.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH PHƯƠNG THẢO
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
(COPD) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Chuyên ngành: Dược lý – Dược lâm sàng
Thành phố Hồ Chí Minh – 2019
iii
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH PHƯƠNG THẢO
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
(COPD) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Chuyên ngành: Dược lý – Dược lâm sàng
Mã số: 8720205
Người hướng dẫn khoa học: TS. VÕ QUANG TRUNG (Người hướng dẫn I)
TS. NGUYỄN ĐĂNG THOẠI (Người hướng dẫn II)
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
iv
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 09 năm 2019
Tác giả
Huỳnh Phương Thảo
v
.
.
SURVEY HEALTH- RELATED QUALITY OF LIFE OF PATIENTS WITH
CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE (COPD)
AT DONG NAI GENERAL HOSPITAL
Master student: Huynh Phuong Thao
Supervisor: PhD. Vo Quang Trung, PhD. Nguyen Dang Thoai
Introduction: Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) is a severe condition
that leads to respiratory disability, considerably reduces the comfort of living and
affects all aspects of a patient’s life.
Aim: This study assessed the Health-Related Quality of Life (HRQL) of patients with
COPD by using St. George’s Respiratory Questionnaire (SGRQ) and CAT, as a
research tool.
Materials and Methods: A 4-week cross-sectional survey was conducted at Dong
Nai General Hospital, Bien Hoa City, Southern Vietnam. Data were collected by
performing face-toface interviews of 443 patients with COPD (Global Initiative for
Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD) stages III and IV) by using the SGRQ.
Statistical analysis was performed using SPSS for Windows version 20.0.
Results: This study included patients with severe and very severe COPD (27,9%
patients with GOLD stage III COPD and 72,1% patients with GOLD stage IV
COPD). Median (IQR) SGRQ total score was 53.,3 (37,7–71,1), which increased
with an increase in the GOLD stage (42,9 (27,0–57,2) for patients with GOLD stage
III COPD and 56,3 (41,1–75,8) for patients with GOLD stage IV COPD). Signifcant
differences were observed between the SGRQ total score and patient
characteristic sdistribution, including age, gender, place of residence, marital status,
BMI, education level, employment status, monthly income, exercise status, health
insurance status and Modifed Medical Research Council (MMRC) score
(p<0,05).
Conclusion: The SGRQ seems to be a useful tool for assessing the health status of
patients with COPD. Our results indicate that the impact of COPD on the quality of
life patients can be assessed using a specifc instrument and that an increase in COPD
severity is signifcantly associated with the SGRQ symptom, activity, impact and total
scores.
vi
.
.
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC
NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI
Học viên: Huỳnh Phương Thảo
Người hướng dẫn khoa học: TS. Võ Quang Trung, TS. Nguyễn Đăng Thoại
Tổng quan
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một tình trạng nghiêm trọng đặc trưng bởi
bất thường đường hơ hấp mạn tính, làm giảm đáng kể sự thoải mái và ảnh hưởng đến
tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của người bệnh.
Mục tiêu
Nghiên cứu này đã đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQL)
của người bệnh COPD bằng cách sử dụng Bảng câu hỏi hô hấp St. George (SGRQ)
và CAT, như một công cụ nghiên cứu.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kéo dài 4 tuần được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa
Đồng Nai, Thành phố Biên Hòa, miền Nam Việt Nam. Dữ liệu được thu thập bằng
cách thực hiện các cuộc phỏng vấn trực tiếp 443 người bệnh COPD giai đoạn III và
IV (phân độ theo GOLD 2019) bằng cách sử dụng bảng câu hỏi SGRQ. Phân tích
thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS cho Windows phiên bản 20.0.
Kết quả
Nghiên cứu này bao gồm những người bệnh COPD nặng và rất nặng (27,9% người
bệnh COPD giai đoạn III và 72,1% người bệnh COPD giai đoạn IV). Điểm trung vị
SGRQ tổng là 53,3 (37,7 - 71,1), điểm SGRQ tăng tương ứng với từng giai đoạn,
điểm trung vị SGRQ tổng là 42,9 (27,0 - 57,2) cho người bệnh COPD giai đoạn III
và 56,3 (41,1, 75,8) cho người bệnh COPD giai đoạn IV). Sự khác biệt đáng kể đã
được quan sát giữa điểm SGRQ tổng và đặc điểm của người bệnh bao gồm tuổi, giới
tính, nơi cư trú, tình trạng hơn nhân, BMI, trình độ học vấn, tình trạng việc làm, thu
nhập hàng tháng, tình trạng tập thể dục, tình trạng bảo hiểm y tế và điểm mức độ khó
thở theo thang đo MMRC (với p <0,05).
Kết luận
SGRQ là một công cụ hữu ích để đánh giá tình trạng sức khỏe của nguười bệnh
COPD. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng tác động của COPD đến chất lượng
cuộc sống của người bệnh có thể được đánh giá bằng cách sử dụng một công cụ cụ
thể và sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của COPD có liên quan đáng kể đến điểm
SGRQ triệu chứng, SGRQ hoạt động, SGRQ tác động và tổng điểm SGRQ.
vii
.
.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .....................................................................3
1.1. TỔNG QUAN VỀ COPD .................................................................................... 3
1.2. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG.......................................................................... 21
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................48
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ......................... 48
2.2. NỘI DUNG VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ................................................ 48
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................................... 49
2.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU .................................................................. 58
2.5. HỘI ĐỒNG Y ĐỨC........................................................................................... 59
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................60
3.1. ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN
MẠN TÍNH (COPD) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI .......................... 60
3.2. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH COPD THEO THANG ĐO
SGRQ ..................................................................................................................... 71
3.3. MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐIỂM SGRQ VỚI ĐIỂM CAT VÀ ĐẶC ĐIỂM
NHÂN KHẨU HỌC ................................................................................................. 87
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ........................................................................................90
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................92
5.1. KẾT LUẬN ........................................................................................................ 92
5.2. ĐỀ NGHỊ ........................................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................97
viii
.
.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết
Tên tiếng Anh
tắt
Tên tiếng Việt
ATS
American Thoracic Society
Hội Lồng ngực Hoa Kỳ
BOLD
The Burden of Obstructive Lung Chương trình Gánh nặng bệnh
Diseases
phổi tắc nghẽn
Chất lượng cuộc sống
CLCS
COPD
Chronic Obstructive Pulmonary Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Disease
DALY
Số năm sống được điều chỉnh theo
Disability-Adjusted Life Year
mức độ bệnh tật
ERS
European Respiratory Society
Hội hô hấp châu Âu
FEV1
Forced Expiratory Volume in One Thể tích thở ra gắng sức trong giây
Second
đầu tiên
FVC
Forced vital capacity
Dung tích sống gắng sức
FRC
Functional Residual Capacity
Dung tích khí cặn chức năng
GBD
Global Burden of Disease
Bệnh tật toàn cầu
GOLD
Global
HRQoL
Initiative
for
Chronic Tổ chức sáng kiến toàn cầu về
Obstructive Lung Disease
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Health-Related Quality of Life
Chất lượng cuộc sống liên quan
đến sức khoẻ
QALYs
Chất lượng cuộc sống được điều
Quality adjusted life years
chỉnh theo năm
QoL
Quality of Life
Chất lượng cuộc sống
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
YLD
Year Lived with Disability
Số năm sống mất đi vì tàn tật hoặc
thương tích
YLL
Số năm sống bị mất đi do chết sớm
Year Life Lost
v
.
.
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân loại mức độ hạn chế luồng khí [55]. ...............................................13
Bảng 1.2. Chẩn đốn mức độ COPD theo AST, ERS, GOLD. ................................15
Bảng 1.3. Một số công cụ đo lường CLCS tổng quát [62]. ......................................25
Bảng 1.4. Một số công cụ đo lường CLCS đặc hiệu [46], [62]. ...............................29
Bảng 1.5. Tổng quan bộ câu hỏi SGRQ và SGRQ-C cho người bệnh COPD [46]. 32
Bảng 1.6. Các nghiên cứu CLCS dùng bộ câu hỏi SGRQ cho người bệnh COPD trên
thế giới [62] ...............................................................................................................33
Bảng 1.7. Một số nghiên cứu chất lượng sống người bệnh COPD tại Việt Nam ....45
Bảng 2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu ..................................................................50
Bảng 2.2. Mô tả các biến số liên quan đến thông tin cơ bản của người bệnh ..........51
Bảng 2.3. Bộ câu hỏi mMRC [37]. ...........................................................................54
Bảng 2.4. Mô tả đặc điểm của bộ câu hỏi khảo sát dự kiến .....................................55
Bảng 2.5. Cách thức phỏng vấn ................................................................................58
Bảng 3.1. Độ tuổi của người bệnh COPD ................................................................61
Bảng 3.2. Số năm hút thuốc, số gói/ngày và số gói.năm của người bệnh COPD ....66
Bảng 3.3. Thời gian bệnh của người bệnh COPD ....................................................67
Bảng 3.4. Số bệnh kèm của người bệnh COPD .......................................................69
Bảng 3.5. Tỉ lệ các loại bệnh mắc kèm của người bệnh COPD ...............................69
Bảng 3.6. Hệ số tương quan Spearman của SGRQ và CAT ....................................87
Bảng 3.7. Hệ số tương quan Spearman của SGRQ và điểm MMRC .......................88
Bảng 3.8. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính (linear regression) về sự liên quan
giữa điểm SGRQ tổng và các yếu tố khảo sát...........................................................89
vi
.
.
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1. Giản đồ Venn (theo ATS 1995) [69]. .........................................................4
Hình 1.2. Tỷ lệ tử vong theo tuổi (trên 100.000) ước tính do COPD năm 2004 [67].
.....................................................................................................................................7
Hình 1.3. Các thể tích và dung tích phổi. .................................................................14
Hình 1.4. Điều trị COPD ở mỗi giai đoạn [1]. .........................................................20
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu ......................................................................................57
Hình 3.1. Phân bố độ tuổi của người bệnh COPD ...................................................60
Hình 3.2. Phân bố giới tính của người bệnh COPD .................................................61
Hình 3.3. Phân bố nơi sinh sống và tiền sử gia đình của người bệnh COPD ..........62
Hình 3.4. Phân bố tình trạng hơn nhân của người bệnh COPD ...............................63
Hình 3.5. Phân bố trình độ học vấn của người bệnh COPD ....................................63
Hình 3.6. Phân bố nghề nghiệp của người bệnh COPD ...........................................64
Hình 3.7. Phân bố mức thu nhập hàng tháng của người bệnh COPD ......................64
Hình 3.8. Phân bố mức bảo hiểm y tế của người bệnh COPD .................................65
Hình 3.9. Lối sống của gia đình của người bệnh COPD ..........................................66
Hình 3.10. Phân bố thời gian bệnh của người bệnh COPD......................................67
Hình 3.11. Phân bố chỉ số BMI (kg/m2) của người bệnh COPD .............................68
Hình 3.12. Phân bố số bệnh kèm của người bệnh COPD ........................................68
Hình 3.13. Thang điểm MMRC của người bệnh COPD ..........................................70
Hình 3.14. Phân bố giai đoạn bệnh của người bệnh COPD .....................................70
Hình 3.15. CLCS người bệnh COPD ở giai đoạn III và giai đoạn IV .....................72
Hình 3.16. CLCS người bệnh COPD theo nhóm tuổi ..............................................73
Hình 3.17. CLCS người bệnh COPD theo giới tính .................................................74
Hình 3.18. CLCS người bệnh COPD theo nơi sinh sống .........................................75
Hình 3.19. CLCS người bệnh COPD theo tiền sử gia đình .....................................76
Hình 3.20. CLCS người bệnh COPD theo tình trạng hơn nhân ...............................77
Hình 3.21. CLCS người bệnh COPD theo trình độ học vấn ....................................78
Hình 3.22. CLCS người bệnh COPD theo nghề nghiệp...........................................79
Hình 3.23. CLCS người bệnh COPD theo thu nhập hàng tháng ..............................80
vii
.
.
Hình 3.24. CLCS người bệnh COPD theo Bảo hiểm Y Tế ......................................81
Hình 3.25. CLCS người bệnh COPD theo tình trạng tập thể dục ............................82
Hình 3.26. CLCS người bệnh COPD theo tình trạng hút thuốc ...............................83
Hình 3.27. CLCS người bệnh COPD theo thời gian bệnh .......................................84
Hình 3.28. CLCS người bệnh COPD theo BMI (kg/m2) .........................................85
Hình 3.29. CLCS người bệnh COPD theo số lượng bệnh kèm................................86
Hình 3.30. CLCS người bệnh COPD theo thang điểm MMRC ...............................87
Hình 3.31. Đường thẳng hồi quy của điểm SGRQ tổng theo điểm CAT tổng ........88
viii
.
.
MỞ ĐẦU
Tổ chức sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Global Initiative for
Chronic Obstructive Lung Disease-GOLD 2019) định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease - COPD) là một bệnh phổ biến, có thể
phòng và điều trị được, đặc trưng bởi các triệu chứng hơ hấp mạn tính và giảm tốc độ
dịng khí thở do bất thường ở đường thở và/hoặc phế nang mà nguyên nhân do phơi
nhiễm với bụi và khí độc hại [55].
Hiện nay, COPD đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm phòng tránh và điều
trị do COPD là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới và
đang trở thành một thách thức lớn đối với sức khoẻ toàn cầu. Năm 1997, Viện huyết
học, tim, phổi quốc gia Hoa Kỳ phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (World Health
Organization - WHO) đề ra chương trình khởi động tồn cầu về phịng chống COPD
viết tắt là GOLD. Từ năm 2003, GOLD đã đưa bản hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
COPD với mục tiêu nhằm tăng cường sự quan tâm của chính phủ và nhân viên y tế
của các nước tới COPD, được cập nhật hàng năm bởi GOLD [53, 64].
Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu của WHO báo cáo tỷ lệ hiện nhiễm 251 triệu
ca COPD trên thế giới vào năm 2016. Trên tồn cầu ước tính có 3,17 triệu người chết
do căn bệnh này vào năm 2015 (chiếm 5% số ca tử vong trong năm đó) [54]. Lopez
và cộng sự đã dự báo đến năm 2020 tỷ lệ tử vong do COPD sẽ đứng vị trí thứ ba và
là nguyên nhân thứ năm trong các bệnh gây tàn phế trên toàn thế giới [15]. Ở Việt
Nam, các nghiên cứu dịch tễ cho thấy COPD cũng có chiều hướng tăng theo xu hướng
chung của thế giới. Báo cáo của Nguyễn Đình Hường (1994) cho thấy COPD là bệnh
hay gặp nhất trong số các bệnh phổi mạn tính ở người lớn [10]. Theo Trung tâm Hô
hấp ở Bệnh viện Bạch Mai, mỗi năm Trung tâm tiếp nhận hàng chục ngàn người bệnh
mắc COPD đến điều trị nội trú và ngoại trú [6].
Yếu tố nguy cơ hàng đầu làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do COPD là hút thuốc
lá, ngồi ra cịn do ơ nhiễm khơng khí và yếu tố phơi nhiễm nghề nghiệp cao [59].
Trong giai đoạn COPD cấp, chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh bị sụt giảm
nghiêm trọng. Mặt khác trong giai đoạn bệnh ổn định, CLCS của người bệnh tuy cải
thiện nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi thường xuyên thiếu oxy, gây mệt mỏi, khó thở, dẫn
1
.
.
đến nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh COPD [64]. Những hậu quả trên
gây ảnh hưởng đến CLCS, làm giảm sức lao động, thậm chí nhiều người khơng tự lo
được nhu cầu sinh hoạt của mình, phải lệ thuộc vào người khác. Vì vậy việc điều trị
cho người bệnh COPD cần phải được quan tâm toàn diện.
Chất lượng cuộc sống là nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống
đặt trong hồn cảnh văn hóa và xã hội đang sinh sống. CLCS là một khái niệm rộng
bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sức khỏe, thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân và
quan hệ xã hội – WHO định nghĩa [35]. Hiện nay, có hai loại bộ cơng cụ đo lường
CLCS là bộ câu hỏi đo lường chung và bộ câu hỏi chuyên biệt [26]. Bộ câu hỏi chung
được thiết kế để đo lường nhiều khía cạnh, cho phép bao quát rộng rãi các lĩnh vực
đánh giá chất lượng cuộc sống như Short Form 36 (SF-36), EuroQol (EQ5D),... Bên
cạnh đó, có nhiều bộ câu hỏi chuyên biệt để đo lường CLCS ở những người bệnh
COPD như Chronic Respiratory Disease Questionnaire (CRQ), The St George’s
Respiratory Questionnaire (SGRQ),… nhưng còn phức tạp, thường chỉ được sử dụng
trong nghiên cứu, chưa được áp dụng nhiều trên thực hành lâm sàng. Nghiên cứu của
Morishita Katsu M. (2016) tại Nhật Bản cho thấy tương quan giữa chức năng phổi,
mức độ khó thở và yếu tố tâm lý với tổng điểm bộ câu hỏi SGRQ. Nghiên cứu của
Xu và cộng sự (2009) tại Trung Quốc cho thấy sự khác biệt đáng kể về CLCS đo
bằng bộ câu hỏi SGRQ ở các giai đoạn COPD. Ở Việt Nam, các công cụ dùng để
nghiên cứu chủ yếu như CCQ, SGRQ, CAT. Nghiên cứu của Nguyễn Trần Tố Trân
(2014) cho biết nhóm người bệnh COPD nhiều triệu chứng có CLCS thấp hơn nhóm
ít triệu chứng. Tất cả các nghiên cứu đều cho thấy dù người bệnh COPD đang trong
cơn kịch phát hay đã ổn định thì đều ít nhiều ảnh hưởng đến CLCS.
Từ thực tế trên, đề tài “Khảo sát chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi tắt
nghẽn mạn tính (COPD) tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai” được thực hiện với các
mục tiêu sau:
1. Khảo sát đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh
viện đa khoa Đồng Nai.
2. Khảo sát chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện
đa khoa Đồng Nai bằng hai bộ câu hỏi SGRQ và CAT.
2
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ COPD
Định nghĩa COPD
- Theo Tổ chức sáng kiến tồn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Global
Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease - GOLD 2019)
COPD là “là một bệnh phổ biến, có thể phịng và điều trị được, đặc trưng bởi các
triệu chứng hô hấp mạn tính và giảm tốc độ dịng khí thở do bất thường ở đường thở
và/hoặc phế nang mà nguyên nhân do phơi nhiễm với bụi và khí độc hại” [55].
Nhiều định nghĩa trước đây về COPD của GOLD đã nhấn mạnh cụm từ “khí phế
thũng” và “viêm phế quản mạn tính”, nhưng đã khơng cịn bao gồm trong định nghĩa
của GOLD hiện nay mà được xem là các triệu chứng của COPD [53], [55].
- Theo Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug
Administration - FDA 2018)
COPD là một bệnh tiến triển mạn tính gây ra bởi q trình viêm mạn tính, hủy hoại
đường thở và nhu mô phổi. Thường liên quan đến việc hút thuốc lá hoặc tiếp xúc kéo
dài với các hạt và khí độc hại khác [57].
- Theo Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (American Thoracic Society ATS - 1995)
COPD là tình trạng bệnh lý viêm phế quản mạn tính hoặc khí phế thũng có tắc nghẽn
lưu lượng khí trong đường hơ hấp. Sự tắc nghẽn này xảy ra từ từ và có khi kèm theo
phản ứng phế quản, có thể khơng hồi phục hoặc hồi phục một phần [69].
Trong đó, viêm phế quản mạn tính được định nghĩa là tình trạng ho, khạc đờm ít nhất
ba tháng mỗi năm và trong hai năm liên tiếp. Sự ho, khạc đờm này không do một
bệnh tim, phổi nào khác gây ra. Khí phế thũng là sự giãn bất thường và vĩnh viễn của
các khoang chứa khí cuối cùng của các tiểu phế quản tận, kèm theo sự phá huỷ của
thành vách phế nang và không tạo xơ làm cho các khoảng giãn nở mất đi sự đồng
nhất [69].
Bản hướng dẫn ATS COPD năm 1995 trình bày sơ đồ Venn (Hình 1.1) mơ tả sự
chồng chéo giữa ba chẩn đốn trên trong dân số nói chung [69].
3
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Hình 1.1. Giản đồ Venn (theo ATS 1995).
Chú thích:
3, 4, 5, 7, 8: là COPD.
6: là COPD thể hen hay viêm phế quản mạn tính thể hen, gồm hen phế quản cùng
viêm phế quản mạn tính.
9: là tắc nghẽn lưu lượng dịng khí có phục hồi (hen phế quản), do đó khơng phải là
COPD.
1, 2, 11: Viêm phế quản mạn tính và khí phế thủng khơng có tắc nghẽn lưu lượng khí
thở nên khơng gọi là COPD.
10: các bệnh tắc nghẽn lưu lượng dịng khí do ngun nhân xơ hóa kén hoặc viêm
phế quản bít tắc không phải là COPD.
- Theo Hội hô hấp Châu Âu (European Respiratory Society - ERS 1995)
COPD là tình trạng bệnh lý có đặc điểm chung là giảm lưu lượng khí thở ra tối đa và
sự tháo rỗng khí trong phổi xảy ra chậm. Bệnh tiến triển chậm và không hồi phục mà
4
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
nguyên nhân thường do mắc các bệnh lý đường hô hấp như viêm phế quản mạn tính
và khí phế thũng [70].
Gánh nặng của COPD
COPD là nguyên nhân gây bệnh và tử vong hàng đầu, có gánh nặng kinh tế và xã hội
tăng lên đáng kể trên toàn thế giới. Tỷ lệ hiện mắc, bệnh suất và tử vong do COPD
khác nhau giữa các quốc gia và giữa các vùng trong mỗi quốc gia. COPD là hậu quả
của việc tiếp xúc và tích lũy lâu dài với các phần tử và chất khí độc hại, kết hợp với
nhiều yếu tố như di truyền, đáp ứng quá mức đường thở và kém tăng trưởng phổi bẩm
sinh. Các yếu tố nguy cơ chính của COPD liên quan trực tiếp đến tần suất hút thuốc
lá, ơ nhiễm khơng khí và bệnh nghề nghiệp. Tỉ lệ mắc bệnh và gánh nặng của COPD
dự kiến sẽ tăng lên trong những thập kỷ tới do tiếp tục phơi nhiễm với các yếu tố
nguy cơ và sự già đi của dân số thế giới, vì tuổi thọ càng tăng sẽ càng tiếp xúc với
các yếu tố nguy cơ lâu hơn [27].
1.1.2.1. Bệnh tật
Các phương pháp đo lường gánh nặng bệnh tật thông thường bao gồm số lần khám
bệnh, số lần cấp cứu và nhập viện [64]. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu COPD về các thơng
số kết quả này ít sẵn có và thường kém tin cậy hơn so với các cơ sở dữ liệu về tử
vong. Các nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ bệnh tật do COPD tăng theo tuổi. Bệnh tật
do COPD có thể bị ảnh hưởng bởi các bệnh mạn tính kèm theo khác (ví dụ bệnh tim
mạch, rối loạn cơ xương, tiểu đường) có liên quan đến hút thuốc lá và tuổi thọ cao.
Điều này có thể làm giảm đáng kể tình trạng sức khoẻ của người bệnh, gây trở ngại
cho việc quản lý COPD và là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhập viện và chi
phí cho người bệnh COPD [64].
1.1.2.2. Tử vong
COPD là một trong những nguyên nhân gây tử vong quan trọng nhất. Trong năm
2011, COPD là nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở Hoa Kỳ. Sự gia tăng tỷ lệ tử vong
do COPD này chủ yếu là do các bệnh kèm theo khác (ví dụ như bệnh thiếu máu cục
bộ, các bệnh truyền nhiễm); sự già đi của dân số thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia
có thu nhập cao [64]. Tuy nhiên, việc khơng cơng nhận và khơng chẩn đốn COPD
dẫn đến giảm tính chính xác số liệu thống kê. Hơn nữa, tính chính xác của các mã
5
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
chẩn đốn COPD ghi trong cơ sở dữ liệu về sức khoẻ hành chính cũng khơng chắc
chắn. Ở một số khu vực chỉ ghi nhận các trường hợp nhập viện, có thể đánh giá thấp
gánh nặng của COPD. Độ tin cậy của việc ghi lại các ca tử vong liên quan đến COPD
trong số liệu tử vong cũng là vấn đề [64].
1.1.2.3. Gánh nặng kinh tế
COPD có liên quan đến gánh nặng kinh tế đáng kể. Trong Liên minh Châu Âu, tổng
chi phí trực tiếp của bệnh về đường hơ hấp ước tính khoảng 6% tổng ngân sách chăm
sóc sức khoẻ, trong đó COPD chiếm 56% (38,6 tỷ Euro) chi phí các bệnh về đường
hơ hấp. Tại Hoa Kỳ ước tính chi phí trực tiếp của COPD là 32 tỷ đơ la và chi phí gián
tiếp là 20,4 tỷ đô la. Sự trầm trọng của COPD chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số
gánh nặng COPD đối với hệ thống chăm sóc sức khoẻ. Khơng có gì đáng ngạc nhiên,
có một mối quan hệ trực tiếp nổi bật giữa mức độ nghiêm trọng của COPD và chi phí
chăm sóc, và sự phân bố chi phí sẽ thay đổi khi bệnh tiến triển. Ví dụ, việc nhập viện
và các chi phí oxy cho người bệnh tăng khi mức độ nghiêm trọng của COPD tăng lên
[64]. Bất cứ ước tính nào về chi phí chăm sóc y tế trực tiếp cho chăm sóc tại nhà cũng
được tính là chi phí thực, bởi vì nó bỏ qua giá trị kinh tế của sự chăm người bị COPD
của các thành viên trong gia đình [64]. Ở các nước đang phát triển, chi phí y tế trực
tiếp có thể ít quan trọng hơn ảnh hưởng của COPD đối với chi phí việc làm. Bởi vì
ngành chăm sóc sức khoẻ có thể khơng cung cấp các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ dài hạn
cho những người tàn tật nặng, COPD có thể buộc ít nhất hai người khơng được đi
làm - người bệnh COPD và một thành viên gia đình phải ở nhà để chăm sóc cho người
bệnh. Vì vậy, chi phí gián tiếp của COPD có thể là mối đe dọa nghiêm trọng đối với
nền kinh tế.
1.1.2.4. Gánh nặng xã hội
Do tỷ lệ tử vong chỉ đưa ra một quan điểm hạn chế về gánh nặng bệnh tật của con
người, nên tìm các biện pháp khác của gánh nặng bệnh tật phù hợp và đo lường được
trong và giữa các quốc gia. Các tác giả của Nghiên cứu về Bệnh tật Toàn cầu - Global
Burden of Disease (GBD) đã thiết kế một phương pháp để ước lượng tỷ lệ tử vong
và tàn tật do các bệnh chính và thương tật bằng cách sử dụng một biện pháp tổng hợp
của gánh nặng của mỗi vấn đề sức khoẻ như Số năm sống được điều chỉnh theo mức
6
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
độ bệnh tật Disability-Adjusted Life Year (DALY) [12]. DALY là tổng số những năm
sống bị mất đi do chết sớm (YLL - Year Life Lost) và số năm sống mất đi vì tàn tật
hoặc thương tích (YLD - Year Lived with Disability). Nghiên cứu GBD cho thấy
COPD là một yếu tố làm tăng số người khuyết tật và tử vong trên toàn thế giới. COPD
là nguyên nhân thứ tám vào năm 2005 và thứ năm vào năm 2013 gây tăng số năm
sống bị mất đi cho bị bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới [22]. Riêng tại Hoa Kỳ,
COPD là nguyên nhân thứ hai làm giảm DALY [31].
Dịch tễ học COPD
Kể từ năm 2000, các nghiên cứu dịch tễ học về COPD ngày càng tăng. Thế giới có
251 triệu ca COPD (2016), có 3,17 triệu người tử vong (chiếm 5%) do COPD (2015).
Hơn 90% ca tử vong do COPD xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [54].
Tỷ lệ tử vong theo tuổi (trên 100.000) ước tính do COPD năm 2004 thể hiện ở Hình
1.2 [67].
Hình 1.2. Tỷ lệ tử vong theo tuổi (trên 100.000) ước tính do COPD năm 2004.
7
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
1.1.3.1. Sơ lược lịch sử COPD
Năm 1964, thuật ngữ “bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” lần đầu tiên được sử dụng để
mơ tả tình trạng tắc nghẽn đường thở khơng hồi phục hồn tồn. Thuật ngữ COPD
đã dần dần thay thế cho cụm từ “viêm phế quản mạn tính” và “khí phế thũng”.
Trong Hội nghị lần thứ 10 - 1992 của WHO bàn về sửa đổi phân loại bệnh tật đã nhất
trí dùng thuật ngữ COPD trong chẩn đoán và thống kê bệnh tật.
Năm 1995 đánh dấu bước ngoặt của việc chuyển hướng dùng thuật ngữ COPD, Hội
Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS), Hội Hô hấp Châu Âu (ERS), các Hội Lồng ngực khác
đồng loạt đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COPD [69].
Năm 1997 Viện Huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (NHLBI) phối hợp với Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) đề ra chương trình khởi động tồn cầu về COPD là GOLD.
Năm 2001, GOLD đã đưa ra bản khuyến về điều trị và quản lý COPD. Từ đó đến
nay, hằng năm, GOLD đưa ra bản cập nhật hướng dẫn chẩn đốn và điều trị COPD.
1.1.3.2. Tình hình dịch tễ học thế giới
Halbert và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tại 28 quốc gia từ năm 1990 đến năm
2004 cung cấp bằng chứng cho thấy tỉ lệ mắc COPD cao hơn ở người hút thuốc lá so
với người không hút thuốc, ở người trên 40 tuổi cao hơn so với những người dưới 40
tuổi, và tỉ lệ đó ở nam cao hơn nữ [21]. Dự án nghiên cứu bệnh phổi tắc nghẽn ở Mỹ
Latinh đã kiểm tra sự phổ biến của giới hạn luồng khơng khí do giãn phế quản trong
40 năm ở một thành phố lớn của mỗi quốc gia Mỹ Latinh - Brazil, Chilê, Mexico,
Uruguay, và Venezuela. Tại mỗi quốc gia, tỉ lệ COPD tăng lên theo độ tuổi, với tỷ lệ
hiện mắc cao nhất nằm trong độ tuổi trên 60 tuổi [28]. Tỉ lệ phổ biến trong tổng dân
số dao động từ 7,8% ở Mexico và lên tới 19,7% ở Montevideo, Uruguay. Ở tất cả 5
thành phố, tỉ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn ở nữ tương phản với những phát hiện từ các
thành phố châu Âu như Salzburg, Áo. Tại Mỹ năm 1994 có khoảng 16,365 triệu người
mắc COPD trong đó có tới 50% số người bệnh bị bỏ sót khơng được chẩn đốn. Tỷ
lệ mắc bệnh ước tính vào khoảng 4 – 5% dân số, đã có xấp xỉ 96.000 người chết trong
năm vì bệnh. COPD được ước tính với tỷ lệ mắc là 6,2% ở 11 nước thuộc Hiệp hội
bệnh hô hấp châu Á Thái Bình Dương [14]. Chương trình Gánh nặng bệnh phổi tắc
nghẽn (The Burden of Obstructive Lung Diseases - BOLD) cũng đã tiến hành các
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
8
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
cuộc điều tra ở 29 quốc gia và đã thống kê được tỷ lệ bệnh COPD ở mức 2 cao nhất
là 10,1%, chiếm 11,8% đối với nam và 8,5% đối với nữ và tỷ lệ hiện mắc COPD từ
3-11% trong số những người không hút thuốc lá. BOLD cũng đã kiểm tra tỷ lệ COPD
ở Bắc và Hạ Sahara ở Châu Phi và Ả rập Xê út và kết quả tương tự [18]. Dựa vào
nghiên cứu dịch tễ học BOLD và các nghiên cứu dịch tễ học quy mơ lớn khác, ước
tính số ca COPD là 384 triệu người vào năm 2010, với tỷ lệ hiện nhiễm toàn cầu là
11,7% (khoảng tin cậy 95% CI 8,4% -15,0%) [64]. Trên tồn cầu, có khoảng ba triệu
người chết mỗi năm. Với tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá đang gia tăng ở các nước đang phát
triển và dân số già ở các quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ mắc COPD dự kiến sẽ tăng
trong 30 năm tới, và COPD sẽ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới
vào năm 2020, năm 2030 có thể có hơn 4,5 triệu ca tử vong hàng năm do COPD và
các bệnh liên quan [67].
1.1.3.3. Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ về COPD tuy cịn ít nhưng cũng cho thấy COPD
cũng có chiều hướng tăng theo xu hướng chung của thế giới. Theo báo cáo của
Nguyễn Đình Hường (1994) cho thấy COPD là bệnh hay gặp nhất trong số các bệnh
phổi mạn tính ở người lớn, với tỷ lệ mắc từ 4-5% [10]. Trong nghiên cứu điều tra của
Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư > 35 tuổi của
phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [7]. Ngô Quý Châu và
cộng sự (2012) nghiên cứu dịch tễ học COPD trong cộng đồng dân cư có tuổi từ 40
trở lên của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả 2 giới là 2%. Tỷ lệ mắc
bệnh ở nam là 3,4% và ở nữ là 0,7% [6]. Theo Trung tâm hô hấp - Bệnh viện Bạch
Mai, mỗi năm trung tâm tiếp nhận khoảng gần 2000 người bệnh mắc COPD đến điều
trị nội trú và hàng chục ngàn người bệnh khác điều trị ngoại trú; 90% trong số họ đều
có thâm niên hút thuốc lá trên 20 năm [6]. Như vậy, ước tính có khoảng 4,2% dân số,
tương đương 3,8 triệu người Việt Nam mắc COPD. Theo Ban điều hành dự án phòng
chống COPD quốc gia Việt Nam, hiện nay người mắc COPD đang có xu hướng trẻ
hóa do thanh thiếu niên hút thuốc từ rất sớm, ngoài ra một số người bệnh chưa tuân
thủ đúng hướng dẫn điều trị và dự phịng, cộng với sự ơ nhiễm khói bụi mơi trường
khiến cho tỉ lệ mắc bệnh càng tăng và tỉ lệ bệnh nặng càng cao.
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
9
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
Yếu tố mơi trường
Ngun nhân chính của COPD là khói thuốc lá (bao gồm cả hút thuốc lá thụ động
hoặc tiếp xúc với khói thuốc). WHO ước tính rằng trong năm 2005, 5,4 triệu người
chết do sử dụng thuốc lá. Tử vong do thuốc lá ước tính sẽ tăng lên 8,3 triệu người
mỗi năm vào năm 2030 [59].
Ơ nhiễm khơng khí trong nhà: ở các nước có thu nhập thấp, ơ nhiễm khơng khí trong
nhà như sử dụng nhiên liệu sinh học để nấu ăn và sưởi ấm trở thành một trong các
nguyên nhân gây bệnh chủ yếu [59]. Gần 3 tỷ người trên thế giới sử dụng than làm
nguồn năng lượng chính để nấu ăn, sưởi ấm và các nhu cầu khác ở các khu vực Trung
Đông, Châu Phi và Châu Á. Trong các cộng đồng này, nguyên nhân do ô nhiễm không
khí trong nhà dẫn đến nguy cơ mắc COPD cao hơn so với hút thuốc lá hoặc ô nhiễm
khơng khí ngồi trời, ước tính sẽ giết chết hai triệu phụ nữ và trẻ em mỗi năm [59].
Các yếu tố nguy cơ khác của COPD bao gồm bụi và hóa chất lao động (như hơi, chất
kích thích và khói) cũng là một trong các nguyên nhân gây COPD [59].
Yếu tố cơ thể
Tăng nhạy cảm đường dẫn khí: là tình trạng đường dẫn khí phản ứng quá mức với
những chất kích thích từ khơng khí, như khói thuốc lá và chất ô nhiễm.
Yếu tố di truyền: yếu tố nguy cơ di truyền được ghi nhận là sự thiếu hụt enzym alpha1 antitrypsin (alpha-1 antitrypsin-AAT), một chất ức chế serine protease giúp bảo vệ
phổi khỏi bị tổn thương. Mặc dù sự thiếu hụt AAT chỉ có liên quan đến một phần nhỏ
dân số thế giới nhưng nó minh hoạ sự tương tác giữa gen và các phơi nhiễm môi
trường dẫn đến mắc COPD. Ngoài ra, một yếu tố di truyền khác liên quan tới các gen
đơn cũng gây ảnh hưởng, chẳng hạn như matrix mã hóa gen metalloproteinase 12
(gene-encoding matrix metalloproteinase 12 - MMP12), có liên quan đến sự suy giảm
chức năng phổi. Một số nghiên cứu liên kết gen đã kết hợp các locus di truyền với
COPD (hoặc FEV1 hoặc FEV1/FVC làm kiểu hình) bao gồm các marker gần receptor
acetylcholine alpha-nicotinic, hedgehog tương tác protein và một số khác. Tuy nhiên,
vẫn chưa rõ liệu những gen này có trực tiếp chịu trách nhiệm cho COPD hay chỉ là
những dấu hiệu của các gen gây bệnh [64].
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
10
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Tuổi và giới tính: tuổi thường được liệt kê như là một yếu tố nguy cơ đối với COPD.
Tuổi càng lớn thì cấu trúc của đường thở và nhu mô cũng sẽ thay đổi. Trước đây, hầu
hết các nghiên cứu đều báo cáo rằng tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong ở người bệnh
COPD ở nam cao hơn nữ liên quan tới hút thuốc lá, nhưng những dữ liệu mới đây từ
các nước phát triển cho thấy tỷ lệ COPD gần như bằng nhau ở nam giới và phụ nữ.
Mặc dù gây tranh cãi, một số nghiên cứu thậm chí cịn cho rằng phụ nữ dễ bị ảnh
hưởng bởi khói thuốc lá hơn nam giới, dẫn đến bệnh nặng hơn khi tiêu thụ lượng
thuốc lá tương đương [64].
Sự phát triển của phổi: sự phát triển của phổi có liên quan đến q trình phát triển ở
bào thai, trọng lượng khi sinh và các phơi nhiễm trong thời niên thiếu. Nếu chức năng
phổi của một người khi trưởng thành khơng đạt được mức bình thường thì có nguy
cơ sau này dễ bị COPD [64].
Tình trạng kinh tế xã hội: tình trạng kinh tế xã hội thấp có liên quan đến nguy cơ phát
triển COPD. Có bằng chứng cho rằng nguy cơ mắc COPD có liên quan nghịch đến
tình trạng kinh tế xã hội. Tuy nhiên, khơng rõ liệu mơ hình này có phản ánh các nguy
cơ như ơ nhiễm khơng khí trong nhà và ngồi trời, đông dân, dinh dưỡng kém, nhiễm
trùng hay các yếu tố khác liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội thấp [64].
Tăng đáp ứng đường thở: hen và tăng đáp ứng đường thở cũng được xác định là yếu
tố nguy cơ cho COPD. Trong nghiên cứu Khảo sát sức khoẻ hô hấp của cộng đồng
châu Âu, tăng đáp ứng đường thở là yếu tố nguy cơ đứng thứ hai sau hút thuốc lá,
chiếm 15% nguy cơ. Cơ chế của tăng phản ứng đường thở dẫn đến COPD còn đang
được nghiên cứu nhưng các tác giả cho rằng tăng phản ứng đường thở là hậu quả rối
loạn thơng khí trong COPD [64].
Triệu chứng
1.1.5.1. Đặc điểm lâm sàng
Khó thở: là triệu chứng chính của COPD. Bao gồm hít thở khó khăn, nặng ngực, hụt
hơi hoặc thở hổn hển.
Ho mạn tính: thường là triệu chứng đầu tiên của COPD. Ban đầu, ho có thể khơng
liên tục, nhưng sau đó có thể thường xuyên suốt cả ngày. Trong một số trường hợp,
giới hạn khơng khí đáng kể có thể phát triển nếu khơng có ho [64].
Tn thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
11
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Tiết đờm: người bệnh COPD thường tiết một lượng nhỏ đờm khi ho kéo dài trong ba
tháng hoặc nhiều hơn trong hai năm liên tiếp, đờm có thể tiết liên tục với thời kỳ bùng
phát xen kẽ với thời kỳ thuyên giảm. Người bệnh tiết nhiều đờm có thể mắc bệnh phế
quản. Sự hiện diện của đờm mủ phản ánh sự gia tăng các chất trung gian gây viêm và
sự gia tăng vi khuẩn, mặc dù mối liên hệ tương đối yếu [64].
Thở khò khè: là các triệu chứng có thể thay đổi giữa các ngày và trong một ngày.
Tiếng thở khị khè có thể xuất hiện ở thanh quản mà không cần phải đi kèm với các
dị tật. Đau thắt ngực thường đi kèm với gắng sức, kém tập trung và có thể phát sinh
từ sự co đồng bộ của các cơ [64].
Mệt mỏi, giảm cân và chán ăn: là những vấn đề phổ biến ở người bệnh COPD trầm
trọng và nặng. Ngất xỉu trong khi ho xảy ra do áp lực trong lồng ngực tăng nhanh
trong các đợt tấn ho cấp tính. Các cơn ho cũng có thể gây sỏi sọ, đơi khi khơng có
triệu chứng. Các triệu chứng trầm cảm hoặc lo lắng cần được nghiên cứu cụ thể khi
có tiền sử vì bệnh này thường gặp ở COPD [64].
1.1.5.2. Đặc điểm cận lâm sàng
Chụp X-quang phổi: có thể thấy những biểu hiện của giãn phế nang, trong đợt cấp có
thể thấy hình ảnh tổn thương phế quản – phổi.
Xét nghiệm máu: trong đợt cấp thấy số lượng bạch cầu tăng, tốc độ lắng máu tăng.
Xét nghiệm đờm: tìm vi khuẩn gây bệnh, chú ý tìm BK.
Thăm dị chức năng hơ hấp: thường thấy giảm dung tích sống [1].
Các chỉ số chức năng hơ hấp trong COPD
1.1.6.1. Hạn chế luồng khí
Hạn chế luồng khí thở ra định nghĩa bởi tỉ số FEV1/FVC < giới hạn dưới bình thường
hoặc FEV1/FVC < 70% theo khuyến cáo GOLD [64] [25]. Hạn chế luồng khí thở khi
FEV1 ± FVC tăng 200 ml và 12% sau 15 phút sau trắc nghiệm giãn phế quản (hít 400
mcg thuốc kích thích giao cảm β2) [25]. Hạn chế luồng khí thở ra khơng phục hồi
hồn tồn là khi FEV1/FVC < 70% sau trắc nghiệm giãn phế quản [64]. Hạn chế
luồng khí thở ra là hậu quả của viêm tiểu phế quản kết hợp khí phế thủng [64]. Viêm
tiểu phế quản gây hẹp đường thở, tăng kháng lực đường thở, cản trở luồng khí đi ra
khỏi phổi; khí phế thủng do giảm và/hoặc đứt gãy sợi đàn hồi quanh phế nang làm
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
12
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
giảm đàn hồi của phổi, giảm áp lực đẩy khí từ trong phế nang ra ngồi, hậu quả chung
làm giảm lưu lượng khí thở ra. Hạn chế luồng khí thở ra được phân loại nặng nhẹ dựa
trên tỷ lệ % FEV1 dự đốn, có khác biệt giữa các khuyến cáo của GOLD [59] và
ERS/ATS [37] thể hiện ở Bảng 1.1.
Bảng 1.1. Phân loại mức độ hạn chế luồng khí.
Mức độ
ERS/ATS 2005
Mức độ
GOLD 2019
Nhẹ
70% ≤ Pre FEV1
GOLD 1
80% ≤ Post FEV1
Vừa
60% ≤ Pre FEV1 < 70%
GOLD 2
50% ≤ Post FEV1 < 80%
Vừa – Nặng
50% ≤ Pre FEV1 < 60%
GOLD 3
30% ≤ Post FEV1 < 50%
Nặng
35% ≤ Pre FEV1 < 50%
GOLD 4
30% > Post FEV1
Rất nặng
35% > Pre FEV1
ERS/ATS
Hội hô hấp châu Âu/Hội lồng ngực Hoa Kỳ
GOLD
Chiến lược tồn cầu quản lý COPD
FEV1
Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên
Pre/Post
Trước/sau trắc nghiệm giãn phế quản
1.1.6.2. Ứ khí phế nang
Thể tích phổi cuối thì hít vào gắng sức là tổng dung lượng phổi (TLC). TLC được
cấu thành từ các thể tích phổi và dung tích phổi thành phần, trong đó dung tích phổi
là tổng của ít nhất hai thể tích phổi [66].
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
13
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
Từ viết tắt
IRV
Thể tích dự trữ hít vào
VT
Thể tích khí lưu thơng
ERV Thể tích dự trữ thở ra
RV
Thể tích khí cặn
IC
Dung tích hít vào
FRC Dung tích khí cặn chức
năng
FVC Dung tích sống gắng sức
TLC Tổng dung lượng phổi
TLC = IRV + VT + ERV + RV.
TLC = (IRV + VT) + (ERV + RV) = IC + FRC.
TLC = [(IRV + VT) + ERV] + RV = [IC + ERV] + RV = FVC + RV.
Hình 1.3. Các thể tích và dung tích phổi.
Ứ khí phế nang là thuật ngữ sinh lý bệnh để chỉ tình trạng khí ứ lại ở phế nang nhiều
hơn bình thường, TLC > 120% so với dự đoán [66]. TLC tăng thường kèm tăng thể
tích khí cặn RV, dung tích khí cặn chức năng FRC [66]. Khí phế thủng là cơ chế
chính gây ứ khí phế nang bên cạnh cơ chế phụ là tăng kháng lực đường thở gây cản
trở khí thoát ra khỏi phế nang. COPD giai đoạn nhẹ, RV và FRC đã tăng nhưng TLC
có thể vẫn cịn trong giới hạn bình thường. COPD giai đoạn nặng, RV và FRC có thể
tăng rất nhiều so với TLC [66]. Ứ khí phế nang có ý nghĩa lâm sàng khi RV/TLC >
35% [66]. FRC là thể tích phổi khi có cân bằng giữa lực đàn hồi của phổi kéo xẹp
phổi và lồng ngực với lực đàn hồi của thành ngực kéo nở phổi và lồng ngực. Khí phế
thủng làm giảm lực đàn hồi của phổi, lúc này lực đàn hồi của thành ngực sẽ kéo nở
phổi và lồng ngực. FRC nghỉ tĩnh sẽ lớn hơn bình thường. Đây là tiêu chuẩn xác định
ứ khí phế nang khi nghỉ tĩnh [66]. FRC không hằng định mà thay đổi theo tần số thở.
Thở nhanh khi vận động trong COPD làm rút ngắn thời gian thở, khí trong phế nang
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
14
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
khơng kịp thốt ra ngồi thì khí sẽ ứ lại làm cho FRC khi vận động lớn hơn FRC khi
nghỉ tĩnh. Đây là tiêu chuẩn xác định ứ khí phế nang khi vận động [66].
Chẩn đốn
1.1.7.1. Chẩn đốn xác định
Trong tiền sử hoặc hiện tại có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá, thuốc lào,
tiếp xúc với khói bụi hoặc hóa chất, khói bếp hoặc khói của nhiên liệu đốt.
- Ho, khạc đờm: 3 tháng/năm, và liên tiếp trong 2 năm trở lên.
- Khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian và khó thở liên tục. BN phải gắng sức
để thở, thở nặng, cảm giác như thiếu khơng khí, hoặc thở hổn hển. Khó thở tăng khi
gắng sức, nhiễm trùng hơ hấp.
- Khám lâm sàng: rì rào phế nang giảm là dấu hiệu thường gặp nhất, có thể có tiếng
ran rít, ran ngáy, trong các đợt cấp có thể thấy ran ẩm, ran nổ. Lồng ngực hình thùng,
gõ vang trống. Ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của suy tim phải (gan to,
tĩnh mạch cổ nổi, phù 2 chân).
- X-quang phổi chuẩn: ít có giá trị chẩn đốn, hình ảnh của viêm phế quản mạn tính
“phổi bẩn” hoặc “khí phế thũng”.
- Đo chức năng hô hấp: Rối loạn thông khí tắc nghẽn khơng hồi phục hồn tồn, là
tiêu chuẩn vàng chẩn đoán và đánh giá mức độ COPD.
- Test hồi phục phế quản âm tính [4].
1.1.7.2. Chẩn đốn mức độ COPD
Bảng 1.2. Chẩn đoán mức độ COPD theo AST, ERS, GOLD.
Theo ERS – 1995 [70]
Theo ATS - 1995 [69]
GĐ 1
FEV1 ≥ 50%
Mức độ nhẹ
so với trị số lý thuyết
GĐ 2
35% ≤ FEV1 < 50%
so với trị số lý thuyết
Mức độ TB
so với trị số lý thuyết
GĐ 3
FEV1 < 35%
FEV1 ≥ 70%
50% ≤ FEV1 < 70%
so với trị số lý thuyết
Mức độ nặng
so với trị số lý thuyết
Tuân thủ Luật sở hữu trí tuệ và Quy định truy cập tài liệu điện tử.
Ghi rõ nguồn tài liệu khi trích dẫn.
FEV1 < 50%
so với trị số lý thuyết
15