ĐỀ TÀI Vận dụng tư tưởng HCM về độc lập dân tộc vào đấu tranh bảo vệ chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ
CHƯƠNG I: LỜI MỞ ĐẦU
Sáu mươi chín năm trước, vào mùa thu năm 1945, nhân dân Việt Nam, dưới
ngọn cờ của Ðảng, đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại trong lịch sử
nước nhà: đập tan xiềng xích của chế độ thực dân, phong kiến; giành lại nền độc
lập dân tộc; khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa, Nhà nước của nhân
dân và vì nhân dân; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất
nước, làm chủ vận mệnh của mình. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh
trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập, tự do và khẳng
định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng
và của cải để bảo vệ nền tự do, độc lập ấy.
Gần 70 năm qua, nhân dân ta đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách để
xây dựng, phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, như lời Bác Hồ dạy:
nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng
khơng có ý nghĩa gì. Ðồng thời, nhân dân ta cũng đã phải hy sinh biết bao xương
máu, đánh bại mọi kẻ thù xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do, chủ quyền, thống
nhất, tồn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Vì vậy, Đây là lý do chính mà em muốn làm một bài tiểu luận về đề tài “Vận
dụng tư tưởng HCM về độc lập dân tộc vào đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ”
CHƯƠNG II:PHẦN NỘI DUNG
1 Quan điểm HCM về độc lập dân tộc
1.1 độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm
lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh : độc
lập , tự do luôn là khao khát lớn nhất to lớn, là mong muốn và giá trị tinh thần
thiêng liêng của dân tộc.
đầu năm 1919, các nước Đồng minh thắng trận trong chiến tranh thế giới
thứ nhất họp hội nghị Vécxây. Hồ Chí Minh đang gửi tới hội nghị bản yêu sách
của nhân dân An Nam, với 2 nội dung chính là địi quyền bình đẳng về mặt
pháp lý và đòi các quyền tự do dân chủ. tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền các
dân tộc thuộc địa mà trước hết là quyền bình đẳng và tự do đã xuất hiện. Căn
cứ vào những quyền tự do bình đẳng và quyền con người đã được ghi trong bản
Tuyên ngôn độc lập của cách mạng Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, Hồ Chí Minh khẳng định được
những giá trị thiêng liêng bất biến về quyền dân tộc
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trong tuyên ngơn độc lập, Hồ
Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tiên bố trước Quốc hội đồng bào và thế
giới về quyền hưởng tự do và độc lập của Việt Nam.
năm 1965, đế quốc Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh ở Việt Nam Nam:
chiến tranh cục bộ và chiến tranh phá hoại miền Bắc. trong hồn cảnh đó, Hồ
Chí Minh đã nêu lên chân lý thời đại, một tuyên ngôn bất hủ của dân tộc khao
khát nền độc lập tự do trên thế giới " khơng có gì q hơn độc lập tự do"
1.2 độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân
dân
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do của nhân dân thể
hiện qua:
người đánh giá cao học thuyết Tam Dân của Tôn Trung Sơn về độc lập và
tự do: dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.
tiếp cận với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp
năm 1791, Hồ Chí Minh khẳng định dân tộc Việt Nam Đương nhiên cũng phải
được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, người cũng đã xác định rõ ràng mục tiêu
của đấu tranh của cách mạng là làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập
tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 thành công, Nhà Nước được độc lập và
một lần nữa Hồ Chí Minh khẳng định độc lập phải gắn liền với tự do
1.3 độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn, triệt để
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự hoàn toàn và triệt để
trên các lĩnh vực. người nhấn mạnh: độc lập mà người dân khơng có quyền tự
quyết về ngoại giao, khơng có qn đội riêng, khơng có nên tài chính riêng ....thì
độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì
1.4 Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc , dân tộc ta luôn đứng trước âm mưu
chia cắt đất nước của kẻ thù. thực dân Pháp khi xâm lược nước ta chia đất nước ta
ra thành 3 Kỳ. sau cách mạng tháng 8, miền Bắc nước ta thì bị quân Tưởng Giới
Thạch chiếm đóng, miền Nam thì thực dân Pháp xâm lược và sau khi độc chiếm
hoàn toàn Việt Nam, một lần nữa Thực dân Pháp lại bày ra cách gọi là" Nam Kỳ tự
trị " Hòng chia cách đất nước ta một lần nữa. trong hồn cảnh đó , Hồ Chí Minh
tiếp tục kiên trì đấu tranh để thống nhất tổ quốc. có thể khẳng định rằng, tư tưởng
độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ là tư tưởng
xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
2. Thực trạng Vận dụng tư tưởng HCM về độc lập dân tộc vào đấu tranh bảo vệ
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
Khu vực biên giới, vùng biển, đảo nơi biên cương Tổ quốc có vị trí địa chiến
lược rất quan trọng, là "tuyến đầu", "cửa ngõ", là bức tường vững chắc của lãnh thổ
quốc gia chở che cho đất nước ta hàng nghìn năm sinh tồn, phát triển. Bởi vậy, cần
phải có phương lược, kế sách biên phòng chặt chẽ, chu đáo để ln giữ bình n
cho đất nước phát triển.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và
bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo quốc gia. Người thường xuyên nhắc nhở:
"Tăng cường quan hệ, hữu nghị với các nước láng giềng bằng nhiều hình thức
ngoại giao nhà nước đến việc thiết lập quan hệ với chính quyền và nhân dân các
địa phương sống chung cùng đường biên giới, giải quyết xung đột bằng đàm phán
thương lượng", để xây dựng biên giới, vùng biển, đảo hịa bình, hữu nghị vững
chắc lâu dài.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới,
vùng biển, đảo của Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta đã coi trọng và chủ động thiết lập
quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước có chung đường biên giới, vùng biển đảo
với nước ta. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác hội nhập quốc
tế và đối ngoại về quốc phòng, an ninh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
mang tính đột phá, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc (BVTQ) xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trước xu thế hội nhập quốc tế, để phát triển và thực hiện mục tiêu
chiến lược: "ổn định lâu dài biên cương quốc gia", việc tiếp tục quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng biên giới hịa bình, hữu nghị, bền vững có ý nghĩa quan
trọng, góp phần tạo môi trường ổn định phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội đất nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Đây cũng là
điều kiện, giải pháp quan trọng để giải quyết triệt để mọi nguy cơ xung đột trên
tuyến biên giới, biển đảo.
Bộ đội Biên phòng (BĐBP) là lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong nhiệm
vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, thường xuyên tiếp xúc với bạn bè
quốc tế trên toàn tuyến biên giới, đặc biệt với nhân dân và lực lượng bảo vệ biên
giới các nước có chung biên giới với nước ta. Vì vậy, quán triệt và thực hiện tư
tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng biên giới, vùng biển, đảo hịa bình, hữu nghị, bền
vững lâu dài là nhiệm vụ chính trị quan trọng.
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là Quân ủy T.Ư Bộ
Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, cấp ủy, chỉ huy các cấp BĐBP đã tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo và triển khai đồng bộ các biện pháp công tác với những nỗ lực, cố
gắng cao nhất quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG, góp
phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của đất nước.
Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP đã lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt cơng tác nghiên
cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, phối hợp với các lực lượng kịp thời tham
mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy T.Ư Bộ Quốc phòng các
chủ trương, giải pháp về nhiệm vụ cơng tác biên phịng và xây dựng BĐBP; xử lý
kịp thời các tình huống, khơng để bị động, bất ngờ; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội ở khu vực biên
giới, biển, đảo.
Tập trung lãnh đạo đổi mới toàn diện, đồng bộ các biện pháp cơng tác biên
phịng. Quản lý, bảo vệ vững chắc các dấu hiệu, đường biên, mốc quốc giới; tham
mưu, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng xử lý hiệu quả các hoạt động vi phạm
hiệp định về quy chế biên giới, vùng biển; phối hợp quản lý, huy động nhân lực,
tàu thuyền ngư dân sẵn sàng tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Phối
hợp với lực lượng bảo vệ biên giới, cửa khẩu nước láng giềng kịp thời giải quyết
các vụ việc trên biên giới, xây dựng biên giới hịa bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển. Chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn kiện tác chiến ở từng
cấp và tổ chức luyện tập phương án xử lý các tình huống sát thực tế. Phối hợp với
các quân khu chỉ đạo BĐBP các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ thành viên khu
vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới; tổ chức luyện tập, diễn tập theo các phương
án tác chiến. Chủ động chuẩn bị lực lượng, phương tiện, thực hiện tốt nhiệm vụ
ứng phó với các tình huống an ninh phi truyền thống, nhất là trong phòng, chống
đại dịch Covid-19; các phương án, kế hoạch đấu tranh phòng, chống hiệu quả các
hoạt động xâm phạm an ninh biên giới. Tham mưu, phối hợp với các lực lượng xử
lý, giải quyết hiệu quả các vụ việc phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội; xác lập nhiều chuyên án, kế hoạch nghiệp vụ, đấu tranh hiệu quả với các
đường dây tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại, nhất là tội phạm về ma túy,
giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn khu vực biên giới.
Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tốt công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất,
nhập cảnh. Chủ động tham mưu, đề xuầt quy hoạch tổ chức quản lý, nâng cấp hệ
thống cửa khẩu; rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về quản lý, kiểm soát xuất nhập cảnh. Triển khai thủ tục biên phòng điện
tử cảng biển, cửa khẩu theo cơ chế một cửa quốc gia. Từng bước hiện đại hóa trang
thiết bị, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính kết hợp với ứng dụng khoa học,
cơng nghệ, nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát xuất, nhập cảnh bảo đảm chặt
chẽ, thông thoáng, phục vụ tốt cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
của đất nước. Tham mưu, xây dựng, ký kết các văn bản, thỏa thuận hợp tác biên
phòng với các nước láng giềng; phối hợp thực thi hợp tác biên phịng hai bên biên
giới.
Tích cực tham mưu xây dựng, củng cố tiềm lực chính trị, tinh thần tạo nền
tảng vững chắc để xây dựng thế trận biên phòng, nền biên phịng tồn dân vững
mạnh. Tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; phát huy tốt vai trị cán bộ
BĐBP tăng cường xã, đảng viên đồn biên phòng sinh hoạt tại chi bộ thôn, bản và
phụ trách hộ gia đình khu vực biên giới. Tham mưu, phối hợp triển khai thực hiện
có hiệu quả nhiều chương trình, phong trào, mơ hình giúp dân xóa đói, giảm nghèo
phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia
quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG.
Để đạt được những kết quả nổi bật đó có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu
là do Đảng, Nhà nước mà trực tiếp, thường xuyên là Qn ủy T.Ư, Bộ Quốc phịng
ln quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; sự phối hợp chặt chẽ của cấp ủy, chính quyền, các
ban, bộ, ngành, đồn thể ở Trung ương, địa phương và các đơn vị toàn quân; sự tin
tưởng, giúp đỡ của nhân dân ở khu vực biên giới trong xây dựng, quản lý, bảo vệ
chủ quyền an ninh BGQG.
Những năm tới, hịa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; các quốc
gia chuyển từ biên giới ngăn cách sang biên giới hợp tác; giải quyết bất đồng mâu
thuẫn, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ bằng biện pháp hịa bình theo luật pháp quốc
tế. Tuy nhiên, khu vực Đông - Nam Á tiềm ẩn nhiều nhân tố gây bất ổn định, tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ, nhất là chủ quyền biển, đảo sẽ diễn biến căng thẳng, phức
tạp hơn. Trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của
đất nước ngày càng được củng cố, nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn,
thách thức, nhất là biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp;
Biển Đông, tuyến biên giới, vùng biển Tây Nam và một số địa bàn chiến lược tiềm
ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị
tăng cường chống phá ngày càng quyết liệt, cơng khai, trực tiếp, trực diện hơn.
Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật, buôn lậu, gian lận thương mại ở khu vực
biên giới, vùng biển tiếp tục diễn biến phức tạp. Kinh tế - xã hội, đời sống của
nhân dân và lực lượng vũ trang ở khu vực biên giới cịn gặp nhiều khó khăn.
Nhiệm vụ cơng tác biên phịng trong tình hình mới ngày càng tồn diện, nặng nề,
đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp
ủy, chỉ huy các cấp trong BĐBP.
Trong bối cảnh đó, để hồn thành tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc
chủ quyền, an ninh BGQG, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP cần tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo và thực hiện tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau:
Một là, tiếp tục quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà
nước về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, biên phòng trong tình hình mới; nhất là
Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới”, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội
lần thứ 11. Chủ động nghiên cứu, phối hợp với các lực lượng nắm bắt, đánh giá, dự
báo đúng tình hình, kịp thời báo cáo, tham mưu với Đảng, Nhà nước, trực tiếp là
Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ biên phòng và xây dựng BĐBP; chủ
trương, đối sách xử lý các tình huống, khơng để bị động, bất ngờ; vơ hiệu hóa âm
mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá Đảng và Nhà nước ta,
bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng biên giới hịa bình, hữu
nghị để phát triển đất nước. Tích cực nghiên cứu, tham mưu cho Đảng, Nhà nước,
Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng chủ trương, giải pháp xây dựng khu vực biên giới,
xây dựng nền biên phòng tồn dân và thế trận biên phịng tồn dân vững mạnh.
Triển khai thực hiện Luật Biên phòng Việt Nam; xây dựng, hồn thiện cơ chế,
chính sách, hệ thống pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG phù hợp với thực tiễn.
Hai là, lãnh đạo tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ các biện pháp cơng tác
biên phịng; tổ chức quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG,
hệ thống dấu hiệu, mốc quốc giới; phối hợp triển khai thực hiện hai văn kiện pháp
lý ghi nhận thành quả 84% công tác phân giới, cắm mốc tuyến biên giới đất liền
Việt Nam - Cam-pu-chia, tiếp tục tham gia đàm phán giải quyết 16% còn lại; kiểm
tra, khảo sát đơn phương, song phương theo kế hoạch của Ủy ban liên hợp, tham
gia bổ sung, điều chỉnh ba văn kiện pháp lý biên giới trên đất liền Việt Nam Trung Quốc. Chủ động xây dựng kế hoạch bảo vệ chủ quyền biên giới, vùng biển;
nắm vững và vận dụng linh hoạt các chủ trương, đối sách, giải quyết tốt các tình
huống, khơng để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tạo thành những vấn đề
phức tạp trên biên giới, vùng biển, nhất là tuyến biên giới Tây Nam, Biển Đông và
các địa bàn trọng điểm; kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tài ngun,
mơi trường, lợi ích quốc gia trong mọi tình huống.
Duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên điều chỉnh, bổ
sung hoàn chỉnh hệ thống văn kiện và tổ chức luyện tập, diễn tập phương án tác
chiến. Phối hợp với các quân khu chỉ đạo BĐBP các tỉnh, thành phố thực hiện
nhiệm vụ xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới; phối
hợp quản lý, huy động nhân lực, tàu thuyền tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền
biển, đảo. Chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, phương án sẵn sàng tham gia
phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; tăng cường hợp
tác cứu hộ, cứu nạn trên khu vực biên giới với các nước láng giềng.
Ba là, lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của các lực lượng, các đơn
vị nghiệp vụ, phối hợp với các lực lượng chủ động nắm tình hình từ sớm, từ xa, kịp
thời phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của địch và các loại đối
tượng; tham mưu đề xuất, chủ trương, đối sách, xây dựng phương án, kế hoạch đấu
tranh, phòng, chống hiệu quả với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, hoạt
động xâm nhập, móc nối, tập hợp lực lượng, phản động lợi dụng dân tộc, tôn giáo,
các vụ việc liên quan đến an ninh nông thôn đúng chủ trương, đối sách, giữ vững
an ninh trật tự khu vực biên giới. Thực hiện nghiêm Nghị định số 03-2019/NĐ-CP
ngày 5-9-2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Cơng an và Bộ Quốc phịng
trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội,
đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phịng. Đổi mới, nâng cao chất
lượng cơng tác nghiệp vụ cơ bản, phát huy sức mạnh của toàn dân và các lực lượng
chức năng, chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh phịng, chống tội phạm, vi
phạm pháp luật, bn lậu, gian lận thương mại, nhất là tội phạm ma túy trên khu
vực biên giới, biển, đảo. Tập trung triệt xóa các đối tượng cầm đầu, tổ chức đường
dây, tụ điểm tội phạm quy mô lớn, xuyên quốc gia; ngăn chặn triệt để vận chuyển
ma túy qua biên giới, không để hình thành điểm nóng, phức tạp, bảo đảm tuyệt đối
an tồn về người, vũ khí, trang bị.
Bốn là, tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các hiệp định, quy chế, thỏa
thuận về cửa khẩu. Phối hợp tham mưu, đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực xuất nhập cảnh.
Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh
theo hướng hiện đại, tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cải cách thủ tục
hành chính, thực hiện thủ tục biên phịng điện tử, bảo đảm chặt chẽ, thơng thoáng
phục vụ tốt phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Lãnh đạo công tác đối
ngoại biên phòng đúng đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của
Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng theo nguyên tắc độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu. Kết hợp chặt chẽ đối
ngoại của Đảng, Nhà nước, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng và ngoại
giao nhân dân. Đa dạng hóa các nội dung, hình thức hợp tác, các hoạt động giao
lưu; nhân rộng mơ hình kết nghĩa giữa lực lượng bảo vệ biên giới, các địa phương
và nhân dân hai bên biên giới; góp phần xây dựng lịng tin, củng cố tình đồn kết
hữu nghị, phối hợp giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trên biên giới, cửa
khẩu. Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, lực lượng chức năng các nước
nghiên cứu, phát hiện và đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm công nghệ cao,
xuyên quốc gia, xuyên biên giới; hợp tác quốc tế trong đào tạo, bảo đảm trang bị,
phương tiện kỹ thuật công tác biên phòng.
Năm là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm
cho nhân dân về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các
điều ước quốc tế có liên quan đến BGQG; nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn
chống phá, hoạt động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, xâm phạm lợi ích quốc gia,
dân tộc ở khu vực biên giới. Tiếp tục tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị
cơ sở ở khu vực biên giới vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thật sự là cầu
nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân ở khu vực biên giới. Phát huy
vai trò của cán bộ đồn biên phòng tham gia cấp ủy cấp huyện, xã biên giới; cán bộ
tăng cường xã, đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ thơn, bản và
phụ trách hộ gia đình ở khu vực biên giới. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 01
của Thủ tướng Chính phủ về “Tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”. Đẩy mạnh thực
hiện các chương trình phối hợp; các hoạt động tun truyền về ngày biên phịng
tồn dân; các hoạt động hướng về biên giới, hải đảo; phát huy sức mạnh tổng hợp
của cả hệ thống chính trị, của toàn dân tham gia xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ
quyền, an ninh biên giới trong tình hình mới.
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là
hệ thống những quan điểm, tư tưởng cách mạng, khoa học. Sự vận dụng cùng với
những thành công của cách mạng Việt Nam tính đến nay đã chứng minh cho tính
đúng đắn, sáng tạo cũng như giá trị trường tồn của tư tưởng này. Đồng thời, là cơ
sở chắc chắn để đập tan âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch xung
quanh nội dung có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng qn
sự Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ sự tồn vẹn lãnh thổ
quốc gia nói riêng.
Tính đúng đắn, sáng tạo và giá trị của hệ thống các quan điểm trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia đặt ra vấn đề nghiên cứu,
vận dụng, phát triển quan điểm trong tư tưởng của Người hiện nay là cần thiết,
nhằm phục vụ đắc lực cho thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
• />
• />_vao_quan_ly_bao_ve_chu_quyen_an_ninh_bien_gioi_vung_bien_da
o_Viet_Namall.html
• TS. Đoàn Thị Thu Hà, TS. Triệu Thị Trịnh, tư tưởng Hồ Chí Minh
( 2020), NXB Lao động xã hội.
• tư tưởng Hồ Chí Minh ( 2017), NXB Lao động xã hội.