Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Điểm mạnh và yếu trong bảo mật của Windows 7

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (583.29 KB, 9 trang )

Điểm mạnh và yếu trong bảo mật của Windows 7


Hiện nay Windows 7 được cho là hệ điều hành dành cho desktop bảo
mật nhất của Microsoft, tuy nhiên điều này khơng có nghĩa là khơng có
những yếu điểm.

Trong bài viết này chúng ta sẽ chỉ ra một số điểm mạnh và điểm yếu đáng
chú ý trong khả năng bảo mật của Windows 7 so với các phiên bản trước đó.

Bản báo cáo khả năng bảo mật mới được cơng bố gần đây của Microsoft đã
nhấn mạnh một số cải tiến lớn trong tính năng bảo mật từ hệ điều hành
Windows XP tới Windows 7. Cho dù như vậy thì khơng có hệ điều hành nào
có thể miễn dịch được với các mối đe dọa từ bên ngoài.

Microsoft đã thực hiện nhiều thay đổi đáng kể để bảo vệ nhân của hệ điều
hành Windows đồng thời bổ sung thêm nhiều công cụ bảo mật mới khi phát
triển Vista. Với Windows 7, những cơng cụ kiểm sốt bảo mật đó được cải
tiến và bổ sung thêm một số tính năng mới.

Dưới đây là ba điểm mà Microsoft đã làm được với khả năng bảo mật của
Windows 7.

1. ASLR và DEP.

Cả ASLR (Address Space Layout Randomization) và DEP (Data Execution
Prevention) đều được tích hợp trong Vista, tuy nhiên, trong Windows 7
chúng đã được cải tiến khá nhiều. ASLR ngăn cản tin tặc xác định vị trí của
các hàm quan trọng trong bộ nhớ, và DEP giúp chặn những cuộc tấn công



gây tràn bộ nhớ đệm nhằm vào những file hay vùng lưu trữ chuyên dụng để
lưu trữ dữ liệu.

Chet Wisniewski, cố vấn bảo mật cấp cao của Sophos, từng đưa ra nhận xét
rằng “ASLR đã được cải tiến rất nhiều trong Windows 7. Điều này có nghĩa


là những thư viện DLL được tải trong những địa chỉ nhớ ngẫu nhiên mỗi khi
bạn khởi động hệ thống. Phần mềm độc thường lợi dụng những file cụ thể
được lưu trữ trong những vị trí nhớ nhất định, và công cụ này giúp ngăn
chặn những cuộc tấn công gây tràn bộ nhớ đệm.”

Wisniewski cũng lưu ý rằng giờ đây DEP bảo vệ cho Internet Explorer và
nhiều dịch vụ quan trọng khác của Windows, những dịch vụ này đã không
được DEP bảo vệ trong Windows Vista.

2. BitLocker-to-Go

Microsoft đã tích hợp cơng cụ mã hóa ổ đĩa
BitLocker vào hệ điều hành Windows Vista. Ban
đầu cơng cụ này chỉ có khả năng mã hóa phân
vùng Windows, tuy nhiên, sau đó Microsoft đã
giới thiệu bản Service Pack 1 cho công cụ này
cho phép mã hóa nhiều phân vùng và ổ đĩa, ngoại
trừ những ổ lưu trữ di động.

Tyler Reguly, nhà nghiên cứu bảo mật của nCircle, lưu ý rằng với Windows
7, Microsoft đã tích hợp khả năng mã hóa dữ liệu dữ liệu trên ổ USB.
Reguly nhận xét “Với sự phổ dụng của ổ USB thì sự mở rộng của BitLocker
cũng được coi là một cải tiến lớn.”


3. Internet Explorer 8

IE8 không phải là ứng dụng trình duyệt dành riêng cho Windows 7, người


dùng các phiên bản hệ điều hành Windows khác có thể tải về cài đặt ứng
dụng trình duyệt này. Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cũng đánh giá khá
cao ứng dụng này.

Tyler Reguly nhận xét “Sự xuất hiện của IE8 là minh chứng rõ ràng nhất
cho thấy Microsoft đang bắt đầu bảo mật cho trình duyệt.”

Trong khi đó Wisniewski cho biết IE8 tích hợp
một cơng cụ bảo vệ mới có tên SmartScreen,
giống với công cụ bảo vệ trong ứng dụng trình
duyệt Chrome của Google và Firefox của
Mozilla. Tính năng lọc URL chống phần mềm
độc và chống giả mạo được tích hợp trong IE8
này có thể chặn những trang Web xấu giúp bảo
vệ người dùng.

Ngoài ra, IE8 làm nổi bật miền thực sự của URL dưới dạng chữ đậm trên
thanh địa chỉ. Điểm nhấn bổ sung này giúp phân biệt miền thực, và có thể
hoạt động như một tính năng ngăn chặn giả mạo bằng cách gửi cảnh báo đến
cho người dùng khi một URL độc hay giả mạo có thể làm lệch hướng truy
cập của họ.
Dù đã có nhiều cải tiến, tuy nhiên khả năng bảo mật của Windows 7 vẫn
khơng phải là hồn hảo, tất nhiên sẽ khơng có hệ điều hành nào đạt được
giới hạn đó. Và dưới đây là một số điểm bị cho là “chưa được” trong

Windows 7 và người dùng hi vọng sẽ tiếp tục thấy những cải tiến của chúng
trong hệ điều hành Windows 8 sắp tới.


Windows Firewall
Windows Firewall là một trong những thành
phần có tuổi đời dài nhất trên hệ điều hành
Windows. Trong những phiên bản hệ điều hành
trước, Windows Firewall chỉ giới hạn lưu lượng
đến mà không cung cấp bất cứ cơ chế nào để
chặn hay lọc lưu lượng gửi đi từ PC. Và
Microsoft đã loại bỏ được hạn chế này trong Windows 7.

Tyler Reguly nói “Là một người dùng, tơi sẽ khơng sử dụng phần mềm
tường lửa nhóm ba. Tơi thấy chúng chiếm dụng nhiều tài ngun và khá
phiền phức. Do đó tơi cần một hệ thống Windows Firewall đủ mạnh.”

Tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận rằng các phần mềm bảo mật nhóm
ba cũng có rất nhiều điểm mạnh mà Windows Firewall hiện vẫn chưa có
được, nó giúp cung cấp cho người dùng một giải pháp bảo vệ tổng hợp khá
mạnh tương xứng với những gì mà nó chiếm dụng trên hệ thống.

Do đó, rất khó để Microsoft có thể tích hợp một hệ thống Firewall mạnh cho
Windows vì như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới tốc độ của hệ điều hành.

Hidden File Extension (Định dạng file ẩn)

Microsoft tiếp tục ẩn đi những định dạng file quen thuộc theo mặc định. Nói



cách khác, thay vì hiển thị tên file là document.docx, Windows sẽ chỉ hiển
thị document.

Mục đích của việc ẩn định dạng file là để làm cho mọi thứ trở nên đơn giản
và thân thiện với người dùng.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng phương pháp này cũng có thể làm phát
sinh vấn đề bảo mật. Chet Wisniewski nói “Việc ẩn định dạng file khiến cho
các loại Trojan dưới dạng email dễ dàng sử dụng hai định dạng để lừa
người dùng khởi chạy những file độc. Ví dụ, file document.doc.exe sẽ hiển
thị với tên document.doc và một biểu tượng EXE (file chạy).”

XP Mode Virtualization
Windows XP Mode Virtualization có thể là vị cứu tinh trong những trường
hợp các thiết bị phần cứng hay các ứng dụng phần mềm di sản không thể
vận hành trong Windows 7. Dù hệ điều hành dang sử dụng có thể nâng cấp
lên Windows 7, trong khi những phần mềm hay phần cứng khơng tương
thích có thể chạy trong một môi trường XP ảo.

Vấn đề ở chỗ môi trường Windows XP sẽ không được các công cụ kiểm
soát bảo mật của Windows 7 bảo vệ.

Wisniewski lưu ý rằng “Mặc định Windows sẽ tự động ánh xạ các ổ đĩa từ
máy ảo XP tới máy tính Windows 7, do đó rất có thể phần mềm độc sẽ lây
lân sang máy vật lý theo cách này nếu không áp dụng phiên pháp bảo mật


phù hợp.”

Một công cụ khác được nhiều người dùng quan tâm là UAC (User Account

Control). Đã có nhiều ý kiến trái ngược khi nhận xét về công cụ này trong
Windows 7.

Tyler Reguly hứng thú trước những thay đổi mà Microsoft đã thực hiện cho
UAC. Ông nhận xét “Việc giảm bơt sự ngắt quãng sẽ đồng nghĩa với việc
nghiều người dùng sẽ sử dụng vì đây là một cơng cụ khá hữu dụng. Trong
Windows 7, công cụ này cung cấp nhiều tính năng hơn, khả năng bảo mật
giảm đi (so với UAC trong Vista), nhưng có thể coi đây là một cải tiến bảo
mật.

Ngược lại, Wisniewski nói rằng UAC khơng thực sự là một công cụ bảo
mật, đồng thời nhận xét rằng “Microsoft cần tiếp tục sử dụng UAC để khích
lệ các nhà phát triển tuân thủ theo phương pháp phân biệt đặc quyền, bởi vì
cơng cụ này có thể giúp Microsoft phát triển một hệ điều hành Windows mới
bảo mật hơn, tuy nhiên công cụ này không nên dành cho người dùng cuối.”

Tính đến nay hệ điều hành Windows 7 mới chỉ phát hành được hơn một
tháng, nhưng nó cũng đã đạt được những kết quả khiến Microsoft hài lòng,
như số lượng bán ra nhanh hơn nhiều so với Vista, đặc biệt, theo số liệu
thống kê mới nhất, số lượng bán ra của Windows 7 đã vượt qua Snow
Leopard của Apple, đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Microsoft hiện nay trong
thị trường hệ điều hành. Tuy vậy, khoảng thời gian hơn một tháng là chưa


đủ để có thể đánh giá hết điểm mạnh và điểm yếu của Windows 7, vì vậy hệ
điều hành này sẽ còn tiếp tục được quan tâm trong thời gian tới.




×