Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Tiểu luận Dân số học xã hội: Di dân ảnh hưởng đến kinh tế xã hội của người dân ở tỉnh Bình Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.29 KB, 29 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................................4
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................5
3. Phạm vi nghiên cứu...............................................................................................5
4. Đối tượng nghiên cứu:...........................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu:......................................................................................6
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu:......................................................................6
5.2. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI DÂN..............................6
1. Di dân.................................................................................................................... 6
1.1. Khái niệm di dân............................................................................................6
1.2. Đặc trưng của di dân......................................................................................9
2. Phân loại di dân.....................................................................................................9
3. Các lý thuyết giải thích nguyên nhân chủ yếu của di dân....................................12
3.1. Lý thuyết lực hút – lực đẩy............................................................................12
3.2. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý.........................................................................14
4. Ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội.....................................15
4.1. Ảnh hưởng của nhập cư................................................................................15
4.2. Ảnh hưởng của xuất cư.................................................................................16
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ DI DÂN VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG...........................17
1. Hiện trạng nhập cư ở tỉnh Bình Dương................................................................17
1.1. Quy mơ và cơ cấu dân nhập cư tại Bình Dương...........................................17
1.2. Nguyên nhân người nhập cư di chuyển vào Bình Dương..................................18
1.3. Nơi ở và điều kiện sinh hoạt của người nhập cư..........................................20
1.4. Trình độ lao động của người nhập cư..........................................................21
2. Tình hình xuất cư từ Bình Dương đi các tỉnh thành khác....................................22
3. Ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương..........22
3.1. Ảnh hưởng tích cực......................................................................................22
3.2. Ảnh hưởng tiêu cực......................................................................................25


CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................30


ĐỀ: DI DÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI DÂN Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Khi xã hội ngày một đổi mới và phát triển để có thể theo kịp xu hướng
của các nước khác, thì nhu cầu về đời sống của con người cũng ngày một thay
đổi. Bên cạnh đó, việc di dân cũng là một vấn đề đáng quan tâm vì nó có tác
động rất lớn đến sự phát triển kinh tế của một đất nước, trong đó có Việt Nam.
Dòng di dân phổ biến ở Việt Nam là di dân nông thôn - thành thị với mong
muốn kiếm được việc làm và tăng được nguồn thu nhập cho gia đình. Với sự
phát triển nhanh của cơng nghiệp, dịch vụ diễn ra mạnh mẽ do q trình đơ thị
hóa đã tạo ra sức hút lớn về nguồn lao động từ các vùng nông thôn di chuyển
đến các tỉnh, thành phố phát triển kinh tế mạnh mẽ như: Thành phố Hồ Chí
Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Chính vì vậy, nó có những
tác động rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường của các vùng
nhập cư, và việc nắm rõ những ảnh hưởng của việc di dân là rất cần thiết.
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đơng Nam Bộ, nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam. Vị trí địa lí thuận lợi, cùng với sự phát triển mạnh mẽ
về công nghiệp và thu hút nhiều nhà đầu tư, hiện nay nền kinh tế Bình Dương
đang có nhiều chuyển biến. Tốc độ tăng trưởng GDP là 14,5% mỗi năm, cơ cấu
kinh tế chuyển biến tích cực, cơng nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm
tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ công nghiệp – xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và
nông lâm nghiệp 4,4%. Công nghiệp tăng nhanh cả tốc độ tăng trưởng và giá trị
sản xuất. Bình Dương là một trong những tỉnh có sức thu hút rất nhiều dân nhập
cư từ các tỉnh, thành phố trong cả nước. Số lượng dân nhập cư lớn làm cho sự

biến động dân số của tỉnh lớn, Bình Dương là tỉnh có tỉ lệ tăng dân số lớn nhất
trong vùng Đơng Nam Bộ. Vấn đề di dân đã có những ảnh hưởng rất lớn đến
kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương. Vì vậy, tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân
4


và những ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình
Dương nhằm đề ra phương hướng, giải pháp điều chỉnh di dân có ý nghĩa cấp
thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương trong giai đoạn
hiện nay.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về thực trạng di dân ở tỉnh Bình Dương và những ảnh hưởng
của di dân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn
chế những mặt tiêu cực của quá trinh di dân sao cho phù hợp với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương.
3. Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian:
Đề tài nghiên cứu hiện trạng dân nhập cư đang sinh sống và làm việc tại
các khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương.
* Về thời gian:
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích q trình di dân ở tỉnh Bình Dương
và những ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình
Dương trong giai đoạn 5 năm từ năm 2009 – 2014.
* Về nội dung:
- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến di dân ở tỉnh Bình Dương.
- Phân tích thực trạng di dân ở tỉnh Bình Dương, chủ yếu là thực trạng dân
nhập cư đang sống và làm việc tại Bình Dương.
- Đưa ra những ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Bình Dương, chủ yếu là dân nhập cư.

- Đưa ra những kiến nghị và biện pháp góp phần điều chỉnh di dân sao
cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài này là dân nhập cư đang sinh
sống và làm việc tại tỉnh Bình Dương.
5


5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả vận dụng một số lý thuyết tiêu biểu giải thích cho
q trình di dân như lý thuyết lực hút – lực đẩy, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
nhằm để lý giải việc người lao động từ khắp nơi lại lựa chọn việc di cư tới Bình
Dương để làm ăn sinh sống.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Nghiên cứu này sử dụng tài liệu
từ các cơng trình nghiên cứu khác nhau. Chủ yếu dựa trên các tài liệu liên quan
đến vấn đề được đăng tải trên sách, báo điện tử,… để làm rõ cơ sở lý luận của đề
tài, góp phần bổ sung luận điểm trong đề tài nghiên cứu. Ngồi ra, trong đề tài
này, tác giả cịn sử dụng kết hợp với những phương pháp khác như: so sánh,
phân tích. Những thơng tin thu thập được từ q trình tổng quan tài liệu sẽ giúp
người nghiên cứu có cái nhìn đa chiều về vấn đề của việc di dân có ảnh hưởng
đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân ở tỉnh Bình Dương.

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI DÂN
1. Di dân.
1.1. Khái niệm di dân.
Là một cấu thành của quá trình phát triển, di dân khơng phải là một hiện
tượng dễ đo lường. Khái niệm về di dân rất khác nhau trong các cơng trình
nghiên cứu và khơng nhất thiết phải thống nhất theo một định nghĩa nhất định.

Di cư là một q trình mà theo thời gian, nó cịn làm thay đổi bản thân các điều
kiện ban đầu đã làm nảy sinh di cư cùng với nhận thức và ý định bản thân của
người di chuyển.
Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong
một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời
hay vĩnh viễn. Với khái niệm này di dân đồng nhất với sự di động dân cư.

6


Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này
đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một
khoảng thời gian nhất định. Định nghĩa này được Liên Hợp Quốc sử dụng nhằm
khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển theo một khoảng cách nhất định qua
một địa giới hành chính, với việc thay đổi nơi cư trú.
Theo Henry S. Shryock. Di dân là một hình thức di chuyển về địa lý hay
khơng gian kèm theo sự thay đổi nơi ở thường xuyên giữa các đơn vị hành
chính. Theo ơng những thay đổi nơi ở tạm thời, khơng mang tính lâu dài như
thăm viếng, du lịch, buôn bán làm ăn, kể cả qua lại biên giới, không nên phân
loại là di dân. Theo tác giả, di dân còn phải gắn liền với sự thay đổi các quan hệ
xã hội của người di chuyển1. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét khái
niệm di dân, có thể tóm tắt một số điểm chung được chấp nhận như sau:
* Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh
sống. Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị
hành chính ( khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển).
* Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào
đó và định cư tại đó và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện
mục đích đó. Nơi xuất phát là đầu đi và nơi ở mới là đầu đến. Tính chất thay đổi
nơi cu trú này chính là điều kiện cần để xác định di dân.
* Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan

trọng để xác định di dân. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu và loại hình di dân, thời
gian đó có thể là một số năm, một số tháng, thậm chí là một số tuần.
* Có thể đưa thêm một số đặc điểm khác nữa khi xem xét di cư như sự
thay đổi các hoạt động sống thường ngày, thay đổi các quan hệ xã hội. Di cư gắn
liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp…
Trong khái niệm về chuyển cư, người ta cịn phân biệt hai yếu tố cấu
thành q trình này là xuất cư và nhập cư:

1 Henry

S. Shryock : The Method and Materials of Demography Washington, 1980, tr.579.

7


* Xuất cư: là việc di chuyển nơi cư trú từ nơi này sang nơi khác, quốc gia
này sang quốc gia khác để sinh sống tạm thời hay vĩnh viễn, thời gian ngắn hoặc
dài. Đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều nước do tình trạng mức sống, thu nhập
và lao động phân bố khơng đồng đều. Xuất cư có ảnh hưởng đến mọi mặt kinh
tế, văn hoá xã hội, nhân khẩu của địa bàn nơi đến cũng như nơi đi.
* Nhập cư: là việc di chuyển đến một nơi khác, một quốc gia khác. Quá
trình này thường xuyên bị chi phối bởi nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, xã
hội, tơn giáo…Cũng như xuất cư, nhập cư có ảnh hưởng quan trọng đến địa bàn
đầu đi và đầu đến. Đặc biệt nhập cư đóng vai trị quyết định trong việc hình
thành dân cư ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Ôxtrâylia.
* Sự chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư, gọi là di cư thuần tuý, sự tương
quan này sẽ làm cho trị số gia tăng cơ học của dân số là dương ( nếu số người
xuất cư ít hơn số nhập cư) hoặc là âm (khi số người xuất cư ít hơn số người nhập
cư).
Q trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố

kéo” hay quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng:
vùng đi và vùng đến. Nhân tố đẩy là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội, chính trị, văn hóa ở nơi đi, ví dụ: do điều kiện sống khó khăn, thiếu việc
làm, thiếu đất đai. Đây là “nhân tố đẩy”. Cùng với nó các nhân tố hút ở nơi đến
như những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn
hóa… và sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội có thu nhập và mức sống cao ở nơi đến.
Đây là “nhân tố kéo”. Sự kết hợp giữa nhân tố đẩy và nhân tố kéo đã thúc đẩy
quá trình di cư diễn ra.
Di cư vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của quá trình phát triển. Di cư đã
và đang trở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai và tạo
cơ hội làm ăn cho mình, và nó trở thành một cấu thành khơng thể thiếu được của
q trình phát triển đặc trưng cho mối quan hệ qua lại giữa vùng miền và lãnh
thổ.

8


1.2. Đặc trưng của di dân.
- Nơi người ta có dự định di dân đến phải là nơi có điều kiện sống tốt hơn
về vật chất và tinh thần so với nơi họ đang sinh sống, đây cũng là đặc trưng để
nhìn nhận lại động cơ và mục đích di dân.
- Độ tuổi cũng có vai trị quan trọng trong di dân. Hầu hết, nhóm di cư
trong độ tuổi lao động ( 15 – 54 tuổi )2 có tỉ lệ dân số đã từng được đào tạo
chuyên môn kỹ thuật cao hơn tỉ lệ này của nhóm dân số khơng di cư cũng trong
độ tuổi này. Những người trẻ trong độ tuổi lao động có tính năng động, tiếp thu
cơng việc nhanh và dễ kiếm được việc làm hơn.
- Trước đây, nam giới thường có xu hướng di dân nhiều hơn phụ nữ. Đây
có thể phần nào giải thích do bản năng và sự phân công lao động theo giới tính.
Nhưng hiện nay, do nhu cầu trong lĩnh vực dịch vụ tăng cao, ở một số vùng, nữ
giới có xu hướng di dân nhiều và mạnh hơn nam.

- Về mặt tơn giáo – văn hóa: Người nào ít bị ràng buộc về tơn giáo, các
yếu tố văn hóa truyền thống, hồn cảnh gia đình sẽ dễ dàng thích nghi hơn với
điều kiện sống ở nơi mới do đó khả năng di dân sẽ cao hơn so với bộ phận dân
số cịn lại.
2. Phân loại di dân.
Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau, tuỳ vào mục
đích nghiên cứu và thậm chí theo từng người làm nghiên cứu khác nhau. Do vậy
cách phân loại chỉ có tính chất tương đối và khơng tách bạch với nhau.
• Theo khoảng cách:
Đây là hình thức phân loại di dân quan trọng nhất. Người ta phân biệt di
dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến.
• Theo địa bàn nơi đến:

2 Theo

Bộ Luật Lao động, trong độ tuổi lao động của nam là 15-59 và của nữ là 15-54. Đề tài
chọn nhóm tuổi từ 15-54 là nhóm tuổi cả nam và nữ đều đang trong độ tuổi lao động.

9


* Di dân giữa các nước được gọi là di dân quốc tế. Trong hình thức di
dân này, người ta cịn phân chia thành nhiều loại hình trên cơ sở mục đích di
dân:
- Di dân hợp pháp.
- Di dân bất hợp pháp.
- Chảy máu chất xám.
- Cư trú tị nạn.
- Buôn bán người qua biên giới.
* Di dân giữa các vùng miền, các đơn vị hành chính trong một nước gọi

là di dân nội địa. Trong hình thức di dân này, thơng thường người ta chia ra các
nhóm dân sau:
- Di dân nông thôn - đô thị.
- Di dân nông thôn - nông thôn.
- Di dân đô thị - nông thơn.
- Di dân đơ thị - đơ thị.
• Theo độ dài thời gian cư trú
* Di chuyển lâu dài: Bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường
xuyên và nơi làm việc, với mục đích định cư sống lâu dài tại nơi đến mới. Phần
lớn người di cư là do điều động cơng tác, người tìm cơ hội việc làm mới và thốt
ly gia đình,.... Những đối tượng này thường không quay trở về sống tại quê
hương cũ.
* Di chuyển tạm thời: sự vắng mặt tại nơi ở gốc là không lâu, khả năng
quay trở về là chắc chắn. Loại hình này bao gồm các hình thức di chuyển làm
việc theo thời vụ, đi công tác dài ngày, hoặc như trường hợp ra nước ngoài học
tập rồi quay về nước.
* Di dân mùa vụ: Loại hình này diễn ra chủ yếu trong các xã hội nông
nghiệp mặc dù thuật ngữ “mùa vụ” không nhất thiết vụ mùa sản xuất nơng
nghiệp. Thuật ngữ này cịn bao gồm các hoạt động mùa vụ khác như mùa xây

10


dựng, mùa du lịch, hội làng nghề và thậm chí cả loại hình đi làm ăn xa ở nơng
thơn nước ta hiện nay.
* Ngồi ra cịn có loại hình di chuyển con lắc là dịng di chuyển của cư
dân nơng thôn vào thành phố trong thời kỳ những dịp nông nhàn, hoặc trong
điều kiện thiếu việc làm thường xuyên, việc làm có thu nhập. Hình thái di cư
này có xu hướng gia tăng trong thời kỳ đầu cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở các
nước đang phát triển.

Ngồi những hình thái kể trên, các nhà nghiên cứu còn phân loại di dân
của các cá nhân hay của nhóm tùy theo mục đích nghiên cứu (di dân phụ nữ, trẻ
em, hộ gia đình, nhóm đồng hương).
• Theo hình thái di dân
* Di dân có tổ chức: là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các
chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và tổ
chức, chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội.
Về nguyên tắc, người di chuyển có tổ chức được nhà nước và chính quyền
địa phương nơi nhập cư giúp đỡ. Di dân có tổ chức có thể giảm bớt khó khăn
cho những người nhập cư, tăng nguồn lực sức lao động địa phương, có thể tránh
được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởng xấu tới môi
trường sinh thái. Trong lịch sử di dân quốc tế, chính phủ và các tổ chức xã hội
hoặc tổ chức phi chính phủ đóng vai trị quan trọng trong việc trợ giúp người di
cư.
* Di dân tự phát: Di dân không có tổ chức hoặc di dân tự phát đã trở
thành một hiện tượng kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Hình thái di dân này mang
tính các nhân do bản thân người di chuyển hoặc gia đình quyết định, không phụ
thuộc vào kế hoạch, sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền. Di dân tự
phát phản ánh tính năng động, vai trị độc lập của cá nhân và gia đình trong việc
giải quyết đời sống, tìm cơng ăn việc làm.
Xét trên một phương diện nào đó, di dân tự phát có mặt tích cực và tiêu
cực. Vấn đề quan trọng là các chính sách vĩ mơ cần phát huy được tính tích cự,
11


hạn chế được tác động tiêu cực của di dân nói chung và di dân tự phát nói riêng.
Mặt tích cực của di dân tự phát có thể ghi nhận như sau:
+ Góp phần làm giảm sức ép về việc làm, nâng cao thu nhập, xố đói
giảm nghèo nơi xuất cư.
+ Góp phần vào việc bổ xung nhanh chóng nguồn lao động, đáp ứng nhu

cầu khai thác tài nguyên ở nơi mới định cư.
+ Người di dân tự do thường khá vững vàng về tâm lý, sẵn sàng chịu đựng
mọi khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định đời sống, xây dựng quê hương mới.
3. Các lý thuyết giải thích nguyên nhân chủ yếu của di dân.
3.1. Lý thuyết lực hút – lực đẩy.
Lý thuyết “lực hút - lực đẩy” của Everett S Lee (1966), xem xét sự di cư
của con người như sự thay đổi nơi cư trú trong những bối cảnh nhất định. Đó là
q trình bị chi phối bởi “sức hút” của nơi đến và “lực đẩy” của nơi đi. Everett S
Lee luận giải rằng, do “lực đẩy” của nơi ở, nơi có nhiều khó khăn, vất vả cho
cuộc sống của con người sở tại (nơi xuất cư) và do “lực hút” của nơi đến (nơi
nhập cư) có nhiều thuận lợi hơn, cơ hội sống và làm việc tốt hơn đã khách quan
tạo ra sự luân chuyển của các dịng di dân. Sau đó Pipton, Todaro và nhiều học
giả khác đã bổ sung, phát triển làm phong phú thêm lý thuyết và ứng dụng hữu
dụng trong những điều kiện và hoàn cảnh đa dạng khác nhau. Nhưng tất cả các
học giả vẫn nhất quán tư tưởng chủ đạo của lý thuyết “lực hút - lực đẩy” của
Lee.
Tiêu biểu cho lý thuyết lực hút và lực đẩy là: Pipton (1976). Khi nghiên
cứu những người di dân từ nông thôn ra đô thị đã chia họ ra làm hai nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là, những người nghèo khổ thiếu ruộng đất, ít học hành bị tác
động của “lực đẩy” ra khỏi vùng, đến các đô thị hoặc đến các vùng khác kiếm
kế sinh nhai. Nhóm thứ hai là, những người tương đối khá giả có học vấn

12


thường bị tác động của “lực hút” từ các vùng đơ thị hoặc các vùng có điều kiện
phát triển kinh tế lôi cuốn.3
Lực đẩy, là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị,
văn hóa…ở vùng xuất phát (vùng xuất cư) đang gây ra nhiều khó khăn cho
người dân ở đây. Đó là sự khơng đáp ứng được các nhu cầu sinh sống về vật

chất, tinh thần, về việc làm, sự khan hiếm về đất canh tác, tiền cơng ít… khiến
họ phải ra đi tìm kiếm một vùng đất mới đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của họ.
Lực hút, là những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội,
chính trị, văn hoá ở nơi đến (vùng nhập cư) đã cuốn hút người di dân ở nơi khác
di chuyển đến làm ăn sinh sống. Lực hút thường là khả năng có được việc làm,
thu nhập cao, thuận tiện trong sản xuất kinh doanh…và các điều kiện về giáo
dục đào tạo, y tế, hệ thống dịch vụ xã hội tốt hơn.
Có nhiều yếu tố tác động đến sự di dân. Động lực dẫn đến di dân bị chi
phối chủ yếu bởi các yếu tố như kinh tế, văn hoá, xã hội ở những cấp độ khác
nhau. Sự chênh lệch về mức sống và cơ hội phát triển giữa các vùng miền là
nguyên nhân dẫn đến quá trình di dân. ở cấp độ vi mô, người di chuyển ra đi với
hi vọng có được một cuộc sống tốt đẹp hơn tại nơi ở mới. Theo phân tích của
Todaro (1971) về vai trị của các nhân tố kinh tế trong di dân nông thôn – thành
thị, tác giả chỉ ra rằng giữa nông thơn và thành thị ln có những chênh lệch về
tiền lương. Chính sự khác biệt này đóng vai trị thúc đẩy sự di dân. Để có thể
tham gia vào thị trường lao động ở thành thị, người lao động chấp nhận tất cả
các cơng việc có thể làm được dù là nặng nhọc, ngắn hạn, không ổn định.
Những người di dân tiềm năng sẽ tính tốn và tiếp tục di dân khi mà tiền lương
của họ mong đợi ở thành thị vượt q thu nhập cơ bản của nơng nghiệp.
Có bốn nhóm yếu tố cơ bản quyết định việc ra đi của người di cư: đó là
những nhân tố cơ bản liên quan đến đầu đi, đầu đến, các trở lực trung gian ngăn

3 Hoàng

Văn Chức (2004): Di dân tự do đến Hà Nội - thực trạng và giải pháp quản lý, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.12 - 13.

13



cách giữa đầu đi và đầu đến, những yếu tố mang tính các nhân của người di
chuyển:
• Lực hút - đẩy, tại đầu đi và đầu đến:
* Các lực hút tại các vùng có dân chuyển đến bao gồm:
- Đất đai màu mỡ, tài ngun phong phú, khí hậu ơn hồ, mơi trường sống
thuận lợi hơn.
- Cơ hội sống thuận tiện, dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, điều kiện sinh
hoạt ổn định, có triển vọng cải thiện đời sống hơn.
- Mơi trường văn hố - xã hội tốt hơn nơi ở cũ.
* Các lực đẩy tại những vùng dân chuyển đi có thể là do:
- Điều kiện sống quá khó khăn, thu nhập thấp, khó kiếm việc làm.
- Đất canh tác ít, bạc màu, khơng có vốn và kỹ thuật để chuyển đổi
nghành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống.
- Mong muốn tìm đến vùng đất “hứa” có khả năng kiếm việc làm, tăng
thu nhập, học hành của con cái, muốn cải thiện đời sống.
- Do nơi ở cũ bị giải toả, di dời, xây dựng đường xá hay các cơng trình
cơng cộng.
Ngồi ra cịn có những nguyên nhân mang bản chất xã hội nhưng tồn tại ở
cấp các nhân như:
- Muốn gần gũi, liên hệ với thân nhân, đồn tụ gia đình.
- Bị mặc cảm, định kiến của xã hội không muốn ở lại cộng đồng nơi cư
trú, mong muốn đến nơi ở mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và xây dựng
các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn.
- Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hơn nhân, nghề
nghiệp, mức thu nhập,…quyết định tính chất tuyển chọn của di dân.
3.2. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý.
Xuất phát từ thuyết kinh tế vĩ mô, thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng các cá
nhân hành động có mục đích, có chủ ý, hành động được thực hiện để đạt mục
đích mà cá nhân đặt ra, cá nhân ln cân nhắc để thu được lợi ích cao nhất giá
14



trị của giải thưởng: nếu có sự ban thưởng mà có giá trị thì cá nhân có xu hướng
hành động dựa trên chi phí và lợi ích là cơ sở để cá nhân hành động, nếu cá nhân
được sự ban thưởng như mong đợi họ sẽ hài lòng và ngược lại.
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý được vận dụng để giải thích cho lý do di cư
của người lao động. Trong khi ở địa phương nơi xuất cư còn tồn tại những khó
khăn ở như: thiếu việc làm, thu nhập thấp, điều kiện tự nhiên khơng thuận lợi…
thì ở khu vực đơ thị lại có thuận lợi như: cơng việc đa dạng, phong phú, cơ hội
việc làm cao, thu nhập tương xứng với khả năng… Do đó, người lao động sẽ
luôn cân nhắc về quyết định di cư của mình sao cho hành động đó đạt được kết
quả cao nhất. Chính vì những lợi ích, điều kiện hấp dẫn ở đô thị đã tác động đến
hành vi di cư của người lao động sau khi đã được họ cân nhắc, tính tốn nhằm
đạt được mục đích mà họ đề ra.
4. Ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
4.1. Ảnh hưởng của nhập cư.
* Tích cực:
- Người nhập cư góp phần phát triển kinh tế - xã hội làm tăng GDP và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng cơ cấu nghề cho vùng nhập cư làm thúc đẩy
phát triển các ngành dịch vụ, làm cho người dân dễ tiếp cận được với các dịch
vụ.
- Góp phần điều tiết giá cả lao động trên thị trường lao động.
- Di dân ảnh hưởng lớn đến sự phát triển dân số: Thể hiện ở quy mô dân
số, ngồi ra di dân khơng chỉ ảnh hưởng đến quy mơ dân số mà cịn ảnh hưởng
đến cơ cấu dân số. Những cơ cấu dân số có thể chịu ảnh hưởng nhiều nhất của di
dân là cơ cấu tuổi, cơ cấu giới tính và cơ cấu theo trình độ học vấn.
- Di dân gián tiếp tác động đến các chỉ tiêu dân số học, trong đó trước hết
phải kể đến sinh, chết và hơn nhân. Cụ thể là dịng di dân từ nơng thơn - thành
thị thường là có mức sinh giảm và độ tuổi kết hơn muộn hơn. Di dân cũng góp
phần phân bố lại dân cư và lao động di dân là nguồn cung cấp nhân lực cho các

ngành kinh tế, đặc biệt trong ngành công nghiệp và dịch vụ.
15


- Thành phần di dân vào nơi nhập cư rất đa dạng, người di dân có những
nét văn hóa riêng. Vì vậy, khi di chuyển đến vùng đất mới, chính những người di
dân đã góp phần làm cho nền văn hóa của nơi đến trở nên đa dạng và phong phú
hơn.
* Tiêu cực:
- Làm gia tăng dân số nhanh, đặc biệt là ở các đô thị sẽ làm tăng gánh
nặng về kinh tế - xã hội, làm cho cơ sở hạ tầng trở nên quá tải. Các điều kiện về
cơ sở hạ tầng như nhà ở, trường học, bệnh viện, đường xá,...và các điều kiện
khác chưa thể đáp ứng được.
- Di dân từ nông thôn - thành thị đã làm cho diện tích đất đơ thị ngày càng
mở rộng, việc đó cũng đồng nghĩa với lại sự lấn chiếm một phần lớn đất nông
nghiệp để làm nhà ở, nhà kho, cơng xưởng, đường xá,...
- Vì q nhiều người nhập cư đến sinh sống nên việc ô nhiễm môi trường
cũng không thể tránh khỏi. Nhưng người dân vẫn chưa có thói quen giữ gìn vệ
sinh và tham gia các hoạt động cộng đồng.
- Người di dân làm việc ở khu vực phi chính thức hay thay đổi chỗ làm
việc và chỗ ở, số người khơng đăng kí tạm trú rất nhiều. Điều này gây khó khăn
cho cơng an trong việc quản lí trật tự, an ninh khu vực.
4.2. Ảnh hưởng của xuất cư.
* Tích cực:
- Góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương nơi đi qua đó làm
thay đổi bộ mặt làng quê ở nơi đi. Ảnh hưởng tích cực của người di dân đối với
gia đình và địa phương nơi đi được đánh giá qua số tiền gửi về gia đình, sử dụng
tiền gửi của gia đình vào phát triển kinh tế, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho
các thành viên trong gia đình và đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương.
- Góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho vùng xuất cư, phổ

biến lối sống văn minh đô thị và phong cách làm việc nhanh nhẹn của người
thành thị.
16


- Giảm đói nghèo, giảm sự cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên, tạo điều
kiện phát triển, bảo vệ nguồn tài nguyên ở nơi xuất cư.
* Tiêu cực:
- Di dân nơng thơn – đơ thị có thể dẫn đến việc bỏ hoang đất sản xuất.
- Thiếu lao động tại địa phương nơi đi: Lao động trẻ, khỏe, trong độ tuổi
xung mãn nhất đã rời khỏi quê hương, để lại người già và trẻ em. Khi người di
dân tìm việc làm một cách ồ ạt, góp phần tạo nên sự đơ thị hóa quá mức cho
phép sẽ dẫn đến quá tải cơ sở hạ tầng, thiếu chỗ ở, trường học, bệnh viện,...ở nơi
đến.
- Một số ảnh hưởng tiêu cực nữa cần phải kể đến là :
+ Một số nữ thanh niên đã có quan hệ tình dục tiền hơn nhân và mang
thai ngoài giá thú. Số nữ thanh niên này quay về quê cũ tìm sự giúp đỡ của gia
đình. Làm cho gia đình ở nơi đi khơng chỉ chịu thiệt thịi về kinh tế mà cịn là
gánh nặng tâm lí đối với họ.
+ Nhiều thanh niên di dân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục,
HIV/AIDS tạo ra gánh nặng về chăm sóc về y tế, về tinh thần cho gia đình.
+ Nhiều trẻ em đã chịu những cú sốc tâm lí khi cha mẹ di dân tìm việc
làm ở nơi khác khơng thể chăm sóc chúng hàng ngày.
+ Một số cặp vợ chồng đã ly hôn sau thời gian xa cách vì nhiều lí do:
khơng cịn phù hợp về lối sống, nghi ngờ lẫn nhau…

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ DI DÂN VÀ NHỮNG ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH
BÌNH DƯƠNG.
1. Hiện trạng nhập cư ở tỉnh Bình Dương.

1.1. Quy mơ và cơ cấu dân nhập cư tại Bình Dương.
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam. Phía Đơng giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình
Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía
17


Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai. Theo kết quả của
cuộc tổng điều tra dân sơ và kế hoạch hóa gia đình thì dân số tồn tỉnh Bình
Dương năm 2014 là 1.873.558 người, ước tính đến cuối năm 2015 là 1.918.558
người. Tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2011-2015 là 1,03%/năm, thấp
hơn so với giai đoạn 2005-2010 là 0,04%. Từ đó, có thể nhận thấy được Bình
Dương đang có tỉ lệ gia tăng dân số rất nhanh.
Bình Dương đang là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút nhiều
vốn đầu tư nước ngoài, mở rộng xây dựng các khu cơng nghiệp, cụm cơng
nghiệp nên từ đó nhu cầu về nguồn lao động tăng cao đã tạo lực hút các dịng di
cư vào tỉnh Bình Dương. Dẫn đến các luồng dân nhập cư vào Bình Dương với
quy mơ lớn và rất đa dạng, theo số liệu dân nhập vào Bình Dương năm 2009 –
2011 thì vùng có số dân nhập cư cao nhất là đồng bằng sông Cửu Long với
309.103 người, chiến tỉ lệ 41,1%, tiếp theo đó là các vùng Bắc Trung Bộ và
Duyên hải Nam Trung Bộ với 214.304 người, chiếm tỉ lệ 28,5%. Đông Nam Bộ
với 108.824 người, tỉ lệ là 14,5. Thấp nhất là Tây Nguyên với 21.428 người, tỉ
lệ là 2,9%. Có thể thấy cự li di chuyển gần ngày càng chiếm ưu thế hơn.
Quá trình đơ thị hóa diễn ra mạnh mẽ với sự ra đời của hàng loạt các khu
công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở dịch vụ tăng lên. Để phát triển kinh tế
theo hướng cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, hàng loạt các khu cơng nghiệp ở tỉnh
Bình Dương đã được thành lập. Tính đến năm 2015, Bình Dương đã có 29 khu
cơng nghiệp4 được thành lập với diện tích 9.425ha, trong đó có 27 khu cơng
nghiệp đã chính thức đi vào hoạt động với tổng diện tích là 8.870ha (Ủy ban
Nhân dân tỉnh Bình Dương, 2014). Điều này cho thấy, hàng năm nhu cầu tuyển

dụng lao động làm việc tại các khu cơng nghiệp tỉnh Bình Dương là rất lớn, và
đây cũng là một lực hút rất lớn, thu hút được lương người nhập cư về đây làm
việc với mong muốn cải thiện cuộc sống, cải thiện kinh tế hộ gia đình.

Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương. 2014. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 của
tỉnh Bình Dương
4

18


Với nhiều điều kiện thuận lợi, qua đó có thể khẳng định được tỉnh Bình
Dương là nơi thu hút được nhiều cư dân khắp mọi miền đất nước đến đây sinh
sống và làm việc. Đặc biệt, trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa diễn
ra ngày càng mạnh mẽ, với nhiều khu công nghiệp, khu đô thị hiện đại đang
được đầu tư xây dựng đã tạo thêm nhiều việc làm với nguồn thu nhập cao đã thu
hút được nguồn lao động từ khắp mọi miền đất nước.
1.2. Nguyên nhân người nhập cư di chuyển vào Bình Dương.
Bình Dương là tỉnh đang có tốc độ phát triển nhanh, đặc biệt là phát triển
các khu cơng nghiệp, vì vậy nên nhu cầu về lao động rất lớn. Và đây cũng được
xem là lực hút đối với những người lao động đang mắc phải tình trạng thiếu việc
làm hoặc cơng việc có nguồn thu nhập khơng ổn định. Phần lớn số người nhập
cư vào tỉnh là những người trong độ tuổi lao động đa số từ 15 – 30 tuổi, có sức
khỏe, năng động và có khả năng thích nghi, hịa nhập với cuộc sống mới. Như
vậy, ta có thể thấy số người di dân vào Bình Dương cịn đang ở độ tuổi rất trẻ
chủ yếu là trong độ tuổi lao động vì một số lí do, điều kiện cuộc sống mà họ
phải di cư để tìm được một cơng việc làm phù hợp hơn được thể hiện (bảng 1)
sau đây:
Khu cơng nghiệp
Sóng Thần

VSIP

Mỹ Phước
Tất cả mẫu
Lí do
Số
Số
Tỉ
Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ
ngườ
ngườ lệ
(%) người (%) người (%)
i
i
(%)
Lí do di chuyển đến Bình Dương
Khơng có việc làm ở q

88

26

61

18,5

71

22,6


220

22,7

Thu nhập ở q thấp
Khơng có hoặc thiếu đất
sản xuất
Theo người thân / bạn bè

107

31,7

125

40,3

131

40,3

363

37,4

21

6,2

11


4,1

18

5,7

50

5,2

59

17,5

45

16,8

48

15,3

152

15,7

29

8,6


24

9

20

6,4

73

7,5

34

10,1

42

15,7

36

11,5

112

11,5

Khơng phù hợp với chỗ

làm trước
Lí do khác...

19


Tổng cộng

338

100

330

100

324

100

970

100

Bảng 1: Nguyên nhân di chuyển khỏi nơi cư trú của người lao động nhập cư
điều tra phân theo khu công nghiệp.
( Nguồn: Số liệu điều tra của Liên đồn Lao động tỉnh Bình Dương,
tháng 5-11/2009)
Theo kết quả điều tra cho thấy, lao động nhập cư từ khắp nơi trong nước
di chuyển đến Bình Dương vì nhiều nguyên nhân trong đó đa phần là nguyên

nhân kinh tế, do ở q việc làm có thu nhập thấp (37,4%) hoặc khơng có việc
làm (22,7%) đây cũng một phần nào đó giải thích được nguyên nhân về kinh tế
là yếu tố chính tác động đến việc di cư. Bình Dương là tỉnh có nhiều khu cơng
nghiệp nên người di dân theo bạn bè người thân vào đây lập nghiệp (15,7%), vì
họ tin tưởng vào mối quan hệ quen biết sẽ giúp họ có được một cơng việc như
mong muốn, mà khơng phải vào các trung tâm giới thiệu việc làm với các khoản
phí mà họ phải chi trả để có thể có được một cơng việc thu nhập ổn định. Cũng
có nhiều trường hợp người nhập cư đến Bình Dương là do không phù hợp với
việc làm trước đây ở nơi khác (7,5%). Thành phần di dân tìm việc làm để tự lập
hoặc kiếm tiền để đi học thêm, hoặc đi làm để có thu nhập gửi về phụ giúp gia
đình hay khơng có đất sản xuất nơng nghiệp ở q, có người theo công ty
chuyển công tác từ nơi khác đến Bình Dương. Trong số lao động nhập cư thì chủ
yếu là lao động trẻ, vì họ được cho là có thể dễ dàng thích nghi với mơi trường
làm việc mới, và cũng được xem là lao động chính trong gia đình, là người tạo
nguồn thu nhập chính để ni gia đình.
1.3. Nơi ở và điều kiện sinh hoạt của người nhập cư.
Theo kết quả điều tra dân sô và nhà ở giữa kỳ 2014, nhà ở của hộ được
chia thành 4 loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ.
Nhà kiên cố là nhà có cả ba kết cấu chính: cột (trụ hoặc tường chịu lực), mái,
tường hoặc bao che đều được làm bằng vật liệu bền chắc. Nhà bán kiên cố là
nhà có hai trong ba kết cấu chính được làm bằng vật liệu bền chắc. Nhà thiếu
kiên cố là nhà có một trong ba kết cấu chính được làm bằng vật liệu bền chắc.
20


Nhà đơn sơ là nhà mà cả ba kết cấu chính đều được làm bằng vật liệu khơng bền
chắc. 5Hầu như người nhập cư ở nhà bán kiên cố tại nơi đến, họ chỉ thuê hoặc
mướn những căn nhà vừa phải phù hợp với khả năng kinh tế của họ. Một phần
do sự tập trung của người di cư tại một số nơi kinh tế phát triển mạnh, đặc biệt là
gần các khu công nghiệp, nhu cầu nhà ở của người di cư cao, trong khi đó nguồn

nhà ở khơng đáp ứng được nhu cầu hoặc chi phí mua, thuê ở nơi nhập cư quá
cao, người di cư phải chấp ở những chỗ có diện tích nhỏ hoặc sống đơng đúc ví
dụ như nhà trọ, các khu nhà ở tập thể cho cơng nhân,...những nơi đó có điều
kiện sống rất eo hẹp và tù túng. Chỉ một phần công nhân có điều kiện kinh tế
khá hơn, họ sẽ chọn ở những khu nhà trọ sạch sẽ, có nước sạch, hệ thống an
ninh,...như vậy có thể giúp họ an tâm hơn khi đi làm.
1.4. Trình độ lao động của người nhập cư.
Theo số liệu Báo cáo ước kết quả thực hiện năm 2014 và phương hướng
nhiệm vụ năm 2015 của Ban Quản lý các khu cơng nghiệp tỉnh Bình Dương, tỷ
lệ lao động phổ thông ở các khu công nghiệp rất cao, chiếm 83,7%. Lao động có
trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm tỷ lệ 8,3% và đại học 7,8%. Như vậy, phần
lớn lao động ở các khu công nghiệp là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo.
Bên cạnh lao động đã tốt nghiệp trung học phổ thông và trung học cơ sở,
cịn có một số lượng khơng nhỏ lao động chưa tốt nghiệp tiểu học. Tuy có trình
độ học vấn thấp nhưng số lao động này vẫn kiếm được việc làm, vì phần lớn các
doanh nghiệp tuyển dụng khơng có bất cứ u cầu nào về trình độ. Người lao
động chỉ cần biết đọc, biết viết, trong độ tuổi từ 18-25, có sức khỏe là được
tuyển dụng. Bởi theo các doanh nghiệp, quy trình và cơng việc trực tiếp sản xuất
của họ khá đơn giản. Sau khi tuyển dụng, doanh nghiệp sẽ trực tiếp đào tạo lao
động trong một tháng, đây cũng chính là thời gian thử việc. Đa phần các lao
động này sau thời gian thử việc đều nắm bắt được cơng việc và quy trình sản
xuất. Cũng theo doanh nghiệp, dù người lao động đã qua đào tạo hoặc đã có
Cách phân loại này tương tự như cách phân loại nhà ở đã được áp dụng trong Tổng điều
tra dân số năm 2009.
5

21


kinh nghiệm thì sau khi tuyển dụng, doanh nghiệp cũng phải đào tạo lại. Cho

nên với đa phần các doanh nghiệp tuyển dụng lao động, thì yếu tố trình độ và
kinh nghiệm chỉ là yêu cầu thứ yếu khi họ tuyển chọn lao động trực tiếp, còn
yếu tố quyết định chính là sức khỏe và độ tuổi lao động (xem Bảng 2).
Trình độ

2011

2012

2013

2014

Phổ thơng6

77,8%

81,5%

82,2%

83,7%

Trung cấp

12,4%

10,7%

9,5%


8,3%

Đại học

5,6%

7,1%

7,8%

7,8%

Trình độ khác
4,2%
0,7%
0,5%
0,2%
Bảng 2: Trình độ học vấn của lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Bình
Dương từ năm 2011 – 2014.
( Nguồn: Báo cáo sử dụng lao động của Ban Quản lý các khu cơng
nghiệp tỉnh Bình Dương các năm 2011, 2012, 2013, 2014)
Theo Bảng 2, trình độ học vấn và tay nghề của lao động làm việc tại các
khu công nghiệp đã có nhiều biến động. Chỉ trong 4 năm, số lao động phổ thông
đã tăng 5,9 điểm% và ngược lại, số lao động có trình độ trung cấp lại giảm 4,1
điểm%. Điều này cho thấy trong thời gian qua, số lượng lao động trực tiếp
không qua đào tạo đã tăng cao hơn nhiều so với số lao động trực tiếp được đào
tạo. Mặc dù số lượng lao động trình độ đại học đã tăng 2,2 điểm%, nhưng phần
lớn các lao động này đảm nhiệm các vị trí quản lý hay kỹ sư chứ không phải
thành phần trực tiếp sản xuất. Do đó, có thể nói từ năm 2011 đến năm 2014,

trình độ sản xuất của các doanh nghiệp đã khơng có nhiều thay đổi và tiến bộ,
chủ yếu vẫn là thâm dụng sức lao động.
2. Tình hình xuất cư từ Bình Dương đi các tỉnh thành khác.
Những người xuất cư từ Bình Dương chủ yếu di chuyển đến các tỉnh lân
cận, đặc biệt trong thời kì hiện đại khi giao thơng vận tải, thông tin liên lạc phát
triển trở nên rất thuận tiện thì vấn đề khoảng cách khơng cịn là trở ngại lớn nữa.
Số người xuất cư trong năm 2009 – 2011 khơng chỉ di chuyển với khoảng cách
6 Trình

độ phổ thơng ở đây được tính theo mức học vấn từ lớp 1 đến lớp 12.

22


gần là hai vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỉ lệ lần
lược là 34,3%, 13,3%. Ngồi ra họ cịn di chuyển với khoảng cách xa hơn như
Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ với tỉ lệ 34,3%, phần lớn các trường
hợp xuất cư khỏi Bình Dương là những người quay về quê cũ và do gặp khó
khăn về điều kiện sống vật chất đặc biệt là vấn đề nhà ở.
3. Ảnh hưởng của di dân đến sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình
Dương
3.1. Ảnh hưởng tích cực
* Cung cấp nguồn lao động cho nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh Bình
Dương, đồng thời góp phần thay đổi cơ cấu lao động.
Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Bình Dương có sự phát triển mạnh
mẽ với sự ra đời và mở rộng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp…nên nhu
cầu lao động tăng nhanh, đa số lao động ở các khu cơng nghiệp tỉnh Bình Dương
là lao động trẻ, có khả năng thích nghi và đáp ứng u cầu làm việc với cường
độ cao trong môi trường công nghiệp.
Phần lớn dân cư di chuyển đến Bình Dương đã đáp ứng nhu cầu nhân lực

đa dạng cho tỉnh, tập trung chủ yếu trong các ngành công nghiệp nhẹ như giày
da, may mặc, các ngành dịch vụ. Vì vậy hàng năm tỉnh tạo thêm được một khối
lượng việc làm tương đối lớn cho số lao động tăng thêm trên địa bàn tỉnh và lao
động nhập cư trong các ngành kinh tế, đặc biệt là lao động ngành công nghiệp
dệt may, chế biến, dịch vụ,...Sự thay đổi cơ cấu lao động có việc làm trong các
khu vực kinh tế theo hướng giảm tỉ lệ dân số có việc làm trong ngành nơng
nghiệp, tăng tỉ lệ lao động có việc làm phi nơng nghiệp đã góp phần tăng nhanh
tăng năng suất lao động trong các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ, thúc đẩy
sự phát triển kinh tế. Di dân cũng có ảnh hưởng không nhỏ trong việc phân bố
lại lực lượng sản xuất, nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế.
* Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và xuất nhập khẩu sản phẩm.
Người lao động nhập cư vào tỉnh Bình Dương có địa bàn xuất cư là từ hầu
hết các tỉnh thành trong cả nước, chính sự tập trung lao động từ nhiều địa
23


phương đã tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội trao đổi học hỏi kinh
nghiệm sản xuất, từ đó nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm,
góp phần tăng tính năng động và nhạy bén hơn cho lao động và cho nền kinh tế
tỉnh Bình Dương.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2014 ước thực hiện 17.741,9 triệu USD. Trong
đó, khu vực kinh tế trong nước 3.123,3 triệu USD, tăng 17,5%; khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài 14.618,6 triệu USD, tăng 17,4%. Khu vực FDI tiếp tục
duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng xuất khẩu
của tỉnh. Có 17/19 nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu tăng so với cùng kỳ, trong đó
có 12 nhóm hàng có kim ngạch tăng trên 10%, tập trung một số mặt hàng chính
như: Sản phẩm gỗ: đạt 2.033 triệu USD, tăng 10,7% so cùng kỳ; hàng dệt may:
2.030 triệu USD, tăng 18,1%; hàng giày da: 1.468 triệu USD, tăng 21,5%; gốm
sứ: 110,2 triệu USD, tăng 3,4%; v.v… Riêng mặt hàng mủ cao su kim ngạch
xuất khẩu năm 2014 ước đạt 101.630,8 tấn, giảm 40,1% so cùng kỳ.

Kim ngạch nhập khẩu thực hiện 13.732,7 triệu USD, tăng 17,7% so với
cùng kỳ, trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tăng 15,2%. Các mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu sản xuất và máy móc thiết bị, phụ tùng.
* Góp phần nâng cao đời sống và đẩy nhanh quá trình đơ thị hóa.
Q trình cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa phát triển làm cho người dân có
điều kiện sống ổn định hơn, con người phải học cách làm việc đạt được hiệu quả
cao, sử dụng các thiết bị, máy móc tiên tiến, khơng ngừng học tập và trau dồi
kiến thức cho bản thân.
Bên cạnh đó việc đẩy mạnh, nâng cao q trình đơ thị hóa cũng diễn ra
mạnh mẽ. Sự di dân đã góp phần tăng nhanh tốc độ tăng dân số đơ thị qua các
năm, góp phần phân công lại lao động, nâng cao mức thu nhập cũng như chất
lượng cuộc sống của người dân. Góp phần nhất định trong việc phổ biến lối
sống đô thị vào nông thôn. Hiện nay, số người nhập cư tăng nhanh tập trung chủ
yếu ở thành phố. Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, Thuận An, Bến Cát do tập trung
nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các ngành dịch vụ phát triển đã làm
24


cho q trình đơ thị hóa của tỉnh Bình Dương trong những năm gần đây diễn ra
mạnh mẽ hơn.
* Làm phong phú và đa dạng nền văn hóa cho tỉnh Bình Dương.
Người nhập cư vào tỉnh từ khắp mọi miền đất nước đã mang theo những
phong tục tập quán khác nhau, làm tăng thêm nét văn hóa phong phú đa dạng
cho tỉnh. Trên địa bàn Bình Dương có khoảng 15 dân tộc, nhưng đơng nhất là
người Kinh và sau đó là người Hoa, người Khmer,... người Hoa tập trung chủ
yếu ở các huyện phía Nam nhất là ở TP. Thủ Dầu Một, phường Lái Thiêu
(Thuận An). Mỗi dân tộc đều mang một nét văn hóa riêng, trong q trình sinh
sống, lao động sản xuất, mọi người trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau, tiếp
thu những nền văn hóa tốt đẹp từ nhau. Từ đó góp phần làm đa dạng thêm nền
văn hóa của tỉnh.

3.2. Ảnh hưởng tiêu cực
* Dân số tăng làm cho cơ sở hạ tầng trở nên quá tải, xuống cấp.
Các điều kiện về cơ sở hạ tầng như nhà ở, trường học, bệnh viện, điện,
nước, đường xá,...và các điều kiện khác hiện chưa thể đáp ứng được tốt khi số
lượng nhập cư ngày một tăng nhanh vào tỉnh. Đặc biệt là vấn đề xung quanh về
chỗ ăn, ở cho người nhập cư trong các khu công nghiệp. Đây là một trong những
mối bận tâm rất lớn của những nhà làm chính sách cũng như cộng đồng xã hội.
Theo số liệu thống kê khảo sát của Liên đồn lao động tỉnh Bình Dương năm
2010 về vấn đề nhà ở cho người lao động nhập cư tại thị xã Thuận An, Bình
Dương cho thấy với 6.251 cơ sở cho th phịng trọ thì có đến 42% khơng đảm
bảo về tiêu chuẩn xây dựng, diện tích và dụng cụ phịng cháy chữa cháy. Ngay
cả khu cơng nghiệp VSIP là một trong những khu cơng nghiệp điển hình và
được xem là tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay thì vấn đề quy hoạch nhà ở cho
người lao động vẫn còn nhiều điều phải bàn. Đa phần, người lao động nhập cư
phải tự lo chỗ ở.
Tình trạng điện sinh hoạt của lao động ở các khu nhà trọ hiện nay cũng
được cải thiện hơn. Tuy nhiên vào các giờ cao điểm, xảy ra tình trạng mất điện
25


và giá điện phải trả khá cao và chưa có sự thống nhất chung, giá điện bình dân
tại các khu nhà trọ từ 3000 – 4000 đồng/kwh và trên 4000 đồng/kwh.
Nước sạch là nhu cầu rất cần thiết cho sinh hoạt cá nhân, tuy nhiên vấn đề
nước sạch đối với người dân cịn thiếu trầm trọng. Chất lượng nước khơng sạch
và bị phèn. Hệ thống thiết bị nước ở các khu nhà trọ cho lao động nhập cư phần
lớn là sử dụng chung, còn ở các khu nhà trọ mới được xây dựng có hệ thống
nước riêng trong các phịng, tuy nhiên tiền nước phải trả với giá rất cao trung
bình từ 5000 – 7000 đồng/m3 và trên 7000 đồng/m3.
* Gây ô nhiễm môi trường và mất an ninh trật tự .
Hiện nay, mỗi ngày trên địa bàn tỉnh Bình Dương có khoảng 400 tấn rác

thải rắn thải ra. Trong số đó, có khoảng 40 - 60 tấn chất thải nguy hại chưa được
thu gom và xử lý. Bên cạnh đó có khoảng 100 tấn rác thải cơng nghiệp thải ra
mỗi ngày. Riêng ở thị xã Thuận An, mỗi ngày khoảng 50 tấn rác thải sinh hoạt.
Còn tại TP.Thủ Dầu Một mỗi ngày cũng có khoảng 140 tấn rác thải sinh hoạt.Ơ
nhiễm mơi trường ngày càng tăng là do ý thức bảo vệ mơi trường của người dân,
các tổ chứcđồn thể chưa cao. Trang thiết bị và phương tiện nhân lực phục vụ
cho việc thu gom và xử lý rác thải không được đầu tư tương xứng. Sự gia tăng
quá nhanh và mạnh các khu công nghiệp, khu chế xuất làm cho việc quản lý hệ
thống chất thải từ các khu công nghiệp chưa được hiệu quả. Thiếu vốn đầu tư
cho công tác bảo vệ môi trường, công tác quản lý rác thải còn nhiều bất cập,
chưa đồng bộ.
Bên cạnh đó, vẫn cịn khó khăn trong việc quản lý số lượng người dân
tham gia đăng ký đổ rác tại các đơn vị còn chưa được nhân rộng. Người dân tự ý
đổ ra lề đường, khiến rác tràn ngập, mất mỹ quan đơ thị. Bài tốn rác thải ở Bình
Dương hiện nay vẫn đang chờ các ngành chức năng tìm ra lời giải. Theo thống
kê, lượng rác trên toàn địa bàn tỉnh Bình Dương tăng trên dưới 20% mỗi năm và
lượng rác thải chưa được kiểm sốt cũng tăng khơng ít.Thực tế cho thấy với
công suất thiết kế như hiện nay, khi lượng rác ngày càng gia tăng thì nguy cơ
dẫn đến ô nhiễm rác thải trong thời gian tới là điều không thể tránh khỏi.
26


Vấn đề mất an ninh trật tự nơi sinh sống, đặc biệt là các khu nhà trọ dành
cho công nhân. Vì một số người nhập cư khơng đăng kí đầy đủ các thủ tục,
khiến cho việc quản lí trở nên khó khăn. Các vấn đề nổi cộm trong xã hội như
vận chuyển hàng cấm, kinh doanh trái phép, cho vay nặng lãi,…và các tệ nạn xã
hội khác tăng cao như ma túy, mại dâm,…những việc làm xấu, trái với pháp luật
đó có ảnh hưởng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội tỉnh Bình Dương.
* Lao động chưa qua đào tạo và có chun mơn thấp.
Mặc dù lao động tại các khu cơng nghiệp tỉnh Bình Dương đa số là lao

động trẻ, nhưng trình độ học vấn và chuyên môn thấp. Do các khu công nghiệp
tập trung phần lớn các ngành như may mặc, giày da, bao bì, lắp ráp điện tử có
thao tác lao động giản đơn, khơng phức tạp, khơng địi hỏi có trình độ học vấn
cao, nên đa phần người lao động chỉ mới tốt nghiệp phổ thơng, thậm chí có
những người chỉ biết đọc, biết viết. Bên cạnh đó, vì mục tiêu lợi nhuận, các
doanh nghiệp cũng muốn sử dụng lao động chưa qua đào tạo để giảm tải chi phí
sản xuất. Khi muốn gia tăng sản lượng, họ thường tuyển dụng thêm lao động
phổ thơng, vì như vậy chi phí vẫn ít hơn so với đầu tư vào máy móc và cơng
nghệ. Do đó, việc thay đổi công nghệ kỹ thuật và nâng cao chất lượng lao động
ít có triển vọng trong tương lai gần. Vì chủ yếu là tuyển dụng lao động phổ
thơng nên sau đó hầu như các doanh nghiệp phải tự đào tạo lại để đáp ứng nhu
cầu sản xuất, kinh doanh của mình. Phương thức đào tạo của các doanh nghiệp
chủ yếu là “cầm tay chỉ việc”, chỉ nhằm hướng dẫn người lao động nắm bắt
được từng công việc cụ thể theo yêu cầu của doanh nghiệp. Nếu có sự chuyển
đổi công việc khác, doanh nghiệp tuyển dụng lao động mới và người lao động
phải được đào tạo lại từ đầu.
Khơng chỉ có lao động phổ thơng khi mới tuyển dụng không đáp ứng
được yêu cầu của doanh nghiệp mà kể cả các lao động có trình độ, qua trường
lớp đào tạo bài bản cũng không đáp ứng được yêu cầu. Nguyên nhân là do
chương trình đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học chỉ dựa trên lý thuyết sách
vở, sinh viên ít có cơ hội tiếp xúc với công nghệ, dây chuyền sản xuất thực tế.
27


×