342
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC –
MỘT NGUYÊN NHÂN TAN RÃ CỦA LIÊN BANG XƠ VIẾT
SV. Trần Quốc Giang
ThS. Nguyễn Thế Hồng
Tóm tắt. Liên bang Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô) tan rã tháng 12/1991,15 nước
cộng hoà trong liên bang tuyên bố độc lập, 11 nước liên kết với nhau hình thành nên
cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). Đây là hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế,
chính trị, xã hội kéo dài từ nhiều thập kỉ ở Liên Xơ. Một trong những nhân tố sụp đổ là
do chính sách về dân tộc mắc nhiều sai lầm không được sửa chữa kịp thời và triệt để
từ thời I.V. Stalin đến M.S.Gorbachov.
1. Mở đầu
Ngày 30/12/1922, trên cơ sở tự nguyện của các dân tộc, liên bang Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Xơ Viết ra đời, đó là thắng lợi quan trọng trong chính sách dân tộc
Lêninnít. Một trong những đặc điểm quan trọng của Liên Xơ là có nhiều dân tộc cùng
sinh sống, trong đó phần lớn là người Nga, còn lại nhiều dân tộc thiểu số sống ở những
miền biên thùy khá xa thủ đô Moscow. Lênin và sau đó là các vị Tổng Bí thư kế nhiệm
đã rất chú trọng giải quyết vấn đề dân tộc, các ông đã đưa ra những quan điểm trong
thực hiện chính sách dân tộc ở Liên Xô qua các Đại Đại hội VIII Đảng Cộng sản Nga
(3/1919), lần X (3/1921), lần XII (4/1923), lần VIII (1/1936). Tuy nhiên, trong quá
trình thực hiện chính sách dân tộc, Liên Xơ đã vấp phải một số sai lầm nghiêm trọng
về vấn đề này và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của liên
bang Xô Viết.
Bài viết đề cập khái quát về chính sách dân tộc ở Liên Xơ từ thời Tổng Bí thư
Stalin đến Gorbachov.
2. Nội dung chính
2.1. Khái quát về chính sách dân tộc của Liên Xơ qua các đời Tổng Bí thư
2.1.1. Thời kì I.V.Stalin (1924-1953)
Ngày 3/4/1922, Stalin được bầu làm Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương
Đảng, cao ủy viên Hội đồng dân tộc và ủy viên ban kiểm tra công – nông. Trong 10
năm đầu, về cơ bản Stalin vẫn chấp nhận những chính sách dân tộc do Lênin đề ra
trước đó nhưng về sau đã xa rời từng bước.
Thời kì Stalin cầm quyền đã thực hiện 2 lần chính sách cưỡng bức di dân. Lần
thứ nhất vào năm 1929 với khẩu hiệu tập thể hóa tồn diện, Stalin đã sử dụng những
biện pháp cưỡng chế đối với những cán bộ dân tộc ít người có tinh thần dân tộc. Đến
năm 1930, trong thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa, Liên Xô đã phát động phong trào tiêu
diệt phú nông, tiến hành thanh trừng các phần tử chống đối, trong nghị quyết ngày
5/1/1930 Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu “hoàn thành tập thể hóa tồn bộ nền
nơng nghiệp và thủ tiêu culắc (phú nơng) với tư cách là một giai cấp”28. Theo đó, đưa
các phú nông chống đối vào trại tập trung hoặc ra khỏi nơi cư trú tới những miền xa
vắng ở phía Bắc và Sibir. Điều này, trái với tinh thần tập thể hóa nơng nghiệp phải dựa
trên tinh thần tự nguyện.
Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
tr.90.
28
343
Đợt di dân lần hai diễn ra vào thời kì cuộc chiến tranh vệ quốc (1941 – 1945).
Trong các văn kiện, sắc lệnh chính thức lúc bấy giờ nguyên nhân của các đợt di dân
các dân tộc ít người được lí giải là nhà nước muốn cố gắng giảm bớt căng thẳng dân
tộc ở nhiều vùng của đất nước nhằm ổn định tình hình chính trị, tiêu diệt thổ phỉ, trừng
trị những kẻ phản bội theo phát xít chống lại nhân dân và chính quyền Xơ Viết. Trong
thời kì này, một số dân tộc ở Bắc Kavkaz, vùng Volga như Chechnya, Balkar,
Karmuk…bị chuyển sang phía Đơng vì lí do hợp tác với phát xít. Người Đức ở Nga là
một cộng đồng lớn, sống tập trung chủ yếu ở hạ lưu sơng Volga, họ được chuyển sang
phía Đơng theo sắc lệnh ngày 28/8/1941 vì lí do an ninh. Người Do Thái bị kì thị, kết
tội quy lụy phương Tây, hoạt động lật đổ và gián điệp.
Stalin đã từng công khai đề cao vai trò của người Nga “Dân tộc Nga đã giành
được trong cuộc chiến tranh này (Chiến tranh thế giới thứ hai) quyền được công nhận
là người dẫn dắt của toàn liên bang” 29, hay tại buổi tiệc mừng chiến thắng ngày
24/5/1945 Stalin đã giành lời ca ngợi nhân dân Nga và dân tộc Nga “Tôi (Stalin) xin
nâng cốc chúc mừng sức khoẻ của nhân dân Xô Viết chúng ta và trước hết chúc mừng
sức khỏe nhân dân Nga…Vì đó là dân tộc lỗi lạc nhất trong tất cả các dân tộc hợp
thành liên bang Xơ Viết...Vì trong tất cả các dân tộc trên đất nước chúng ta, nhân dân
Nga đã được nơi nơi, người người công nhận là lực lượng lãnh đạo của Liên Xơ trong
cuộc đấu tranh này…vì nhân dân Nga rất xuất chúng với trí tuệ sáng suốt, ý chí kiên
cường đức tính nhẫn nại…” 30. Trong thời kì Stalin nắm quyền, những mâu thuẫn dân
tộc ở Liên Xơ bắt đầu có biểu hiện gay gắt nhưng nó đã bị che đậy bởi việc xác lập thể
chế tập trung cao độ. Đặc điểm của chính sách dân tộc thời Stalin có những nét cơ bản:
Thứ nhất, quản lí quá tập trung, một trong những đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa liên
bang là phân chia quyền lực giữa trung ương và các cơ quan quyền lực ở các nước
cộng hịa thì thực tế đã mất đi hiệu lực, xóa nhịa hồn tồn; Thứ hai, về chính sách
ngơn ngữ, bằng chỉ thị năm 1938 bắt buộc học tiếng Nga trong các trường phổ thơng
dân tộc. Trong khi đó, nguyên tắc của Lênin về việc học tiếng Nga là tự nguyện; Thứ
ba, bộ máy nhà nước trung ương và địa phương những năm 40 khơng phản ánh tính
chất của một đất nước liên bang đa sắc tộc, dân tộc. Nhìn chung, chính sách dân tộc
của Stalin bề ngồi khơng bác bỏ nguyên tắc của Lênin là mọi nước cộng hịa, mọi dân
tộc, mọi ngơn ngữ đều bình đẳng nhưng trên thực tế việc thực thi khơng hồn tồn
tn thủ theo ngun tắc bình đẳng.
2.1.2. Thời kì N.S. Khrushchov (1956-1964)
Chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước Xô Viết thời kì này có những thay
đổi theo hướng trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các nước cộng hòa liên bang nhằm
củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Sau Đại hội XXII của Đảng Cộng sản Liên Xô
(năm 1956) thì các dân tộc thiểu số bị cưỡng bức, di cư thời kì Stalin đã được phục hồi
danh dự “tháng 4/1956 người Tácta-Crưm, người Bankac, Meskhetian, Khemsn, người
Cuốc… được trả tự do khỏi các trại lao động tập trung. Vào tháng 1/1957 nước cộng
hòa tự trị Chenhen-Trgusơ tái xuất hiện, vùng tự trị Kan-mức được thành lập, cộng
hòa tự trị Kabardin lại trở thành cộng hòa tự trị Kanbardino-Bankac và vùng tự trị
Cherkess, được đổi thành vùng tự trị Karachai và Cherkess. Đến tháng 8/1958 vùng tự
Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
tr.164.
30
Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
tr.140
29
344
trị Kan-múc được nâng thành cộng hòa tự trị như trước kia” 31. Trước đó các sắc lệnh
phục hồi cho các dân tộc đã được ban hành như sắc lệnh tháng 7/1954 công nhận địa
vị hợp pháp của các dân tộc bị trừng phạt, sắc lệnh tháng 12/1955, người Đức trở
thành dân tộc đầu tiên được trả tự do khỏi các trại lao động và khôi phục quyền tự do
công dân. Đây là những việc làm có ý nghĩa quan trọng, góp phần khắc phục hậu quả
dưới thời Stalin đối với các dân tộc trong liên bang.
Tuy nhiên, việc phục hồi và trả lại lãnh thổ của các dân tộc bị trừng phạt đã gây
ra sự xáo trộn căng thẳng ở các nước cộng hòa trong một thời gian như việc chính phủ
liên bang cho phép người Chechnya trở về Kavkaz nhưng bản đồ của nước cộng hịa
này đã khơng được khôi phục một cách nguyên trạng như trước kia. Người Đức ở phía
bờ sơng Volga được trút bỏ những lời buộc tội nhưng không được trở về nơi sinh sống
như trước kia và khôi phục lại tài sản. Người Tatar được phục hồi lại danh dự nhưng
không được khôi phục quyền tự trị về dân tộc, không được phép trở về nơi cư trú cũ.
Nhà nước Xô Viết vẫn coi tiếng Nga là ngơn ngữ chính thức của liên bang, là phương
tiện thống nhất, phương tiện để hiện đại hóa đất nước. Đại hội lần XXII (năm 1961) đã
thơng qua cương lĩnh của Đảng, tuyên bố tiếng Nga là thứ tiếng của tất cả các dân tộc.
Cải cách giáo dục 1958 đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu học tiếng Nga như ngơn ngữ thứ
hai. Bên cạnh đó, việc tăng cường di dân (chủ yếu là người Nga) đến vùng các dân tộc
ít người đẩy mạnh việc “Nga hóa” các dân tộc, làm cho mối quan hệ không thiện cảm
của các dân tộc ngày càng thêm căng thẳng. Ở tất cả các nước cộng hịa đều có người
Nga sinh sống, dân tộc Nga di dân đến các vùng dân tộc ít người quá nhiều làm cho tỉ
lệ dân số tại chổ giảm xuống thấp và về những mặt nào đó đã gây thiệt hại đến lợi ích
các dân tộc bản địa.
2.1.3. Thời kì L.I.Brezhnev (1964-1982)
Chính sách dân tộc thời kì Brezhnev nói chung vẫn tiếp tục đường lối do Đại
hội lần XXII vạch ra. Ban lãnh đạo đất nước kiên trì thực hiện chủ trương hình thành
một cộng đồng dân tộc mang tính chất lịch sử - nhân dân Xơ Viết. Tiếng Nga vẫn
được coi là phương tiện học tập và giao tiếp chung, từ năm 1978 – 1979 ban hành
nhiều sắc luật để thúc đẩy dạy tiếng Nga ở các nước cộng hịa dân tộc. Thêm vào đó là
việc quản lý của nhà nước ở các vùng lại có tính chất phiến diện, coi thường các đặc
điểm lãnh thổ riêng biệt.
Trong giai đoạn này, chính sách về giáo dục dân tộc của nhà nước Xô Viết đạt
những thành tựu to lớn, cho đến năm 1970 tất cả các nước cộng hịa đã hồn thành phổ
cập giáo dục cấp II theo chương trình 7 năm. Tuy vậy, nhiều nước cộng hịa dân tộc
khơng đào tạo đủ đội ngũ chun gia thuộc tất cả các ngành, chuyên gia các ngành văn
hóa, giáo dục và khoa học xã hội có đủ nhưng các ngành khoa học tự nhiên lại thiếu,
nhất là vùng Trung Á. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển cơng
nghiệp của các nước cộng hịa dân tộc. Vấn đề ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và
các vùng công nghiệp là tư tưởng chủ đạo của Stalin vẫn được coi là một quy luật
tuyệt đối để phát triển công nghiệp xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là xây dựng và phát
triển kinh tế ở vùng trung tâm Liên Xơ, cịn ở các vùng biên cương, kinh tế vẫn kém
phát triển, đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số vẫn hết sức lạc hậu
“chính sách của chính quyền trung ương nhằm hình thành một dân tộc Xô Viết với
Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
tr.203
31
345
tiếng Nga là ngơn ngữ chung và vai trị chủ đạo thuộc về người Nga trong bộ máy
Liên Bang đã gây sự lo ngại của các dân tộc trong liên bang về một sự Nga hóa, chính
trong thời kỳ này, thời kỳ mà người ta cho rằng vấn đề dân tộc đã được giải quyết căn
bản” 32. Brezhnev đã phát biểu trong báo cáo tổng kết tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên
Xô lần thứ XXIV: trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trên đất nước Liên Xô
đã hình thành nên cộng đồng có tính chất lịch sử mới của con người nhân dân Xơ Viết.
Cịn trong Cương lĩnh sữa đổi của Đảng Cộng sản Liên Xô được thông qua tại Đại hội
lần XXVII đã sửa “cộng đồng có tính lịch sử mới” thành “cơng đồng xã hội và quốc tế
mới” nghĩa là ở Liên Xơ lúc đó khơng cịn dân tộc nữa. Nhìn chung, mục tiêu nhất thể
hóa các dân tộc tỏ ra càng xa rời thì chính sách dân tộc của Liên Xơ bộc lộ nhiều điều
bất cập. Việc các nhà lãnh đạo Liên Xô tuyên bố như trên hồn tồn khơng phù hợp
với thực tế khách quan của sự phát triển của xã hội loài người nói chung cũng như sự
phát triển của xã hội Liên Xơ nói riêng.
2.1.4. Thời kì M.S.Gorbachov (1982 – 1991)
Đại hội lần thứ XXVII của Đảng Cộng sản Liên Xô lại một lần nữa khẳng định
dứt khoát rằng vấn đề dân tộc ở Liên Xô đã được giải quyết. Năm 1989 khi Gorbachov
tiến hành chủ trương “dân chủ hóa, cơng khai hóa” thì những uất ức những hận thù
dân tộc trên đất nước đa dân tộc này được cơ hội bùng phát, các khuynh hướng dân tộc
chủ nghĩa ngày càng lan rộng làm rõ mâu thuẫn dân tộc là vấn đề đã âm ĩ trong một
thời gian dài kiềm nén, bị che đậy đi bởi sự tập trung quyền lực cao độ. Trong báo cáo
chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 19/9/1989 Gorbachov đã phải
thừa nhận rằng vấn đề dân tộc ở Liên Xô thực sự cịn gay gắt, “xung đột”, “bi kịch”,
“xơ xát” liên tiếp xảy ra, khơng có một ngày n bình. Thực tế, dưới thời cầm quyền
của Gorbachov thì mâu thuẫn dân tộc ở Liên Xô bùng phát và bắt đầu phát triển theo
diện rộng. Tháng 8/1985 tại các nước cộng hòa như Armenia, Azerbaijan, Gruzia,
Uzbekistan, Tajikistan, Moldova và 3 nước cộng hòa vùng Baltic liên tiếp xảy ra
những vụ tranh chấp, xung đột dân tộc, sắc tộc. Đầu năm 1988 cuộc xung đột giữa
Armenia và Azerbaijan về vấn đề Nagorno -Karabakh. Ở Gruzia, tháng 3/1989 khu tự
trị Abkhazia mít tinh địi thành lập nước cộng hòa liên bang, yêu cầu rút khỏi Liên Xô.
Ngày 9/4/1989 diễn ra “vụ Tbilisi”, ở Baku (1/1990), ở Vinius và Riga (1/1991). Tại
vùng Trung Á ở Uzbekistan vào tháng 6/1989 nổ ra bạo loạn giữa người theo đạo Hồi
và người Uzbekistan. Ở Moldova diễn ra cuộc tranh chấp địi thay đổi chữ viết từ kí tự
Slav sang kí tự Latinh, địi dùng tiếng Moldova làm tiếng chính thức. Tháng 8/1987
các lực lượng đối lập của các nước cộng hòa vùng Baltic khởi xướng phong trào đòi
tách khỏi Liên Xô.
Trước những diễn biến của mâu thuẩn, xung đột sắc tộc ngày càng trở nên gay
gắt diễn ra, chính quyền liên bang đã đề ra những nhiệm vụ chiến lược và những
phương hướng cơ bản cho chính sách dân tộc. Thứ nhất, hồn thiện chế độ liên bang
Xơ Viết, bổ sung nội dung kinh tế và chính trị thực tế. Thứ hai, mở rộng quyền và khả
năng của tất cả các dạng tự trị dân tộc. Thứ ba, đảm bảo các quyền bình đẳng cho các
dân tộc. Thứ tư, tạo điều kiện để phát triển tự do các nền văn hố và ngơn ngữ dân tộc.
Thứ năm, củng cố những bảo đảm loại trừ quyền chèn ép các quyền của các công dân
theo đặc trưng dân tộc. Thứ sáu, đổi mới tồn bộ cơng tác nghiên cứu khoa học và giáo
dục, công tác tư tưởng trong lĩnh vực quan hệ dân tộc. Thứ bảy, trong việc giao tiếp
Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 1917-1991, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.
239 – 240.
32
346
giữa các dân tộc khẳng định sự tôn trọng lẫn nhau của các truyền thống lịch sử và đặc
thù dân tộc, coi trọng những quyền lợi kinh tế và tinh thần từng dân tộc. Đây là những
vấn đề nằm trong cương lĩnh của Đảng cộng sản Liên Xô năm 1989 với nhiệm vụ
quan trọng nhất được đề ra để giải quyết vấn đề dân tộc là lập ra cơ chế nhà nước hữu
hiệu, cơ chế kinh tế và xã hội, đảm bảo sự kết hợp hữu cơ những lợi ích và giá trị quốc
tế và dân tộc. Nhiệm vụ này sẽ không tách rời cải tổ các quan hệ kinh tế, xã hội, chính
trị. Nó chỉ có thể giải quyết trên con đưịng dân chủ hố xã hội Xơ Viết và khẳng định
chế độ tự quản xã hội chủ nghĩa của nhân dân.
Trước đó, vào tháng 4/1985 chính quyền liên bang đã thực hiện Chương trình
cải cách kinh tế, chính trị. Về vấn đề dân tộc và các quyền của công dân, Cương lĩnh
cải tổ nêu rõ “nhiệm vụ quan trọng nhất của việc củng cố sự hợp tác giữa các dân tộc
Xô Viết và đồng thời của việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là thực hiện đầy
đủ và triệt để trong đời sống có tính ngun tắc Hiến pháp về quyền bình đẳng giữa
các cơng dân, khơng lệ thuộc vào nguồn gốc dân tộc, chủng tộc và tôn giáo của họ” 33.
Trong bài phát biểu của Gorbachov vào tháng 7/1989 đã đề cập “…giải quyết đúng
đắn vấn đề quan hệ giữa các dân tộc sẽ quyết định phần lớn sự an ninh và yên ổn của
mọi người, vận mệnh của cải tổ tức là số phận và sự toàn vẹn của quốc gia chúng ta.
Tất cả chúng ta thật sự không thể không lo ngại gần thời gian qua ở nơi này, nơi kia
xuất hiện sự bất bình, sự rạn nứt kể cả xung đột trên cơ sở dân tộc. Những xung dột
đang đẩy mọi người ra khỏi cuộc sống bình thường…” 34
Những quan điểm của Đảng Cộng sản Liên Xô và Gorbachov đưa ra để giải
quyết vấn đề dân tộc đang trở thành mối quan tâm hàng đầu ở liên bang là rất đúng, để
cứu vãn những gì đang xảy ra nhưng tất cả đã quá muộn. Thời kì Gorbachov nằm
quyền chỉ là để chứng kiến sự tan rã của liên bang bởi những mâu thuẫn xung đột sắc
tộc, dân tộc vốn đã âm ĩ từ nhiều thập niên qua. Đảng Cộng sản Liên Xô và nhà nước
liên bang phải áp dụng một số biện pháp nhằm giải quyết cấp bách vấn đề dân tộc,
nhưng hành động lại khơng cương quyết, dứt khốt và tiến hành chậm nên không thể
nào chặn đứng được chủ nghĩa chia rẽ dân tộc đang ngày càng lan rộng trên khắp đất
nước. Kết quả là ngày 11/3/1990 Lítvia dẫn đầu tuyên bố độc lập, sau đó lần lượt là
Estonia, Latvija và Moldova tuyên bố về địa vị nước nhà, hàng loạt các nước cộng hòa
khác cũng lần lượt tuyên bố theo đuổi đường lối đối nội, đối ngoại riêng.
Vào trung tuần tháng 8/1991 cuộc khủng hoảng ở Liên Xô đã lên đến đỉnh điểm
và kết quả là xảy ra cuộc chính biến ngày 19/8. Cuộc đảo chính khơng thành cơng đã
gây ra hậu quả nghiêm trọng, ngày 6/11, tổng thống Nga Enxin ra sắc lệnh thủ tiêu bộ
máy nhà nước của Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Nga, trên tồn lãnh thổ
Nga một làn sóng chống chủ nghĩa xã hội được dấy lên. Ngày 21/12/1991 tại AlmaAta 11 nước cộng hịa trong liên bang Xơ Viết đã ký nghị định thư thành lập Cộng
đồng các quốc gia độc lập (SNG) và ra tuyên ngôn Alma-Ata, tuyên bố Liên Xơ khơng
cịn tồn tại nữa. Sự kiện chính trị quan trọng này đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và sự tan rã của nhà nước đa dân tộc lớn nhất trên thế giới.
2.2. Tác động của chính sách dân tộc dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô Viết
Trong quá trình tồn tại của liên bang Xơ Viết, nhiều tài liệu chính trị và khoa học
đã chứng minh tính bền vững của liên bang. Phải khách quan thừa nhận, liên bang Xô
33
34
Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Viện thơng tin KHXH, Hà Nội tr.58.
Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Viện thơng tin KHXH, Hà Nội, tr.25.
347
Viết đã phải vượt qua rất nhiều thử thách để tồn tại và phát triển trong đó khó khăn, gian
khổ nhất là trong những năm của cuộc chiến tranh vệ quốc (1941 – 1945). Công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đạt được nhiều thành tựu đều là sự chung tay góp
sức của tất cả các dân tộc trong liên bang. Điều đáng tiếc, một số nhận định đã quá
cường điệu coi như ở Liên Xô mọi vấn đề đã được giải quyết xong, đã xây dựng được
chủ nghĩa xã hội phát triển và bắt đầu xây dựng Chủ nghĩa cộng sản, trong đó có cả vấn
đề dân tộc. Trong báo cáo của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tại Đại hội
Đảng lần thứ XXVII: Nhân dân Xô Viết hiện nay là một khối cộng đồng xã hội và quốc
tế, mới về chất, nhất trí về lợi ích kinh tế, tư tưởng và mục đích chính trị.
Cách mạng Tháng Mười nổ ra phá tan nhà tù của các dân tộc. Để thành công và
xây dựng một nhà nước mới, cách mạng phải có sự liên hiệp và thống nhất của các dân
tộc chịu sự áp bức của chế độ Nga hoàng với khẩu hiệu “các dân tộc bị áp bức hãy
vùng lên”. Sức mạnh của cuộc cách mạng tháng Mười là ở đó, song cũng chính ở đó
tiềm ẩn những vấn đề sâu sắc trong quan hệ của các dân tộc. Theo con đường phát
triển của lịch sử tự nhiên, thì mỗi dân tộc phải trãi qua quá trình hình thành, phát triển
đầy đủ về mọi mặt, mọi lĩnh vực, phải phát triển và hồn thiện mọi bản sắc của nó,
phải có được chủ quyền của nó trước khi hịa nhập với những tộc người khác để tạo ra
một cộng đồng dân tộc thống nhất. Nhưng ở Liên Xô do nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan, các tộc người, dân tộc ít người đã khơng có điều kiện phát triển trọn
vẹn. Do đó, nhu cầu tự khẳng định, bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc ln tồn tại và chờ
có điều kiện là khởi phát bùng lên. Đến lúc trước khi bị sụp đổ, trên lãnh thổ Liên Xơ
đã có hơn 100 dân tộc sinh sống. Số dân 281,7 triệu người (thống kê ngày 1/8/1987).
Bộ phận cơ bản của dân tộc Liên Xô đi vào thành phần của 5 ngữ hệ: Ấn – Âu 79,4%
toàn bộ cư dân, Altai (16,2%), Ural (1,6%), KavKaz (1,2%), Kartvel (1,4%). Các dân
tộc ở Liên Xô khác nhau cơ bản về số dân. Hơn 20 dân tộc có số dân hơn 10 triệu
người chiếm 96,2% dân số tồn liên bang. Đơng nhất là người Nga (137 triệu), Ukaine
(42 triệu), Ucbets (12 triệu), Belarus (9,5 triệu),…Có hơn 30 dân tộc có số dân từ
100.000 đến 2 triệu người tạo thành 3,4 % cư dân, còn lại hàng chục dân tộc chỉ gồm
1000 người và ít hơn chiếm 0,4% dân số. Lịch sử của một số dân tộc còn được đo
bằng niên kỷ của một số tộc người khác về thực chất chỉ hình thành sau khi cách mạng
Tháng Mười Nga thành công 35.
Sự sụp đổ của liên bang bắt nguồn từ sự không đúng đắn, không khoa học của
mơ hình CNXH được xây dựng qua nhiều thập kỷ ở Liên Xơ. Trong đó, sự yếu kém về
kinh tế đã không tạo ra được đầy đủ những tiền đề kinh tế để giải quyết vấn đề dân tộc.
Những cơ sở lí luận về đường lối và chính sách trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở
Liên Xô do Lênin vạch ra là đúng đắn, trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện. Khi thành lập
liên bang Lênin đã bày tỏ quan điểm về vấn đề dân tộc, vấn đề tự trị hóa. Lênin đã đưa
ra các quan điểm và các nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc ở Nga: Thứ
nhất, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế; Thứ hai, cải tổ bộ máy Xô
Viết, giữ lại liên minh các nước cộng hịa xã hội chủ nghĩa Xơ Viết trên lĩnh vực quân
sự và ngoại giao; Thứ ba, bảo đảm quyền tự do sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc36.
Sau khi Lênin mất, cùng với việc thiết lập một nhà nước liên bang thì quan hệ giữa các
nước cộng hịa với trung ương đã trở thành những quan hệ một chiều phụ thuộc, nội
35
Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Viện thơng tin KHXH, Hà Nội, tr.89
– 90.
36
V.I. Lênin toàn tập, 1978, Nxb Tiến bộ Mátcơva, tập 45, tr.412- 413.
348
dung chính của cương lĩnh dân tộc bị vi phạm nghiêm trọng. Trong đó quyền dân tộc
tự quyết đã khơng được thực hiện trọn vẹn “Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là sự
phân lập của các dân tộc đó, với tư cách là quốc gia ra khỏi các tập thể dân tộc khác
có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”37. Quyền dân tộc tự quyết hồn
tồn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền được độc lập về chính trị, có quyền được tự
do phân lập về mặt chính trị khỏi dân tộc áp bức.
Qua thực tiễn lịch sử cho thấy, vấn đề dân tộc là một vấn đề khó khăn nhất,
phức tạp nhất trong lịch sử loài người. Vấn đề này nảy sinh và hình thành từ lịch sử
với những nhận thức, định kiến lâu đời, vì thế khơng dễ dàng gì giải quyết nhanh
chóng mà phải trải qua những thử thách và kiểm nghiệm lịch sử để từng bước cải tạo
và biến đổi. Mặc khác, khi trên thế giới cịn có các giai cấp đa dân tộc và trong các
quốc gia đó cịn có sự áp bức giai cấp và bức dân tộc thì chừng đó mâu thuẫn dân tộc
vẫn cịn cơ sở xã hội và thực tiễn để bùng phát. Để các dân tộc sinh sống hòa thuận
trong một quốc gia nhiều thành phần dân tộc thì Đảng, giai cấp, tổ chức chính trị cầm
quyền phải nhận thức và đảm bảo các quyền như: Quyền được sinh tồn trong đó bao
gồm cả việc nhà nước công nhận sự tồn tại của các cộng đồng dân tộc nhằm tránh việc
hòa tan các dân tộc ít người vào các dân tộc đơng hơn, ít người nhưng vẫn tồn tại.
Quyền tự xác định thành phần dân tộc mình. Quyền tự quyết, tự quản và chủ quyền
của dân tộc. Quyền bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có ngơn ngữ, các di sản
văn hóa dân tộc, truyền thống dân tộc. Quyền kiểm soát và sử dụng các nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Quyền được tiếp xúc và sử dụng thành tựu của nền văn minh thế
giới. Quan trọng là quyền cá nhân cho tất cả các dân tộc phải được đảm bảo, không
được phép phân biệt nguồn gốc dân tộc của cá nhân.
3. Kết luận
Từ việc sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cho Việt Nam bài học kinh
nghiệm, trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc
phải được coi là một trong những điều rất cơ bản và rất cần thiết. Tăng cường đồn kết
dân tộc ln là một nhiệm vụ quan trọng phải được quán triệt và thực hiện nghiêm
chỉnh. Cần thực hiện tốt sự bình đẳng giữa các dân tộc coi trọng việc phát triển kinh tế
- xã hội- văn hóa ở các vùng dân tộc thiểu số, ổn định tình hình chính trị xã hội trên
mọi miền của đất nước, đẩy mạnh hơn sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện và triệt
để để xây dựng Việt Nam ngày càng phồn vinh hiện đại, thực hiện thắng lợi mục tiêu
dân giàu nước, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hiến Pháp nước
Cộng hòa chủ nghĩa xã hội Việt Nam đã ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa chủ nghĩa xã hội
Việt Nam là nhà nước thống nhất các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Lịch sử của một trong những trang bi hùng của thời đại đã khép lại nhưng có thể
khẳng định rằng sự sụp đổ mơ hình dân tộc ở Liên bang Xô Viết không phải bắt nguồn
từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà là do những nội dung, chính sách và biện
pháp cụ thể đã thực hiện không đúng đắn, thiếu khoa học, mắc nhiều sai lầm nghiêm
trọng. Chủ nghĩa xã hội vẫn là lí tưởng cao đẹp của loài người tiến bộ và sự nghiệp giải
phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội vẫn là con đường đúng đắn và khoa học để các dân tộc bị áp bức noi theo.
37
V.I. Lênin toàn tập, 1978, Nxb Tiến bộ Mátcơva, tập 45, tr. 68.
349
Tài liệu tham khảo
[1].
Lê Ngọc Ái, 1990, Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc trong CNXH, Hà
Nội, Viện thông tin KHXH.
[2].
Hà Mỹ Hương, 2004, Về quan hệ dân tộc hiện nay ở các nước thuộc Liên bang
Xô Viết và Liên bang Nam Tư cũ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Đảng, số 1.
[3].
Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Thị Thư, 2002, Lược sử Liên Bang Nga 19171991, Hà Nội, Nxb Giáo dục.
[4].
Tiêu Phong, 2004, Hai chủ nghĩa một trăm năm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
[5].
Nguyễn Anh Thái, 1994, Sự sụp đổ của một mơ hình dân tộc và đơi điều suy
nghĩ về nhận thức vấn đề dân tộc trong bối cảnh hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử số 2.
[6].
Nguyễn Chí Tình, 1999, Mâu thuẫn dân tộc và sắc tộc phải chăng là định
mệnh, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 6.
[7].
V.I. Lênin toàn tập, 1978, tập 45, Moscow, Nxb Tiến bộ.
[8].
V.I.Lênin, 1984, Về quyền dân tộc tự quyết, Moscow, Nxb Tiến bộ.