy đưa ra chiến thuật gì gọi là sáng tạo. Nghệ thuật muôn thuở


của họ là dựng các chướng ngại phụ thuộc để phòng thủ, điều này cho ta nghĩ rằng chính ta đến đây gây


chiến và đánh nhau với họ để dần dần dạy cho họ cách đánh nhau với ta[24]. Trong thế hệ họ, còn thiếu


một người để dạy họ biết chiến đấu: quả thật ta phải nêu rằng trong hàng ngũ quân Âu châu gần như
khơng có ai đào ngũ[25]. Các pháo hạm bằng sắt liều lĩnh tiến đến cuối Rach-gam[26], rạch Cạ-bạ[27],


nhưng khơng bao giờ lo sợ bị tấn cơng phía sau. Ðịa thế hiểm trở của các nơi này đúng ra là phải dạy


</div>
<span class='text_page_counter'>(79)</span><div class='page_container' data-page=79>

phía sau. Trong thời gian nghỉ mùa mưa, thủy quân chiến đấu, vài đại đội của tiểu đồn xung kích 101,
thủy qn lục chiến và cả toán biệt phái Tây Ban Nha đều phải xung vào việc dọn dẹp, khai thông sông


rạch bị địch ngăn chận bằng các loại chướng ngại. Thật là một công việc nặng nhọc và nguy hiểm, hơn


cả khi bị địch bắn; nhiều khi có người chết.


Hình như địch cũng chọn một chiến thuật mới: luôn luôn lẩn tránh. Trước đây, trên đường tiến đánh My
-thơ, cũng chính hai bên bờ Rach-run-ngu địch đã dàn trận chống cự thật gay go với ta, và chỉ thụt lui



từng bước một. Nay thì khơng cách gì túm được họ, trừ một vài tên chỉ huy tầm thường của các tốn


khởi nghĩa nhỏ mà thơi. Chiến thuật chính của người Annam là ngăn cản nỗ lực cai trị của ta: dùng ảnh
hưởng của quan quân ngày xưa chống lại uy quyền của quan lại người Pháp. Các quan<i>phou</i> và


quan <i>huyen</i> ngày xưa chờ đêm lại lần về làng, về tỉnh, về quận mà họ cai quản lúc trước. Họ vừa hăm


dọa lại vừa hứa hẹn với dân chúng. Họ nói cùng một thứ tiếng, người dân thì vẫn nhớ đến những gì


trước kia quan chức của họ đã từng giúp đỡ họ, ngoài ra lại cịn mối tình cảm phụ tử giữa quan và dân,
họ nỗ lực tranh giành ảnh hưởng với ta. Không có một người Annam nào lại khơng coi những người lính
địa phương hay những người xã trưởng theo ta là một thứ giết cha, giết mẹ[28]. Tóm lại, dân xem sự


hiện diện của ta cũng chỉ tạm thời mà thơi. Họ nghe nói chúng ta có một q hương giàu có và phồn


thịnh, trong đầu họ nghĩ rằng rồi một ngày nào đó ta cũng trở về xứ sở ta mà thôi. Khi ta vặn hỏi người


Annam chọn trong số những người không cong lưng và khúm núm trước mặt ta thì họ đều trả lời rằng:


“Chúng tơi đâu có thể bỏ xứ mà đi, có bỏ thì cũng chỉ bỏ làng. Chúng tơi chờ mà xem. Chẳng qua cũng


là ý trời.” Nhưng trong số những biện luận của triều đình Huế do mật sứ loan truyền trong dân gian thì


có điều này là chính yếu nhất: “Một nước hùng mạnh gây chiến với ta, gây cho ta nhiều khó khăn bắt


buộc ta phải bỏ Nam Kỳ miền dưới.” Ta cũng chỉ hy vọng điều đó, chẳng qua cũng do những chiến thắng


của ta ở Touranne và Saïgon mà ra.


Việc chiếm giữ hai vị trí Sạgon và My-thơ chưa đủ làm nao núng trong toàn xứ; từ lúc ta biết được các



xã trưởng do ta đưa ra đều nhận được thư do mật sứ của triều đình Huế cho biết họ phải trung thành
hoặc là phải chết, thì ta bắt buộc phải tỏ cho địch biết là ta quyết tâm chiếm giữ thật sự và vĩnh viễn xứ


này, nếu khơng thì chỉ có danh mà khơng có thực. Muốn tỏ thực quyền ta phải dựng đồn bót: lúc đầu ta


chỉ có năm, sau tăng lên đến bảy.


Chắc chắn phân chia lực lượng là điều tai hại. Nhưng chẳng có quy tắc nào tốt mà lại khơng có ngoại lệ,


vậy ta phải tìm một hình thức dung hòa giữa phân tán tối đa và tập trung cố thủ, tập trung tối đa thì ta


đang gặp khó khăn trong hồn cảnh hiện nay. Các cuộc chiến tranh chinh phạt rầm rộ đều giống nhau,


sau những trận đánh lớn làm tan rã guồng máy quân sự của địch, thì phải đương đầu với một trận chiến
thường trực mà mỗi người dân là một người lính đơn độc; có thể phương pháp hay nhất để thống trị là


đặt một người lính bên cạnh một người dân bại trận để canh chừng. Ðó cũng là chuyện người Mông Cổ
đã thực hiện ở phần đất Á châu này, khi họ xâm chiếm nước Tàu vào giữa thế kỷ XIV. Mỗi người dân Tàu
phải chứa trong nhà một người lính; nhưng chính sự phân tán tối đa đã tạo ra thế suy yếu của quân


Mông Cổ, chỉ trong một đêm tất cả quân chiến thắng đều bị tàn sát. Bản tính của ta và số qn q ít


khơng cho phép ta thực hiện phương pháp này để củng cố việc chinh phạt: ta đành chọn một giải pháp


dung hịa là lập đồn.


Các tốn vũ trang có tổ chức quy củ bất thần tấn công Go-cung làm tất cả mọi người ngạc nhiên không
ngờ trước được. Ta vẫn tưởng người Annam cịn chìm ngập trong nỗi kinh hoàng, ta từng thấy những
đám người Annam khúm núm, sợ sệt khi gặp mặt người Pháp tại Saïgon, họ giống như những thứ hèn


hạ bỏ đi khơng tỏ ra điều gì dám kháng cự ta. Nhưng sự thật đã chứng tỏ rõ ràng, như ta đã thấy. Người


Annam có tinh thần độc lập quốc gia rõ rệt, ta đã xem họ và vẫn cịn xem họ như những người vơ giác


khơng phân biệt ai là chủ nhân ơng của mình, như những người sẵn sàng chấp nhận bất cứ ai quản lý chỉ


cần cho phép họ cày ruộng và gặt lúa là được. Ta vẫn nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần sai lầm
lúc ban đầu của ta là coi mọi tác động trỗi dậy của người Annam là đạo tặc và cướp bóc. Sai lầm này thời


nào cũng có, khi người La Mã chiếm xứ Gaule[29] và nếu ta cứ tin theo lời họ thì những ai chống lại
người La Mã đều là bọn bất lương phạm pháp.


Từ trước đến nay Nam Kỳ miền dưới vẫn đầy kẻ trộm; nhưng con số tăng lên gấp bội chỉ trong vòng 2
tháng sau khi thành Ki-hoa và thành My-thơ bị ta đánh chiếm: nhiều qn lính tan rã hàng ngũ quay ra
cướp bóc; vì đó là nguồn sinh sống duy nhất của họ. Nhưng vào độ tháng 6 và hai tháng tiếp theo dân


quân Don-dien, quân chính quy và nghĩa quân lại được các người chỉ huy cũ của họ tập họp trở lại. Vì
khơng biết ngơn ngữ, vì bị lừa gạt, vì lo sợ mà tự vệ, vì bắt chước truyền thống của người Anh, vì bản


</div>
<span class='text_page_counter'>(80)</span><div class='page_container' data-page=80>

diệt chủng người da đỏ, tất cả là những lý do làm ta khơng cịn phân biệt được những người Annam


khơng phải là trộm cướp đã nổi lên kháng chiến chống lại ta. Biết bao nhiêu những kẻ mà ta coi là cướp


bóc thật ra là những chiến sĩ tay khơng chẳng được trang bị khí giới mà thơi!


Thật quả là một quyết định cực đoan khi giao cho 20 đại biểu của ta toàn quyền sinh sát. Dù cho lương


thiện và cương quyết đến đâu thì những người lãnh đạo này cũng chẳng thay đổi được những nhược
điểm của bản tính mình. Những lệnh ban xuống trong trận chiến tranh khủng bố đang diễn ra tại hai



vùng tứ giác thật vô cùng khủng khiếp: thật là nhẫn tâm chưa hề có[30]. Tuy nhiên “Các ơng khơng


được khủng bố người dân hiền lành” (Ðó là lời huấn thị cho các chỉ huy trưởng các đạo qn lưu động.)


Khơng có cảnh tượng nào âu sầu, buồn tẻ và khổ sở hơn là khi thấy người Pháp phải chạy ngược chạy


xuôi trong ruộng trên sông trong suốt mùa mưa. Trò chinh phạt như thế này thật khơng có gì thích thú:
cứ thấy được tên địch này thì tên địch kia chạy trốn, tồn xứ thì sơng ngịi chằng chịt làm cho hành qn
giống như cảnh sát đuổi bắt kẻ trộm cắp trên sông. Chẳng hạn như địch chiếm một số vị trí về phía kinh
Bưu điện và Rach-kison[31], nhưng ta chẳng biết các vị trí địch ở đâu; có những biến động giống như
địch đang hành quân: tiền quân ta chẳng thấy gì hết. Chận thuyền bè tra xét chỉ tập cho quân ta thái độ


khinh miệt đời sống con người: thế thôi. Quân địch nhất định lẩn trốn làm ta hành qn giống như đánh


vào khơng khí, trong trị đánh nhau thì phải có hai bên, nhưng rốt lại chỉ có một bên tự ra tay đánh một


mình. Tuy nhiên ta biết chắc có nhiều lực lượng tiếp tay khởi nghĩa, ta biết cả tên tuổi của vài người cầm
đầu và hướng dẫn nổi dậy. Ðến đây nên tiếp tục tìm hiểu những người này, họ có liên hệ với dịng họ


hồng đế Annam, họ là linh hồn của các phong trào nổi dậy[32].


Hoàng đế Tu-duc có vóc người khá cao lớn, hơn tầm trung bình của người Annam. Dáng hơi khịm. Hai
vai xệ xuống, đây là dựa theo lối nói của dân trong xứ dùng ám chỉ những người già trước tuổi vì ham ăn
chơi[33]. Nước da của ông mét và đều: nét mặt trầm lặng, không tỏ lộ, không xao động lo âu như cái


nhìn giống như mắt mèo của người Annam. Tuy nhiên ông vẫn mang tất cả những cá tính của giống dân
Annam, người Pháp nào đã được thấy quan quân Annam ở cấp bực cao đều có thể hình dung được cử


chỉ, dáng điệu, vẻ mặt của hồng đế Tu-duc. Răng của ơng nhuộm đen; tóc cột lại thành một búi tó có



kim bằng vàng xuyên ngang. Người Pháp ta xem ông và vẫn cịn coi ơng như một con thú dữ thơ bạo và


khát máu: nhưng đây chỉ là phương pháp của những kẻ tầm thường khinh miệt kẻ thù của mình rồi


những kẻ xu nịnh bắt chước theo[34]. Ðối với người Annam ơng là một hồng thân cứng rắn nhưng vơ
cùng nhân đạo. Sự thật thì ơng tỏ ra có bản tính rất ơn hịa và thái độ thật hịa nhã, ngay từ ngày cịn
nhỏ tính tình hịa nhã của ơng đã làm cho vua cha là hồng đế Treui-trï[35] phải chú ý tới và đặc biệt
chăm sóc đến ơng. Trái lại, hồng đế Treui-trï quyết gạt bỏ người con trai cả vì người con này rất hung


dữ và độc đoán. Một người Annam sống trong triều đình Huế biết tiếng Latin đã cho ta biết các chi tiết


vừa kể trên, vào thời đó tiếng Latin là ngơn ngữ thơng dụng. Ơng cịn nói với ta là người Annam cho
hoàng đế của họ là: <i>pertinax</i> và <i>tenax</i>, có nghĩa là sáng suốt và kiên trì.


Hồng đế Tu-duc sinh năm 1830. Vào dịp ơng lên ngôi, mẹ ông cho thêm một tuổi, viện bô lão cho ông
thêm một tuổi nữa và người dân cũng tăng thêm cho ơng một tuổi: vì thế đối với Âu châu ông 33 tuổi,
nhưng đối với người Annam ông 36 tuổi. Việc lên ngôi của ông biến chuyển như trò ảo thuật, chuyện xảy


ra cứ tưởng như chuyện ở cung điện Nga hoàng hay Thổ Nhĩ Kỳ.


Khi hoàng đế Treui-trï cảm thấy suy yếu và biết mình sắp chết, ơng dàn xếp mọi việc để đưa người con


trai út[36] lên ngôi. Mỗi lần người con trưởng là Hoang-bao[37] muốn vào phịng thăm hồng đế Treui
-trï đều bị người lương y của hoàng đế ngăn cản, bằng cách nói với ơng rằng hồng đế đã khỏe sắp đi
đứng được. Trong khi giằng co như thế thì trong phịng bên cạnh di chúc của hồng đế đang được soạn


thảo. Khi hoàng đế vừa qua đời thì hội đồng hồng triều được triệu tập, bản di chúc đem ra trình cho hai


anh em trước mặt đơng đủ hồng gia. Người con cả bị tác động mạnh đến nỗi đã quỳ gối và úp mặt



xuống đất tỏ ra hết sức bối rối, mọi hy vọng của ơng đã tiêu tan hết. Khi hồng đế Tu-duc lên ngơi,


người anh tìm cách mưu phản nhưng khơng kết quả gì. Các âm mưu của người anh mất ngôi đều bị


khám phá; chẳng những âm mưu không thành, ơng lại cịn bị nhốt vào một lâu đài tại Huế. Ơng bị quản


thúc n ở đó đã 6 năm. Nhưng bỗng có một biến cố xảy ra: sứ thần của vua Xiêm gởi đi bị quân triều
đình bắt tại biên giới giữa Cao Miên và Nam Kỳ tức là Tay-ninh, mật sứ mang theo phù hiệu vương quyền
để dâng lên người con cả của hoàng đế Treui-trï. Theo sự đồn đại trong dân chúng thì vị hồng thân này


đã hối lỗi vì nghĩ rằng việc bất thành là do ý trời không muốn cho ông trị vì, và ông đã thắt cổ tự tử sau
đó. Nhưng có lẽ ơng bị thắt cổ thì đúng hơn. Ba ngày sau, con trai của ông cũng chết một cách tương


</div>
<span class='text_page_counter'>(81)</span><div class='page_container' data-page=81>

thoát. Kể từ khi đó khơng ai biết thật sự số mạng của họ ra sao.Vào năm 1861, người Annam cho rằng
hai người sống ẩn nấp ở Nam Kỳ miền dưới.


Hoàng đế Tu-duc cũng khơng được hồn tồn bình an thụ hưởng ngôi báu mà vua cha đã xếp đặt. Trước


hết ông phải chống lại chiến tranh nội bộ tranh giành vương quyền, sau là chiến tranh xâm lược của
người ngoại quốc. Khi nhìn thấy nước Ấn Độ cạnh bên bị người Anh xâm chiếm ơng cũng phải chống


váng. Trong thâm tâm, ông e rằng rồi đây tất cả sẽ đổ vỡ, một khi đã giao nhượng một tỉnh tức là khởi
đầu cho sự suy sụp của toàn lãnh thổ. Chắc chắn trong tháng 7 năm 1861, lịnh cấm gạo trên toàn vùng
bờ biển Nam Kỳ do ta ban ra bắt đầu có hiệu quả mạnh, 40 vị quan uy thế nhất trong nước, mà ta


thường dùng một danh từ có nghĩa thật xấu thuộc loại thổ ngữ pha trộn sabir của người Bồ Đào Nha để


gọi đám quan này[39], đã tấu trình lên hồng đế cảnh tai họa của dân tình và khun hồng đế hãy


thương thuyết với người Pháp. Tu-duc đã trách cứ họ là yếu hèn, và nói với họ rằng: “Các ông nên chuẩn



bị chiến đấu hơn là lo thương thuyết; ta thà chịu rút vào núi non với người Mọi, người Chàm còn hơn là


chịu nhượng bộ.” Tuy thế sau này ông cũng phải chịu thương thuyết.


Vị hoàng thân chết thảm ở Huế và hoàng đế của người Annam hiện nay là hai anh em khác mẹ, mỗi
người đều có một ơng ngoại khác nhau. Ơng ngoại của hồng đế Tu-duc tên là Truong-dang-q[40].


Ơng sinh trưởng ở Go-cung, thị xã nằm giữa Cao Miên và bờ biển Tàu[41]. Ông Quê đã 74 tuổi: là kẻ thù
không thể tha thứ của người Âu châu trong việc xâm chiếm thuộc địa. Chính ơng đã đưa vào sắc chỉ của


hoàng triều ký năm 1833 lệnh ngược đãi tín đồ thiên chúa.


Ơng ngoại của hồng thân bị thắt cổ ở Huế tên là Tri-phuong[42]. Ông 65 tuổi, là một cựu nhân viên thư


lại, ông đạt được danh vọng lớn không hề phải trải qua thi cử. Ðây là người Annam được kể như có trí


thơng minh hiếm có, rất kiên trì, nhiều sáng tạo, khả năng phong phú. Ông là người sáng lập các nộng


trại quân đội cho dân Don-dien, chính họ đã giữ một vai trị tích cực trong cuộc nổi dậy ở Go-cung;
những nhóm dân định cư này phù hợp một cách tuyệt vời với nền luật pháp và thiên tài của người
Annam, đồng thời cũng cực kỳ thích nghi với tình trạng đặc biệt của Nam Kỳ miền dưới. Có người cho


rằng Nguyen Tri-phuong tổ chức các dân quân để sau này, chờ khi vua Xiêm nhúng tay vào hậu thuẫn,


sẽ nổi lên chống lại hoàng đế Tu-duc. Nhưng chắc chắn là sau các biến cố năm 1858, Truong-dang-quê
và Try-phuong đồng lòng hợp tác với nhau chống lại sự xâm lược của Pháp. Vị thế của hai ông trong
nước, cũng như tuổi tác của hai ông đã tạo ra ảnh hưởng lớn lao trong tồn xứ. Hai ơng thiết kế, đào


hào đắp lũy, lập căn cứ chống cự; dựa vào uy thế và nhất là nhờ tính khí và nghị lực mà hai ông đi đến


đâu là khơi động việc nổi dậy đến đó, giống như chính hồng đế Tu-duc tự thân hành đốc thúc dân


chúng trong hai tỉnh Gia-dinh và My-thô.


Dưới hiệu lịnh của hai vị này, các xã trưởng cũ và tàng tích của nền hành chánh Annam trước đây đứng


ra tổ chức và hướng dẫn kháng chiến; đơi khi trong số người đứng lên cũng có những người mới, trẻ


tuổi, khơng có chức tước gì trong quân đội trước đây, nhưng giàu có và nhiệt tình. Ta biết được tên của
vài người trong số những đầu đảng của các nhóm kháng chiến.


Quan-dinh[43] là một trong số những người nhiều nghị lực nhất. Anh ta đánh lừa là đã chết trong trận


Go-cung, nhưng sau đó lại xuất hiện và chiến đấu trong hết mùa mưa tuy khơng có kết quả gì. Mãi về
sau này, khi ta đã chiếm Bien-hịa, tên này tung hồnh tàn phá hết hai vùng tứ giác của ta.


Tên Phou-cop còn gọi là phou-cao[44] rất nổi tiếng. Trước đây hắn là tỉnh trưởng[45] một vùng lãnh thổ


hình trịn giáp ranh với kinh Thương mại. Hắn là tên trùm trong vùng tứ giác do quân ta chiếm giữ, có


khi những toán quân của hắn dám tiến sát vào gần ngay My-thô. Nhưng chúng đều bị ta rượt đuổi và
phải phân tán ở Mi-cui[46]. Tên hắn có nghĩa là quan cọp. Thuộc hạ của hắn gán cho tên đó vì hắn rất


hung dữ[47].


Tên Quan-tou là một cựu quản cơ[48] Don-dien nổi danh vì tính khí hào hùng. Trước đây hắn chỉ huy


một trung đoàn dân quân tức Don-dien trong thành Ki-hoa. Sau khi thành Ki-hoa bị mất, hắn lại xuất


hiện ở các tiền đồn chống giữ thành My-thô. Hắn chỉ huy đồn mà trong đó đại pháo đã bắn ra giết chết



trung tá hải quân Bourdais. Sau khi ta nã pháo bắn nát đồn, hắn buộc lịng phải dẫn qn lính tháo lui,


quân lính của hắn vẫn gồm dân quân Don-dien, hắn rút vào vùng tứ giác phía tây; ta cho tàu <i></i>
<i>Sham-Rock</i> truy nã ở Kui-duc[49], đốt nhà hắn và phá tan tành gia sản của hắn làm hắn phải bỏ trốn qua phía


Cao Miên trong vùng ngang với ba tỉnh phía nam[50].


Tên Quan-suan thì nổi tiếng vì rất giỏi về hành chính. Hắn đóng ở phía tây kinh Thương mại trong suốt
mùa mưa và ít khi xâm lấn vào lãnh thổ của ta. Tên hắn có nghĩa là mùa xuân. Người Annam thỉnh


</div>
<span class='text_page_counter'>(82)</span><div class='page_container' data-page=82>

Những người cầm đầu kể trên tập hợp binh mã, vừa là lính chính quy gom góp trở lại, vừa là dân quân
Don-dien, vừa là nghĩa quân địa phương. Trong vài trường hợp, nhất là ở Go-cung, trên bờ rạch Run-ngu
và rạch Mi-cui, quân chính qui, Don-dien và nghĩa quân hợp chung với nhau mà đánh. Tóm lại, kháng


chiến của người Annam chống lại người Pháp đã bắt đầu nẩy sinh và có tính cách rất khác biệt tùy theo


địa phương, phía đơng hay phía tây kinh Bưu điện. Trong vùng tứ giác phía đơng, tức vùng đã nằm gọn


trong lãnh thổ Pháp, các cuộc nổi dậy gần như có tính cách bộc phát mà thơi. Những người chỉ huy đánh


liều mạng, các cuộc nổi dậy giống như vọt lên từ trong đất. Trái lại, trong vùng tứ giác phía tây, người


Annam có nhiều làng mạc nằm dọc theo mép kinh Thương mại tiếp tay, những làng này không thần phục


ta. Các tỉnh phía nam chuyển lên cho họ thuốc súng, súng, đại pháo và cả gạo nữa. Chính quyền Bien
-hoa gởi cho họ mệnh lệnh, chứng từ, ấn dấu; vị quan phó vương sáu tỉnh[52], khi thì đóng trong lều
tranh đổ nát lúc thì lập tổng hành dinh nơi đồn lũy kiên cố, lúc nào ơng cũng khuyến khích và cổ võ các
nhóm kháng chiến. Sức kiên trì của người Annam đem lại sinh khí cho các tỉnh Ha-tien, Vinh-luong và
An-gian. Ðiều này chứng tỏ cho biết sau này dù ta có chiếm hết ba tỉnh phía bắc Nam Kỳ miền dưới tức My


-tho, Saïgon và Bien-hoa, cũng sẽ khó lịng bình định khi ba tỉnh cực nam vẫn cịn áng ngữ trước mặt.


“Nếu tơi có thêm một ngàn qn nữa, tơi sẽ lấy hết ba tỉnh đó; nhưng rồi tơi sẽ có đủ người để giữ


những tỉnh ấy hay không? Uy danh của chúng ta tùy thuộc vào đó.” (trích lời của phó đơ đốc chỉ huy
trưởng gởi lên bộ trưởng hải quân).


Kháng chiến của người Annam trong vùng tứ giác phía tây là do tên Phou-cao cầm đầu, biệt danh hắn là
quan cọp. Có lúc ta nghĩ rằng quân Annam rút về sào huyệt kiên cố để chống lại các đạo quân lưu động


của ta xuất phát từ My-thô, mượn hệ thống kinh rạch đổ thẳng vào sông Cambodge để di chuyển, vì thế


ta phải nỗ lực đánh tan chiến thuật này của địch, không cho thiết lập đồn lũy cố thủ như trước. Ta bèn
lấy quyết định gởi một đạo quân chinh phạt[53] đi đánh phá Mi-cui.


Cuộc hành quân của ta không gặp sức kháng cự nào đáng kể của địch; địch quân tiếp tục tháo lui như
thường lệ, nhưng từ xa vẫn bắn loạn lên bằng súng nhẹ. Mùa mưa lại bắt đầu trở lại, thật là khốc liệt,


làm quân sĩ di chuyển hết sức cực nhọc và nguy hiểm chết người.[54]


Go-cung và Mi-cui là những địa danh mà ta biết để kể ra đây làm điển hình cho một thứ chiến tranh mà
kẻ thù hồn tồn vơ hình.


Nếu ta chỉ dựa vào sức cố gắng và kiên trì của địch khấy rối trong mùa mưa để đánh giá tình hình thật


sự của hai tỉnh vừa chiếm thì hồn tồn sai. Khơng có chút gì tương xứng giữa tổ chức trong bóng tối


của địch so với những tai hại nặng nề mà ta đang phải gánh chịu.


Một vài hành động kháng cự trong một chiến trường giới hạn thật không đáng kể gì hết khi đem so với



một trận chiến khác đang dai dẳng: tức là trộm cướp. Chính sứ thần Annam cũng than phiền về việc
cướp bóc đã tăng lên gấp đơi từ khi có loạn. Các đề nghị hịa bình vẫn tiếp tục được trao đổi giữa sứ


thần Annam và vị chỉ huy trưởng của ta. Nhưng những cuộc thương thảo này vụt ngưng vào tháng 8,


sau khi ta tức chận bắt được gần Tram-bam bản tun cáo của triều đình Huế. Hồng đế Tu-duc treo giá


đầu của chúng ta và trách dân không biết tận dụng nghị lực và tiềm năng của mình để tìm phương cách
đánh đuổi ngoại xâm. Sau đây là lời lẽ của bản tuyên cáo[55]:


<b> Ngày thứ 3 trong tuần trăng thứ 3 (tức ngày 1 tháng 3, năm 1861)</b>


“Từ ba năm nay người Pháp đến quấy rối ta tại Gia-dinh; nơi đây họ đã phá thành, giết hại và đánh đuổi


quân sĩ phòng thủ của ta. Tất cả thần dân có thấy phẫn nộ hay khơng, Trẫm tưởng rằng tồn dân nhất là
những ai ở Nam Kỳ miền dưới sẽ sẵn sàng hợp tác với quân sĩ để trả thù cho những nơi bị địch đánh bại.
Người Pháp không phải cùng một giống dân với ta, họ áp bức chúng ta, hãm hiếp phụ nữ ta[56]. Tất cả


những ai bất nhẫn vì những việc này hãy quay về hợp tác với Trẫm.


“Trong số các ngươi có ai muốn thờ họ và theo đuôi họ không?


“Trước đây, Trẫm đã đưa ra một bản tun cáo cho chính quyền sáu tỉnh, trong đó Trẫm đã báo rằng:


“Tất cả công bộc phải tuân lịnh Trẫm; phải lo kêu gọi dân chúng nổi lên để tổ chức nghĩa quân theo


những thể thức như sau:


“Ai kết nạp được 10 người thì được phong chức ba-bơ[57];



“Ai kết nạp được 50 người thì được phong chức chanh-luc-pham-suat-doi (đại úy)[58]. Ðược lãnh khẩu


</div>
<span class='text_page_counter'>(83)</span><div class='page_container' data-page=83>

“Ai kết nạp được 100 người sẽ được phong pho-ve[59].


“Ai kết nạp được từ 200 đến 400, sẽ được phong chức tương xứng với số người kết nạp.


“Ai kết nạp được một đạo quân 500 người sẽ được phong làm chanh-nguyen-pham-co[60] (đại tá).


“Nếu ai bắt được một người Pháp, sẽ được thưởng bốn lượng bạc.


“Nếu ai giết được một người Pháp, sẽ được thưởng hai lượng bạc.


“Nếu ai giết được một người Annam theo Pháp sẽ được thưởng một lượng bạc.”


“Hứa hẹn như thế, tức chúng ta muốn huy động tồn dân chống lại người Pháp. Tại Gia-dinh đã có 308


người can trường theo về với quân đội của chúng ta; ở Vinh-long đã có 140 người. Chưa kể năm tiểu
đồn chính quy và một trung đồn nghĩa quân[61] trước kia ở Saïgon nay đã quy tụ về Bien-hoa, ngồi
ra cịn có năm trung đồn nghĩa qn đang được bí mật thành lập.


“Chẳng lẽ vận hạn của ta cứ đeo đẳng ta mãi hay sao?


“Hôm nay chúng ta hiểu rằng những khó khăn lớn nhất là ở Gia-dinh và Dinh-thuong[62], chúng ta đã
mất hai thị xã của hai tỉnh này. Chúng ta nghĩ rằng những ai đã quay về trong lịng gia đình họ là điều


phải; nhưng đã đến lúc cần đồng loạt đứng lên theo về với Trẫm; Trẫm sẽ hân hoan đón rước để cùng


nhau đánh đuổi người Pháp ra khỏi các tỉnh của ta. Sau này, khi chiến thắng, sẽ được thăng thưởng



xứng đáng để an hưởng trong hòa bình.


“Hồng đế Tu-duc”


Sứ thần Annam đã lừa gạt ta rõ ràng. Có nhiều người trong chúng ta coi đó là một chuyện đáng bất


nhẫn hơn là hợp lý. Người Annam nói hịa bình nhưng lại chuẩn bị chiến tranh với ta. Chuyện dối gạt này
chỉ có thể xảy ra với các dân tộc văn minh mà thôi và ta cũng phải thú nhận rằng giữa họ và ta chưa hề


có cuộc đình chiến nào chính thức được công bố? Sau hết, khi họ đưa ra lý do bảo vệ lãnh thổ của họ tức
đủ để bào chữa tất cả; một khi việc xâm lược của ta chưa kết thúc, dân chúng chưa bị dẹp yên bằng vũ


lực, thì bất cứ một cuộc nổi dậy vũ trang nào cũng có thể gọi là chiến tranh dành độc lập được. Nói


chung ý thức đó giống như rễ cây ăn sâu vào lòng đất đã nằm sẵn trong lương tâm của con người; ý


thức như vậy rất đúng, đúng cả với những người nông dân thiếu cả vũ khí và chỉ biết trồng lúa mà thôi.
Biện pháp ra giá đầu của chúng ta rõ ràng là một hành động bỉ ổi và khích động hành vi ám sát. Thật


quả là một chuyện đáng buồn khi ta khơng tìm thấy ở những dân tộc mà ta gọi là man rợ những hành vi
mềm dẽo hơn như ta đã thấy trong các trận giặc ở Ðức và Ý. Nhưng chúng ta cũng phải chú ý tới ảnh
hưởng của phong tục, tập quán của một xứ quá xa và quá khác biệt với Âu châu. Giữa một giai đoạn suy


sụp của giáo điều, của nguyên tắc, của tư tưởng và giữa nhưng gì hơm nay ta gọi là bậc thánh, ngay mai


sẽ trở thành kẻ sát nhân, chẳng cịn gì để tơn trong nữa, thì đương nhiên phần ta, ta cũng có quyền tự


vệ. Trong lúc việc thương thảo gián đoạn, ta cứ sử dụng quyền tự vệ của ta. Tuy nhiên tỉnh Gia-dinh vẫn


hoàn toàn yên tỉnh. Vùng tứ giác phía đơng vẫn bình n, dân chúng chỉ nổi dậy lẻ tẻ ở vùng tứ giác phía



tây.


Tình trạng yên ổn này chứng minh một sự kiện rõ ràng: trong thâm tâm người Annam không bao giờ


mất lòng tin. Họ vẫn mong đợi một biến cố nào đó làm chúng ta mệt mỏi và phải nới tay khơng bóp


nghẹt họ nữa. Tuy rằng lịng tin có cịn, nhưng thực tế khơng chối cãi được là sau khi bại trận họ đã phải
đưa đầu vào gông nô lệ. Ta chỉ hy vọng bất cứ đâu, từ những nơi xa Sạgon và My-thơ dù cho hẻo lánh


hay cách trở, khi một người Annam nhìn thấy ta tức họ phải hiểu ngay sự trừng phạt có thể giáng xuống
đầu họ tức thời. Ta cũng hy vọng thêm là hệ thống hành chánh mà ta hứa hẹn với họ sẽ tương xứng và
thích nghi với cái tơn giáo có nhiều an ủi của họ, tâm trạng của họ rồi cũng sẽ thay đổi với thời gian. Về


phần ta, ta cũng sẽ hy vọng gặt hái những kết quả do sự phấn đấu, lòng quả cảm, sức chịu đựng mọi


thiếu thốn của ta, và nhất là sự hy sinh khiếp đảm nhất cho Thần Chết từ 5 năm nay.


Những nhận xét mà ta vừa trình bày trên đây chỉ để áp dụng cho việc thành lập thuộc địa của ta mà
thôi, không thể dùng cho người sau, khi lật lại lịch sử[63]. Trong vịng mùa mưa năm 1861, vì khuynh


hướng cướp bóc của người Annam, thêm cảnh các tàu chở lương thực và than bắt mang về nhiều người


có thói hung bạo, ta cịn phải chận đứng việc bn bán lén lút súng đạn với Singapour vì thế ta phải đưa


ra nhiều biện pháp đặc biệt; hoàn cảnh khắt khe này thật sự khơng thích hợp chút nào để ta tìm kiếm


giải pháp dung hịa giữa sự thống trị của người Pháp và dân chúng Annam. Dù sao thuộc địa vẫn được


</div>
<span class='text_page_counter'>(84)</span><div class='page_container' data-page=84>

người đồng hương của mình giết chết trong một cuộc ẩu đả. Chính quyền Pháp hoàn toàn bất lực trước



những loại tội phạm như vậy. Tóm lại một bộ luật dành cho người Annam sẽ phải được soạn thảo trong
tương lai; các người Pháp ta đưa về làm tỉnh trưởng, quận trưởng chỉ được quyền xử phạt những tội


phạm nhẹ, không quan trọng mà thơi. Vị chỉ huy trưởng xin chính phủ Pháp phải gấp rút thiết lập tại


Saïgon một tịa án; nhưng trong khi chờ đợi, tồn thể lãnh thổ do ta chinh phạt được phải đặt trong tình
trạng giới nghiêm bằng một bản tuyên cáo ghi ngày 19 tháng 5, bản tuyên cáo có nội dung như sau:


”Phó đơ đốc hải qn, chỉ huy trưởng các lực lượng hải quân Pháp trên các vùng biển Tàu, các lực lượng


bộ binh cũng như thủy binh tại Nam Kỳ;


“Nhận thấy rằng:


“Trong khi chờ đợi thiết lập tòa án có dủ thẩm quyền xét xử trọng tội và thường phạm, thì ngay bây giờ


phải trừng trị cấp bách các tội phạm đó;


“Ngồi ra cịn phải kể đến tình trạng chiến tranh giữa chính phủ của Hồng đế nước ta và chính quyền


Huế;


“Tuyên cáo như sau:


“Chiếu theo luật ngày 9 đến 11 tháng 8 năm 1849, điều khoảng 5, chương II, các tỉnh Sạgon, My-thơ và
tất cả các vùng lãnh thổ do ta chiếm phải đặt trong tình trạng giới nghiêm.


“Tuy nhiên, chiếu theo điều khoản 7, chương III của bộ luật trên, chánh quyền dân sự vẫn tiếp tục như
trước đây để thực thi quyền hạn của mình, và khi nào quyền hạn đó xét thấy thiếu sót thì lực lượng qn



sự sẽ tiếp tay nếu có hiệu lịnh của vị chỉ huy trưởng truyền xuống.


“Vị chỉ huy trưởng toàn bộ đạo quân viễn chinh và các chỉ huy trưởng đặc trách hai tỉnh Sạgon và


My-thơ được giao phó dùng tất cả mọi phương tiện để phổ biến bản tuyên cáo này.”


Hành động đó chứng tỏ uy lực và quyết tâm của nước Pháp chiếm giữ vĩnh viễn không nhân nhượng


vùng lãnh thổ Sạgon và My-thơ. Trong dịp này, đại tá don Carlos Palanca Gutierrez, chỉ huy các lực
lượng Tây Ban Nha và cũng là đại diện toàn quyền của vương triều Tây Ban Nha, tự thấy phải phản đối


và dành quyền phản ứng của nước Tây Ban Nha trước sự việc này[64]. Vị toàn quyền Pháp ghi nhận sự


phản kháng của phía Tây Ban Nha, nhưng ông vẫn giữ nguyên quyết định của mình. Thái độ của vị chỉ
huy trưởng Pháp trong sự tranh chấp này phản ảnh thật sự bản tính của ơng nhưng đồng thời cũng phù
hợp với các chỉ thị do chính phủ của Hồng đế nước Pháp chuyển xuống cho ông. Chỉ thị này như sau:


“Trình bày cho ông biết rằng ơng đã nhận được lịnh đánh chiếm Sạgon, chinh phục và tổ chức một phần


lãnh thổ tại đây, và nhắc cho ông biết Tây Ban Nha chỉ được đền bồi cho sự hy sinh vẻ vang của mình tại


một địa điểm khác ở Nam Kỳ mà thơi”. Vấn đề này thật ra chỉ có thể giải quyết một cách tồn vẹn giữa


hai chính phủ. Quả đúng đã được giải quyết như vậy, nhưng mãi về sau mà thôi: hiện nay vấn đề này
gây ra bất đồng chính kiến giữa hai vị tồn quyền, mặc dù sự liên hệ cá nhân giữa hai người không bị


sứt mẻ gì vì chuyện này; tranh chấp cũng không phải là một chuyện xấu xa đối với lịch sử, nếu ta cứ


nhìn lại hai thế kỷ trước đây, cơ đồ của một đại quốc gia hùng mạnh đã đi đến chỗ đổ nát chỉ vì sự bất



hòa giữa hai vị chỉ huy quân sự[65]. Các biện pháp cực đoan của tình trạng giới nghiêm đem lại cho ta


kết quả tốt, nhưng đồng thời cũng gây ra những hậu quả xấu là những hành động tàn bạo không thể


tránh do giới nghiêm mà ra, chẳng hạn như hành động xúc phạm quá sâu vào đời sống cá nhân và riêng


tư của người Annam trong xã hội của họ. Nhưng chính biện pháp này lại làm gia tăng quyền uy của
người Pháp, giúp cho vị phó đơ đốc của ta rảnh tay tận dụng quân lực để chuẩn bị cho việc chinh phục


thêm những vùng đất mới.


Tình trạng thuộc địa của ta khi mưa lũ chấm dứt và khi đồng ruộng khô cứng trở lại thật hết sức là huy
hoàng. Uy quyền của người Pháp trong các tỉnh đã chiếm không hẳn chỉ là uy quyền trên danh nghĩa. Từ
Saïgon đến My-thô, uy danh của ta thật sáng ngời. Chỗ nào ta cũng thấy người Pháp, từ Go-cung đến


Tay-ninh, từ bờ biển Tàu đến biên giới Cao Miên. Các đoàn tàu bn thật tấp nập nối liền Sạgon và


My-thơ, có khi lên đến 200 chiếc một lúc. Giao thương ở thành phố Tàu tăng lên mười lần hơn trước, bằng


cớ là giấy tờ thương mãi của thời này chứng minh rõ rệt. Hành động chống đối từ phía Bien-hoa thu hẹp


chỉ còn vài trận đụng độ lẻ tẻ, các thắng lợi lớn của người Annam chẳng qua là những vụ đánh cắp trâu


bị mà thơi. Có một số qn chính quy Annam đóng trên một vùng cao nguyên là Mi-hoa[66], giữa Fou
-yen-mot và Bien-hoa, nhưng không gây áp lực gì đến hoạt động của ta. Một vài vụ kháng cự còn xảy ra


</div>
<span class='text_page_counter'>(85)</span><div class='page_container' data-page=85>

Cái bản tính thơng thường của trí tuệ con người là ghê tởm những gì khơng chính xác, rõ rệt và cơng
thức. Ta muốn tìm một lý do chính giải thích sự xuất hiện của những nhóm kháng chiến rình rập chung



quanh các đạo quân của ta trong mùa mưa; họ xuất hiện phía sau khi ta tiến lên phía trước, ta lại thấy


họ phía trước khi ta quay lại điểm xuất phát lúc buổi sáng. Giống như họ từ dưới đất chui lên. Phải moi
óc để tìm ra địa điểm trung tâm xuất phát của họ, từ đâu họ lấy lương thực để ăn, từ đâu họ lấy khí giới
để đánh. Vì vậy mà ta phải nghĩ tới Bien-hoa. Sau Bien-hòa ta lại cho là Vinh-long. Sự thật thì trung tâm
xuất phát các cuộc đề kháng ở khắp nơi, chia cắt ra cho tới con số vô cực, con số này tăng lên cho tới


khi nào bằng với con số người dân Annam[67]. Nói một cách đúng hơn, thì phải xem mỗi một nơng dân
đang bó một bó lúa trong ruộng là một trung tâm kháng chiến. Ðiểm bất lợi cho cuộc chiến đấu của ta


trên một vùng địa thế mà địch vẫn thản nhiên sinh sống và trốn lánh dễ dàng, - chiến tranh mang dần
tính cách cá nhân, thay đổi mục tiêu và danh nghĩa, trở thành một thứ chiến tranh đàn áp. Ta thấy thật


rõ ràng từ ngày thất thủ Ki-hoa và My-thô người Annam chỉ tìm cách làm ta hao mịn mà khơng thiết lập


chắc chắn một chỗ nào nhất định để thách đấu với ta. Bắt đầu từ giờ phút này, mỗi khi đem qn tấn


cơng họ thì ta biết trước chắc chắn họ sẽ nhường bước và tháo lui, rồi lại tiếp tục thiết lập sào huyệt phía


sau hoặc phía trước địa điểm ta dự định tấn cơng. Tuy nhiên đã đến lúc mà ta phải đánh chiếm Bien
-hoa, vì thị xã của tỉnh Bien-hoa đã nằm trong danh sách các mục tiêu bành trướng thuộc địa của ta, gồm
trong vùng đất kéo dài tới sát ranh giới dãy núi Fan-thiet.


Chiến thắng Ki-hoa và My-thô đã chuẩn bị sẵn cho việc đánh chiếm Bien-hoa, công tác này sẽ do người


thay thế phó đơ đốc Charner thực hiện. Khi chiến dịch năm 1861 chấm dứt, vị chỉ huy trưởng cho rằng


sức mạnh quân sự của người Annam đã bị đánh tan và việc chinh phạt bước vào tình trạng giống như lúc
đầu khi ta đánh chiếm Algérie. Cơng trình này cịn địi hỏi thời gian và cố gắng của nhiều sĩ quan cao cấp



khác nữa, không phải chỉ nằm trong sứ mạng đã giao phó cho ơng, phần ơng đã làm trịn trách nhiệm.


Chuẩn đô đốc hải quân Bonard được chỉ định, bằng nghị định ký ngày 8 tháng 8 năm 1861, giữ chức


toàn quyền và làm chỉ huy trưởng các lực lượng Pháp tại Nam Kỳ. Nhưng thật sự ông chỉ đến Sạgon
ngày 27 tháng 11, vì chuyến vận hành của ơng q lâu và khó khăn. Chỉ trong vịng 3 ngày là phó đơ
đốc Charner đã giao xong quyền hành cho chuẩn đô đốc Bonard. Ngày 30 tháng 11, đúng 9 giờ sáng, tất


cả các trưởng sở đều tụ tập tại ngôi chùa, nay mang tên ta đặt là Công sự Mới[68]. Vị cựu chỉ huy
trưởng ngỏ lời với các sĩ quan bộ binh và hải qn đang vây quanh ơng nhưng khơng cịn dưới quyền


ơng nữa. Tóm tắt những lời của ơng như sau “rằng ông xin từ biệt họ, trong suốt sự nghiệp lâu dài của


ông từ thời đệ nhất đế chế[69], ông chưa từng thấy lần nào có cuộc tụ họp từ sĩ quan hải quân đến sĩ


quan bộ binh đông đảo như thế này, tất cả lại vô cùng hứng khởi vì được thúc đẩy bởi một tham vọng


cao cả, cái tham vọng đó đã giúp cho mỗi người làm trịn bổn phận của mình”.


Ðạo qn Nam Kỳ của ta đều hiểu rõ cái giá trị mà họ phải trả trước đây để được nghe những lời tán
dương như thế.


[1] Đây là Nguyễn Bá Nghi (1807-1870), Thượng thư bộ Hộ kiêm Khâm sai Đại thần vào kinh lý Gia Định, người chủ trương cầu hòa
với quân Pháp. - TN


[2] Nguyên bản là "avait trop <i>mangé le peuple ».</i> Tác giả không nêu tên vị quan đi thương thảo với người Pháp. Có thể tác giả vì đã
cho biết người này ăn hối lộ và từng bị giáng cấp nên khơng muốn chỉ đích danh, hoặc tác giả không muốn nêu tên một người đi
thương thảo với tư cách một kẻ chiến bại (?). Dù sao đi nữa tôi cũng rất khâm phục sự kính trọng con người nơi tác giả. - ND.
[3] Câu này cho thấy là hai bên họp trên tàu <i>Primauguet</i>, không phải trên tàu <i>Imperatrice-Eugénie</i>, tổng hành dinh của phó đơ đốc
Charner. Trên phương diện ngoại giao cũng hợp lý. - ND.



[4] Câu này có ẩn ý rất ngạo mạn: nếu khơn ngoan thì phải chấp nhận. Nguyên bản là “à la sagesse du Nguyen”. Cách dùng chữ rất
lắc léo vì chữ này có nhiều nghĩa trong tiếng Pháp, người đọc có thể tự hiểu theo ý mình. Ðoạn này tác giả tóm tắt cơng hàm của phó
đơ đốc Charner trả lời phía Annam. - ND


[5] Phía Pháp ngưng thương thuyết vì bắt được tuyên cáo của triều đình Huế kêu gọi dân chúng do hai đứa trẻ mang vào Trảng Bàng,
tác giả có nói ở chương trước. - ND.


[6] Trong nguyên bản là “piastres”; tạm dịch là đồng bạc, giá trị một đồng bạc lúc đó đối với vàng như thế nào thì khơng được rõ. -
ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(86)</span><div class='page_container' data-page=86>

[8] Khơng rõ tác giả muốn nói con kênh nào? Đay có lẽ là kênh Vĩnh Tế chăng? – TN.
[9] Tức khoảng 1,2 đến 1,6m. - TN


[10] Tơi nghĩ chữ này là “q qn”, có lẽ tác giả viết ngược thành ra là “quan-quê”?- ND.
[11] Họ hàng chứ? - TN


[12] Mỗi bếp lửa là một gia đình. Cịn chuyện phân chia ruộng vườn thành từng miếng nhỏ theo tác giả là không thông minh. Tôi lại
nghĩ khác hơn, việc canh tác vẫn còn dùng sức người, phân chia ruộng vườn ra từng mảnh nhỏ là tận dụng tối đa sức làm việc của
từng gia đình trên mảnh đất của mình, năng suất sẽ cao hơn là làm tập thể hay có tính cách quy mô. - ND.


[13] Tức kênh Rạch Lá. - ND
[14] Tức làng Tân Hòa. - ND
[15] Tức Trương Định.- ND.


[16] Người được phong chức này có nhiều ưu đãi đặc biệt. Người vin-teut được hưởng trợ cấp và có quyền làm quan khơng cần thi
cử. - TG. “Vin-teut”, chữ này có thể là phiên âm ngược ra chữ Hán có lẽ là “vinh tước”? Vinh là vinh quang, vinh dự , Tước là tước
phong, khơng có nghĩa gì là con quan. - ND.


[17] Tức “Thủy Vệ Cầm”, vì ơng Trương Cầm giữ chức Hữu thủy Vệ úy. - TN


[18] Nguyên văn bản dịch là “đại tướng sư đoàn”. – TN.


[19] Nguyên văn bản dịch là “đại úy”, dịch từ chữ “capitaine”. Tuy nhiên, hai người thuộc hạ của Trương Định đều là dân Đồn điền thì
chức vụ Đội trưởng suất đội có lẽ đúng hơn. – TN.


[20] Dân quân gồm những người nghèo hoặc lang thang trong vùng, đông nhất là sau thời kỳ giặc giã năm 1835. Hoàng đế tại triều
đình giúp đỡ họ định cư trong vài tháng đầu. Họ không làm sở hữu chủ đất đai, chỉ hưởng huê lợi trên mảnh đất họ làm. Ngồi việc
đồng áng, lúc rảnh thì họ tập luyện với khí giới thật cổ lỗ. Khi có chiến tranh thì được tập trung để chiến đấu. Các người chỉ huy là
những người nổi danh can trường hoặc những người giỏi trước kia từng giữ những chức vụ hành chánh. Dân quân trong sáu tỉnh, tức
là những người Don-dien, gồm cả thảy 24 trung đồn, tính theo số lượng là mười ngàn người vũ trang; khi lịnh tập họp ban ra thì
chính quyền có ngay một lực lượng rất chặt chẽ. Xem thêm ghi chú ở chương VII. - TG.


[21] Tức “quản”. Trương Định ban đầu là một Phó quản cơ Đồn điền. Sau trận này ông mới được phong Quản cơ rồi Phó lãnh binh. -
TN


[22] Theo tôi hiểu xử bắn là một vinh dự của người chiến sĩ, treo cổ là dành riêng cho kẻ phạm pháp. - ND.
[23] Không thấy tác giả mô tả quân viễn chinh trừng trị như thế nào, xin người đọc hãy tưởng tượng vậy. - ND


[24] Ðúng vậy, chưa đầy một trăm năm sau thì người Pháp ký hiệp định Genève, xin người đọc cũng chú ý đoạn tiếp theo bên dưới,
tác giả viết: “Hình như địch cũng chọn một chiến thuật mới...”. - ND.


[25] Đi đánh cướp xứ người, nơi xa lạ đào ngũ thì trốn đi đâu? – ND.
[26] Tức Rạch Gầm? – ND.


[27] Có lẽ là Cái Bè? - TN
[28] Xin cảm ơn tác giả. - ND.


[29] Là một vùng lãnh thổ rộng lớn gồm nưóc Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, và một phần nước Ðức mà người La Mã xâm chiếm và đô hộ từ thế
kỷ thứ I đến thế kỷ thứ IV. - ND.



[30] Đây là nền “văn minh” mà họ áp đặt cho xứ Nam Kỳ để bảo vệ tự do và tín ngưỡng, nếu người đọc khơng hình dung được cuộc
chiến tranh trừng trị như thế nào, thì cứ mượn câu này để giúp thêm cho trí tưởng tượng vậy. – ND.


[31] Có lẽ là rạch Kỳ Sơn chăng? – TN.


</div>
<span class='text_page_counter'>(87)</span><div class='page_container' data-page=87>

[33] Ta thì lại nói khác, ví dụ để chỉ những người hút thuốc phiện thì ta nói là hai vai rút lên. Người Tàu thì có thành ngữ như sau: <i>"Nó </i>
<i>có hai vai rút lên ngang hàng với hai lỗ tai”. – TG. </i>


Người dịch xin ghi chú thêm: đây là cách viết cực kỳ kín đáo của tác giả, có lẽ tác giả muốn ám chỉ hồng đế Tự Ðức có hút thuốc
phiện nhưng khơng nói ra, chỉ giải thích một chuyện bâng quơ khơng dính dấp vào đâu cả, lại đặt riêng vào một hàng ghi chú cuối
trang sách. Đây là một trong những cử chỉ của tác giả mà tơi rất kính phục. Theo tài liệu ghi chép của quan tổng đốc Thân Trọng Huề
thì vua Tự Ðức hút thuốc lào (không phải là thuốc phiện), bên cạnh lúc nào cũng có một người lính hầu để châm đóm. Cách mơ tả
trên đây cho thấy tác giả có thấy tận mắt vua Tự Đức, có lẽ ơng ở trong phái đồn Bornard và Palanca yết kiến vua Tự Đức tháng 2
năm 1863. - ND.


[34] Thời bấy giờ chưa có máy chụp ảnh. Báo chí và sách vở ở Pháp vào thời ấy vẽ hình vua Tự Đức giống như một người da đen rất
hung dữ, khác hẳn với chân dung vua Tự Đức trong sách sử của Việt Nam. Tuyên truyền xuyên tạc thì thời nào cũng có. - ND
[35] Tức vua Thiệu Trị. - ND.


[36] Tác giả nhầm. Hồng Nhậm là hoàng tử thứ hai sau Hồng Bảo. Con trai út của Thiệu Trị là hoàng tử Hồng Dật, sau là vua Hiệp
Hòa (1847–1883).


[37] Tức Hồng Bảo. - ND.


[38] Theo quyển sử của Trần Trọng Kim, thì Hồng Bảo “đồ mưu với một nước ngoại quốc tranh ngôi vua. Chẳng may sự lộ ra ông ấy
phải bỏ ngục, rồi uống thuốc độc mà chết. Con ơng ấy thì được tha mà phải đổi tên là Ðinh Ðạo”. Theo một tác giả Mỹ Stanley
Karnow (S. Karnow, Viêtnam, WGBH, 1983) thì Hồng Bảo bị một số người Annam theo đạo xúi dục và âm mưu. - ND.


[39] Ðây là một tiếng lóng mà tác giả khơng muốn viết thẳng ra, thật là khó đốn sau gần 150 năm. Tác giả có lối viết lắc léo, mập
mờ, lắm khi làm cho người dịch cũng bực mình, vì nếu giữ ngun cái “kín đáo” của tác giả thì bản dịch sẽ trở thành quái dị và tối om,


khơng hiểu nổi. Cịn nếu như bật mí thì mất đi cái “cố tình lắc léo” của tác giả. Chẳng hạn như đoạn trẻ con Annam chửi lính Tây,
hoặc hệ trọng hơn như việc Charner nhúng tay vào việc xúi giục người em nổi loạn cướp ngôi của anh là vua Norodam ở Cao Miên,
sau lại giúp Norodom trở về cướp lại ngôi, với điều kiện phải đặt Cao Miên dưới sự bảo hộ của Pháp. Cịn tiếng lóng mà qn viễn
chinh dùng với nhau để chửi các quan triều đình Huế thì phải chịu, đốn khơng nổi. - ND.


[40] Tức Trương Đăng Quế (1793-1865), đại thần triều Nguyễn, người được giới chỉ huy quân đội Pháp quy cho là cầm đầu phe chủ
chiến đánh Pháp đến cùng và ủng hộ các phong trào kháng chiến của Trương Định. – TN.


[41] Thực ra tác giả nhầm ở chi tiết này. Ông ngoại của vua Tự Đức là Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng (1764-1825), đã mất trước
khi Pháp đánh Việt Nam. Điều trớ trêu là chính tấm bia cơng đức dự định đặt ở mộ ơng tại Gị Cơng lại bị rơi vào tay quân Pháp và trở
thành tấm bi mộ cho đại úy Barbé. - TN


[42] Một người bạn, cháu năm đời của cụ Nguyễn Tri Phương, cho tôi biết điều này không đúng. Người này là cháu cố của phò mã
Nguyễn Lâm, Nguyễn Lâm là con của cụ Nguyễn Tri Phương. Phò mã Nguyễn Lâm là chồng của cơng chúa Ðồng Xn, cịn gọi là công
chúa Phúc Lễ, em khác mẹ với vua Tự Ðức. Vậy cụ Nguyễn Tri Phương không thể nào là ông ngoại của Hồng Bảo được; ông ngoại của
Hồng Bào phải thuộc vào một thế hệ trên nữa. Thân phụ của người bạn vừa kể là cháu nội của phò mã Nguyễn Lâm, đã lớn tuổi, hiện
sống ở Mỹ, cũng xác nhận điều này. - ND.


Thân mẫu của An Phong Công Hồng Bảo là Quý tần Đinh Thị Hạnh, người Gị Cơng. Có tài liệu chép bà là có họ hàng với bà Từ Dụ
Phạm Thị Hằng. Cha của bà chưa rõ tên, nhưng chắc chắn không thể là Nguyễn Tri Phương. - TN


[43] Tức “Quản Định”, tức Trương Định. Khi này ông được triều đình phong chức Quản cơ. - TN


[44] Tức Trần Xn Hịa (?-1862), người Quảng Trị. Ơng là con Bố Chánh sứ Vĩnh Long Trần Tuyên(?-1842), đỗ Cử nhân năm Tân
Sửu (1841), nhưng do bị bệnh phong, nên chỉ làm quan tri phủ (có lẽ là Kiến An hoặc Kiến Tường) một thời gian ngắn, nên dân gian
còn gọi là Phủ Cậu. Khi Pháp đánh Nam Kỳ, ông do tàn tật nên phải nhờ người cõng ra ứng nghĩa. Nhà giàu, có thế lực, ơng đứng ra
chiêu mộ nghĩa sĩ chống giặc nên được triều đình phong chức Binh bị quan thứ Vĩnh Tường, sau thưởng thụ hàm Thị độc học sĩ. Ngày
6 tháng 1 năm 1862, đại tá hải quân Rieuner mang quân đánh căn cứ Mỹ Trang, Bang Lềnh (thuộc Cai Lậy). Trần Xuân Hòa chỉ huy
nghĩa quân chống trả mãnh liệt nhưng cuối cùng bị quân Pháp bắt được bắt và giải về Mỹ Tho. Trên đường đi, ông đã cắn lưỡi tự tử
để giữ trịn khí tiết. Sau khi chết, được triều đình thưởng hàm Quang Lộc tự khanh và sai quan đạo Quảng Trị lập đền thờ. - TN


[45] Tức là "phủ", nên người này có biệt danh là Phủ cọp, phủ tạm xem như tương đương với tỉnh (préfecture) trên đất Pháp. - ND.
[46] Tức làng Mỹ Quý, gần Mỹ Tho. – ND.


</div>
<span class='text_page_counter'>(88)</span><div class='page_container' data-page=88>

người mộ nghĩa phục giết được lính Tây Dương và mã tà”. Hoặc giả, do hình dáng bị phong (cùi) nên ơng có hỗn danh như thế
chăng? – TN.


[48] Nguyên văn bản dịch là “đại tá”. - TN
[49] Tức Quy Đức, nay thuộc Bình Chánh. - TN


[50] Có lẽ tác giả muốn chỉ Võ Duy Dương (1827-1866), hay Thiên hộ Dương chăng? Ơng được triều đình phong chức Quản cơ sau
khi Đại đồn Chí Hịa thất thủ. - TN


[51] Người Annam là thế, không cần có mùa xuân, mùa thu mới đặt tên Xuân, tên Thu,… còn làm cả thơ để ca ngợi mùa xuân và để
khóc mùa thu. Xuân hay Thu là ở trong lịng. Chẳng lẽ tên Tuyết có nguồn gốc từ bên Pháp? – ND.


[52] Tức vị quan trấn thủ thành Mỹ Tho trước đây. - ND.
Đây có lẽ là Nguyễn Bá Nghi thì đúng hơn. – TN.


[53] Ðạo quân viễn chinh này gồm một phần quân lính đóng ở thành My-thơ (đại úy Brière de l’Isle, thiếu úy Champanhet, 30 người
của đại đội 32 thuộc trung đoàn 3 thủy quân lục chiến; trung úy Chériner và 25 người của đại đội 30, tăng cường thêm 25 thủy binh
chiến đấu); đại đội của tàu <i>Duperré </i>do đại úy hải quân Carrade chỉ huy; một đạo thủy binh chiến đấu do trung úy hải quân Hanès chỉ
huy; trung úy hải quân Noël điều khiển một ca-nô lớn của chiến hạm<i>Prégen</i>t và chiếc sa-lúp <i>Soledad</i>. Ðại tá hải quân Desvaux nắm
quyền thống lãnh toàn bộ đạo quân này; tiểu đoàn trưởng Tây Ban Nha là Olabe giữ chức tham mưu trưởng. - TG


[54] Trong trận thành Mỹ Quý thất thủ, quân Pháp không bắt được Phủ Cậu nên đã tàn sát những người trong thành, có cả mẹ của
ơng. - TN


[55] Người dịch khơng có tài liệu bằng chứ Hán của bản tuyên cáo này, chỉ xin dịch lại từ tiếng Pháp trong sách. Từ chữ Hán dịch sang
tiếng Pháp, từ tiếng Pháp lại chuyển sang tiếng Việt tránh sao cho khỏi những sai lầm, xin tạ lỗi đến những nhà viết sử. - ND



[56] Nguyên bản là <i>“faire violence à nos femmes”.</i> Chữ violence trong tiếng Pháp xưa có nghĩa là hãm hiếp. Từ thượng cổ, hành động
đầu tiên của một đạo quân xâm lược sau khi thắng trận là hãm hiếp phụ nữ, nhưng tuyệt nhiên không thấy tác giả nhắc đến chuyện
này trong sách. Dù sao, lúc nào tôi cũng cám ơn tác giả đã viết nhiều đoạn rất thành thực và khá khách quan, tơi khơng dám địi hỏi
hơn. - ND.


[57] Tức “bá hộ”. - TN


[58] Tức “chánh lục phẩm suất đội”. Tác giả chú thích để có thể biết rằng chức vụ này tương được cấp bậc đại úy– TN.
[59] Tức “phó vệ úy”. - TN


[60] Tức “chánh lục phẩm quản cơ”. Tác giả chú thích để có thể biết rằng chức vụ này tương được cấp bậc đại tá - TN


[61] Nguyên bản là “bataillon” (tiểu đoàn) và “regiment” (trung đoàn). Đối chiếu với binh chế nhà Nguyễn thì đây có lẽ tương ứng với
các vệ quân chính quy và cơ đồn điền. - TN


[62] Tức Định Tường. - TN


[63] Thêm một lần nữa, người dịch xin ngả nón trước thái độ rất ý thức và khá khách quan của tác giả và cũng xin tạ lỗi đã mạn phép
lật lại một vài trang sử nhỏ mà tác giả đã ghi chép. Mặc dù một thế kỷ rưỡi cách nhau, nhưng trên phương diện con người ta có đủ
sức hiểu nhau và tha thứ lẫn cho nhau hay không? - ND.


[64] Vị tồn quyền Tây Ban Nha phản kháng vì nếu đem luật của Pháp áp dụng ở Nam Kỳ, tức là xem Nam Kỳ là lãnh thổ của Pháp,
không chia cho Tây Ban Nha miếng nào cả. – ND.


[65] Người dịch cũng chẳng hiểu tác giả muốn ám chỉ quốc gia nào, các vị tướng lãnh nào và trong trường hợp nào, quả thật người
dịch dốt đặc về lịch sử. - ND.


[66] Đây có lẽ là lũy Mỹ Hòa, gần ngã ba Dĩ An ngày nay. - TN


[67] Tôi mạn phép không đồng ý lắm, vì nghĩ rằng ta phải trừ ra một số người vì lý do này hay lý do khác khơng phải là một trung


tâm kháng chiến. Dù sao tôi cũng xin cảm ơn con tính quá rộng rãi của tác giả và biết ơn tác giả với tư cách một nhân chứng trước
lòng thương nước của tổ tiên tơi, những người nơng dân đang bó lúa trên những thửa ruộng sình lầy. - ND


</div>
<span class='text_page_counter'>(89)</span><div class='page_container' data-page=89>

[69] Ðệ nhất đế chế là chế độ chính trị của Pháp từ tháng 5 năm 1804 đến tháng 4 năm 1814, Napoleon đệ nhất làm hoàng đế. Ðệ
nhị đế chế : từ tháng 12 năm 1852 đến tháng 9 năn 1870, Napoleon đệ tam làm hoàng đế. Như vậy là sự nghiệp binh bị của Charner
bắt đầu dưới thời Napoleon đệ nhất. - ND.


<b>Kết luận</b>


(một vài cảm nghĩ của người dịch)




Tôi ngồi im rất lâu trước khi viết được những dòng này. Thật nhiều xúc cảm dâng lên trong tơi, vui buồn


lẫn lộn, có lúc lâng lâng trong thương nhớ, có lúc đớn đau và chua xót. Tơi cố len lỏi giữa những xúc


cảm, tìm lại một chút ánh sáng của lý trí để tóm tắt bản dịch vừa làm xong.
Tơi chia kết luận ra làm nhiều phần:


Phần 1: Vài nhận xét về tác giả và tác phẩm


Phần 2: Quân đội viễn chinh và quân đội Annam


Phần 3: Con người và Xã hội Annam


Phần 4: Một vài cảm nghĩ về lịch sử





Phần 1:<b> Vài nhận xét về tác giả và tác phẩm</b>


Một quyển sách, nhân chứng của một người, hay kết quả suốt một đời nghiên cứu của một sử gia cũng


chỉ là một giọt nước trong đại dương mênh mông của lịch sử mà thôi Ta chỉ nên đánh giá tác giả như


một con người, một quyển sách là một tác phẩm, một bộ sử cũng chỉ là những góp nhặt thiếu sót và
méo mó xuyên qua cá tính của một người hay của một nhóm người viết sử.


Xun qua tác phẩm vừa dịch tơi tìm thấy<b> Léopold Pallu. Tác gi</b>ả có lúc khách sáo, có lúc thành thực,


có lúc bồng bột và hời hợt nhưng cũng có lúc rung động và sâu sắc Tơi kính trọng tác giả trên phương


diện con người, tơi biết ơn tác giả trên phương diện một nhân chứng trong một giai đoạn lịch sử của quê


hương tôi.


Vậy thì tác giả là ai? Trên đất Pháp ta có thể tìm cách phăng lần lên gốc gác của một nhân vật trong quá


khứ, nhưng cũng phải khó khăn và mất rất nhiều ngày giờ, nhưng để làm gì và có ích lợi gì? Trong


chương một của quyển sách, tơi thấy tác giả có viết một câu: từ trên đỉnh cột cờ của chiến


hạm<i>Impératrice-Eugénie</i> ta có thể nhìn thấy thành phố Thượng Hải. Câu này giúp ta đốn tác giả đã
từng có mặt trên chiến hạm của phó đơ đốc Charner. Tìm trong phần phụ lục và trong danh sách các sĩ


quan trên tàu <i>Impératrice-Eugénie</i>, tơi thấy có một người mang t<b>ênPallu</b>, đại úy hải quân (lieutenant de
vaisseau) thuộc ban tham mưu của tàu này.


Tác giả rất chính xác trong cách mơ tả và kể chuyện các trận đánh. Chắc hẳn là tác giả đã chép lại từ



nhật ký của mình. Tác giả đưa ra nhiều chi tiết về đoàn quân viễn chinh, các kế hoạch hành quân và
những dọ dẫm của người Pháp tìm kiếm một phương pháp cai trị người Annam. Biết rõ các chuyện này
hẳn tác giả là một người bên cạnh phó đơ đốc Charner. Ta cũng thấy tác giả ghi lại các lời chỉ thị của


Charner cho các sĩ quan dưới quyền, nhất là cách cư xử của hai sĩ quan lần lượt thống lĩnh đạo quân viễn
chinh đi đánh Mỹ Tho, họ phải đối xử như thế nào khi gặp viên quan trấn giữ thành Mỹ Tho. Nhưng thật


ra trận đánh cũng không xảy ra, mà chuyện hội kiến với vị khâm sai nhà Nguyễn cũng khơng có. Tác giả


cũng kể cho ta nghe lời Charner chỉ bảo người sĩ quan đặc trách chính trị tại Trảng Bàng về đường
hướng chính trị của Pháp đối với Cao Miên và cách đối xử với người Cao Miên sinh sống trên phần đất


Nam Kỳ. Tất cả những huấn thị, dặn dị tác giả đã ghi lại từ lời nói miệng của Charner. Vì vậy khó có một


tài liệu lịch sử nào để chứng minh. Tác giả là một nhân chứng q báu là vì vậy.


Tác giả mơ tả trận tấn cơng Đại đồn Chí Hịa, cảnh phá cừ cọc trên đường đánh Mỹ Tho, cảnh lạc đường,


</div>
<span class='text_page_counter'>(90)</span><div class='page_container' data-page=90>

phục. Tác giả mô tả chân dung, dáng dấp, thái độ của vua Tự Ðức làm cho tôi nghĩ rằng chính ơng đã
yết kiến vua Tự Ðức. Tháng 2 năm 1863, toàn quyền Pháp là Bonard và toàn quyền Tây Ban Nha là
Palanca Gutierrez có yết kiến vua Tự Ðức, có lẽ tác giả thuộc thành phần của phái đoàn này. Tác giả


cũng tỏ sự ngưỡng mộ của ông đối với vua Tự Ðức, trong khi hầu hết người Pháp trong đoàn quân viễn


chinh và cả người Pháp ở mẫu quốc lại khinh thường và coi Tự Ðức như một tên khát máu vì ảnh hưởng


của những chiến dịch do báo chí và một số người phát động để hợp thức hóa cuộc viễn chinh Nam


Kỳ. Quả tác giả là một người can đảm và ngay thẳng.



Nói về cách hành văn và diễn đạt tư tưởng, tác giả viết rất kín đáo, thích cách nói một nửa, cịn một nửa
để cho người đọc tự tìm hiểu lấy. Ví dụ như khi ơng muốn ám chỉ bàn tay của Charner trong vụ cướp


ngơi ở Cao Miên, trợ cấp của hồng đế Tự Ðức, hồng đế Tự Ðức có hút thuốc phiện... (mặc dù không


đúng), nhưng nếu ta không chú ý ta sẽ không hiểu được và thấy hết cái tinh vi của tác giả.


Ông tả cảnh một đàn gà chạy quanh đang bới đất ở sân chùa làm người lính thấy mà thèm, trong chùa
trên chiếc bàn của sĩ quan có vài chai rượu absinthe và vermouth. Tác giả nói đến cái bất công trong


quân ngũ một cách giản dị, hồn nhiên như đàn gà đang bới đất.


Ơng khơng bao giờ nói đến tên tuổi kẻ địch của mình, tức là quan qn, tướng lãnh trong thành Chí Hịa
và Mỹ Tho. Thật là một sự tế nhị đáng kính nể. Ngay cả vị quan trấn giữ thành Mỹ Tho mà tác giả rất


kính phục, ơng cũng khơng nêu tên. Vị quan trước khi bỏ thành đã trả tự do cho người Thiên Chúa giáo,
một hành vi nhân đạo mà tác giả cho rằng ngay cả người Pháp sau này cũng không ai làm nổi. Trong khi
đó, trước khi thành Mỹ Tho bị chiếm, người Thiên Chúa giáo đã nổi lên đối xử với người ngoại đạo như


một thứ nơ lệ. Kính trọng kẻ địch, không nêu tên tuổi những người bại trận, thật anh hùng và cao quý
biết bao nhiêu.


Tuy vậy tôi cũng hơi thất vọng khi tác giả ca ngợi đoàn quân viễn chinh bằng những lời tán dương quá


kêu, khách sáo và rỗng tuếch. Có thể thời đó là thông thường, cần thiết cho đời sống quân ngũ? Dù sao
thì lịng chân thật và lương thiện của tác giả cũng bị một chút tì vết khi viết những đoạn quá công thức


và rẻ tiền.



Tác giả là một người khá bộc lộ, nhạy cảm và rung động. Ði đánh nhau nhưng vẫn cảm thấy cái thích
thú khi bước trên rêu. Cùng một cảnh Sài Gịn nhưng có khi vui nhộn tưng bừng, có khi thấy buồn nản


chẳng có gì xem; cảnh đồng ruộng của Nam Kỳ cũng thế, có khi xinh tươi và khả ái, có khi buồn tẻ như


một vùng đất Phật chẳng có gì để bám níu. Ơng để lịng mình trào ra theo nét bút tùy theo những vui


buồn của ơng.


Ơng cũng thích dùng những hình ảnh tương phản để diễn đạt ý tưởng của mình. Chẳng hạn những pho
tượng trong chùa với vẻ mặt trầm lặng và nụ cười nhân bản hơn là nhạo báng trước cảnh nhộn nhịp ồn


ào của quân sĩ đang chuẩn bị đánh nhau. Trong cảnh chém giết sắt máu của trận chiến Chí Hịa, ơng vẫn


nhìn thấy một bầu trời thản nhiên và vơ tình...


Tơi có hơi dài dịng, khơng phải để tìm cách khen ngợi hay chỉ trích tác giả, điều này chẳng lợi ích gì, vì
tác giả hẳn phải nằm xuống với lịch sử từ lâu. Mục đích của tơi là trình bày cái chủ quan trong một quyển


sách, dù quyển sách đó là một quyển sách lịch sử. Một quyển sách là một tác phẩm của một tác giả, dù
tác giả là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử cũng vậy. Lời nói của một nhân chứng cũng giống như


tiếng đánh nhịp tích tắc của chiếc đồng hồ giữa cái thời gian vô tận của lịch sử mà thơi. Tiếng tích tắc
đâu phải là thời gian.


Tác phẩm của<b> L. Pallu, d</b>ồi dào về dữ kiện, linh động về chi tiết, quả là một tài liệu góp thêm cho những
người viết sử. Cái nhìn của một người ngoại quốc về chủng tộc, văn hố, hành chính và luật pháp của xã
hội Nam Kỳ vào giữa thế kỷ XIX, tuy có phiến diện và hời hợt, nhưng cũng có một chút giá trị nào đó cho


các nhà xã hội học. Một cái nhìn thật quý báu cho mỗi người trong chúng ta dựa vào đó để tìm thấy một



chút cội nguồn của tâm hồn và bản tánh mình.


Trải qua một trăm năm đơ hộ và sau đó là giặc giã tiếp nối triền miên, tránh sao khỏi những mất mát.
Nhưng ngày nay ta vẫn cịn tìm thấy trong xã hội Việt Nam một chút rơi rớt của quá khứ, giúp cho gia
đình và xã hội khơng tan rã, tuy rằng xã hội Việt Nam đang lâm vào những khó khăn khác, phải tiếp tục


chiến đấu một cách khác, để bảo tồn những gì gọi là nguồn gốc của tổ tiên.


</div>
<span class='text_page_counter'>(91)</span><div class='page_container' data-page=91>

trong giọt nước đó cái gương can đảm của những người nằm xuống, cái trong sáng của tâm hồn một


dân tộc, mặc dù giọt nước đó giống như một giọt máu của tổ tiên.


<b>Phần 2:</b> <b>Quân đội viễn chinh và quân đội Annam</b>


Tôi rất do dự khi thêm phần này vào kết luận, vì sợ là một chuyện thừa. Quân đội viễn chinh là một đạo


quân nhà nghề, từng đi đánh chiếm thuộc địa khắp nơi. Quân của triều đình Annam lúc bấy giờ chỉ để


canh giữ biên thùy chống lại giặc Cao Miên và giặc Xiêm La mà thôi.


Có một chi tiết cần nêu lên là theo tác giả tổng số quân đoàn viễn chinh là 8.000 người, trong khi ấy các


sách về sử của ta ước tính chỉ 3.000 hay 3.500 như Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim), Việt sử toàn thư


(Phạm Văn Sơn) v.v.


Âu châu ở thế kỷ XIX đã hết sức tiến bộ về kỹ nghệ, cần nguyên liệu thiên nhiên và thị trường để tiêu
thụ sản phẩm. Xã hội Âu châu bị nạn nhân mãn trầm trọng, dân quê đổ về thành thị tìm cơng ăn việc



làm. Thất nghiệp lan tràn. Các nước Âu châu phải cấp bách tranh đua nhau đánh chiếm thêm thuộc địa.


Ta cũng để ý trong sách tác giả cho biết lính viễn chinh hầu hết là những người tình nguyện, nhiều người


học tiếng Annam để ở lại vĩnh viễn không trở về mẫu quốc nữa, một số chỉ biết đọc qua loa khơng đủ


sức dùng quyển tự điển có tiếng Latin và tiếng Annam duy nhất lúc bấy giờ.


Súng ống của người Âu châu đã cực kỳ tối tân, nòng súng có khía bên trong để hướng dẫn đường đạn
chính xác hơn, xa hơn, xuyên phá mạnh hơn. Ðạn đại pháo là những viên đạn bộc phá, thuôn dài chứa


thuốc nổ. Trong khi ấy đại pháo của quân đội Annam vẫn còn dùng đạn tròn và đặc, đúc bằng gang hay


sắt, đạn nạp từ đầu súng để bắn ra. Súng cá nhân thì quân đội viễn chinh đã có loại súng cac-bin trong
khi ấy quân Annam còn dùng súng hỏa mai miệng loa bắn bằng đá lửa.


Về chiến thuật thì từ trước ta chỉ biết xây thành đắp lũy để chống với giặc Cao Miên và Xiêm La, chưa


biết cách trải rộng sức phòng thủ trong dân chúng. Nhưng theo sách của<b> L. Pallu, thì chi</b>ến thuật du
kích đã phát sinh rất sớm từ năm 1861, tức chỉ vài tháng sau khi thành Chí Hịa và thành Mỹ Tho bị mất.


Ðịch qn thì cũng đánh bừa nhờ vào sức mạnh của súng đạn. Ðịch đóng qn ở hậu tuyến thành Chí
Hịa, dựa vào bìa rừng, chưa kịp dựng lều nấu ăn đã bị phục kích. Mặc dù chưa hề đi đánh nhau với ai,
nhưng tôi nghĩ quân Annam quen thuộc địa thế chờ giữa đêm xông vào mà đánh, cướp lấy súng đạn có


lẽ hay hơn. Hai bên cứ ngủ yên lấy sức hôm sau sẽ hay, tác giả quyển sách có nói là suốt đêm thật n
tĩnh khơng có một tiếng súng. Nếu trong thành ta cứ bắn ra đồm độp sáng đêm, địch ngủ khơng được có


lẽ sáng hôm sau cũng bớt hăng?



Ðô đốc Charner chọn một căn nhà trống trong ngôi làng bỏ hoang cạnh ngay thành địch để lập tổng


hành dinh có lẽ cũng không thuộc sách lược nhà binh cho lắm, nên bị ngay một quả đạn xuyên qua mái
nhà. Ðạo qn đi đánh Hóc Mơn cũng vậy, chọn miếng đất cao ráo mát mẻ cạnh bìa rừng để cắm quân


mà nghỉ. Cũng may quân Annam đã bỏ chạy hết rồi. Suốt ngày lính viễn chinh hành quân cực khổ, bị


nắng như thiêu như đốt, ngã lăn bất tỉnh phải nhờ nơng dân giúp tay khiêng những qn lính đi không
được, chọn một nơi mát mẻ mà nghỉ ngơi là hợp lý. Nếu thuộc sách lược nhà binh mà đốn trước chỗ
đóng qn của địch để phục kích có lẽ hay.


Trận khởi nghĩa đầu tiên của người Annam xảy ra tại Gị Cơng. Sáng sớm, qn Annam từ dưới ruộng
đánh trống đánh chiêng vang lừng, dùng giáo, mác, súng ngắn cầm tay, xông vào sân chợ ở giữa tỉnh
mà đánh. Ðầu cây lao có cột thêm một cái pháo thăng thiên để bắn. Xông lên thì hăng, nhưng rồi chỉ


biết cầm giáo đứng nép vào tường chung quanh chợ để cho quân Pháp cứ từ từ mà bắn, như chơi trị
bắn bia.


Nhưng thơi, nếu ta cứ lấy cái lanh lợi xảo trá ngày nay, rút tỉa từ kinh nghiệm xương máu, để đánh giá
người xưa qua cái hào hùng và ngay thẳng của họ thì thật là sai. Nhưng trong những đống xác người tắc


nghẽn phố chợ Gị Cơng, ta vẫn thấy hình như có phảng phất linh hồn của một quốc gia. Trong đống xác
người có một vị lãnh đạo bị thương nhưng chưa chết, vẻ mặt vẫn trầm tĩnh, rắn rỏi và ngang nhiên. Tây


kéo đem đi xử bắn. Tiếc rằng tác giả không cho biết tên người này, chỉ nói rằng linh hồn của một quốc
gia trong ông đã thở hơi cuối cùng với ông. Tơi khơng tin lắm, vì hình như cái linh hồn đó vẫn cịn thoi
thóp trong tơi.


<b>Phần 3:</b> <b>Con người và Xã hội Annam</b>



</div>
<span class='text_page_counter'>(92)</span><div class='page_container' data-page=92>

Thời đó đường xá xa xôi, ông Bonard đến thay ông Charner cũng phải mất mấy tháng để đi từ Pháp sang


xứ Annam. Sách còn phải đưa cho nhà xuất bản đọc và ưng thuận, lại phải xếp từng chữ để in, đâu có


mau lẹ như bây giờ. Trong sổ tang ở cuối sách tác giả ghi tất cả những người Pháp đã ngã gục ở Nam Kỳ
đến hết năm 1862. Tôi nghĩ rằng tác giả viết xong quyển sách này trong khoảng thời gian 1863. Vì thời


gian khá ngắn như thế, ta cũng khơng nên địi hỏi tác giả nhiều hơn.


Phần tơi là cháu chít cũng chẳng biết gì để phê phán phong tục, tập qn của ơng bà mình ngày xưa. Chỉ
xin đề cập đến vài vấn đề hành chính và luật pháp mà tác giả trình bày khá chi tiết trong sách.


Hành chánh nhà nước áp đặt chỉ đến cấp huyện. Quan huyện do triều đình tuyển chọn bằng thi cử. Từ


cấp huyện trở xuống hoàn toàn tự trị. Làng xã hoàn toàn do dân quản lý bằng bầu cử. Cả một hệ thống
liên đới chịu trách nhiệm với nhau: từ ông cai tổng, ơng xã, ơng lý trưởng, ơng phó lý, ơng cả, ơng
hương thân, ơng hương hào, ơng cai đình, ông hương dõng, - cho đến anh ấp. Ðây là một cách phân


quyền hết sức rộng rãi, ngay cả huyện cũng không bắt buộc thường xuyên nhận lịnh và phúc trình với


phủ. Họ tự quản lý lẫn nhau.


Việc cai trị dựa vào đạo đức và răn dạy. Hình phạt chỉ tượng trưng để cho dân sợ mà thôi. Hòa giải nhiều
hơn xử phạt. Tác giả quyển sách, tuy có nêu lên nhưng khơng hiểu hết ảnh hưởng các điều này nên


đánh giá quan quân Annam là nhu nhược, bộ luật Annam (thời Gia Long) có nhiều điểm “thật thà”. Tác
giả cũng công nhận là nền hành chánh và pháp lý từ hạ tầng cơ sở cho đến các cấp quan quân của triều
đình bổ nhiệm gần như hồn hảo khơng tìm thấy chỗ sơ hở. Trước khi người Pháp đến, cả Nam Kỳ miền
dưới chưa có quá ba vụ án mạng trong một năm. Người Pháp đến xử tử nhiều lắm, nhưng toàn là tội



chính trị. Theo tác giả kể trong sách, quân cướp Annam chỉ lột sạch nạn nhân nhưng không giết người
như ở Âu châu.


Tác giả có viết là căn nhà lợp lá dừa lùn của người nông dân được triệt để tôn trọng, nếu quan quân nào


bước khỏi ngưỡng cửa là người đàn bà đánh liền. Khi người đàn bà nơng dân ẵm con lên tìm quan phủ


hay quan huyện thì khơng ai cản nổi. Ảnh hưởng của người phụ nữ Annam trong gia đình và xã hội làm
cho tác giả phải ngạc nhiên.


Tác giả cũng công nhận người nông dân Annam biết luật lệ, quyền lợi, tranh luận, kiện thưa, hơn hẳn
người nơng dân Âu châu. Người Annam cịn có quyền đưa đơn khiếu nại trực tiếp lên hồng đế, khơng


cần qua bất cứ một cấp bực hành chính hay pháp lý nào.


Tôi không hiểu tổ chức các nhà tù như thế ra sao, chưa nghe ai nói, hay phần lớn chỉ phạt theo luật rồi


thả về hoặc là đày đi xa nếu là tội nặng? Ðiều làm tôi vô cùng ngạc nhiên là tác giả cho biết trong hệ


thống tư pháp và hành chính Annam khơng bao giờ có bóng dáng một người lính. Như vậy là một tổ


chức như cảnh sát ngày nay khơng có trong xã hội Annam ngày xưa? Có thể chỉ có các người “áp” để sai


việc.


Nếu ta không đề cập tới vấn đề tín ngưỡng, thì có thể là một thiếu sót hay chỉ là một cách tránh né thiếu
can đảm và lương thiện, vì điều khoản số 1 người Pháp đưa ra cho triều đình Huế là phải cho tự do hành


đạo Thiên Chúa giáo. Mặc dù thế vấn đề này không phải là thắc mắc của cuốn sách, tác giả chỉ nêu lên
một vài sự kiện có liên hệ thế thơi, chẳng hạn như vài người bị chặt đầu vì tín ngưỡng, vị quan trấn giữ



thành Mỹ Tho trả tự do cho những người theo đạo Thiên Chúa và bảo các người này hãy đi theo các


người bạn Pháp của họ. Theo tác giả, hành vi của vị quan thật nhân đạo, những người Annam sau này
không ai làm nổi kể cả những kẻ thù của họ là người Pháp. Ta cũng khơng qn kể đoạn tác giả nói


bóng gió những người truyền giáo trách đám quân viễn chinh là mưu mẹo, lạm quyền..., quân viễn chinh


mở trường dạy tiếng Annam đào tạo thông ngôn để tránh khỏi phải nhờ vả vào các người truyền giáo
(xem chương VII).


Tôi chỉ xin đưa ra một vài sự kiện làm đề tài suy nghĩ về những đổi thay của lịch sử. Thật sự thì tín


ngưỡng Phật giáo đã xâm nhập vào Âu châu rõ rệt nhất từ giữa thế kỷ thứ XIX, tức vào thời kỳ Pháp
bành trướng thuộc địa tại Annam. Ngày nay trên nước Pháp có 11% dân trên 15 tuổi, tức khoảng
5.000.000 người “cảm tình” (sympathisants) với Phật giáo (thống kê ngày 24-25 tháng 9 năm 1999).


Trong số này có nhiều người “gần” (proches) với Phật giáo và lui tới chùa chiền. Một số hành đạo tại gia,


một số đi tu hẳn. Có hơn 200 chùa và trung tâm ngồi thiền (dojo) tại Pháp. Kết quả thống kê thăm dò


903 người tới lui các chùa chiền (648 người thuộc chùa Tây Tạng, 255 người thuộc chùa phái thiền học)


cho thấy trình độ học vấn (một trong các kết quả thăm dò) gồm có 5,9 % cấp trung học đệ nhất cấp, 8,7


% trung học đệ nhị cấp, 20 % trình độ tú tài, 23,1 % trình độ tú tài + 2 năm đại học, 36,4 % tú tài + 4


</div>
<span class='text_page_counter'>(93)</span><div class='page_container' data-page=93>

ra trên con số 5.000.000 người thì ta cũng có thể ước chừng được là bao nhiêu người trí thức trong tổng


số chưa đến 60.000.000 dân.



Có những quyển sách về Phật giáo xuất bản gần đây, bán được 200.000 đến 250.000 số mỗi quyển. Có


một quyển sách bán đến 1.000.000 số sau nhiều lần tái bản. Trong 80 tác phẩm của ơng Thích Nhất


Hạnh, 20 quyển đã được dịch ra tiếng Pháp. Ðài truyền hình số 2 của chính phủ Pháp mỗi sáng Chúa


nhật đều có chương trình về Phật giáo.


Quả thật lịch sử đã dành cho ta nhiều trớ trêu và bất ngờ. Người Annam không đưa ra bất cứ một điều


khoản nào bắt người Pháp phải thực thi.
<b> Phần 4: Một vài cảm nghĩ về lịch sử </b>


Tơi có nói qua ở lời tựa là ngày nhỏ tơi khơng thích lịch sử chút nào, ngay bây giờ cũng thế. Ðối với tơi


lịch sử ln ln bị méo mó vì người viết sử, chính một sự kiện cũng trở nên méo mó qua nhân chứng.


Những năm tháng đánh dấu lịch sử cũng chỉ dựa vào một mốc thời gian nào đó để tính ra thành năm,


thành tháng. Ta không thể nào biết quá khứ một cách đầy đủ. Cũng dễ hiểu, vì ta khơng thể nào đem


toàn vẹn quá khứ đặt vào hiện tại để quan sát và nghiên cứu; giản dị là hiện tại không đủ chỗ. Vì vậy lịch


sử khơng thật sự là một khoa học theo định nghĩa thơng thường của nó. Mặc dù không gian hiện tại


trống rỗng, ta cũng không thể đem cái không gian quá khứ đặt vào đó vì tự nó đã trống rỗng rồi. Hoặc
nói ngược lại, không gian hiện tại đã đầy ắp, không gian quá khứ cũng còn nguyên vẹn và đầy ắp. Ví dụ
như một chén nước đầy, nếu ta cố thêm một giọt cũng làm cho nước trào ra ngoài, làm thế nào để mang



quá khứ về hiện tại? Khoa học ngày nay, từ thuyết tương đối của Albert Einstein, cơ học lượng tử


(mécanique quantique) đến vật lý thiên văn (astrophysique) cho ta thấy thời gian chỉ vỏn vẹn là một kích
thước thứ tư của khơng gian, thời gian không thể độc lập và tách rời ra khỏi không gian. Quá khứ, hiện


tại hay tương lai cũng chỉ nằm gọn trong một không gian, mặc dù khơng gian có thể cong (ảnh hưởng từ


tính), teo nhỏ (trou noir), hay trương nở (big bang); khoa học đã chứng minh như vậy. Cứ nhìn hiện tại


ta thấy quá khứ, hay ngược lại. Ðối với tương lai cũng thế, nếu ta đủ trầm tĩnh và sáng suốt để nhìn vào
hiện tại ta cũng có thể thấy thoang thoáng một chút tương lai.


Quyển sách của<b> L. Pallu c</b>ũng như một giọt nước có thể làm tràn bát nước, nhưng bát nước vẫn là một
bát nước. Nếu bát nước trong veo, biết đâu khi nhìn vào đó ta cũng thấy được thoang thống hình bóng
ta sau này, mặc dù bát nước đã đầy ta không thể nào thêm vào đó một giọt nước của tương lai.


Những cảm nghĩ của tác giả với tư cách một nhân chứng, tuy méo mó và chủ quan, cũng đã gây cho tơi
nhiều xúc cảm. Chính xúc cảm mới có thể vượt qua khơng gian và kích thước thứ tư của nó là thời gian,
để len lén chen vào tim ta và tâm hồn ta. Hiện tại khơng có chỗ cho quá khứ mà chỉ có chỗ cho xúc cảm


tạo ra bởi q khứ mà thơi.


Vì vậy tơi xin trả cho q khứ những gì thuộc q khứ, tơi xin trả những gì thuộc lịch sử cho lịch sử. Tôi


xin cảm ơn và trả lại quyển sách n<b>ày cho Léopold Pallu</b>. Tôi cám ơn ông đã cho tôi những xúc cảm thật


trong sáng và thanh cao. Tôi biết ơn tổ tiên tôi, nhưng tôi vẫn trả lại những gì của tổ tiên tơi. Tơi xin bỏ


tất cả, tơi xin qn tất cả, từ ốn hận cho đến thương yêu, từ ước vọng cho đến kỷ niệm của một ngày



xưa lịch sử. Tôi chỉ xin giữ lại một chút hơi ấm của xúc cảm trong tim, cái hơi ấm bốc lên từ những thửa


ruộng sình lầy, từ xương thịt của tổ tiên xưa.


Lắm khi một tiếng tích tắc của thời gian cũng đủ làm vang lên trong lòng ta một bản hùng ca của giống


nòi. Một giọt quá khứ rơi vào tâm hồn cũng làm tim ta rạt rào muôn ngàn ngọn sóng của đại dương lịch


sử mênh mơng.


Hoang Phong


</div>
<span class='text_page_counter'>(94)</span><div class='page_container' data-page=94>

<b>Phụ Lục và Sổ tang</b>


Phụ lục trong sách gồm sáu phần và cuối sách là Sổ tang:


Phần 1: danh sách toàn bộ ban tham mưu của hải đội dưới quyền chỉ huy của phó thủy sư đề đốc


Charner.


Phần 2: danh sách ban tham mưu toàn thể quân đoàn viễn chinh.


Phần 3: danh sách các chiến sĩ được tuyên dương công trạng.


Trong phần 1 và 2, tơi chỉ tóm tắt sơ lược tên các chiến hạm, tên các binh đồn, nhưng khơng chép


hết tên tuổi, cấp bực, trọng trách của từng người, vì q dài và tơi cũng trộm nghĩ có lẽ khơng phải là
một điều cần thiết lắm.



Danh sách chỉ gồm những sĩ quan chỉ huy. Tám ngàn người lính, họ ở đâu bây giờ?


Phần 3, tôi chỉ dịch lời tuyên dương của phó đề đốc chỉ huy trưởng, nhưng khơng nêu tên từng
người vì những lý do đã kể trên.


Dù sao, những người có tên hay khơng có tên trong ba danh sách trên, tất cả chắc hẳn đã nằm


xuống với lịch sử. Quân đoàn viễn chinh dù cho thiện nghệ, anh hùng và dũng cảm, hôm nay chỉ là một
‘’đạo quân ma’’. Tất cả đã nằm xuống với họ, từ ước mơ, vinh quang cho đến nhọc nhằn. Con cháu họ có


cịn cất giữ cho họ huân chương và bằng khen thưởng hay không?


Công trình của họ ra sao? Họ đã để lại gì cho con cháu của họ?


Chẳng lẽ ta thay họ để thắc mắc mãi hay sao? Tôi tin rằng phần đông họ nằm xuống mà khơng
thắc mắc gì cả. Chẳng qua là số phận của họ như vậy, trong một giai đoạn lịch sử như vậy. Có những
người nằm xuống trên quê hương tôi, cùng với tổ tiên tôi. Họ có nhớ mang theo những bức tranh vẻ


phong cảnh của nước Pháp mà họ để ở đầu giường trong một góc chùa Caĩ-maĩ, hay dấu trong một
khoang tàu nào đó. Nếu lỡ họ có quên, những người tẩm liệm có nhớ đặt vào trong quan tài cho họ hay


khơng?


Có những người may mắn hơn, đã trở về q hương, vợ con của họ cịn nhìn ra họ khơng? Họ
mang được gì từ một xứ nghèo nàn và xa xôi để làm quà cho con cháu họ? Họ có cịn nhớ những ghim
thịt nướng bốc khói thơm lừng, trở đều trên bếp lửa hồng, dưới bóng mát của hàng cau bên lề đường


Chợ Qn?


Dù họ có nằm xuống trên một thửa ruộng xình lầy, hay nơi làng quê của họ khi tuổi già, thì họ



cũng đã nằm xuống. Trên phương diện con người, tôi yêu thương họ như tôi yêu thương tổ tiên tôi. Hai


mươi lăm ngàn người đắnh giết nhau hai bên một bức tường mà khoảng cách có thể đưa tay cho nhau,


tác giả<b> Léopold Pallu </b>đã viết như vậy. Ðứng bên này hay bên kia bức tường thì sự đau đớn có lẽ cũng


khơng khác nhau lắm. Thôi ta hãy để cho họ nằm yên, đừng quấy rầy họ nữa. Những thửa ruộng sình
lầy của q hương tơi vẫn cịn đó.


Phần 4: Chỉ dụ của Hồng đế Tiếng ÐỨC, tơi chuyển ngược từ bản dịch tiếng Pháp trở lại tiếng


Việt.


Phần 5: Cách xây dựng thành trì của người An nam.


Phần 6: Tổ chức nông trại quân đội và dân quân An nam.


Sổ tang: Tơi chỉ dịch các dịng đầu của sổ tang nhưng không nêu tên những người đã ngã gục. Tác


giả<b> Léopold Pallus cho r</b>ằng nếu họ thoát ra khỏi sự quên lãng của chúng ta thì hình như họ cũng thốt


</div>
<span class='text_page_counter'>(95)</span><div class='page_container' data-page=95>

đứng dậy. Nếu ví như ta có đủ sức để kéo họ đứng lên, thì có thể ta sẽ làm trái với nguyện vọng của họ,


vì biết đâu họ chỉ muốn nằm xuống với đức tin của họ, với lòng quả cảm của họ, với bè bạn họ, trong


một giai đoạn lịch sử chỉ dành riêng cho họ mà thôi.


Sau họ, lại có những kẻ khác, đã, đang và sẽ cịn nằm xuống với một đức tin khác, một lý tưởng



</div>
<span class='text_page_counter'>(96)</span><div class='page_container' data-page=96>

<b> </b>


<b>Phụ lục I </b>


Ban tham mưu trên các chiến hạm đặt dưới quyền chỉ huy của phó thủy sư đề đốc Charner tại Tàu
và Nam kỳ:


Chiến hạm<b> Impératrice-Eugénie </b>
Ban tổng tham mưu


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Renommée </b>
Ban tổng tham mưu
Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Duchalay </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Laplace </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Primauguet </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Forbin </b>



Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Monge </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Prégent </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Alom-Prah </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Norzagaray </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Dragonne </b>


Ban tham mưu


</div>
<span class='text_page_counter'>(97)</span><div class='page_container' data-page=97>

Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Avalanche </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Fusée </b>



Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Mitraille </b>


Ban tham mưu


Pháo hạm<b> 12 </b>
Pháo hạm<b> 13 </b>
Pháo hạm<b> 15 </b>
Pháo hạm<b> 16 </b>
Pháo hạm<b> 18 </b>
Pháo hạm<b> 19 </b>
Pháo hạm<b> 22 </b>
Pháo hạm<b> 24 </b>
Pháo hạm<b> 25 </b>
Pháo hạm<b> 27 </b>
Pháo hạm<b> 29 </b>
Pháo hạm<b> 30 </b>
Pháo hạm<b> 31 </b>


<b> Chiến hạm Européen </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Japon </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Wéser </b>



Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Entreprenante </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(98)</span><div class='page_container' data-page=98>

Chiến hạm<b> Dryade </b>
Ban tổng tham mưu
Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Calvados </b>
Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Garonne </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Jura </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Rhône </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Dordogne </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Durance </b>


Ban tham mưu



Chiến hạm<b> Gironde </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Loire </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Marne </b>
Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Meurthe </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Saone </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Nièvre </b>


Ban tham mưu


</div>
<span class='text_page_counter'>(99)</span><div class='page_container' data-page=99>

Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Écho </b>


Ban tham mưu



Chiến hạm<b> Deroulède </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> Hong-kong </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> LYLY </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> KIEN-CHAN </b>


Ban tham mưu




Chiến hạm<b> SHAM-ROCK </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> DUPERRÉ </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> ANDROMAQUE </b>


Ban tham mưu



Chiến hạm<b> DIDON </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> FORTE </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> PERSÉVÉRENTE </b>


Ban tham mưu


Chiến hạm<b> VENGEANCE </b>
Ban tham mưu


Chiến hạm<b> NÉMÉSIS </b>


</div>
<span class='text_page_counter'>(100)</span><div class='page_container' data-page=100>

<b> Tàu AMPHITRITE </b>
<b> Tàu ESPÉRENCE </b>
<b> Tàu JAJAREO </b>


<b> Tàu SAINT-JOSEPH </b>


<b> Tàu MIRAGE </b>


Nhân viên hành chính trên bờ


Nhân viên y tế và hàng giáo phẩm trên bờ



<b>Phụ lục II </b>


Tổ chức quân đoàn viễn chinh Nam kỳ


TỔNG THAM MƯU
Tham mưu các đạo quân


Lữ đoàn Bộ binh:


<b>Trung đoàn 3 thủy binh đánh bộ </b>


Ðại đội 28


Ðại đội 29


Ðại đội 30


Ðại đội 31


Ðại đội 32


Ðại đội 33


Ðại đội 34


Ðại đội 35


Ðại đội 36


Ðại đội 37



Ðại đội 38


Ðại đội 39


Ðại đội 19


</div>
<span class='text_page_counter'>(101)</span><div class='page_container' data-page=101>

Ðại đội 5


Ðại đội 11


Ðại đội 16


Ðại đội 19


Ðại đội người bản sứ
Trung đoàn 3


Trung đoàn 2


Tiểu đoàn 2 lính đánh bộ (chasseurs à pied)
Ðại đội 1


Ðại đội 2


Ðại đội 3


Ðại đội 4


Ðại đội 5



Ðại đội 6


Ðại đội 7


Ðại đội 8


Tiểu đoàn bộ binh chiến đấu (bataillon de ligne)


Quân đoàn thủy binh đổ bộ:


Ðại đội 1


Ðại đội 2


Ðại đội 3


Ðại đội 4


Ðại đội 5


Ðại đội 6


Ðại đội 7


Ðại đội 8


Ðại đội thủy binh xung kích


</div>
<span class='text_page_counter'>(102)</span><div class='page_container' data-page=102>

Ðại đội 1 hành quân trên sông Don-naĩ



Ðại đội 2 hành quân trên sông Don-naĩ


Ðại đội người Quảng châu




<b>Pháo binh </b>


Trung đoàn 14 pháo binh do ngựa kéo
Pháo đoàn 9


Pháo đoàn 10


Kho dự trử pháo binh


Ðường tuyến các chùa
Chùa Barbet


Chùa Clochetons
Chùa Cai-maĩ


Công binh
Kỵ binh


Cu-li


Cơ quan hành chính
Hậu cần



</div>
<span class='text_page_counter'>(103)</span><div class='page_container' data-page=103>

<b>Phụ lục III </b>


<b>Tun dương cơng trạng trong qn đồn viễn chinh Nam kỳ</b>:
Hởi các chiến sĩ bộ binh và thủy binh của quân đoàn viễn chinh!


Nhờ sự dũng cảm của các bạn mà các đường tuyến Kì hịa đã lọt vào tay ta sau hai ngày chiến
đấu.


Tất cả các chướng ngại từ hơn một năm nay quân thù tích lũy để ngăn chận ta đã khơng đứng


vững trước sức mạnh tấn công của các bạn, trước khí lực của các cánh quân xung phong thật dũng


cảm.


Nhân danh Hồng đế, tơi khen ngợi các bạn.


Tất cả đã làm trịn bổn phận mình một cách hào hùng. Tuy nhiên có một vài người trong các


bạn tỏ ra đặc biệt xuất sắc; tôi xin tuyên dương công trạng của họ:


---


Phó thủy sư đề đốc, chỉ huy trưởng,




Ký tên: CHARNER


<b>Phụ lục IV </b>



Chỉ dụ của hoàng đế Tự Ðức[1]




Hoàng đế TỰ- ÐỨC, năm thứ 12, tháng thứ 9, ngày thứ 10


( 4 tháng 11 năm 1860, do một chiếc ghe Bắc kỳ đem vào Saĩgon)


Chỉ dụ tối thượng.


Bọn ngoan cố man rợ từ ngoài khơi đến đây, múa may giống như một đàn sâu bọ đê hèn có mục
đích hành động hạ cấp và đồi bại. Sau khi gây ra loạn lạc tại Touranne, chúng lại gây chia rẽ và hành hạ


dân tình ở Gia-dinh (Saĩgon), đúng một năm nay. Tôi đã thường gởi các vị quan võ đem quân để khống


chế cái giống hung dữ đó, chận đứng, hố giải bọn ấy không cho xâm phạm đến tỉnh thành của ta.
Nhưng thuật chiến tranh của chúng rất khéo léo không so sánh được. Trước khi gieo rắc loạn lạc và rối


loạn, chúng địi ta phải đối xử hịa bình với chúng. Nếu như chúng biết lễ nghi và tôn trong sự hịa đồng


(tập tục) thì ta đã khơng do dự gì để ban giao, và sau hết ta đã phải chấp thuận cho chúng Da-nang (hải


cảng Touranne), đấy là chủ đích tham vọng của chúng, để người lính ta khỏi phải khổ sở vì những tai ác


và hành hạ do chúng gây ra; nhưng thật ra khơng thể nào tin vào lịng lang dạ thú của chúng[2], tơi đã
thấy rõ các điều này. Vì thế tôi ra lịnh cho tất cả ai sinh sống nơi ven biển phải xây thành đắp lũy phòng
thủ, canh phòng nghiêm nhặt, chuẩn bị dùng vũ lực mà đánh tan ý đồ của bọn man rợ xâm phạm vào
lãnh thổ của ta. Bây giờ đây, con người của chúng chỉ thấy điều lợi, cứ địi thêm mãi khơng dứt lòng
tham, nếu ta cứ chiều theo dục vọng của chúng, thì quốc gia này sẽ ra sao, ai cịn dám nghĩ tới nữa?



Cho nên tơi vẫn nỗ lực kêu gọi tìm phương tiện đánh đuổi chúng, phá tan âm mươu gian trá của chúng.
Nhưng khi hy vọng tiêu tan chúng lại càng tỏ ra ngoan cố. Từ từ chúng xoay quanh tìm kẻ hở của vị đại


</div>
<span class='text_page_counter'>(104)</span><div class='page_container' data-page=104>

điên loạn thúc đẩy bọn man rợ đó thật ra do nguyên nhân quá khiếp đảm. Ngay bây giờ, tôi ra lịnh cho


tất cả những ai, ở bất cứ nơi nào, có đường đổ ra cửa biển hay nằm vào vị trí phịng thủ, phải nỗ lực


cảnh giác, để khơng có gì phải hối tiếc.


Hơn nữa, đại dương rộng lớn ngăn cách bọn man rợ đó với lãnh thổ ta, từ ban đầu ta chẳng có


hiềm khích gì với chúng; nhưng vì tham lam, đồi bại, khinh người đã thúc đẩy chúng chống lại ta một


cách vô lý, lại gây ra loạn lạc ở các vùng ven biển xứ ta cũng chẳng có lý do gì, chúng ra tay cướp bóc


ghe thuyền và trân tráo gây ra cảnh hổn loạn trong dân chúng. Người trí thức kẻ thường dân, ai mà
không nghiến răng phẩn nộ, nghĩ đến việc ăn thịt chúng và tìm cách lột da chúng. Vì thế khơng phải một
người, một sớm một chiều, có thể làm được! Có ai chỉ biết ăn hoa quả của đất đai mà không biết đến


trung thành và bổn phận? Tôi ra lịnh cho tất cả các quan chức các tỉnh huy động người có học cũng như


tồn thể dân chúng địa phương liên hệ phải biết đứng lên và nổi dậy. Ðây là lúc khơng được nói lên
những lời do dự. Lúc khơng có gì e ngại, thì ta vui hưởng, cày cấy, trồng trọt, tom góp của cải và giúp đở


lẫn nhau, nhưng khi hiểm nguy trước mặt, thì phải hợp nhau tiếp sức mà hành động, tất cả phải chiến
đấu tìm giải pháp tránh khỏi hiểm nguy. Hơn nữa, từ ngày hôm nay, trong từng vùng có ai lanh lợi hiểu


biết thì phải tận dụng sự lanh lợi và hiểu biết của mình cho có hiệu quả. Làng nào có được mười nhà lại



chẳng có một người đáng cho ta tín cẩn. Tại sao trong những nhà tranh vách lá lại chẳng có ai xứng
đáng và ưu tú đủ sức vương lên cho người khác biết hay sao, dù họ có bị chèn ép đi nữa? Làm sao ta tìm
ra họ? Tôi ra lịnh cho tất cả quan chức, trừ ra chính quyền cấp xã, từ tỉnh trưởng đến phó tỉnh trưởng


cấp một và cấp hai, phải tìm kiếm những ai có phương cách hữu hiệu để đánh đuổi quân man rợ đang


lâm vào bịnh điên rồ[3], mọi người phải thông báo với quan chức địa phương để tấu trình lên tơi, khơng


được sơ sót và qn bất cứ ai; sau đó tơi sẽ lựa chọn. Tuy nhiên những ai tiến cử phải cẩn thận đừng
q ơm đồm làm cho thư từ hành chính trở nên nặng nề vơ ích. Tơi cũng cho các địa phương biết, không


phân biệt là quan văn hay quan võ, ai thật sự có trí thơng minh, lanh lợi, thành thạo, có phương tiện
hành động và lịng quả cảm giết giặc cướp thì hãy xin theo các võ tướng, quan chức địa phương có bổn


phận phải thơng báo rõ rệt quyền hạn của họ: một mặt chỉ cho từng người sẽ trực thuôc đạo quân nào,
một mặt phải ghi nhớ tên tuổi họ. Sáu tỉnh cực nam kể cả Bin-thuan và Kanh-hoa trực thuộc vị đại quan


tỉnh Gia-dinh; các quận nằm giữa Bin-dinh và toàn thể Quang-nam thì theo về với đại võ quan
Quang-nam; Thua-thien và tất cả các quận phía bắc cho đến thủ đơ thì cứ theo đúng chỉ thị mà trấn áp (quân
xâm lăng). Những ai, sau này tỏ ra xứng đáng với tổ quốc sẽ được ngợi khen và thăng thưởng xứng
đáng. Hỡi tồn dân có muốn theo về với lịng quyết tâm của ta khơng! Ðây là lời tâm huyết của ta.




<b>Phụ lục V </b>


Cách xây dựng thành trì của người An nam


Doanh trại phòng thủ của người An nam gồm các chướng ngại xây cất bằng vật liệu khác nhau. Tùy
theo vật liệu các chướng ngại có tính cách vĩnh viễn hay tạm thời.



Tường thành làm bằng đất vừa che súng vừa che cho pháo thủ. Ðất đào xới khi mùa mưa, sau sáu


tháng mùa khô, sẽ trở nên cứng như gạch của người Ai cập. Tường đất được giữ chắc nhờ một hệ thống
sườn bằng cây ghép chéo nhau bên trong tường. Tường thành khơng có trụ, khơng cột sắt, không lưới


bằng nẹp cây, cũng không trồng cỏ để tránh đất lở, nhưng mặt tường thành phía bên ngồi vẫn thẳng
băng.


Mặt xây lót bên ngồi tường thành Âu châu có cơng dụng giữ cho tường được thẳng, trái lại trang


bị mặt ngoài của tường thành An nam có cơng dụng khác. Mục đích khơng cho qn địch tấn cơng trèo
lên. Trang bị mặt ngồi của tường gồm cành tre gai góc. Tre rất nhiều trong xứ, thường dùng làm hàng
rào. Nhìn xa, lá tre thn và dài, mảnh mai, màu sắc và hình dáng giống như lá cây dương liễu ở Âu


châu. Thân to và mềm mại, vỏ thân tre dùng đan rổ, đan nia. Cành có gai, gai đâm dễ bị nhiễm độc.
Cành lá đan vào nhau hết sức khéo léo tạo ra một lớp rào như lơng nhím trên tường bắn, dầy độ ba
chân. Do đó tường thành cũng cao thêm tùy theo bề dầy của lớp rào tre. Cành tre chỉ cắm hờ trên mặt
đất, do đó khơng thể nào nắm vào các canh tre để trèo lên tường Rào tre còn được giữ chắc bằng một


</div>
<span class='text_page_counter'>(105)</span><div class='page_container' data-page=105>

cao vượt khỏi tầm tay. Hệ thống cọc và chà tre giúp tường thành kiên cố, nhưng khi gở đi thì tường


thành An nam chỉ là một bờ đất. Nhưng hệ thống chà tre luôn ln vững chắc.


Chân tường thành bên ngồi tiếp giáp với một hào sâu năm chân, vào mùa khô hào ở chân tường


thành Kì hịa nước bùn sình vẫn cịn sâu đến ba chân. Qn tấn cơng nếu có vượt được các hầm chơng,


bàn chơng, cọc nhọn, bẫy thì sẽ gặp một bờ tường đầy gai dựng đứng trước mặt, cao mười lăm chân.
Tường thẳng băng, ném lựu đạn rất nguy hiểm hoặc không thể thực hiện được, bắn lên cũng khơng hiệu



quả gì.


Mặt bên trong cũng thẳng đứng, dọc theo chân tường có hai bệ cao như hai lớp nấc thang.


Thành trì An nam khơng có bệ bắn lớn bên trong để giúp mở rộng thêm góc bắn, nhất là tại các ụ


bắn. Tường thành có đục lỗ châu mai nhưng mặt nở rộng lại ngược với lỗ châu mai của thành quách Âu
châu [4] Các sĩ quan pháo binh đều nhận thấy điều này, một số kỹ sư cho rằng các lỗ châu mai như thế


rất hợp lý.


Chòi canh là một mặt bằng dựng trên bốn cột, cao hai mươi lăm chân khỏi mặt đất. Bốn cột đóng


sâu xuống đất, cột giữ chặt với nhau bằng các cây đóng ngang như một cái thang. Chòi canh dùng để


quan sát mà thơi. Khi đường tuyến thứ nhất của thành Kì hịa bi hạ ngày 25 tháng hai năm 1861, thì
qn ta dùng chịi canh để cắm cờ Pháp.


Hầm chơng đều có hình trịn và kích thước bằng nhau. Mặc dù miệng hầm chơng có che phên,


nhưng sau khi biết được một hố thì nhờ bản năng và ước chừng mà đốn ra các hố khác. Nếu hầm


chơng kích thuớc khác nhau, miệng hầm hình thù khác nhau sẽ làm cho quân tấn công phải thối lui ngay.


Ta cũng chú ý thấy khơng có qn Pháp nào tiến thẳng tới chân tường thành, mà phải dò dẫm tiến xéo


qua trái hay qua phải.





<b>Phụ lục VI </b>


Nông trại quân đội và dân quân Don-dien An nam


Cho đến gần đây, các thể chế của người An nam tại Nam kỳ vẫn còn xoay quanh vấn đề chung làm
thế nào để giúp dân chúng sinh sống và định cư người nghèo, hậu quả của giặc ngoại xâm và tranh chấp


nội bộ dể đẩy họ vào cảnh cướp bóc. Nhà nước giúp họ trở về canh tác đất đai. Canh nông rất hợp với


bản tính của giống dân An nam, và nói chung đối với người nông dân ta cũng dễ ép họ chấp nhận sự


thống trị của người Pháp mà không hoàn toàn tàn phá hết bản tánh của họ. Ðể đánh giá điều này ta hãy
tìm hiểu về tổ chức các nông trại quân đội gọi là ’’Don-dien’’do họ lập ra.


Don-dien là dân quân định cư đi khai hoang đất đai để canh tác. Họ là những người nghèo, những
người lang thang khơng có tên trong sổ bộ của triều đình. Họ được phân loại theo một số tiêu chuẩn. Họ


tiếp tục sống trong gia đình và làm dân Don-dien suốt đời, không bao giờ được cấp hẳn đất đai canh tác.


Trong thời gian khai hoang thì triều đình giúp đở họ, cho đến khi nào canh tác được thì thơi. Khi có giặc


giả, người Don-dien theo quân đội chính quy để đánh giặc. Họ chỉ có giáo để làm khí giới. Thể chế người
định cư qui định cách nay mới có bẩy năm. Vào năm 1854, nguyen Tri-phương[5]đệ trình ý kiến của


mình lên các người giàu có và quyền thế trong nước. Ông đề nghị dự án thiết lập Don-dien, với sự chuẩn


y của triều đình, để giúp những người bất hạnh trong nước, thời ấy lan tràn khắp nơi. Lịnh chuẩn y của


triều đình ban xuống ngày mùng một tháng giêng năm Tu-duc thứ sáu[6]



Một năm sau, ông nguyen Tri-phuong, đại biểu và cao uỷ tạm thời của triều đình, đã thành lập
được sáu trung đồn tại sáu tỉnh cực nam. Ơng đưa danh sách lên chính phủ và đồng thời gởi các quan
nhà nước đi khắp mọi nơi khuyến khích, đốc xúc đưa người nghèo và những người lang thang về các
vùng đất qui định cho việc khai quang. Sau khi thanh tra, ông nguyen cho rằng lúc ban đầu không nên


</div>
<span class='text_page_counter'>(106)</span><div class='page_container' data-page=106>



Trong tình trạng hiện nay, sáu trung đồn tính chung là ba ngàn người; nhưng thật ra phải trừ


những người già, những người đau ốm, mồ côi, thực sự chỉ còn hai ngàn năm trăm mười lăm người. Như


ta vừa thấy, vị cao uỷ các tỉnh miền nam là Tri-phương vẫn tiếp tục theo giỏi sự tiến triển cơng trình của


mình.


Một năm sau lại có một nghị định mới bổ túc thêm cho thể chế các Don-dien, vẫn tiếp tục giữ


nguyên tổ chức trung đoàn và đại đội, nhưng đặt các người<i>ap </i>(tập thể nhỏ của xã) trực thuộc hệ thống
hành chính nhà nước. Tất cả người dân phải góp phần thành lập các nhóm chiến đấu do<i>tong</i> (người


cầm đầu mỗi tổng) lãnh đạo. Các toán người này gọi là <i>ap</i>gồm từ năm mươi đến một trăm người. Người


cầm đầu một toán gọi là <i>doi</i>, cấp bực và quyền hạn ngang hàng với một người xã trưởng, nhưng quản lý


không cần hội đồng cố vấn xã, họ trực thuộc<i>tong, nhưng lại không tuy thuộc v</i>ào một người chỉ huy


Don-dien nào hết. Do đó người<i>doi</i> giữ một vai trị trung gian giữa tập thể người định cư Don-dien đã
thành lập và người dân thường trong làng mạc. Tri- phương thường đi thanh tra các tổ chức<i>ap</i> mới



thành lập, đồng thời ơng cũng đốc xúc và khuyến khích dân định cư Don-dien. Mỗi người được cấp từ


hai, ba hoặc bốn mẫu đất. Người Don-dien phải ghi danh, đăng ký đất đai và góp đủ thuế trong vịng


mười năm. Mặc dù nhà nước khuyến khích nhưng người lang thang cũng gặp nhiều khó khăn trên các


vùng đất khô cằn, ông nguyen xin rằng ’’phải chú ý đến các khó khăn trên thực tế, khơng nên từ chối


những ưu đãi mà nhà nước đã hứa. Ông dập đầu cúi lạy đưa những lời thỉnh nguyện này lên hoàng đế ’’.


Sau những dọ dẫm lúc ban đầu, số Don-dien tăng lên hai mươi bốn trung đoàn, phân chia ra như


sau: Tỉnh Gia-dinh có bẩy trung đồn, My-thơ sáu trung đồn, Vinh-long năm trung đồn, Bien-hoa bốn
trung đoàn, An-gian hai trung đoàn. Tên mỗi trung đoàn là tên tổng nơi trung đoàn được thành lập. Các
đại đội cũng mang tên trung đoàn nhưng phân theo thứ tự từ một đến mười. Các đại tá (quan-co) làm
chánh <i>tong;</i>đại úy làm <i>ap-truong</i> ( tức các trưởng làng chức<i>ap). Các đại tá đều có con dấu do triều </i>
đình Hué cấp. Con dấu làm bằng gỗ rất nhẹ, chỉ được dùng mực đen; mực đỏ dành cho các cấp cao hơn.


Một số lớn các trung đoàn chỉ có ba trăm người, các đại đội thì chỉ có ba mươi người. Trong qn ngũ


chính quy số quân sĩ trong một đại đội là năm mươi người.


Các đại tá Don-dien được chọn trong số những người trưởng làng dựa vào sự nhiệt tâm, trí thơng


minh và thành quả từ trước của mỗi người. Mỗi vị đại tá phải do nguyen Tri-phương đề nghị và hoàng đế


chuẩn y. Do đó việc chọn lựa hồn tồn do trọng trách của vị cao ủy và đây cũng là một trách nhiệm


thật nặng nề. Trong nhiều trung đoàn, tiền trợ cấp của triều đình khơng đủ, các vị đại tá phải xuất tiền
túi để bù đắp vào, nhưng nhà nước không mấy khi trả lại cho họ. Họ cũng có thể vay của các vị tổng đốc



tỉnh nhưng người đại tá phải đứng ra bảo lãnh số tiền vay. Hơn nữa qn lính trong trung đồn rất khó


sai bảo, thiếu nhẫn nhục. Có một vị đại tá phải thốt ra rằng bắt họ tuân theo kỷ cương thật là khó <i>kinh </i>
<i>khủng</i>. Một vài gia đình Don-dien bỏ đi vì họ khơng trồng trọt được đủ ăn. Các làng liên hệ phải đưa
người của làng thay vào đó. Chính quyền An nam trợ cấp cho họ rất ít. Hồng đế cấp phát ba trăm xâu


tiền[8] ( khoảng chừng ba trăm quan tiền Pháp) cho ba trăm người. Số tiền này dùng để mua các dụng


cụ nông nghiệp, nhà nước không cấp thẳng dụng cụ như nhiều người lầm tưởng. Người chỉ huy cũng
được cấp thêm hai xâu tiền để mua trâu. Người dân Don-dien tự nguyện và được khuyến khích, khơng


hề bị bắt buộc; vì vậy nếu coi người Don-dien là kẻ tội phạm hay người bị tội đày là điều hết sức sai lầm.


Mỗi người Don-dien mỗi năm phải đóng mười đấu gạo, năm cho hồng đế, năm xung vào kho của làng
phịng khi đói kém. Gạo tồn trử cất vào kho phòng cơ, nếu hạt lúa giữ ngun khơng lấy vỏ thì giữ được


rất lâu (người ta bảo rằng giữ được đến năm mươi năm). Nhiều người giàu có cũng đem gạo thóc của


mình cất nhờ vào các kho này. Nhưng làng mạc Don-dien thành lập chưa được bao lâu thì có <i>loạn lạc</i>,


người An nam gọi là giặc Âu châu. Làng mạc đều có xây tường phịng thủ như các làng chiến đấu ta thấy
ở thành Kì hịa. Nhà người chỉ huy nằm ở vị trí giữa làng, có chiêng và trống để tập họp quân sĩ. Làng
không phải chỉ có rào phịng thủ tạm bợ như người ta tưởng.


Dân Don-dien và dân chúng làng mạc địa phương khơng hịa thuận nhau. Ta thường thấy họ gây


gỗ với nhau, sẵn sàng rút dao đâm chém.Trong một xứ mà tổ chức làng xã là một tập thể chung, cả làng


</div>
<span class='text_page_counter'>(107)</span><div class='page_container' data-page=107>

Mỗi trung đồn có một khẩu đại pháo nhỏ. Mười người lính có súng tay, số cịn lại chỉ có giáo. Vị


đại tá phân phát khí giới, nhưng vẫn cho người Don-dien tự trang bị lấy, nếu ai tìm ra súng thì mang
súng. Khi việc đồng áng đã xong hoặc tạm ngưng thì họ tập múa giáo theo kiểu người An nam, vừa vặn


mình, gập người, vừa nhảy qua nhảy lại, vừa đánh gió, vừa tấn tới thối lui một cách vơ ích. Tháng giêng
mỗi năm, họ phải lên thị xã của tỉnh để trình diện; ta thấy họ kéo nhau lên Saĩgon và My-thơ. Họ đội nón


lá nhỏ giống như người lính chính quy, mặc áo khốc màu đen xẻ thẳng ở trước ngực, quần màu tím
hoặc màu nâu. Nói đúng ra họ khơng có đồng phục. Các người chỉ huy quấn ngang đầu một chiếc khăn
màu đen hay màu tím, đeo phù hiệu trên ngực.


Trong thời kỳ khai quang để biến đất hoang thành ruộng đồng thì người Don-diền cực khổ lắm.


Trong thời kỳ này họ được trợ cấp của hoàng đế, nhưng thật ra người chỉ huy của họ giúp họ nhiều hơn.


Ðồng ruộng vẫn thuộc hoàng triều. Người Don-dien chỉ là người thừa hưởng. Họ khơng có quyền chia


cắt, bán hoặc nhượng quyền mảnh ruộng của mình. Tại An nam có nhiều làng hoàn toàn sinh sống trên
ruộng đất của nhà nước. Mỗi năm chính quyền phân chia trở lại cho hợp lý.


Lúc khởi đầu chiến tranh, người Don-dien được phân phối đến các thành đồn; khí giới của họ được


cải thiện hơn, họ có khá nhiều súng. Họ cũng đã từng trấn giữ thành Kì hịa và đánh nhau với ta; tại đây
trong ngày 25 tháng 2 năm 1861, khoảng chừng năm trăm dân quân Don-dien, do đại tá Tou (quan-Tou)
cầm đầu, đánh nhau với người Pháp. Sau khi thành thất thủ, ta thấy họ lại xuất hiện trong các thành đồn


My-thô; sau hết và gần đây hơn là họ nổi lên định đánh chiếm Go-cung.


Các người chỉ huy dân quân Don-dien thường là những người rất giỏi. Một người trong số này là đại
tá Suan, trước kia nổi tiếng nhờ quản lý hành chính giỏi. Vào năm 1861, địa phận ảnh hưởng của ông



này nằm bên ngồi lãnh thổ Pháp, phía bên kia kinh Bưu điện. Có một người nữa trong số những người


kiên quyết nhất, là đại tá Tou. Sau khi thành My-thô bị ta chiếm, người này cũng biệt tăm. Vì tính cả tin
dân chúng thường hay gán cho các vị lãnh đạo của họ nhiều biểu hiệu rất lạ; chẳng hạn như tên Doa
-tri-hien có một ngón tay út đến bốn lóng.


Tri-phương, sáng lập viên dân quân Don-dien, trước kia theo lời đồn chỉ là một người thư lại trèo
lên cấp bậc cao mà không cần thi cử. Dự án của ơng đưa lên triều đình là một dự án tuyệt vời; tận dụng


những người không chí hướng, dễ gây rối; lại mang thêm lợi tức cho Quốc gia; lực lượng quân sự cũng
được cũng cố thêm nhờ một đạo quân có sẵn kỷ cương và tập luyện; người An nam ở triều đình H


đoan chắc rằng những người lính đó một ngày nào sẽ được đem dùng vào việc chống lại hoàng đế Tu
-duc. Tri-phương tự chọn lấy các người cầm đầu, chuẩn bị sẵn một tổ chức vũ trang mười hai ngàn


người. Khi thời cơ đến sẽ tiếp tay với quân Xiêm. Xét ra dự án này cũng không phải là xa chủ tâm vừa


kể, nếu ta biết là vua Xiêm luôn luôn chờ dịp để chen thẳng vào nội bộ của Nam kỳ, còn phần Cao miên
và Lào chỉ là các nước triều cống. Ta cũng khơng qn là trong năm thứ hai của hồng triều hiện tại[9],
triều đình bắt được sứ thần vua Xiêm ở Tay-ninh lén lút mang vương hiệu cho người anh cả của Tu-duc,
bị quản thúc từ hai năm nay[10]


Dù ta có coi chương trình thành lập các khu định cư có hậu ý chính trị hay khơng, hay chỉ vỏn vẹn


là cơng trình khai hoang thành lập ruộng vườn giúp người lang thang nghèo đói, dẫy đầy trong nước vì
chiến tranh triền miên, chưa giải phóng xong đã bị xâm lược, thì ta cũng phải cơng nhận tổ chức dân
quân đồn điền là một bằng chứng hùng hồn chứng minh tinh thần trật tự, bản tính cẩn thận và tính tình
chất phác của người An nam. Tại Âu châu, ta cũng thấy có các tổ chức định cư quân sự; nhưng điều


khác hẳn với tổ chức Don-dien tại đây là sự nghèo đói mà người định cư khơng bao giờ thốt ra được. Ý



kiến tom góp những người bất hạnh và cứ để cho họ chịu bất hạnh, con cháu của họ cũng sẽ trở thành
Don-dien, thật không phù hợp với cảnh bất cơng đang bành trướng nhanh chóng trong tất cả các tập thể
loài người hiện nay; ngay cả trong xứ An nam, người dân được quản lý như một đứa nhỏ, chưa chắc
chương trình định cư có thể thực hiện được. Chính một vị chỉ huy An nam, tên là quan-Kè, xem việc


thành lập Don-dien không thể nào thưc hiện nổi. Người An nam này cho rằng dù có cải cách chương


trình Don-dien cũng khơng mang đến kết quả gì đáng kể, vì có q nhiều người nghèo. Theo ý ông nên
trà trộn một trăm người giàu và hai trăm người nghèo sống chung với nhau. Sự nghèo đói giúp tập hợp
người lính dễ dàng, nhưng duy trì mãi mãi người dân Don-dien trong cảnh nghèo đói là một sự bất cơng;


</div>
<span class='text_page_counter'>(108)</span><div class='page_container' data-page=108>

đã khai phá, thì lại khó kêu gọi họ tịng qn. Thật khó hình dung vị trí của người Don-dien trong luật lệ
canh tác qui định cho họ.


Có một lúc phó thủy sư đề đốc Charner nghĩ rằng người An nam huấn luyện dân Don-dien là để


giúp ta mà thơi, có kỷ cương sẵn dễ cho ta thống trị; ông đứng ra nhận bản cam kết trung thành của
người dân Don-dien đưa lên, ông hứa đào tạo họ bằng nghị định ký ngày 19 tháng 3 năm 1861; nhưng


sau vụ khởi nghĩa ở Go-cung và tiếp theo là các cuộc nổi dậy. Ðám dân quân do ta thu nạp bị giải tán


bằng nghị định ký ngày 22 tháng 8 năm 1861. Một số lớn trở về ghi tên và sống trong các làng mạc như
dân thường, một số chịu phận của người lính thất lạc, cướp bóc để sinh nhai. Tuy nhiên vẫn cịn một số
trung đồn Don-dien ở phía nam Cao-miên.


Nhưng trong tình thế hiện nay, người Pháp khơng thể nào thay người An nam duy trì hệ thống


Don-dien vì khơng đủ sức tránh tổ chức này sa vào cảnh cướp bóc.



SỔ TANG


Những người Pháp gục ngã tại Nam kỳcho đến năm 1862


Ta khơi lên lớp bụi đã vĩnh viễn chôn vùi họ, không phải để làm con tính về những hy sinh vẻ vang


của họ, nhưng để tôn vinh những người Pháp đã chết ở Nam kỳ. Những biến cố vừa qua tại Á châu vẫn


cịn làm cho ta xúc động. Hình như khoảng cách khơng gian cũng có tác dụng giống như thời gian, ta lật


lại danh sách những người đã chết mà cứ tưởng đang lật lại một trang lịch sử lâu đời. Dù cho danh sách


này đã quá dài nhưng dù có dài đến đâu đi nữa cũng khơng lấn áp được sự u tối và cuồng nhiệt đang
vương lên chống lại các cuộc viễn chinh ở Tàu và ở Nam kỳ: dư luận bây giờ là như vậy. Hỡi những
người thợ vô danh, ngày đã muộn lắm rồi, sao các bạn vẫn ra sức làm việc mà khơng cần biết đang làm


vì ai; có ai vượt trước thời gian đâu để đánh giá cơng trình của các bạn? Danh sách này chắc chắn không


phải là danh sách những người nằm xuống mà là danh sách của sự sống. Con người chỉ là một chấm nhỏ


trong không gian, họ ghê sợ sự hủy diệt, và nếu họ thoát ra được sự lảng quên của chúng ta thì hình


như họ cũng thốt ra khỏi cái chết.
Danh sách các nhà tu hành
(5 trang trong nguyên bản)


Danh sách Thủy quân


(25 trang trong nguyên bản)
Danh sách Lục quân



(35 trang trong nguyên bản)


[1] Xin quí vị độc giả chú ý khi đọc, đây là bản pháp văn dịch từ tiếng An nam thời bấy giờ, lại phải cố gắng phiên dịch tiếng Pháp trở
lại thành tiếng Việt nam thông dụng ngày nay. Dịch đi dịch lại không sao tránh khỏi sai lầm. Mục đích chỉ để giúp người đọc một ý
niệm đại khái về bản chỉ dụ của hoàng đế Tự Ðức. Những chữ giữa hai dấu ngoặc là do chính tác giả ghi chú thêm để người đọc dễ
theo dõi, (ghi chú của người dịch).


[2] Nguyên văn là ‘’....không thể nào tin vào những thứ tim chó tim dê’’, xin phép được dịch khác đi nhưng có vẽ xi tai người Việt
nam hơn?


</div>
<span class='text_page_counter'>(109)</span><div class='page_container' data-page=109>

trên đồng ruộng và khắp mặt sơng ngịi. Ta cứ thách tác giả chọn một người lính viễn chinh nào to mồm nhất ‘’đấu thơ’’ với một phụ
nữ của ta xem ai thắng.Viết đùa, hy vọng biết đâu người đọc sẽ mỉm một nụ cười để lòng được nhẹ nhàng trước cảnh loạn lạc, hận
thù, và căng thẳng mà tổ tiên ta đang gánh chịu. Ta có nên mỉm cười để cho lịng lắng xuống, để đủ trầm tĩnh nhìn vào hiện tại và
tương lai ? Dù sao tất cả cũng chỉ là lịch sử.


Theo tôi bản kêu gọi của hoàng dế Tự-Ðức quả là một kiệt tác: ngay thẳng, giản dị và bộc trực đi sâu vào lòng người dân chất phác
lúc bấy giờ, (ghi chú của người dịch).


[4] Lỗ châu mai của các thành quách Âu châu là một khe hẹp bên ngoài nhưng nở rộng bên trong. Lỗ châu mai của tường thành An
nam trái lại là một khe hẹp bên trong nhưng nở rộng bên ngoài, (ghi chú của người dịch).


[5] Chức Cao ủy tạm thời (haut commissaire visiteur), (ghi chú của người dịch).


[6] Ta đang ở vào năm Tu-duc thứ mươi bốn. Người An nam tính năm theo triều đại của hồng đế đang trị vì.


[7] Theo lời của ông :’’Trong vùng trung tâm, mưa nhiều, đất mềm, rộng lớn, thương mại cũng tích cực hơn làm cho đời sống dễ chịu,
di dân vui vẻ đổ đến rất đơng. Vì thế con số năm trăm người cho một trung đoàn và năm mươi người cho một đại đội đã được tôn
trọng và thực thi. Nhưng ở những nơi khác đất cằn cỗi khó canh tác, giống như trong sa mạc.Trung đoàn thu hẹp chỉ có ba trăm đến
bốn trăm người. Khó mà ép buộc họ phải có đủ số.’’



[8] Một xâu tiền là một chuổi tiền bằng đồng cột chung với nhau để tiêu dùng trong xứ.
[9] Tức năm 1850


</div>

<!--links-->

×