ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
-----
-----
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THIẾU NHI QUA TẬP
THƠ TRĂNG NON CỦA TÁC GIẢ RABINĐRANATH TAGO
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Võ Thị Bảy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Lệ Hoàng
Lớp : 15STH
Đà Nẵng, tháng 1/2019
Lời Cảm Ơn
Để hồn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn quý thầy
cô và Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư Phạm,
Đại học Đà Nẵng- những người đã tận tình giảng dạy và dìu dắt em trong
suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô ThS. Võ Thị Bảy,
người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ để em có thể hồn thành
tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Vì lần đầu tiên làm khóa luận tốt nghiệp, kinh nghiệm và năng lực của
bản thân có hạn nên khóa luận khơng tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của q thầy cơ và các bạn để đề tài
được hồn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 1 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Lệ Hoàng
2
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................. 3
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................. 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...................................................................................... 6
4. Giả thuyết khoa học ............................................................................................. 9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 9
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 9
6.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................... 9
6.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 9
7. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 9
8. Cấu trúc của đề tài ................................................................................................ 10
PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................. 11
CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ............ 11
2. Phương pháp giáo dục thiếu nhi........................................................................ 14
2.1. Khái niệm phương pháp giáo dục thiếu nhi ................................................ 14
2.2. Tầm quan trọng của phương pháp giáo dục trong việc hình thành và phát
triển nhân cách của thiếu nhi ............................................................................. 14
3. Tác giả Rabinđranath Tago và tập thơ Trăng non ............................................ 14
3.1. Tác giả RabinđranathTago .......................................................................... 14
3.2. Tập thơ Trăng non....................................................................................... 16
CHƯƠNG 2.TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THIẾU NHI QUA
TẬP THƠ “TRĂNG NON” CỦA TÁC GIẢ RABINĐRANATH TAGORE 20
1. Phương pháp giáo dục bằng tình yêu thương và sự tơn trọng .......................... 20
1.1. Tình u thương của người mẹ ................................................................... 20
1.2. Sự tôn trọng của cha mẹ đối với trẻ ............................................................ 28
2.1. Cuộc sống xung quanh ................................................................................ 34
2.2. Cuộc phiêu lưu đến những vùng đất mới.................................................... 38
3. Phương pháp giáo dục bằng sự cảm thông thấu hiểu........................................ 42
3
CHƯƠNG 3. VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THIẾU
NHI TRONG TẬP THƠ TRĂNG NON CỦA TÁC GIẢ RABINĐRANATH
TAGO ĐỂ GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC............. 47
1. Mục tiêu ............................................................................................................ 47
2. Nội dung ............................................................................................................ 48
3. Vận dụng một số phương pháp giáo dục thiếu nhi trong tập thơ “Trăng non”
của tác giả Rabinđranath Tago để giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học ...... 48
3.1. Giáo dục nhân cách cho học sinh bằng tình yêu thương của gia đình........ 48
3.2. Giáo dục nhân cách chohọc sinh thông qua các hoạt động tự trải nghiệm,
khám phá ............................................................................................................ 51
3.3. Giáo dục nhân cách cho học sinh bằng sự thấu hiểu, bao dung với những
sai phạm của trẻ ................................................................................................. 53
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................. 58
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 60
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Ở bậc
học này, các em không chỉ được học trang bị về tri thức mà còn về nhân cách, đạo
đức. Có thể nói đây là giai đoạn quan trọng nhất để hình thành nhân cách cho các
em, bởi học sinh tiểu học là những trang giấy trắng, những tác động, dấu ấn ban
đầu sẽ là hành trang cho các em trong suốt cuộc đời. Nếu không đầu tư phương
pháp giáo dục ngay từ bậc học này thì rất khó trong việc hình thành tri thức cũng
như nhân cách cho trẻ sau này.
Các tác phẩm văn học thiếu nhi luôn là “mảnh đất tươi tốt” nuôi dưỡng tâm hồn
trẻ thơ. Bởi Võ Quảng – người dành nhiều tâm huyết cho văn học thiếu nhi đã nhận
định: “Văn học cho thiếu nhi cịn đặt ra vấn đề chính yếu thứ hai, đó là vấn đề
giáo dục: giáo dục cái hay, cái đẹp cho thiếu nhi, người viết cho thiếu nhi phải là
một nhà văn nhưng cũng đồng thời là một nhà giáo muốn các em trở nên tốt đẹp.
Quan điểm sư phạm và văn học thiếu nhi là hai anh em sinh đơi”[1,trang 49]. Vì
vậy, văn học thiếu nhi là một phần khơng thể thiếu trong cơng trình giáo dục nhân
cách cũng như tri thức cho các em. Do đó, các tác phẩm văn học thiếu nhi viết cho
trẻ em của nhân loại rất phong phú. Những tác phẩm ấy khơng chỉ góp phần xây
dựng lịng nhân ái, tình yêu cuộc sống hơn mà còn mở ra những cánh cửa thiên
nhiên với biết bao điều kì thú.
Đến với các tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài, các em như được đến thăm
các miền đất mới, được tiếp xúc với những nét văn hóa đặc sắc mới lạ. Có rất nhiều
tác phẩm văn học nước ngoài đã đem đến cho các em những cốt truyện hay, những
hình tượng đẹp, làm giàu cho trí tưởng tượng của các em, bồi đắp thêm cho các em
những tình cảm, những ước mơ mới mẻ, giàu tính nhân văn. Và tập thơ “Trăng
non” của Rabindranath Tago là một tác phẩm như thế. Ra đời vào năm 1915, nhưng
cho đến nay tác phẩm vẫn vang vọng và ghi lại dấu ấn đậm nét trong lòng người
đọc trên khắp thế giới, đặc biệt là các bạn nhỏ ở các thời đại khác nhau. Đến với
Việt Nam, nó được chào đón nồng nhiệt và gần như là cuốn sách gối đầu của nhiều
thế hệ trẻ. Những vần thơ giản dị, những con người bình thường, những câu chuyện
5
gần gũi nhưng lại chứa đứng những giá trị giáo dục sâu sắc: hãy thốt khỏi những
hẹp hịi, bon chen của người lớn mà thấu hiểu, trân trọng những ước mơ, khát vọng
của trẻ thơ. Bên cạnh đó, tập thơ cịn mang đến cho phụ huynh, những người làm
cơng tác giáo dục những phương pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục
trẻ. Nhất là đối với thời đại ngày nay, nền giáo dục nước ta đang hướng đến mục
tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện thì tập thơ “Trăng non” của
Rabindranath Tago chính là một trong những chìa khóa để thực hiện mục tiêu giáo
dục chung của đất nước.
Từ những lí do trên, chúng tơi chọn đề tài “Tìm hiểu phương pháp giáo dục
thiếu nhi qua tập thơ “Trăng non” của tác giả Rabinđranath Tago” để nghiên
cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lứa tuổi thiếu nhi, đặc biệt là thiếu nhi những lớp đầu của bậc Tiểu học, vấn đề
giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến phát triển trí tuệ và nhân cách sau này. Việc giáo
dục có đạt kết quả tốt hay khơng, phụ thuộc chính vào những phương pháp giáo
dục đề ra. Các phương pháp giáo dục thiếu nhi luôn là một vấn đề nhận được sự
quan tâm của rất nhiều học giả, bậc phụ huynh, các ban, ngành và của nhiều
phương tiện thơng tin đại chúng trong, ngồi nước. Do đó, nghiên cứu về phương
pháp giáo dục cho thiếu nhi có nhiều cơng trình nghiên cứu, tiêu biểu đó là:
“Phương pháp giáo dục sớm” của giáo sư Glenn Doman – một phương pháp giáo
dục cho trẻ ngay tại nhà của vị giáo sư người Mỹ và các cộng sự trong viện nghiên
cứu Hoa Kì. Mơi trường và cách giáo dục chính là yếu tố quan trọng giúp bé trở
nên thông minh hơn, thậm chí trở thành thần đồng. Trong phương pháp giáo dục
này, bố mẹ chính là người thầy đầu tiên và tốt nhất của trẻ. Ở đây, khi nghiên cứu
đề tài của mình, chúng tơi đặc biệt chú ý đến yếu tố này. Vì khơng gian ngay tại
nhà là nơi thích hợp, thuận tiện nhất để giáo dục. Giáo dục là q trình được tiến
hành trong giai đoạn trí tuệ con người phát triển nhất. Phương pháp giáo dục linh
hoạt “vừa học vừa chơi” để trẻ tự làm quen với môi trường và dưới sự hướng dẫn,
quan sát của người lớn. Phương pháp này nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện cả về
6
mặt thể chất lẫn trí tuệ xúc cảm và có được năng lực vượt qua khó khăn. Đồng thời,
giáo dục sớm chính là q trình bồi dưỡng nên nền tảng tính cách của mỗi người.
Một phương pháp nghiên cứu khác nữa đó là “Phương pháp giáo dục Montessori”,
đây là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ em dựa trên nghiên cứu và kinh
nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục người Ý Maria Montessori (1870-1952). Phương
pháp này thể hiện tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua cảm giác.Qua
quá trình nghiên cứu, bà nhận thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các vật
dụng và chất liệu được thiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan. Phương
pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tùy
theo những khả năng và thời gian riêng của mình. Đặc điểm nổi trội của phương
pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trị của tính tự lập, tự do (trong khn khổ
cho phép) trong việc hình thành nhân cách của trẻ, cũng như trang bị đầy đủ cho
học sinh các kiến thức khoa học tiến bộ và hiện đại. Môi trường giáo dục của
Montessori là nơi học sinh được tự do hoạt động trong một “môi trường được
chuẩn bị”. Mơi trường đó cho phép trẻ phát huy tính độc lập ở tất cả các lĩnh vực,
phù hợp với xu hướng phát triển tâm lý bên trong trẻ. Ngoài ra, khi trẻ ở giai đoạn
6-12 tuổi thì trẻ cần được giáo dục để nhận biết vai trò của con người trong mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau khi tác động vào thế giới xung quanh. Do đó, các em sẽ
được tham gia khám phá môi trường sống xung quanh thông qua nhiều hoạt động
ngoại khóa dã ngoại.
Cuốn sách “yêu thương khơng cấm đốn” của tác giả Ohmae Kenichi cũng là
một trong những cuốn sách viết về các phương pháp giáo dục của hầu hết các gia
đình ở Nhật Bản. Trong quyển sách, ông đã ghi chép lại cách giáo dục hai người
con trai của mình để chia sẻ với mọi người. Ohmae Kenichi ln bám sát tiêu chí
giáo dục Nhật Bản đề ra: Tinh thần dân tộc, tính kỉ luật và đạo đức; nhưng ông
không áp đặt một cách rập khuôn, sáo rỗng mà khéo léo lựa chọn khi dạy con. Để
làm được những điều đó, các bậc phụ huynh khơng chỉ nỗ lực làm trịn trách nhiệm
của mình mà phải thực hiện bằng tình u thương con vơ bờ bến. Ở đây, Ohmae
Kenichi không ép con học khi con khơng thích, dạy con trách nhiệm của một con
người: bản thân, cơng việc mình làm, gia đình, xã hội,… Quan điểm giáo dục của
ơng chính là: “người tài giỏi dĩ nhiên không phải là những người ngồi học thuộc
7
lịng theo khn mẫu, mà là người dù gặp bất cứ tình huống nào cũng tự mình suy
nghĩ, lựa chọn câu trả lời phù hợp với hồn cảnh, có thể truyền tải, tác động những
suy nghĩ của mình đến những người khác”. Sau khi ra đời, cuốn sách đã có sức ảnh
hưởng rất lớn đối với tất cả mọi người.
Ngoài ra, cịn rất nhiều cơng trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu khoa học của
giáo viên, sinh viên về phương pháp giáo dục thiếu nhi. Tuy nhiên, những nghiên
cứu trên chưa đi sâu vào việc vận dụng một cách cụ thể các phương pháp giáo dục
từ tập thơ “Trăng non” của tác giả Rabindranath Tagore.
Như đã khẳng định ở trên, tập thơ “Trăng non” của Rabindranath Tagore chứa
đựng những bài học giáo dục vô cùng sâu sắc, đặc biệt là các phương pháp giáo dục
thiếu nhi được đánh giá cao. Chính vì thế, tập thơ “Trăng non” nhận được khơng ít
sự quan tâm từ phía bạn đọc, cũng như các nhà nghiên cứu giáo dục:
Trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã có bài viết khái lược về nội dung
cũng như giá trị của tác phẩm. Bài viết cung cấp cho người đọc những thông tin ở
mức sơ giản về tập thơ “Trăng non”.
Tiếp đó là các đề tài nghiên cứu về thế giới nghệ thuật hay hình tượng trẻ em
trong tập thơ “Trăng non”. Tuy nhiên, những đề tài trên chỉ tập trung vào đặc điểm
nội dung và nghệ thuật của tập thơ, cũng như là hình tượng trẻ em trong tác phẩm,
chưa đi sâu vào tìm hiểu, khai thác và vận dụng các phương pháp giáo dục thiếu
nhi có trong tập thơ.
Tập nhạc “Ngẫu hứng với Trăng non của ông Tagore” (2007) được sáng tác bởi
nhạc sĩ Nguyễn Hải Triều thông qua bản dịch thơ của hai dịch giả Phạm Hồng
Dung và Phạm Bích Thủy. Một số bài hát trong tập nhạc: Thuyền giấy, kẻ trộm,
trăng non,…
Tuy vậy, trên đây là những tài liệu tham khảo hữu ích để chúng tơi có thể hồn
thành đề tài nghiên cứu của mình.
8
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu phương pháp giáo dục thiếu nhi qua tập
thơ “Trăng non” của tác giả Rabinđranath Tago và vận dụng một số phương pháp
giáo dục thiếu nhi trong tác phẩm để giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học.
4. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp giáo dục thiếu nhi qua tập thơ
“Trăng non” , đã đề xuất ra những phương pháp phù hợp, hiệu quả để bồi dưỡng,
giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học, giúp các em hồn thiện bản thân mình.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài đề ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
+ Nghiên cứu những cơ sở lí luận liên quan tới đề tài.
+ Tìm hiểu các phương pháp giáo dục thiếu nhi trong tập thơ “Trăng non”. Phân
tích mỗi phương pháp giáo dục để tìm ra ý nghĩa của từng phương pháp đối với
giáo dục thiếu nhi.
+ Vận dụngmột số phương pháp giáo dục thiếu nhi trong tác phẩm để giáo dục
nhân cách cho học sinh tiểu học.
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp giáo dục thiếu nhi trong tập thơ “Trăng non” của tác giảRabinđranath
Tago.
6.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập thơ “Trăng non” của tác giả Rabinđranath Tago.
7. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
9
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Trong q trình nghiên cứu tập thơ
“Trăngnon”, chúng tôi chọn tham khảo một số tài liệu sách báo và các diễn đàn
mạng để làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài.
- Phương pháp thống kê: mục đích của chúng tơi là tìm hiểu những phương
pháp giáo dục trong tác phẩm nên trong q trình phân tích tác phẩm thì chúng tơi
sẽ lần lượt tìm hiểu từng phương pháp và thống kê các phương pháp giáo dục thiếu
nhi có trong tác phẩm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: chúng tơi áp dụng phương pháp này cho tồn
bài nghiên cứu để phân tích, làm rõ những phương pháp giáo dục có trong tác phẩm
từ đó tìm ra ý nghĩa mỗi phương pháp đó để làm tài liệu và kinh nghiệm giảng dạy
cho sau này.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận,đề tài được triển khai thành 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Tìm hiểu phương pháp giáo dục thiếu nhi qua tập thơ “Trăng non”của
tác giả Rabinđranath Tago.
Chương 3: Vận dụng một số phương pháp giáo dục thiếu nhi trong tập thơ
“Trăng non” của tác giả Rabinđranath Tago để giáo dục nhân cách cho học sinh
tiểu học.
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Khái niệm chung về văn học thiếu nhi
1.1. Khái niệm
Văn học thiếu nhi “Theo nghĩa hẹp, bao gồm những tác phẩm văn học hoặc
phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi”. [2, trang 353]. Theo nghĩa rộng, văn
học thiếu nhi bao gồm những tác phẩm văn học dành cho cả người lớn nhưng đi
vào phạm vi đọc của nhiều thiếu nhi như Những tấm lòng cao cả của Edmondo
Amicis, Đôn Ki-hô-tê của M.Xec – Van-tec, Rô-bin-xơn Cru-xô của Đê-phô, Túp
lều bác Tôm của Bi-chơ Xtau,…
Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều góc độ: chủ đề sáng tác, nhân
vật trung tâm, mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận… Cụ thể:
- Mọi tác phẩm được sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính
cách cho thiếu nhi. Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi, và đơi khi cũng là người
lớn, hoặc là một cơn gió, một đồ vật, một cái cây… Tác giả của văn học thiếu nhi
không chỉ là chính các em mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lựa tuổi.
- Những tác phẩm mà thiếu nhi thích thú tìm đọc. Bởi vì các em đã tìm thấy trong
đó cách nghĩ cách cảm cùng những hành động gần gũi với các em. Hơn thế, các em
còn tìm được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động
viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích… trong q trình hồn thiện nhân
cách của mình.
Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm
hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là con người, hoặc là thế giới tự nhiên…
nhưng được nhìn bằng đơi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi, quen thuộc với vốn trải
nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có tác dụng hồn thiện đạo đức,
tâm hồn trẻ. [3; trang 42].
11
1.2. Văn học thiếu nhi nước ngồi trong chương trình Tiểu học
Trong chương trình dạy Tiếng Việt ở bậc Tiểu học, các tác phẩm thuộc bộ
phận văn học nước ngoài được đưa vào chương trình với trên dưới 100 tác phẩm.
Các tác phẩm bao gồm nhiều thể loại truyện như truyện dân gian (truyện thần thoại,
truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười,…) và những câu chuyện viết về các
danh nhân, về người thật việc thật. Có khi là một bài thơ hoặc một đoạn trích của
các nhà văn, nhà thơ từ cổ điển đến hiện đại nổi tiếng trên thế giới. Các tác phẩm
văn học nước ngoài được đưa vào chương trình sách giáo khoa dưới hình thức xen
kẽ theo từng chủ điểm của các cấp lớp với đề tài nội dung phong phú, đa dạng, bao
gồm nhiều mặt của cuộc sống. Điều này giúp các em hiểu biết thêm về văn hóa, về
cuộc sống của nhiều dân tộc trên thế giới.
Với các tác phẩm văn học nước ngoài, các em được tiếp xúc với những cách kể
chuyện hấp dẫn, hình tượng kì vĩ bay bổng gợi lên bao cảm xúc và ước mơ. Các em
không chỉ học được cách tả cảnh, tả vật, tả người rất sinh động sâu sắc và tinh tế
mà còn học được những bài học làm người, những lời khuyên bổ ích phù hợp với
lứa tuổi các em, giáo dục cho các em những tình cảm cao đẹp, bồi dưỡng cho các
em những đức tính tốt như: tính thật thà, lịng dũng cảm, thói quen lễ độ,…
Một số tác giả có nhiều tác phẩm được giới thiệu trong chương trình tiểu học
như : Hecto Malo, La-phông-ten, Lep-tôn-xtôi, Andersen, Amixi,…Ở lớp 1, các tác
phẩm văn học nước ngoài được đưa vào sách Tiếng Việt 1 chủ yếu ở phân môn kể
chuyện (kể chuyện theo tranh vẽ) nhằm từng bước cung cấp cho các em có thêm
nhiều vốn từ tiếng việt.Ở các lớp tiếp theo, các em được làm quen với các tác phẩm
văn học nước ngồi qua các phân mơn: tập đọc, chính tả, kể chuyện, tập làm văn.
Từ đó, các em có thể tiếp xúc và cảm nhận về văn hóa của các nước trên thế giới,
vốn hiểu biết và tình cảm của các em trở nên phong phú hơn.
1.3. Tính giáo dục của văn học thiếu nhi trong chương trình tiểu học
Văn học thiếu nhi là một bộ phận của văn học nói chung. Vì vậy, nó cũng mang
đầy đủ các chức năng của nghệ thuật ngơn từ. Văn học thiếu nhi có ba chức năng:
nhận thức, thẩm mĩ và giáo dục. Trong đó chức năng quan trọng nhất và khơng thể
thiếu của văn học là chức năng giáo dục. Đối với văn học thiếu nhi, chức năng giáo
12
dục giữ một vai trị quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Ở
lứa tuổi của cấp học đầu tiên, việc giáo dục cho thiếu nhi là rất cần thiết. Điều đó
đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả mọi người, là trách nhiệm của toàn
xã hội. Tác giả Võ Quảng, người đã để tâm sức cả đời cho các em cũng quan niệm
rằng : “ Văn học cho thiếu nhi còn đặt ra vấn đề chính yếu thứ hai, đó là vấn đề
giáo dục: giáo dục cái hay, cái đẹp cho thiếu nhi. Người viết cho thiếu nhi là nhà
văn đồng thời là một nhà giáo muốn các em trở nên tốt đẹp. Quan điểm sư phạm và
văn học thiếu nhi là hai anh em sinh đôi.” [1, trang 49]. Từ văn học dân gian đến
văn học viết, mỗi tác phẩm là một dịng suối mát lành, một làn gió nhẹ thổi vào tâm
hồn trẻ thơ: đó là tình u thiên nhiên, yêu con người, yêu đất nước. Các tác phẩm
văn học thiếu nhi giúp trẻ thơ khám phá ra những điều kì diệu của cuộc sống,
những điều mới mẻ hấp dẫn mà các em chưa bao giờ thấy được. Có lẽ vì thế mà
văn học thiếu nhi có tác động to lớn trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ về
cả đạo đức, trí tuệ lẫn thẩm mĩ.
Trẻ thơ ham hiểu biết và hay bắt chước, chính vì vậy văn học đã mang đến cho
các em những cái đẹp, những bài học làm người, cách đối nhân xử thế,.. để các em
học hỏi, làm theo những điều hay lẽ phải và trở thành người có ích trong cuộc sống.
Đến với văn học, trẻ biết được sự đoàn kết, biết giúp đỡ người khác ( Dế mèn phiêu
lưu kí - Tơ Hồi), biết tình cảm mẹ con thơng qua hình ảnh những chú gà (Đàn gà
mới nở - Phạm Hổ), biết khát khao học hành ( Khơng gia đình- Héc tơ Malo), biết
yêu thương giúp đỡ bạn bè qua đoạn trích Bím tóc đi sam ( Tetsuko
Kuroyanagi), biết kể những câu chuyện về gia đình, bạn bè ( Totto-chan, bên cửa
sổ của Testsuko Kuroyanagi),… Tất cả những điều đó sẽ khiến trẻ cảm thấy mình
có thêm u q và trân trọng cuộc sống.
Văn học thiếu nhi là mảnh đất tốt để vun trồng cho những trí tưởng tượng, sáng
tạo cũng như năng lực cảm thụ cái đẹp, cái hay. Đến với văn học, trẻ có thể bước
vào một thế giới hấp dẫn và từ đây văn học sẽ ươm mầm cho những ước mơ của
trẻ. Chính vì vậy, văn học góp phần bồi dưỡng các em trở thành những con người
toàn diện hơn.
13
2. Phương pháp giáo dục thiếu nhi
2.1. Khái niệm phương pháp giáo dục thiếu nhi
Phương pháp giáo dục thiếu nhi là cách thức tổ chức và tự tổ chức các loại hình
hoạt động phong phú, đa dạng của nhà giáo dục và người được giáo dục. Nhằm
chuyển hóa những yêu cầu, chuẩn mực về đạo đức, lối sống văn hóa thẩm mỹ do xã
hội quy định thành những hành vi, thói quen, bồi dưỡng tình cảm, rèn luyện kĩ năng
kĩ xảo, hình thành và phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc tổ chức một
cách hợp lý các hoạt động sư phạm.
2.2. Tầm quan trọng của phương pháp giáo dục trong việc hình thành và phát triển
nhân cách của thiếu nhi
Tiêu chí sự thành đạt ở một con người, cho cả một đời người, được xác định ở hai
phương diện: đó là tri thức và nhân cách. Bên cạnh việc truyền đạt tri thức thì hình
thành và giáo dục nhân cách cho các em là một phần không thể thiếu. Phương pháp
giáo dục là nhân tố cơ bản, quyết định đến sự tồn tại của quá trình giáo dục, đặc
biệt là q trình giáo dục nhân cách tồn diện cho học sinh. Nhà giáo dục cần xác
định phương pháp giáo dục phù hợp để giúp các em trở thành người có phẩm chất
riêng và hồn thiện về mặt nhân cách.
Tất cả trẻ em sinh ra bẩm sinh đều tốt đẹp. Nhưng nếu không được giáo dục bằng
những phương pháp giáo dục đúng đắn, nhân cách các em sẽ bị tác động bởi các
yếu tố không tốt từ môi trường xã hội. Bên cạnh đó, phương pháp giáo dục nhằm
bồi đắp cho trẻ cái tốt, cái đẹp, cái tích cực, cái lương thiện, và thu hẹp ảnh hưởng
của cái xấu, cái ác. Vì vậy, phương pháp giáo dục đóng vai trị rất quan trọng trong
việc hình thành và phát triển nhân cách của thiếu nhi.
3. Tác giả Rabinđranath Tago và tập thơ Trăng non
3.1. Tác giả RabinđranathTago
Rabinđranath Tago ( Rabindranath Tagore) sinh ngày 7 tháng 5 năm 1861 tại
Cancutta, bang Bengan, Ấn Độ. Ông là con thứ 14 trong một gia đình thuộc đẳng
cấp q tộc Balamơn có 15 anh chị em. Trong số các anh chị em của Tago có nhiều
người thành đạt và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn học Ấn Độ. Tago
14
chịu ảnh hưởng sâu sắc của người cha – ông Đêvenđranath Tago. Ông
Đêvenđranath Tago là một triết gia và là nhà cải cách xã hội nổi tiếng. Tago thường
được cha cho đi du lịch và tham dự các cuộc mít tinh, hội thảo của các nhà cải cách
xã hội về chính trị, thời sự và văn học nghệ thuật.
Ngay từ nhỏ, Tago đã bộc lộ là một cậu bé thông minh, hiếu học, 8 tuổi đã nổi
tiếng giỏi văn và làm thơ hay, 11 tuổi đã dịch kịch Macbet của Sechxipia từ tiếng
Anh sang tiếng Bengan. Ơng khơng chỉ tự học trong sách vở mà còn chú trọng học
hỏi ở những người xung quanh, những người lao động. Từ năm 1887, ơng bước vào
hoạt động xã hội và chính trị. Ông dành nhiều thời gian đi thăm nhiều nước trên
thế giới. Trong các chuyến đi này, ông đã học hỏi được nhiều và tranh thủ tố cáo
chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản. Trở về nước, ông đã bỏ tiền riêng để xây
trường học cho con em nông dân. Đến cuối đời, mặc dù bệnh tật, ông vẫn không
ngừng sáng tạo nghệ thuật. Ông mất ngày 7 tháng 8 năm 1941.
Sự nghiệp sáng tác nghệ thuật của Tago rất vĩ đại. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà viết
kịch lớn, đồng thời cũng là một họa sĩ, một nhạc sĩ nổi tiếng. Nhưng thành tựu xuất
sắc nhất của ông là thơ. Với nội dung nhân đạo sâu sắc, thơ ông không chỉ đề cập
đến lòng yêu con người và cuộc sống mà cịn phản ánh khát vọng hịa bình và tinh
thần chống chiến tranh của nhân dân Ấn Độ. Ông đã để lại 52 tập thơ. Trong đó có
nhiều tập thơ tiêu biểu như : Người làm vườn (1914), Mùa hái quả (1915), Trăng
non (1915), Thơ ngắn(1992), Ngày sinh (1941),… đặc biệt là tập Thơ Dâng đã
được nhận giải thưởng Nooben năm 1913. Ông là người đầu tiên ở châu Á được
vinh dự nhận giải thưởng cao quý này.
Văn chương và sự nghiệp hoạt động chính trị của Tago có ảnh hưởng lớn tới sự
nghiệp giải phóng đất nước của Ấn Độ. Ông được coi là “một chiến sĩ thập tự quân
chống phát xít”, một “ người thầy học vĩ đại” và “người lính gác vĩ đại” của đất
nước này (ý kiến đánh giá của Đảng Cộng sản Ấn Độ và nhà lãnh tụ của phong tào
giải phóng Ấn Độ Găng-đi). Theo đánh giá của lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh thì:
“Đại văn hào Rabinđranath Tago cả thế giới đều kính trọng” (Báo Nhân dân ngày
19/3/1958).
15
3.2. Tập thơ Trăng non
Tập thơ ra đời với cái tên chính thức là Si su (trẻ thơ) được viết bằng tiếng Bengan
vào năm 1909. Đến năm 1915, dịch ra tiếng Anh mới có tên là Trăng non (The
crescen moon).
Tập thơ “Trăng non” là tập thơ viết về trẻ em gồm 40 bài do các dịch giả Đào
Xuân Quý, Cao Huy Đỉnh, Phạm Bích Thủy, Phạm Hồng Nhung và Lưu Đức
Trung chọn dịch và giới thiệu, được in trong tập “Tuyển tập thơ Tagore” - nhà xuất
bản lao động . Tago bắt đầu viết tập thơ này trong hoàn cảnh rất đau buồn: Năm
1902, vợ chết; năm 1904, con gái thứ hai qua đời; năm 1905, cha và anh lần lượt ra
đi; năm 1907, con trai đầu cũng mất. Quá đau đớn trước những mất mát này, ông
đã ghi lại bằng thơ những tình cảm tha thiết với những người ruột thịt, đặc biệt là
tình cảm với con cái.
“Trăng non” đề cập đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của trẻ thơ. Đó là tình
cảm mẹ con, ví dụ: Mây và sóng, Người ăn cắp giấc ngủ, Món quà, Phán xử,…; đó
là những kỉ niệm, những trị chơi, những ước mơ của tuổi thơ, ví dụ: Thuyền giấy,
Trên bờ biển, Bản hợp đồng cuối cùng,… Bao trùm lên cả tập thơ là sự bao dung
và lòng nhân ái của tác giả đối với trẻ thơ. Thơ ông viết cho các em giàu sức gợi
cảm, vừa hiện thực, vừa lãng mạn, vừa kéo người đọc trở về với những kỉ niệm tuổi
thơ, vừa buộc họ phải suy nghĩ, trân trọng và bảo vệ những ước mơ, những khát
vọng của các em. Trăng non chỉ là một phần rất nhỏ trong sự nghiệp sáng tạo nghệ
thuật của Tago nhưng cả trong một phần rất nhỏ ấy cũng bộc lộ rõ tâm hồn và trí
tuệ của ơng. Nhà nghiên cứu văn học Cao Huy Đỉnh đã có nhận xét về Trăng non:
“Đó là những bài thơ hết sức hồn nhiên trong sáng, những bức tranh mĩ lệ về tâ lí
nhi đồng. Đó cịn là triết lí của Tago về cuộc đời, làm thành những bài học tốt cho
các bậc cha mẹ. Lòng yêu con trẻ, yêu thiên nhiên đất nước, trí tưởng tượng vô
cùng phong phú của Tago đã khám phá cả một thế giới toàn diện, toàn mĩ, một thế
giới thần tiên và nghệ sĩ trong tâm hồn em bé”:
* Giá trị nội dung
Tác phẩm ra đời gần 100 năm nay và đã đưa tên tuổi của Rabinđranath Tago đứng
vào hàng ngũ những nhà văn nổi tiếng bậc nhất thế giới. Chỉ riêng điều này thôi, ta
16
cũng có thể thấy rằng giá trị nội dung của tác phẩm không hề nhỏ. Chứa đựng trong
tác phẩm là những vầng thơ đơn giản viết về thế giới trẻ thơ, thế giới tràn ngập tình
yêu thương của mẹ và bé. Nhà thơ thể hiện sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của
mình đối với trẻ thơ bằng việc ca ngợi những nét hồn nhiên, vô tư, ngây thơ trong
cách suy nghĩ, hành động của chính các em. Cái hồn nhiên ấy được nhà thơ mô
phỏng thông qua những hoạt động, những câu nói và những suy nghĩ của trẻ em với
thế giới xung quanh. Cái hồn nhiên đầu tiên mà Tagore phát hiện ra là ở những
hành động, những trò chơi khi trẻ em vui đùa cùng nhau trên bờ biển dài, đầy cát
trắng. Trên đầu các em, bầu trời xanh cao, thanh bình, cịn phía xa là nước biển vỗ
rì rào như những lời thì thào của đất mẹ. Chúng gặp nhau, cười reo và nhảy múa.
Thế giới ấy là thế giới dành riêng cho những tâm hồn non nớt đang chờ khám phá
cuộc đời đầy màu sắc. Đó là thế giới mà chỉ trẻ thơ mới tìm thấy chính mình, mới
tìm được niềm vui giữa cuộc đời, giữa vui đùa cùng bầy bạn.
Cái hồn nhiên của trẻ em khơng chỉ được thể hiện qua trị chơi, mà cịn thể hiện qua
những câu nói, những suy nghĩ của bé trước cuộc đời.Ở đó, độc giả cịn cảm nhận
được tấm lòng vị tha, bao dung của nhà thơ đối với các em, sự che chở của người
lớn dành cho những đứa con bé bỏng của mình. Bằng trái tim của một người cha,
ơng đã viết nên những dịng thơ yêu thương về tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp,
khát vọng đáng trân trọng của trẻ thơ.
Bên cạnh đó, tập thơ “ Trăng non” còn là bài học giáo dục trẻ thơ tinh tế và sâu
sắc. Những bài thơ trong “Trăng non” khơng phải là những triết lí, những mệnh đề
khơ cứng bởi tính chất giáo dục của nó. Bốn mươi bài thơ là những câu chuyện kể
nhẹ nhàng về lòng can đảm, sự chân thật và đức hiếu thảo ở mỗi con người. Sau khi
đọc xong tập thơ, điều đọng lại trong tâm hồn chúng ta là hãy nâng niu và chăm sóc
trẻ thơ, hãy giáo dục trẻ thơ bằng tình u thương nhân hậu. Chính sức mạnh tình
thương sẽ cảm hóa, hồn thiện một con người.
Tập thơ chứa đựng những phương pháp giáo dục thiếu nhi đóng vai trị tích cực
trong việc hình thành tính cách và phẩm chất trẻ em Ấn Độ nói riêng và trẻ em thế
giới nói chung. Với phụ huynh và những người làm công tác giáo dục, “Trăng non”
sẽ mang đến cho người đọc một cái nhìn đầy tính nhân văn về phương pháp giáo
dục mà nhà thơ Rabinđranath Tago đã thể hiện thành công trong tác phẩm.
17
* Giá trị nghệ thuật
Đến với “Trăng non”, tác giả được sống trong một thế giới thần tiên và nghệ sĩ.
Một thế giới pha trộn giữa hư và thực, giữa sự tưởng tượng và cuộc sống thực tại
phong phú. Tập thơ cịn là một tập thơ giàu hình ảnh, màu sắc của hội họa. Nhưng
những hình ảnh, sắc màu này khác với những sắc màu, hình ảnh ngồi cuộc sống vì
nó được cảm nhận bằng trí tưởng tượng của trẻ thơ. Chỉ có các em mới nhìn thấy
nơi những vật vô tri, vô giác cả một thế giới sống động diệu kì. Bằng những dịng
thơ lấp lánh sắc màu cổ tích. Tago đã tạo cho các em một thế giới diệu kì, thế giới
các em được tự do vui chơi với sự tưởng tượng của mình. Đó là thế giới của trăng
non, của những giấc mơ tươi đẹp, lạ kì.
Trăng non cịn là một tập thơ giàu chất trữ tình (giàu chất thơ, chất nhạc). Với
hình thức đối thoại của thể thơ văn xuôi (nhưng thực chất chỉ là cuộc độc thoại vì
đối tượng trữ tình ẩn đi, chỉ cịn lời của nhân vật trữ tình). Những bài thơ trong
“Trăng non” vừa thơ mộng ngọt ngào, vừa êm ái như lời thì thầm u thương của
con và mẹ.
Bên cạnh đó, những biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa được sử dụng một
cách đầy sáng tạo mang cái nhìn chân thật về trẻ em. Tác giả Rabinđranath Tagore
cịn chắt lọc thêm nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ gần gũi để làm nổi bật tính cách,
tâm lí đáng yêu của trẻ em. Ngồi các thủ pháp nghệ thuật đó, tác giả đã làm nổi
bật tâm hồn trong sáng của trẻ qua cách xây dựng hình ảnh thiên nhiên mang tính
tượng trưng. Tập thơ đã thể hiện niềm tin vào cuộc sống sâu sắc và tình yêu
thương, quan tâm chăm sóc của tác giả đối với các em.
18
Tiểu kết
Ở chương 1, chúng tơi đã tìm hiểu những cơ sở lí luận về phương pháp giáo dục và
tầm quan trọng của phương pháp giáo dục trong việc hình thành và phát triển nhân
cách ở lứa tuổi thiếu nhi. Việc tìm hiểu tổng quan về phương pháp giáo dục sẽ giúp
chúng tôi nắm rõ hơn về khái niệm, quan điểm, vai trò của các học giả đi trước về
phương pháp giáo dục thiếu nhi. Hơn nữa, nội dung phương pháp giáo dục sẽ là
tiêu chí để chúng tơi khảo sát những phương pháp giáo dục có trong tác phẩm ở
chương sau. Bên cạnh đó, chúng tơi cũng tìm hiểu văn học thiếu nhi, chức năng
giáo dục và chương trình văn học nước ngoài trong trường tiểu học. Quan trọng
hơn nữa là việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Rabinđranath Tago và tập
thơ “Trăng non” (nội dung và nghệ thuật). Tất cả những điều này góp phần phục vụ
chương 2. Như vậy, ở chương sau, dựa vào các tiêu chí đã khảo sát, chúng tơi sẽ
trình bày chi tiết hơn về những phương pháp giáo dục mà tập thơ “Trăng non” chứa
đựng.
19
CHƯƠNG 2
TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THIẾU NHI QUA TẬP THƠ
“TRĂNG NON” CỦA TÁC GIẢ RABINĐRANATH TAGORE
1. Phương pháp giáo dục bằng tình u thương và sự tơn trọng
1.1. Tình yêu thương của người mẹ
Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, cao quý của con người. Với một người
mẹ, con cái là tất cả - là hạnh phúc - là báu vật mà thượng đế ban tặng. Bởi vậy các
tác phẩm văn chương viết về tình mẫu tử luôn là một đề tài muôn thuở. Trong tập
thơ “Trăng non” cũng vậy. Tác giả không chỉ viết về trẻ thơ, về những suy nghĩ,
ước mơ của các em,… mà cịn dành khơng ít trang viết về người mẹ của các em.
Một người mẹ với tất cả tình yêu thương bao la, luôn mong muốn và tạo điều kiện
tốt đẹp nhất cho con mình. Tình yêu thương của người mẹ là một phương pháp giáo
dục tuyệt vời.
Người mẹ ấy đã dành tất cả tình yêu thương cho con mình. Quan tâm, chăm sóc
đứa con của mình từng miếng ăn, giấc ngủ qua bài thơ Buổi sơ khai:
“Bé hỏi mẹ:
“Mẹ ơi, con từ đâu đến vậy.
Mẹ đã nhặt được con ở tận nơi nào?”
Mẹ ơm chặt bé vào lịng, và trả lời
nửa cười, nửa khóc:
“Con ơi con, con đã được giấu kín trong lịng mẹ
như chính những thèm khát, ước mơ của nó.
Con ở trong con búp bê của những món đồ chơi tuổi nhỏ của mẹ,
Và buổi sáng khi mẹ lấy đất sét nặn ra
hình ảnh Chúa đời của mẹ
thì mẹ đã nặn đi nặn lại con rồi.
Con đã ở trên ban thờ nơi thờ vị thổ thần
20
Và khi thờ thần đó, đồng thời mẹ cũng thờ con…..”
(Buổi sơ khai, Đào Xuân Quý dịch)
Mỗi buổi sáng thức dậy, mẹ được gặp vị Chúa đời của mình, mẹ ln mong muốn
có thể “nặn” đứa con của mình thành một đứa trẻ ngoan, thành một người tốt và
mong muốn mang đến những gì tốt đẹp nhất cho con của mình:
“Và buổi sáng khi mẹ lấy đất sét nặn ra
hình ảnh Chúa đời của mẹ
thì mẹ đã nặn đi nặn lại con rồi.”
Với người mẹ, đứa con là kết tinh của tình yêu, nỗi mong chờ và hạnh phúc của
mẹ, là cái đẹp diệu kì của tạo hóa thần tiên:
“Con đã được nuôi dưỡng từ đời này qua đời khác
trong lòng của vị thần kinh bất tử ngự trị ở nhà ta
Khi, trong thời con gái, trái tim mẹ nở xịe như một đóa hoa
Con đã lượn quanh nó như một mùi hương phảng phất
Vẻ tươi mát nhẹ nhàng của con
nở trên chân tay non trẻ của mẹ
như một ánh hồng
trên trời cao
trước buổi bình minh.”
(Buổi sơ khai, Đào Xuân Quý dịch)
Ấy chính là câu trả lời của mẹ, là dịng cảm xúc tn trào khi con khơi gợi vào
đúng điều bí ẩn và huyền diệu nhất của cuộc đời : “con từ đâu đến, mẹ nhặt con ở
đâu?”. Có con đời mẹ như trở nên tươi đẹp hơn, mẹ được trở về thời thanh xuântrái tim mẹ nở xòe như một đóa hoa và đứa con đã lượn quanh, tạo ra một mùi
hương phảng phất. Vẻ tươi mát, nhẹ nhàng của con đã nở trên tay mẹ như một ánh
hồng trên trời cao trước buổi bình minh. Người mẹ đã cho đứa con thấy được sự
trân trọng, nâng niu đứa con bé bỏng của mình. Qua đó, em bé sẽ cảm nhận được
21
tình u thương vơ bờ bến trong câu trả lời của mẹ dành cho em. Những lời nói yêu
thương, ngọt ngào của mẹ như dòng suối mát trong tâm hồn của em. Sống trong
một gia đình mà người mẹ ln dành cho em những câu trả lời mang đầy tình cảm
u thương, sự tơn trọng thìtrẻsẽ dần hình thành thói quen, ứng xử trả lời với người
lớn, người thân trong gia đình hay những người xung quanh một cách nhẹ nhàng,
đầy tình cảm u thương và sự tơn trọng.Đặc biệt, khi đã cảm nhận được tình yêu
thương ấm áp của người mẹ, trẻ sẽ hình thành tình cảm yêu thươngvới mẹ, với mọi
người trong gia đình của mình và với cả những người xung quanh em.
Tình yêu thương của người mẹ còn được thể hiện qua sự quan tâm, lo lắng, chăm
sóc, mang đến những điều tốt nhất cho đứa con của mình :
“Con ơi, khi mẹ mang đến cho con những đồ chơi có nhiều màu sắc
Mẹ hiểu vì sao cũng có nhiều màu như vậy trong nước, trong mây
Và vì sao hoa cũng được tơ bao nhiêu màu sắc.
Vâng, khi mẹ hát cho con nhảy múa,
mẹ mới thực sự hiểu vì sao có nhạc trong cành lá,
và vì sao nước lại gửi những bản đồng ca
cho lòng đất lắng nghe
Vâng, khi mẹ hát cho con nhảy múa
Khi mẹ đưa những của ngọt vào bàn tay ham hố của con
mẹ hiểu vì sao trong cái cốc của hoa có mật
và vì sao trái cây kín đáo chứa đầy vị ngọt bên trong.
Vâng, Khi mẹ đưa những của ngọt vào bàn tay ham hố của con.
Khi mẹ hôn con để làm con cười, con yêu quý của mẹ ơi.
Mẹ hiểu chắc chắn niềm vui nào
tự trên cao chảy xuống ánh bình minh,
và nỗi khối lạc nào
22
làn gió nhẹ mùa hè đã mang đến cho thân thể mẹ
Khi mẹ hơn con để làm cịn cười, con của mẹ ơi.”
(Bao giờ và vì sao, Đào Xuân Quý dịch)
Người mẹ mang đến cho con những niềm vui bằng những đồ chơi nhiều màu sắc.
Đứa trẻ nào mà không thích những đồ vật đủ sắc màu, rực rỡ. Các em rất thích thú
và ln bị thu hút với những đồ chơi đầy màu sắc ấy. Hiểu được tâm lý của con
mình, người mẹ đã chuẩn bị những đồ chơi phù hợp với sở thích, để con ln thấy
vui vẻ, ấm áp trong chính căn nhà u thương của mình. Khơng chỉ là cho con
mình chơi với những đồ u thích, mà mẹ cịn là một người bạn đồng hành cùng
con vui đùa nhảy múa trong chính căn nhà yêu thương của mình. Quả thật chỉ có
người mẹ với tình yêu thương con sâu sắc mới có thể thấu hiểu sở thích của con và
chăm sóc con chu đáo đến như vậy. Thử tưởng tượng, đứa trẻ sẽ vui vẻ và hạnh
phúc biết bao nhiêu khi có mẹ bên cạnh mình,đồng hành cùng con trong các trị
chơi hơn là bỏ mặc các em ngồi chơi một mình trong căn nhà rộng lớn. Không chỉ
là chơi cùng con, người mẹ lại cịn hát cho con mình nhảy múa “khi mẹ hát chocon
nhảy múa”. Người mẹ nào cũng bận rộn với công việc gia đình và cơng việc của
họ. Nhưng niềm vui, nụ cười của con còn quan trọng hơn cả nhưng việc ấy.Người
mẹ đã mang đến niềm vui cho đứa con bé bỏng của mình bằng cách cất giọng hát
ngọt ngào của mình cho con nhảy múa. Chỉ cho con đồ chơi hay vui chơi cùng con
thôi là chưa đủ, mẹ còn “đưa những của ngọt vào bàn tay ham hố củacon”. Hình
ảnh “bàn tay ham hố của con” thật dễ thương và đáng yêu. Trẻ con lúc nào cũng
thích đồ ngọt, thích được nhận thật nhiều đồ ăn, quà, đồ chơi,… nên nhà thơ Tago
gọi ấy là bàn tay ham hố. Vì biết con mình có sở thích với đồ ngọt nên lúc nào mẹ
cũng chuẩn bị cho con những chiếc bánh ngọt hay kẹo để đưa vào bàn tay ham hố
của con và “hôn con để làm con cười, con yêu quý của mẹ ơi”. Phải chăng ấy là nụ
hơn khi con khóc, khi con buồn hay nụ hơn mỗi sớm mai thức dậy, mẹ muốn làm
em vui? Đó là một người mẹ thật tuyệt vời, luôn luôn thấu hiểu tâm lí của con
mình, biết con mình cần gì và luôn muốn mang lại những điều tốt đẹp nhất cho con.
Hơn thế nữa, tình cảm yêu thương của người mẹ dành cho con khơng chỉ qua lời
nói nữa mà đó là sự thể hiện bằng hành động hơn vào trán đứa con bé bỏng của
23
mình. Và tình cảm thiêng liêng ấy, cịn được nhà thơ thể hiện qua những dòng thơ
đầy cảm xúc:
“Khi mẹ ngây nhìn khn mặt của con
mẹ như bị ngập trong bao điều bí ẩn
Sợ mất con đi, mẹ đã xiết chặt con trên ngực mẹ.”
(Buổi sơ khai, Đào Xuân Quý dịch)
Khi nhìn vào khn mặt ngây thơ, bé bỏng của con mình, người mẹ như ngập trong
bao điều bí ẩn.. Mẹ cũng chẳng thể lí giải đó là gì. Phải chăng đó là cảm giác hạnh
phúc vơ cùng khi con có mặt trên cuộc đời này hay liệu con có thể rời xa mẹ mà
đến một bến bờ kì diệu khác? Có lẽ nỗi lo lắng ấy đã khiến cho người mẹ càng
“xiết chặt con trên ngực mẹ”. Dù đã có con bên cạnh, ơm con vào lịng thơi chưa
đủ mà phải là “xiết chặt”. Nhưng mẹ vẫn lo sợ, sợ một điều gì đó sẽ đến và biết đâu
mẹ sẽ mất đi đứa con bé bỏng của mình. Đứa con ấy là cả sinh mệnh của người
mẹ, bà đã hi sinh rất nhiều và mong muốn con luôn hạnh phúc và mong rằng đứa
con ấy vẫn ở mãi bên cạnh mình. Điều đó là càng chứng tỏ tình u thương sâu sắc
mà người mẹ dành cho con của mình.
Chính tình yêu thương sâu sắc ấy đã khiến cho đứa con yêu mến và trở nên thân
thiết với mẹ của mình hơn. Và em ln muốn sống trong tình u thương ấm áp
bên người mẹ của mình :
“Trên mảnh đất của vầng trăng non bé bỏng
Bé tự do không hề bị ràng buộc chút nào
Nhưng không phải tự nhiên mà bé khơng cần đến tự do
Bé biết rằng trong góc nhỏ trái tim của mẹ
Có chứa một niềm vui vơ tận, vơ cùng
Và được ghì ơm chặt trong cánh tay thân yêu của mẹ
Còn dịu dàng hơn tất thảy tự do.”
(Cung cách của bé, Đào Xuân Quý dịch)
24
Sự quan tâm chăm sóc của người mẹ đã được đền đáp một cách xứng đáng, bé biết
rằng trong góc nhỏ trái tim của mẹ ln có một niềm vui hơn cả những đồ chơi
nhiều màu sắc hay những của ngọt mà bé thích:
“Bé biết rằng trong góc nhỏ trái tim của mẹ
Có chứa một niềm vui vơ tận, vơ cùng
Và được ghì ơm chặt trong cánh tay thân u của mẹ
Cịn dịu dàng hơn tất thảy tự do.”
Có lẽ, vì bé cảm nhận được tình yêu thương, ấm áp, sự trân trọng mà mẹ dành cho
mình. Chính điều đó, đã hình thành trong em tình cảm tha thiết với người mẹ đã
quan tâm, lo lắng cho mình. Từ đó, bé đã biết cách thể hiện tình cảm của mình với
mẹ bằng hành động cụ thể. Đó là những cái ôm thật chặt trong cánh tay thân yêu
của mẹ và luôn muốn ở bên cạnh mẹ.Ở bên mẹ bé luôn vui vẻ, một niềm vui vô tận,
vô cùng. Niềm vui ấy còn hơn cả sự tự do, vui chơi với thế giới xung quanh.
Và niềm mong muốn được bên cạnh mẹ khơng chỉ để ơm chặt mẹ mà cịn là sự lo
lắng, không muốn làm mẹ buồn và cùng mẹ thực hiện mong muốn của mình:
“Mẹ ơi, những người sống trên mây đang gọi con:
“Chúng ta chơi đùa từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà,
Chúng ta chơi với buổi sớm mai vàng
Chúng ta chơi với vầng trăng bạc”.
Con hỏi: “Nhưng tôi làm sao mà lên được với các người?”
Họ trả lời: “ Hãy đến bên bờ trái đất,
Và đưa tay lên trời,
Em sẽ được nhấc bổng lên mây”.
Con nói: “ Mẹ tơi đang đợi ở nhà
Làm sao tơi có thể bỏ mẹ tơi mà đi được ?”.
(Mây và sóng, Đào Xuân Quý dịch)
25