ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
----------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀ NH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đề tài:
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG GENJI
MONOGATARI CỦA MURASAKI SHIKIBU
Người hướng dẫn:
ThS Nguyễn Phương Khánh
Người thực hiện:
Ngô Thị Hồng Thắm
Đà Nẵng, tháng 5/2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 7
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
5. Cấ u trúc đề tài ............................................................................................... 8
NỘI DUNG....................................................................................................... 9
Chương 1: Murasaki Shikibu và thế giới diễm tình trong Genji monogatari .... 9
1.1. Murasaki Shikibu - nữ sĩ thiên tài và những nỗi cô đơn ............................ 9
1.2. Genji monogatari - thế giới của niềm bi cảm .......................................... 12
1.3. Hệ thống nhân vật nữ trong Genji monogatari ........................................ 20
Chương 2: Nhân vật nữ - những hình tượng độc đáo ............................... 28
2.1. Người nữ của vẻ đẹp thuần khiết, trong trắng ......................................... 28
2.1.1. Vẻ đẹp tuyệt sắc, dịu dàng, thoáng chút hư ảo ..................................... 28
2.1.2. Người nữ đầy tài năng với tâm hồn đa cảm, giàu lòng nhân hậu ......... 31
2.1.3. Tâm hồn thấm đượm niềm bi ai của cuộc sống thế nhân ..................... 36
2.2. Người nữ của đam mê và dục vọng ......................................................... 39
2.2.1. Thế giới nội tâm dữ dội, cuồng nhiệt trong những khát khao yêu đương... 39
2.2.2. Cái đẹp trong một hiện hữu hỗn tạp ...................................................... 43
2.3. Người nữ yểu mệnh .................................................................................. 48
2.3.1. Cái đẹp trầm luân .................................................................................. 48
2.3.2. Những tâm hồn mong manh, yếu đuối .................................................. 50
2.3.3. Bị hủy diệt bởi thời gian ....................................................................... 53
2.4. Người nữ tìm về bên kia bờ thế tục.......................................................... 56
2.4.1. Trầm luân trong những mối tình tội lỗi................................................. 56
2.4.2. Tìm đến cửa Phật để giải thốt tâm hồn................................................ 60
Chương 3: Tính nữ và mĩ học về cái đẹp vĩnh cửu .................................... 65
3.1. Tính nữ và niềm bi cảm thời gian ............................................................ 65
3.2. Cái đẹp vô thường - phạm trù của mĩ học Nhật Bản ............................... 74
3.3. Từ Murasaki Shikibu đến Yasunari Kawabata - sự tiếp nối truyền thống....... 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 91
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trước vịng quay khắc nghiệt của thời gian, kiếp sống phù du của con
người chỉ như một bóng hình hư ảo trong hư khơng, chờ đợi ngày trở về với
cát bụi. Thời gian và tạo vật đều xoay vần trước cái tuần hoàn của vũ trụ,
nhưng kiếp người ngắn ngủi, một lần ra đi không bao giờ trở lại! Sự luân hồi
của kiếp người nếu có thì cũng đã là một kiếp sống khác! Thời gian sẽ khiến
người đời lãng quên ta! Ấy vậy mà, người phụ nữ sống cách ta mười thế kỉ
Murasaki Shikibu vẫn bất tử trước tro than và cát bụi trần gian cùng với tuyệt
phẩm Genji monogatari trong vẻ đẹp thanh khiết của dòng văn học xứ sở Phù
Tang.
Murasaki là con người của thời đại Heian chảy xuyên suốt mấy thế kỉ
với dịng văn học tràn đầy nữ tính. Đó là dòng văn chương quý tộc với vẻ đẹp
nhàn nhã, thanh khiết mà mang đậm nỗi buồn nhân thế! Thiên tính nữ của
chính nàng, những nỗi cơ đơn và những bi kịch đời tư, sự thấm nhuần những
truyền thống văn chương chảy trong mạch nguồn của văn hóa Nhật Bản đưa
nàng bầu bạn với nghệ thuật, trở thành người mẹ khai sinh ra tiểu thuyết trong
ngọn triều cô phong của sáng tạo nghệ thuật. Marasaki có ý thức rất tiến bộ về
vai trò nghệ thuật trong đời sống thường ngày. Với nàng, hơn tất cả những
huyền sử, những tập thơ ca trước, truyện kể với nàng mới chính là nơi phản
ánh đầy đủ nhất cuộc sống của con người đời thường cùng với những biến
động trong đời sống tâm lí. Như chính nàng mượn lời nhân vật trong Genji
“vì sử sách, như cuốn Nihonshoki chỉ cho ta thấy một góc nhỏ hẹp của đời
sống. Trong khi đó, những cuốn nhật kí và tiểu thuyết mà tơi thấy chất đầy
quanh đây chắc chắn chứa đựng những sự việc chi li nhất về những cuộc đời
riêng tư”.
Genji monogatari là đỉnh cao sáng tạo của Murasaki, đưa nàng đến
2
đỉnh cao của vinh quang. Thứ vinh quang mà ánh sáng của nó tỏa suốt ngàn
năm nay, xuyên thấm vào tâm hồn của bao nhiêu con người, bao nhiêu thế hệ
nhà văn Nhật Bản! Genji là một trong các tác phẩm cổ điển hiếm hoi đi vào
chiều sâu tâm thức của con người với những dòng cảm xúc mê đắm, yêu
thương…mà trên tất cả chính là niềm bi cảm với thời gian. Thế giới của các
nhân vật nữ trong những chuyến phiêu lưu tình ái với người tình Genji là nơi
thể hiện tồn bích nhất cảm thức Mono no aware. Với đề tài Hình tượng nhân
vật nữ trong Genji monogatari của Murasaki Shikibu mở ra một con đường
để người nghiên cứu đào sâu vào trong thế giới nghệ thuật Murasaki trong nỗi
niềm bi cảm trước thời gian.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn học Phù Tang trong xuyên suốt chiều dài phát triển đã để lại cho
nhân loại nhiều thi phẩm tuyệt vời mà Genji monogatari được xem là đỉnh
cao của sáng tạo. Nó chứa đựng trong đó những tâm tư, tình cảm, trăn trở, suy
tư của con người từ ngàn năm trước như tiếng vọng âm thầm từ nghìn xưa
đến hiện tại. Dù Genji ra đời từ thời kì văn học cổ trung đại Nhật Bản nhưng
cho đến bây giờ, vẫn có rất nhiều bài viết nghiên cứu về nhiều mặt nội dung
và nghệ thuật trong tác phẩm này.
Nhật Bản trong chiếc gương soi của Nhật Chiêu như một tấm gương
phản chiếu hồn cốt của văn học Phù Tang. Với Chiếc gương thứ 8: Tiểu
thuyết, Nhật Chiêu mang đến cho người đọc phần hồn của tiểu thuyết Nhật
Bản với hai tác giả tiêu biểu là Murasaki Shikibu và Kawabata Yasunari. Nhật
Chiêu tôn vinh Murasaki như người mẹ khai sinh ra tiểu thuyết với cảm hứng
bi thương và độc đáo vô song, với ý thức sâu sắc về giá trị thật sự của nghệ
thuật. Bao trùm toàn bộ tiểu thuyết Genji là cảm thức Mono no aware (vật ai)
gắn với hình tượng nhân vật Genji trong cảm thức bi ai về nỗi vô thường của
sự vật và nhân thế.
3
Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868 là một cơng trình dày dặn về
diễn trình văn học Nhật từ thời bình minh - Nara đến văn chương phù thế thời
Edo. Chương bốn: Genji monogatari - thế giới của niềm bi cảm trong phần
văn học thời kì Heian cho người đọc một cái nhìn sâu sắc về tác phẩm này.
Nhật Chiêu giới thiệu về Murasaki những khía cạnh đời tư, những nỗi cô đơn
và bi kịch riêng cùng những quan niệm về tiểu thuyết khá độc đáo của người
phụ nữ sống cách đây hơn một ngàn năm. Tác giả tóm tắt sơ lược Genji để
người đọc nắm nội dung chính của Genji vốn là một tác phẩm khơng có trung
tâm. Thời gian, cái đẹp trong niềm bi cảm trước cái vô thường của tạo vật là
điều mà tác giả dụng tâm trên trang viết của mình. Như một cách bảo vệ nhân
vật Genji mà nhiều người cho là một chàng trai phóng túng, Nhật Chiêu đưa
ra đối sánh thú vị với nhân vật Don Joan trong Mười ngày của Boccaccio để
làm nổi bật nhân cách lỗi lạc của người tình vĩ đại Genji trong nỗi khắc khoải
thời gian trước cái đẹp phù du, vơ thường. Như chính Nhật Chiêu đã mượn lời
của nhà phê bình Motoori Norinaga “Mục đích của truyện Genji có thể so
sánh với một người vì yêu hoa sen phải gom cả bùn lầy để vun trồng lồi hoa
đó. Chất bùn ơ trọc của những tình u bất chính trong Genji khơng đưa ra để
làm gương mà để vun trồng cho loài hoa của niềm bi cảm nhân sinh.
Hành động của hoàng tử Genji tựa như hoa sen cắm rễ trong nước đục
đầm lầy. Nhưng truyện không dựa vào thứ nước ô trọc ấy mà dựa vào những
ai có trái tim đồng cảm với nỗi buồn nhân thế và xem cảm thức này là cội rễ
của hiền nhân”.
Nhật Chiêu khép lại bài viết bằng những ảnh hưởng của Genji đối với
văn học Nhật Bản hiện đại như một lời khẳng định Genji monogatari như
suối nguồn bất tận nuôi dưỡng cảm hứng thi ca mọi thời đại.
Với Cuộc du quan 7: Nhật Bản trong Câu chuyện văn chương phương
Đông, Nhật Chiêu đưa người đọc bước vào thế giới của những vẻ đẹp tinh tế,
4
dịu dàng mà huyền nhiệm qua các thời kì văn học Nhật Bản với các tác phẩm
tiêu biểu từ huyền thoại, thơ ca đến tiểu thuyết và sân khấu Noh u huyền.
Phần viết về Genji monogatari tuy có thay đổi về cách trình bày so với hai bài
viết nêu trên nhưng cơ bản vẫn đề cập lại những vấn đề như nỗi cô đơn, quan
niệm nghệ thuật của Murasaki, niềm bi cảm trước thời gian và cái đẹp. Qua
đó, ta có thể khẳng định hồn cốt của tác phẩm đọng lại ở chính những điều đó.
Hữu Ngọc với Hoa anh đào và điện tử, Dạo chơi vườn văn học Nhật
Bản có đề cập đến Genji monogatari trong dịng văn học nữ lưu thời Heian.
Tác giả giới thiệu một vài nét khái qt về văn học Heian - thời kì hồng kim
của văn học Phù Tang với những nét đặc trưng cơ bản và một số tác giả tác
phẩm tiêu biểu. Ở bài viết về Genji monogatari trong cả hai quyển nêu trên,
tác giả tóm lược nội cơ bản của Genji và nhận xét về giá trị ở những nét miêu
tả con người, phong tục tập quán, phân tích tâm lí sâu sắc…
Khương Việt Hà với Truyện kể Genji in trong 101 vẻ đẹp văn chương
Việt Nam và thế giới xem Genji monogatari là một tiểu thuyết theo nghĩa hiện
đại đầu tiên của nhân loại, sớm hơn rất nhiều so với tiểu thuyết châu Âu với
tác phẩm Donkihote của Cervantes vào thế kỉ XVI. Genji là một tác phẩm có
dung lượng khá dài, đan xen nhiều mối quan hệ ngổn ngang nên Khương Việt
Hà cũng đi vào tóm tắt tác phẩm như nhiều nhà nghiên cứu khác. Tác giả chú
ý đến giá trị tác phẩm ở hệ thống đề tài và nghệ thuật tự sự trong sự dung hợp
hài hòa giữa tự sự và trữ tình.
Văn học Nhật Bản từ cổ điển đến cận đại là cơng trình nghiên cứu khá
sâu sắc về văn học Nhật Bản của nhà Đông phương học N.I.Konrat. Trong tư
duy của người phương Tây có nhiều khác biệt với văn hóa phương Đơng,
Konrat tiếp cận tác phẩm ở những khía cạnh riêng. Ơng khẳng định sự thành
công của Genji với tư cách là một tiểu thuyết được xây dựng trên ba trục cơ
bản: đậm tính hiện thực, sử dựng chữ Kana đạt đến trình độ nghệ thuật cao, đề
5
tài tình yêu. Tác giả đề cao những tư tưởng mới mẻ trong quan niệm nghệ
thuật của Murasaki, sự tự ý thức đối với vai tò của tiểu thuyết trong đời sống.
Xây dựng hồng tử Genji có xuất thân cao q nhưng khơng bị ràng buộc
trong vịng lễ giáo mà thỏa đam mê với những người phụ nữ quanh chàng là
một thủ pháp xây dựng nhân vật hiệu quả để biểu hiện đề tài một cách trọn
vẹn. Konrat đánh giá cao cốt truyện được xây dựng trên trục thời gian của
hành động và tác động của hoàn cảnh khiến Genji không rơi vào sự nhàm
chán nếu chỉ xây dựng tác phẩm thuần túy theo trình tự thời gian. Tác giả tóm
tắt khá kĩ lưỡng tác phẩm và xen vào đó những nhận định riêng của mình về
nhân vật. Qua bài viết của Konrat, người đọc có được cái nhìn sâu sắc hơn về
tư tưởng, ý thức nghệ thuật mà Murasaki in dấu trong tác phẩm. Bản thân
người viết cũng có được một số tư liệu về một số nhân vật nữ in dấu trong
cuộc đời Genji để làm tốt đề tài.
Tháng 9 năm 2009, tại hội thảo Văn học Nhật Bản, qua hai bài thuyết
trình Lịch sử và đặc trưng văn học Nhật Bản - Từ Mononoaware đến Kawai,
“Thế giới thơ và tiểu thuyết” - Từ Truyện Genji đến Murakami Haruki,
Mitsuyoshi Numano đã giới thiệu những nét đặc trưng nổi bật của văn học
Nhật; một số vấn đề về tiếng Nhật đến những thể loại cơ bản của văn học Phù
Tang bao gồm tanka, haiku, thơ hiện đại trong xu hướng duy trì, tiếp thu, phát
triển những thể thơ cổ; các thể loại thời kì trước tiểu thuyết cận hiện đại là tản
văn gồm sách sử, truyện kể, tùy bút, lữ hành kí, nhật kí và giới thiệu một số
tác giả tiêu biểu của tiểu thuyết từ cận đại đến nay như Kawabata,
Akutagawa, Natsume Soseki, Haruki Murakami…Trong đó, Mitsuyoshi
Numano đánh giá Genji monogatari là một trường thiên tiểu thuyết kinh điển
có ảnh hưởng lớn đến văn học Nhật Bản và Mono no aware chính cảm thức
thẩm mĩ cơ bản làm nên sự bất tử của tác phẩm này, mang lại vinh quang bậc
nhất cho Murasaki. Bài thuyết trình mang đến cho tơi cái nhìn tồn diện về
6
văn học Nhật Bản trong quá trình phát triển của nó dưới góc độ thể loại.
Năm 2011, Nguyễn Nam Trân cho ra mắt bạn đọc Tổng quan lịch sử
văn học Nhật bản. Tác phẩm cung cấp cho người đọc một cái nhìn tồn diện
về tiến trình phát triển văn học Nhật từ khởi thủy đến hiện đại. Trong Chương
V: Truyện Genji - di sản văn hóa thế giới, niềm tự hào của Nhật Bản, Nguyễn
Nam Trân khái quát đặc điểm văn học trung cổ Nhật Bản, giới thiệu vài nét về
Murasaki, tóm lược nội dung từng chương trong Genji. Đặc biệt, tác giả đi
vào thống kê, lập bảng khảo sát một số nhân vật nữ đi qua cuộc đời Genji và
để lại dấu ấn sâu đậm trong chàng. Từ đó, người nghiên cứu có thể có thể học
tập cách khảo sát của tác giả để góp phần hồn thiện đề tài nghiên cứu. Tác
giả cũng đánh giá cao giá trị văn chương của Genji về phương diện phương
pháp cấu trúc chịu ảnh hưởng của chất thuần Nhật và Trung Quốc, đặc điểm
văn phong “tính chân thực của hư cấu” và cảm thức Mono no aware bàng bạc
khắp tác phẩm.
Bàn về nghệ thuật tự sự và vấn đề thể loại, Nguyễn Thị Lam Anh trên
tạp chí Đại học Sài Gịn niên giám 2011 có bài viết Genji monogatari của
Murasaki Shikibu - nghệ thuật tự sự và tính lịch sử về mặt thể loại. Trước
tiên, tác giả bàn về khái niệm monogatari (truyện kể) để làm nền tảng cho các
vấn đề trình bày sau. Tác giả đánh giá Genji monogatari như một bước phát
triển đột biến về trình độ tư duy nghệ thuật. Bước đột phá đó chính là ở việc
xây dựng nhân vật với những biến động trong đời sống nội tâm, nghệ thuật hư
cấu, sự kết hợp đan xen giữa hiện thực và huyền ảo…Xét về mặt thể loại,
Genji không đơn thuần là một truyện kể mà rất gần với tiểu thuyết hiện đại
tuy vẫn còn một số điểm hạn chế do sự quy định về hoàn cảnh lịch sử. Như
vậy, dù Genji là một tác phẩm cách đây hơn một nghìn năm nhưng nó vẫn là
một tác phẩm vĩ đại mà chúng ta có thể soi chiếu dưới góc nhìn của những
quan điểm hiện đại.
7
Các cơng trình nghiên cứu kể trên chủ yếu khai thác Genji monogatari
ở phương diện cảm thức thẩm mĩ, niềm bi cảm đối với thời gian, những bước
tiến trong nghệ thuật tự sự trong tác phẩm… Bài viết của Nguyễn Nam Trân
tuy có đề cập đến hệ thống các nhân vật nữ trong Genji nhưng chỉ dừng lại ở
việc lập bảng khảo sát sơ lược, nêu lên một số đặc điểm tính cách của một vài
nhân vật nữ và mối quan hệ với hồng tử Genji. Vì thế, người nghiên cứu vẫn
cịn những khoảng trống để có thể khai thác sâu hơn hình tượng các nhân vật
nữ trong tác phẩm để làm nổi bật quan niệm mĩ học của Murasaki.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : đề tài đi vào nghiên cứu hệ thống hình tượng
các nhân vật nữ trong Genji monogatari.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài đi vào nghiên cứu trong phạm vi tác phẩm
Truyện kể Genji của Murasaki Shikibu, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
(1991). Thế giới nhân vật nữ trong tác phẩm này rất phong phú nhưng chúng
tôi chỉ khảo sát các nữ nhân gồm 9 người để lại dấu ấn sâu đậm trong cuộc
đời nhân vật trung tâm Genji trong phần đầu cũng là phần chính của tác phẩm
(gồm 44 chương) và 1 người nữ in dấu trong cuộc đời nhân vật Kaoru trong
phần sau của tác phẩm (gồm 10 chương).
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát, thống kê: dùng phương pháp này khảo sát hình
tượng nhân vật nữ trong Genji, qua đó khẳng định vai trị của nhân vật nữ
trong sự phản ánh nguyên lí thẩm mĩ của người Nhật.
Phương pháp đối chiếu, so sánh: đối chiếu, so sánh với những tác phẩm
văn học khác, qua đó làm phong phú thêm đề tài nghiên cứu và khẳng định sự
ảnh hưởng mạnh mẽ của tác phẩm trong dòng văn học Nhật Bản.
Phương pháp tiểu sử: tìm hiểu và nghiên cứu tiểu sử nhà văn đặt trong dòng
chảy của thời đại để hiểu và lý giải những hình tượng nghệ thuật trong truyện Genji.
8
5. Cấ u trúc đề tài
Ngoài phầ n mở đầ u, kế t luâ ̣n và tài liêụ tham khảo, nô ̣i dung gồ m có 3
chương:
Chương 1: Murasaki Shikibu và thế giới diễm tình
trong Genji monogatari
Chương 2: Nhân vật nữ - những hình tượng độc đáo
Chương 3: Tính nữ và mĩ học về cái đẹp vĩnh cửu
9
NỘI DUNG
Chương 1: Murasaki Shikibu và thế giới diễm tình
trong Genji monogatari
1.1. Murasaki Shikibu - nữ sĩ thiên tài và những nỗi cô đơn
Văn học Nhật Bản từ lúc ra đời cho đến nay, tuy so với nền văn học đồ
sộ của Trung Quốc thì có kém cạnh về bề dày thời gian. Nhưng có thể khẳng
định văn học của đất nước Phù Tang trong suốt chiều dài phát triển, luôn là
những tác phẩm mang đậm hồn cốt dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử. Mỗi
giai đoạn lịch sử Nhật Bản lại phôi thai ra những áng văn vừa mang đậm sự
nhẹ nhàng, đa cảm, sâu lắng nhưng cũng vừa phập phồng hơi thở thời đại
mình. Văn chương thời kì Heian, thời kì bình an của văn học Nhật được bao
bọc trong khơng khí diễm tình, đa cảm, đầy mùi hương nữ tính. Đó là thời kì
bình an, nhàn nhã của giới quý tộc thượng lưu và cũng là thời mà người đời
sau gọi là thời của văn chương nữ lưu. Những áng văn chương ấy được nuôi
dưỡng trong dịng sữa ngọt ngào, đầy nữ tính của những người phụ nữ quý
tộc.
Trong dòng chảy văn học ấy, Genji monogatari được xem là đỉnh cao
của sáng tạo nghệ thuật, được viết bởi người mẹ của tiểu thuyết Murasaki
Shikibu. Người phụ nữ này dù sống cách ta mười thế kỉ nhưng cùng với
Genji, nàng trở thành hình tượng bất tử trong văn học Nhật. Nàng vượt qua cả
những giới hạn khắc nghiệt của không gian và thời gian. Nhưng nàng cũng là
một người phụ nữ có một kiếp đời riêng với bao thăng trầm, cay đắng, bao
nỗi suy tư về cuộc đời và số mệnh của chính mình.
Murasaki sinh ra vào khoảng năm 978 trong một gia đình nổi tiếng thi
thư, cha là Tametoki, một học giả uyên bác. Nàng thuộc dịng dõi q tộc
lừng danh Fujiwara, nhưng khơng rõ tên thật là gì, thường được gọi là
10
Murasaki Shikibu. Shikibu (thức bộ) là một tước vị nàng thừa hưởng của cha
mình. Trong triều đình Heian, các tiểu thư và các mệnh phụ vẫn thường mang
những tước hiệu khác nhau, thường chỉ có tính chất tượng trưng chứ không
đảm trách một chức vụ cụ thể nào. Tuy vậy, qua việc người phụ nữ được nhận
tước vị từ cha, ta thấy được ở đó một xã hội mà người phụ nữ có ưu thế và có
tiếng nói riêng của mình. Tên nàng - Murasaki có thể chỉ là bút hiệu mà nàng
chọn cho mình theo tên của một nhân vật nữ trong Genji monogatari do chính
nàng sáng tạo. Nhưng cũng có thể cái tên Murasaki bắt nguồn từ một lồi hoa
có màu tím. Dường như mẹ nàng là một trong những nhũ mẫu của thiên
hoàng Ichiyo. Thiên hoàng yêu thích người nhũ mẫu này đến nỗi đặt cho con
gái bà cái tên Murasaki lấy từ một bài thơ nổi tiếng:
Khi cỏ tím (murasaki) dậy màu rực rỡ
Đóa hoa đồng nội chẳng ai nhìn.
Được ni dưỡng trong một gia đình quý tộc có truyền thống văn
chương, ngay từ tấm bé, Murasaki được tắm mình trong chiếc nơi của tri thức,
của văn học nghệ thuật. Đó là một trong những nền tảng cơ bản tạo nên thiên
tài văn chương ở nàng. Đến tuổi đôi mươi, nàng kết hôn với người anh họ
Nobutaka. Nàng sống hạnh phúc trong cuộc hôn nhân êm ấm. Đến năm 1000,
nàng sinh hạ được một bé gái. Những tưởng hạnh phúc của nàng sẽ được kéo
dài mãi, nhưng ngờ đâu, dường như tất cả chỉ là ảo ảnh phù hoa. Chồng nàng
mất ngay một năm sau khi nàng sinh con trong một trận dịch hạch khủng
khiếp. Sau bốn năm chung sống hạnh phúc, giờ đây, nàng trở thành người đàn
bà góa bụa. Nàng sống vài năm ở quê và khoảng 4 năm sau đó, nàng vào cung
phục vụ cho hoàng hậu Akiko, người nhỏ hơn nàng mười tuổi.
Văn học thời kì Heian đón nhận sự nở rộ của các tài năng nữ giới.
Chính vì vậy mà các thể loại nổi bật trong thời kì này cũng đầy chất nữ tính
như monogatari (vật ngữ), zuihitsu (tùy bút), nikki (nhật kí) bên cạnh một số
11
thể loại khác. Murasaki cũng như nhiều tài năng nữ lưu khác, nàng viết nhật
kí như một cách thế ghi lại những câu chuyện đời sống trong thời đại mình,
mà chủ yếu là cuộc sống cung đình. Nhật kí là nơi nàng kí thác những tâm sự
sâu kín trong lịng mình cũng với những biến động trong cuộc đời nàng.
Chính vì vậy, Murasaki nikki là một tập sách vơ cùng quý giá để hậu thế hiểu
thêm về cuộc đời, tâm tư nàng, một người phụ nữ mà thân xác nàng đã vùi
sâu trong lớp tro tàn của dĩ vãng.
Có lẽ mỗi người sinh ra đều được tạo hóa xếp đặt sẵn số mệnh của
chính mình. Và có lẽ như chính Murasaki từng viết trong nhật kí của mình
“định mệnh của tơi là cơ đơn”. Trong cuộc sống cung đình xa hoa, được
hồng hậu vơ cùng trọng dụng; nhưng đĩ vãng đau thương trong hôn nhân,
cùng với sự ganh ghét và đố kị của những người phụ nữ chốn cung đình, nàng
vẫn mang trong mình cảm thức của nỗi cơ đơn, lạc lồi, chán nản trong thực
tại: “Tơi nhớ cuộc sống trước khi của mình như một người lữ khách lang
thang trên những nẻo mộng đời, và tơi chán ghét mình đã quá quên thuộc với
nếp sống cung đình”. Cuộc sống cung đình ngày phải tiếp xúc, trị chuyện với
những người khơng hợp với mình khiến nàng cảm thấy cuộc sống càng vơ vị,
chán nản: “Thật là vơ ích khi nói chuyện với người khơng hiểu mình. Thật là
chán ngán khi phải trị chuyện với những người tự cho mình là siêu đẳng. Đặc
biệt, những người chỉ biết một phía là chán ngán hơn cả. Hiếm có ai am hiểu
nhiều nghệ thuật khác nhau và hầu hết mọi người bám dính vào định kiến của
mình một cách hẹp hịi”. Được cả hoàng hậu lẫn Thiên hoàng yêu mến,
Murasaki bị một mệnh phụ phu nhân trong triều ghen ghét, đặt cho nàng một
biệt danh mỉa mai là tiểu thư Nhật Bản thư kỉ, hàm ý rằng là kẻ kiêu căng về
học vấn, chữ nghĩa.
Tính cách của nàng cũng vơ cùng mạnh mẽ với sự thơng minh và nhạy
bén, sắc sảo hiếm có. Nàng nhìn cuộc đời bằng một cái nhìn thẳng thắn, bộc
12
trực với một quan điểm rộng mở trong cách đối sánh đầy táo bạo: “Chúng ta
có bổn phận phải yêu thương kẻ thù nhưng dễ gì làm được thế. Cả Đức Phật
đại từ đại bi cũng khơng nói chống phá Phật, Pháp, Tăng là một tội nhẹ kia
mà. Hơn nữa, trong thế giới bùn đất này, đối với những người thù ghét ta thì
tốt hơn cả là hãy mặc kệ họ…”.
Sự ghen ghét của người đời cùng nỗi cô đơn của nàng có lẽ là hệ quả
của một thiên tài vượt lên trên tất những con người ở thời đại nàng. Sự thông
tuệ, tài năng uyên bác cùng với những nét tính cách của nàng đã đẩy nàng vào
nỗi cơ đơn. Ngay từ tấm bé, Murasaki đã là một đứa trẻ vô cùng thông minh
và sáng dạ khiến cha nàng phải tiếc rằng nàng khơng phải là trai. Trong nhật
kí của mình, nàng có kể về chuyện học hành thời thơ ấu “Khi em trai tơi cịn
nhỏ, nó phải tập đọc Sử kí của Tư Mã Thiên. Tơi ngồi bên nó, lắng nghe và
học thuộc rất nhanh, cịn nó thì chậm chạm, hay qn”. Và có lẽ, chính tài
năng thiên bẩm ấy đẩy nàng vào cô đơn nhưng cũng đưa nàng lên đến ngọn
triều của sáng tạo nghệ thuật. Genji monogatari chính là áng văn chương trác
tuyệt đưa nàng đạt đến đỉnh cao của sáng tạo, trở thành người mẹ của tiểu
thuyết. Như nhà phê bình nữ Olga Kenyon gần mười thế kỉ sau đã ghi nhận
“Phụ nữ chính là mẹ của tiểu thuyết. Thế mà các nhà phê bình nam giới từng
dạy chúng ta rằng cha đẻ của thuyết là Defoe và Richardson. Nhưng trước đó
rất lâu, chính phụ nữ đã bắt đầu phát triển thể loại tiểu thuyết. Tác phẩm đầu
tiên mà chúng ta được biết là Genji monogatari do Murasaki viết vào thế kỉ
XI ở Nhật. Đó là tiểu thuyết tâm lí đầu tiên của thế giới với cảm hứng phi
thường và độc đáo vô song”.
1.2. Genji monogatari - thế giới của niềm bi cảm
Genji monogatari được coi là bộ tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới. Đó
là một tiểu thuyết trường thiên gồm 54 chương. Có thể chia làm hai phần:
phần đầu gồm 44 chương kể về cuộc đời của hoàng tử Genji với những cuộc
13
phiêu lưu tình ái với nhiều người phụ nữ ở những tầng lớp khác nhau; phần
sau gồm 10 chương viết về cuộc đời của Kaoru - con trai của vợ Genji với
tình nhân trong mối quan hệ với 3 người phụ nữ ở Uji.
Dù ra đời cách đây 10 thế kỉ, nhưng Genji monogatari gây ra rất nhiều
tranh cãi trong giới phê bình văn học Nhật. Một số xem Genji như một tác
phẩm ngấm ngầm truyền bá đạo Phật với tư tưởng nhân quả, tư tưởng karma
(nghiệp báo). Nhóm khác lại cho Genji được viết ra với mục đích giáo huấn,
răn dạy con người. Nhóm khác lại cho rằng đó chỉ là một tiểu thuyết khiêu
dâm, suy đồi. Nhóm thứ tư giả định Genji gần như là một cuốn biên niên sử
trá hình, ghi chép về các nhân vật, các sự kiện và bối cảnh hiện thực. Nhóm
thứ năm cho Genji là tác phẩm dùng để làm sáng tỏ nguyên tắc mĩ học độc
đáo của văn học Nhật. Tất cả những nhận định đó dù phiến diện, mang tính áp
đặt nhưng phần nào đã cho người đọc thấy được tính chất đa âm, lớp lớp tầng
nghĩa sâu kín khơng dễ gì thấu tỏ được trong tác phẩm. Chỉ riêng điều đó đã
chứng tỏ Genji monogatari là đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật mọi thời đại.
Nhận định của nhà phê bình Motoori Norinaga như một con đường
khai sáng cho những ai muốn tìm kiếm giá trị đích thực của Genji
monogatari: “Mục đích của truyện Genji có thể so sánh với một người vì yêu
hoa sen phải gom cả bùn lầy để vun trồng lồi hoa đó. Chất bùn ơ trọc của
những tình u bất chính trong Genji khơng đưa ra để làm gương mà để vun
trồng cho loài hoa của niềm bi cảm nhân sinh.
Hành động của hoàng tử Genji tựa như hoa sen cắm rễ trong nước đục
đầm lầy. Nhưng truyện không dựa vào thứ nước ô trọc ấy mà dựa vào những
ai có trái tim đồng cảm với nỗi buồn nhân thế và xem cảm thức này là cội rễ
của hiền nhân”.
Genji monogatari là một sáng tạo thuần túy Nhật Bản, chứa đựng kết
tinh tinh hoa của truyền thống văn hóa. Tác phẩm mở ra một khơng gian thiên
14
nhiên diễm lệ trong khơng khí nhàn nhã, thanh lịch của một thời kì lịch sử đã
qua: thời kì Heian - thời kì bình an với cuộc sống tao nhã nơi cung đình; mở
ra thế giới tâm hồn phức tạp bên trong con người với những chiều kích khác
nhau với dòng cảm xúc tinh tế, sâu lắng. Genji mang trong mình những thanh
âm vang động của cuộc sống trần tục chứ khơng phải là thế giới huyễn hồ,
huyền bí. Bởi vậy, Genji là con đường mới của tiểu thuyết. Không ngừng mị
mẫm, nó mở ra thế giới thiên nhiên thực và mọi khoảnh khắc thời gian của
cuộc đời thực.
Ngay từ khi mới ra đời, Genji đã là một tiếng nói thành thực về cuộc
sống trần tục của con người trong một thế giới hiện hữu, khám phá chiều sâu
tâm thức con người với bao dòng cảm xúc mê đắm trong niềm bi cảm aware.
Genji monogatari là tiếng hát về niềm bi cảm đầy nghịch lí. Nó chứa đựng
trong đó ngun tắc thẩm mĩ cơ bản của văn học xứ sở Phù Tang: Mono no
aware. Đó là cảm thức bi ai trước cái đẹp của sự vật mà bản chất là vô
thường. Genji không phải là cuộc truy vấn nhân sinh mà là cuộc kiếm tìm cái
đẹp vĩnh hằng. Cái đẹp là vĩnh hằng nhưng hiện thân của nó lại phù du, chóng
tàn. Cái đẹp hiện hữu ấy chỉ như một ảo ảnh thống qua rồi vụt biến vào trong
hư khơng, chỉ cịn lại làn sương khói mơ hồ. Nhưng có lẽ, chính bởi hiện thân
của cái đẹp bị cuốn vào vịng xốy vơ thường trong kiếp đời ngắn ngủi lại
khiến cái đẹp trở nên vĩnh hằng trước tro than và cát bụi trần gian. Có thể nói,
chính sự vơ thường làm nên cái đẹp vĩnh hằng; còn cái đẹp chỉ có thể vĩnh
hằng, trở thành cứu cánh, lí tưởng của con người khi hiện thân của nó chỉ là
phù du. Tựa như cánh hoa anh đào rơi rụng lả tả trong lúc đẹp rực rỡ nhất,
đang độ xuân thì mới tạo nên cảm giác bi ai trong lòng người trước sự tàn
phai của cái đẹp. Chính bởi điều đó mới khiến những đám mây hoa anh đào
ấy trở thành bất tử, tượng trưng cho cái đẹp tơn q, lịng kiêu hãnh của con
người Nhật Bản. Nếu cái đẹp hiện hữu khi cứ mãi trường tồn cùng với trời đất
15
thì có lẽ con người khơng cần phải vất vả tìm kiếm cái đẹp ấy nữa! Thế nên,
cái đẹp là một sự tồn tại đầy nghịch lí: cái đẹp là vĩnh hằng trong sự vơ
thường của chính nó! Và Genji được sinh ra từ những nghịch lí hiển nhiên ấy
trên con đường tìm kiếm cái đẹp vĩnh hằng.
Kết cấu của Genji monogatari được ví như một bức tranh cuộn Nhật
Bản. Mở bức tranh cuộn ấy ra, các nhân vật và biến cố dần dần xuất hiện
trước mắt. Khơng có một trung tâm mà có rất nhiều trung tâm. Khi một sự
kiện mới xuất hiện, nó địi hỏi một sự chú ý mới. Các nhân vật đến rồi đi
nhường chỗ cho các nhân vật khác. Họ là trung tâm ở nơi này nhưng là ngoại
vi ở nơi khác. Những người phụ nữ đến rồi đi trên bước đường phiêu lưu tình
ái của hồng tử Genji được kết nối với nhau khơng bởi mối dây ràng buộc
tình cảm với chàng mà bởi cảm thức đối với thời gian hiện hữu trong tác
phẩm. Bởi vậy, có thể nói trung tâm của tác phẩm chính là thời gian, là niềm
bi cảm đối với thời gian. Thời gian đã mất, thời gian đang trôi, sự suy tàn và
cái chết.
Thời gian trong Genji là thứ thời gian đầy nữ tính. Nó thích cái chết,
tuổi trẻ hơn là sự già nua cằn cỗi. Nó mang trong mình bản chất của tâm hồn
Phù Tang. Tâm hồn yêu chuộng cái đẹp phù du hơn là sự bất tử trong hình hài
xấu xí. Như chính tổ tiên của người Nhật, Nigiri - cháu trai của nữ thần Mặt
trời đã chọn Konohana Sakuya (công chúa Hoa) với vẻ đẹp thuần khiết, trong
trắng nhưng kiếp đời ngắn ngủi hơn là chọn cô chị Iwanaga (cơng chúa Đá)
xấu xí nhưng là hiện thân của sự trường sinh. Thần ngay từ đầu không ngần
ngại chọn lấy cái đẹp phù du hơn là sự trường sinh cằn cỗi. Ngay từ thuở khai
thiên lập địa, con người xứ sở Hoa anh đào đã hướng tâm hồn mình về cái đẹp
vơ thường như một định mệnh. Các nhân vật trong Genji chịu sự chi phối
khắc nghiệt của thời gian. Thời gian cuốn đi những mối tình, những cơ gái
thanh xn. Thời gian bơi xóa đi cuộc đời của những người con gái. Lấy đi
16
của họ tình u, sinh mạng nhưng ối ăm thay chính nó lại lưu giữ cho họ tuổi
trẻ, hình hài thanh xuân. Họ ra đi khi đang ở độ tuổi xuân sắc tựa như những
cánh hoa anh đào tàn rơi như những đám mây hoa khi đang ở độ tuổi xuân thì
đẹp rực rỡ. Nếu những nhân vật nữ trong Genji đều sống với kiếp đời già nua
thì nhan sắc lộng lẫy kia rồi cũng sẽ tàn tạ theo thời gian. Cịn tình u chảy
bóng của một thời tuổi trẻ kia chắc gì sẽ trường tồn mãi với cái hình hài nay
đã già nua trước sự hủy diệt của thời gian? Chính bởi nhiều người nữ trong
cuộc đời Genji ra đi khi nhan sắc đang thì rực rỡ, tình yêu còn đang dâng đầy
trong đáy mắt, chiếm trọn cả linh hồn nên khi mất đi tình u, nỗi đau vị xé
trong tâm hồn hồng tử Genji mới biến những tình u khơng thành ấy trở
thành bất tử, gieo vào lịng chàng nỗi đau thấm thía, nhận thức sâu sắc về nỗi
vô thường của thế cuộc nhân sinh, của cái đẹp phù ảo trước dịng thời gian
đang chảy trơi. Đó là thời gian của mất mát, thời gian gắn với niềm bi cảm
Mono no aware.
Nhiều đánh giá dựa theo những lề thói suy nghĩ thơng thường, đánh giá
hành động của Genji chỉ là một hình thức khiêu dâm và kết án suy đồi. Nhưng
nếu chỉ có như vậy thì Genji monogatari đâu khác gì Koshoku ichidai otoko
(Người đàn ơng đa tình) của Ihara Saikaku thời kì văn chương phù thế Ukiyo
e thời Edo sau nàng gần 7 thế kỉ. Cuộc đời phóng đãng của chàng trai
Yonosuke chỉ là những cuộc truy hoan trong cơn mê của dục vọng và ái tình,
khác hẳn niềm bi cảm aware bàng bạc trong toàn bộ tiểu thuyết Genji qua
hình tượng nhân vật Genji. Có thể nói, tình u trong thế giới của Saikaku săn
đuổi nhục thể và những cái bóng của nó. Tình u trong thế giới của
Murasaki tìm kiếm tâm hồn của con người và tâm hồn của cỏ hoa.
Genji monogatari như một bản đàn cất lên tiếng hát về niềm bi cảm
trước thời gian và vẻ đẹp vô thường của sự vật. Đồng thời, tác phẩm cũng
chứa đựng những quan niệm nghệ thuật hết sức tiến bộ của Murasaki, người
17
phụ nữ sống cách ta 10 thế kỉ.
Với Murasaki, tiểu thuyết giúp ta hiểu biết về đời sống, từ nghìn xưa
đến hiện tại hơn là sử sách “Khơng có tiểu thuyết thì thì làm thế nào chúng ta
biết được con người sống ra sao trong quá khứ, từ thời thần linh đến ngày
hơm nay? Vì sử sách, như cuốn Nhật Bản thư kỉ, chỉ cho ta thấy một góc nhỏ
hẹp của đời sống. Trong khi đó, những cuốn nhật kí và tiểu thuyết mà tôi thấy
chất đầy quanh đây chắc chắn chứa đựng những sự việc chi li nhất về những
cuộc đời riêng tư...”[12, tr 565].
Tiểu thuyết ra đời vừa là phương tiện chân thực phản ánh đời sống, vừa
là tiếng nói của những cảm xúc mà người sáng tạo khơng thể giữ kin trong
lịng là lối tư duy của Murasaki “Nghệ thuật của tiểu thuyết là gì và nó hình
thành như thế nào thì tơi có lí thuyết riêng của mình. Trước hết tác giả khơng
đơn giản chỉ là kể chuyện phiêu lưu của ai khác. Trái lại, câu chuyện bắt
nguồn từ chính kinh nghiệm của người kể. Đó là kinh nghiệm về con người
và sự vật, cả tốt lẫn xấu. Khơng chỉ những gì tác giả trải qua mà bao gồm cả
những biến cố được chứng kiến hay nghe kể lại. Và những điều đó đã gây cho
một xúc động mãnh liệt đến nỗi khơng thể giữ kín trong lịng. Hơn nữa có
điều gì đó trong chính cuộc đời anh hay chung quanh anh trở nên quan trọng
với anh đến nỗi anh khơng đành để nó chìm vào qn lãng. Anh cảm thấy
khơng thể có một ngày mà con người lại khơng hiểu biết gì về cái điều quan
trọng ấy. Đó chính là quan điểm của tơi về tiểu thuyết đã ra đời như thế nào”
[12, tr 565, 566]. Tuy vậy, Murasaki cũng không phiến diện cho rằng tiểu
thuyết theo quan niệm của mình là khn mẫu nhất. Nàng biết rằng “Hình
thức nghệ thuật của tiểu thuyết dĩ nhiên không giống nhau ở mọi xứ. Ở Trung
Quốc và các xứ khác, thiên tài và phương pháp của các nhà văn đương nhiên
khác xa chúng ta; và ngay cả ở Nhật Bản, nghệ thuật kể chuyện cũng theo
dòng thời gian mà chuyển biến lớn lao. Và bao giờ cũng có một sự phân biệt
18
trong bản thân tiểu thuyết các thể dễ dãi và nghiêm túc...” [12, tr 566].
Qua những lời bình luận đó, ta thấy rất rõ rằng Muarasaki ý thức rất rõ
về giá trị của tiểu thuyết, về tính hiện thực của tiểu thuyết. Quan niệm đó
trong thời đại ngày nay đã vơ cùng quen thuộc nhưng nó là quan niệm ra đời
cách đây cả 10 thế kỉ. Murasaki quả thực là một thiên tài!
Bàn về phương diện đề tài của tiểu thuyết, Murasaki cho rằng bất kì
điều gì, cả tốt lẫn xấu đều có thể là đề tài cho tiểu thuyết. Nó diễn tả một cách
chân thực cuộc sống trần thế của con người chứ không phải là một thế giới
thần thánh mơ hồ, huyền bí, được bao bọc trong lớp ánh sáng huyền thoại “Và
rõ ràng, người kể chuyện không nhất thiết chỉ diễn tả những gì tốt đẹp. Dĩ
nhiên, có lúc anh chọn đạo đức làm luận đề của mình và phơ diễn tùy thích.
Nhưng anh cũng chạm phải nhiều mẩu đời xấu xa và điên rồ quanh anh,
chúng cũng gây ra cho anh những cảm xúc chẳng kém gì những hành động
thiện hảo anh đã gặp, chúng cũng quan trọng và phải được quay lại. Vì thế,
bất kì điều gì cũng có thể trở thành đề tài của một cuốn tiểu thuyết, miễn là nó
xảy ra trong đời sống thế gian này chứ không phải xứ thần nào vượt khỏi cõi
người ta” [12, tr 566]. Đó thực sự là quan niệm tiến bộ về con đường tiểu
thuyết: con đường đi giữa cuộc đời trần thế, giữa đam mê và dục vọng, giữa
tình yêu và khát vọng, giữa luân lí và vơ ln...
Hịa lẫn những cặp phạm trù đối lập, đưa vào trong tác phẩm của mình
khơng chỉ là cách phản chiếu cuộc sống một cách chân thực mà Murasaki ý
thức một cách rõ ràng về cứu cánh của nghệ thuật thông qua tất cả những
phương thức biểu hiện đó. Thậm chí nàng đặt nghệ thuật ngang hàng với cả
kinh Phật “Đơi khi người ta dựa vào ln lí mà bắt bẻ việc đặt cái xấu và cái
tốt bên cạnh nhau trong nghệ thuật. Nhưng ngay cả trong các bài pháp của
Đức Phật, vẫn chứa đựng những điều mà các thức giả gọi là upaya, tức
phương tiện. Đó là điều khiến cho những kẻ nông cạn hồ nghi khi thấy giáo
19
pháp ấy dung nạp những sự tương phản nào đó. Cả kinh điển Đại thừa cũng
đầy những sự kiện đó. Chúng ta cịn có thể nói rằng cịn có sự dung hợp hiển
nhiên giữa thực và giả. Nhưng cứu cánh của các trang kinh thiêng liêng ấy,
tức là cứu độ chúng ta, thì bao giờ cũng ngun vẹn.
Chính vì thế có thể nói rằng nghệ thuật tiểu thuyết đáng cho ta tin
tưởng bởi vì, trong việc theo đuổi cùng một cứu cánh kê trên, nó đặt cái thiện
bên cái ác, đặt hòa lẫn hiền minh với ngu dại”.
Tiểu thuyết dung nạp, đặt ánh sáng song hành cùng bóng tối. Đó là thế
giới hiện hữu của hiện hữu. Nó đưa lên trang viết của mình tất cả những thứ ơ
uế, thấp hèn nhất đến những điều thiêng liêng, cao quý nhất. Con người hiện
lên là một sinh thể sống động với tất cả những khát khao, những đam mê,
những hoài vọng...chứ không phải là một thứ phương tiện cho bất cứ giáo
điều ln lí nào cả. Chính vì vậy, Murasaki đặt hòa lẫn hiền minh với ngu dại
trong Genji vừa là phương thức phản ánh hiện thực một cách trung thực nhất,
vừa xem nó như một phương tiện đắc dụng, khiến con người vỡ lẽ được
những bí ẩn khơn cùng của cuộc sống, làm cứu cánh cho người thoát khỏi
những u mê, lầm lạc.
Murasaki không chỉ ý thức rất rõ về tính hiện thực, giá trị nhân văn của
tiểu thuyết, mà nàng cịn ý thức rất rõ về thứ ngơn ngữ đã cấu thành nên Genji
“Thế giới của chúng ta đã bị thu nhỏ lại. Nó về mọi mặt đều phải nhường
bước cho cái cổ xưa. Thế kỉ của chúng ta quả là chưa có cái gì sánh được với
chữ kana. Những chữ viết cổ dường như là chuẩn và sáng rõ, nhưng tồn bộ
thực chất của cõi lịng thì khơng thể chứa đựng được”. Đó là thứ ngơn ngữ
khơng ngừng hồn thiện trong q trình phát triển. Nó kết hợp nhuần nhuyễn
giữa ngôn ngữ thuần Nhật với Hán ngữ để tạo nên ngơn ngữ của dân tộc
mình. Ngơn ngữ đó không chỉ là phương tiện con người dùng miêu tả thế giới
bên ngoài mà con biểu đạt một cách sâu sắc thế giới nội tâm bí ẩn, phức tạp
20
của con người. Và sự hồn thiện đó đã đạt được đỉnh cao của mình trong ngơn
ngữ của Genji. Genji là kiểu mẫu của ngơn ngữ Nhật Bản hồn thiện trong
thời kì cổ điển. Và qua bàn tay của thiên tài Murasaki, ngôn ngữ ấy trở thành
phương tiên tuyệt vời để truyền đạt tất cả các trạng thái trong cõi lòng người.
1.3. Hệ thống nhân vật nữ trong Genji monogatari
Theo Từ điển Văn học thế giới, hình tượng nhân vật là phương thức
nghệ thuật nhằm khái thác những nét thuộc đặc tính con người. Nhân vật có ý
nghĩa trước hết ở các loại văn học tự sự và kịch, ở sân khấu, điện ảnh, điêu
khắc, hội họa, đồ họa. Các thành tố tạo nên nhân vật gồm: hạt nhân tinh thần
của cá nhân, tư tưởng, các lợi ích đời sống, thế giới cảm xúc, ý chí, các hình
thức ý thức và hành động. Tính tồn vẹn của con người được thể hiện ở văn
học trong giới hạn những khả năng của ngôn từ nghệ thuật, chủ yếu là các khả
năng miêu tả (tạo hình) và biểu cảm. Ở dạng đầy đủ, đó là hình tượng con
người với tồn bộ những đặc điểm ngoại hình, lối nghĩ, hành động, thế giới
tinh thần, tâm hồn. Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính
ước lệ, khơng thể đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây
dựng nhân vật với những nét rất gần với ngun mẫu có thật. Hình tượng
nhân vật là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, nó có
thể được xây dựng dựa trên cơ sở quan niệm ấy. Ý nghĩa của hình tượng nhân
vật chỉ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể. Gắn với những sáng tác
ngôn từ của những thời đại khác nhau, hình tượng nhân vật in dấu những xu
hướng tiến hóa của tư duy nghệ thuật.
Với những đặc trưng cơ bản đó của hình tượng nhân vật, tơi cũng đi
vào khảo sát hình tượng các nhân vật nữ trong Genji monogatari với những
đặc điểm cơ bản về ngoại diện, tính cách, tâm hồn…
Genji monogatari là một tác phẩm đồ sộ với hơn 300 nhân vật, các
nhân vật nữ đến rồi đi trên trang văn của Murasaki cũng vô cùng nhiều. Vì
21
vậy, trong khóa luận này, khi khảo sát hệ thống nhân vật nữ trong tác phẩm,
chúng tôi chỉ đi vào khai thác những người nữ có mối quan hệ mật thiết với
nhân vật chính là Genji và Kaoru.
Stt
Tên
Quan hệ
Ngoại
Tính
Xuất thân
với
hình
cách
/Địa vị
Số phận
Genji/
Kaoru
1
Kiritsubo
Mẹ Genji
Đẹp
Dịu
Tầng
lớp Sớm lìa
thuần
dàng,
trung
lưu, đời
khiết
nhu mì
cung
phi
được
sủng
ái nhất của
Thiên
hồng
2
Fujitsubo
Mẹ
kế/ Đẹp
người
tình Genji
nhu mì
Đam
Là
mê
chúa thứ tư, cửa Phật
con
cơng Quy
một để qn
tiên vương, đi
cung
được
ái
y
mối
phi tình tội
sủng lỗi
của Genji
Thiên
hồng - cha
Genji
sau
khi
mẹ
chàng mất
với
22
3
Aoi no Ue
Vợ
đầu Đẹp
của Genji
Lạnh
Con gái của Chết
lùng
tả đại thần
sớm, để
lại
cho
Genji
một đứa
con trai
4
Murasaki
Vợ không Đẹp dịu Vị tha, Cô gái mồ Chết
chính
dàng,
thức của trong
chung
cơi, cháu họ sớm khi
thủy
của
vẫn cịn
Fujitsubo,
đang rất
trắng
Genji
dù
là
vợ khát
khơng
khao
chính thức cuộc
nhưng
là sống
người
đàn trần thế
bà Genji vơ
cùng
u
thương
5
6
Utsusemi
Yugao
Người
Đẹp
Lí
trí, Khơng xuất Sau khi
tình Genji
yêu
thân
nhưng
nhưng
lớp quý tốc, sa
lớn
chạy
vợ một viên chồng
hơn
trốn
quan
cấp chết thì
chàng
Genji
tỉnh
đi tu
Con
gái Chết khi
tuổi
Người
tình
Genji
Đẹp dịu Dịu
của dàng
dàng, u một
sấu
tầng gia cảnh
sút,
viên đương
đại úy. Mồ tuổi