Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (73.36 KB, 5 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
Tết Trung thu năm 1946, Bác Hồ đã viết
Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Vầng trăng của rằm tháng 8 đã gắn liền với các thần thoại, huyền thoại,
chuyện cổ tích lưu truyền cho tới ngày nay.
Câu chuyện Thỏ Ngọc là câu chuyện thật cao đẹp và cảm động. Thời đó nhiều
năm mùa màng thất bát, người và vật ăn thịt nhau để tranh giành sự sống.
Thỏ là lồi vật yếu đuối khơng đi được xa để kiếm ăn đành rủ nhau quay
quanh bên đống lửa để chống chọi với đói và rét. Trước cảnh khổ ải, khó khăn
như vậy, một con thỏ đã nhảy vào đống lửa, thui mình làm thức ăn cho đồng
loại của mình, mong tồn tại giống nịi. Khi đó Tây Vương Mẫu đi qua, thương
cảm vì nghĩa khí của con vật, người đã nhặt đám xương tàn của con thỏ đó,
phù phép cho nó thành hình hài bằng ngọc và được trường sinh bất tử trên
cung trăng.
Câu chuyện thứ hai, con thiềm thứ (con lân hoặc hổ phù) chính là Hằng Nga,
vợ của Hậu Nghệ vua xứ Hữu Cung có tài bắn tên giỏi. Thiềm thứ hơi giống
con cóc nhưng lại có sừng mềm, bụng có một dấu vết chữ bát màu đỏ. Hậu
Nghệ được Giao Trì Vương mẫu ban cho viên thuốc trường sinh bất tử. Khi
chàng vắng nhà, vợ chàng nuốt trộm thuốc rồi bay lên mặt trăng xin Thái Âm
thần nữ chở che. Về nhà thấy mất thuốc và cả vợ, Hậu Nghệ tức quá quyết đi
tìm vợ mình. Lúc bấy giờ có tất cả 10 mặt trời, chàng ngỡ vợ mình trốn ở đó
liền bắn rơi 9 mặt trời và chỉ để lại 1 lấy ánh sáng ban ngày cùng với mặt
trăng để có ánh sáng ban đêm dùng cho mình đi tìm vợ. Chàng có ngờ đâu
Hằng Nga, vợ chàng đã đội lốt con thiềm thứ náu ở cung trăng.
nay mỗi khi chúng ta nhìn lên mặt trăng thì thấy bóng người hơi gù bóc vỏ
cây quế, người đó chính là Ngơ Cương. Phải chăng Ngơ Cương đã dối đạo bị
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời...
Song, đấy là những câu chuyện thần thoại. Thực chất, Tết Trung thu là đoạn
ngắt của chuỗi chu kỳ liên tục tháng, năm. Theo âm lịch, mỗi năm có 24 tiết;
đó là quy luật tự nhiên xoay chuyển của Thái dương hệ. Từ đó, trong dân
gian có kinh nghiệm tiên đốn, tiên tri trơng trăng rằm tháng 8 để đoán thời
tiết, thắng thua mùa vụ.
Tỏ trăng mười bốn được tằm
Đục trăng hơm rằm thì tốt lúa chiêm.
Hay cịn xem trăng quầng và khi có nguyệt thực, cho rằng mặt trăng đã bị gấu
ăn nên gõ mâm, chậu để xua đuổi điều rủi ro. Nhất là công việc sản xuất của
người nông dân rất gắn bó với trăng, theo dõi rất sát nơng lịch để cấy trồng
theo thời vụ...
Trung thu từ bao đời đã trở thành ngày tết của cả trẻ thơ và người lớn. Ngày
Tết Trung thu bày cỗ trông trăng, nam nữ hát đối đáp nhau, trẻ em rộn rã
trong đám múa lân và rước đèn.
Ngày nay, Tết Trung thu, cùng với ánh trăng cịn có ánh điện hòa cùng. Tâm
hồn của thế hệ trẻ, những khát khao rộng mở, với tri thức hiện đại, ước mơ
một ngày khơng xa sẽ có những con tàu đưa con người tới du lịch mặt trăng
để thưởng ngoạn.
Tết Trung Thu tại Việt Nam khơng biết có tự bao giờ, khơng có sử liệu nào nói
rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám. Nhiều người cho rằng đây là một
Trong đêm 15 tháng 8 âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần
mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng cịn gọi là
bánh "đồn viên", bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn
bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu khơng khí ấm áp
của đêm rằm đến với mọi nhà.
Còn thưởng trăng vốn bắt nguồn từ việc cúng trăng. Đến đời Đường, thú
ngắm trăng dịp Trung thu trở nên thịnh hành, thể hiện nhiều trong thơ ca thời
này. Nhưng đến đời Tống, lễ hội ngắm trăng mới chính thức trở thành Tết
Trung thu. Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng (bánh nướng, bánh dẻo) trong dịp
Tết Trung thu cũng bắt đầu từ thời này.
sáng kéo nhau đi từng đoàn ca hát vui vẻ, tối tối cùng nhau đi nhởn nhơ
ngoài đường, ngoài ngõ. Và khi rằm tới, có những đám múa sư tử với tiếng
trống, tiếng thanh la thật náo nhiệt. Trong dịp này, để thưởng trăng có rất
nhiều cuộc vui được bày ra. Người lớn có cuộc vui của người lớn, trẻ em có
cuộc vui của trẻ em.
Trong ngày Tết Trung Thu người ta bày cỗ với bánh trái hình mặt trăng, treo
đèn kết hoa, nhảy múa ca hát, múa lân rất tưng bừng. Nhiều nơi có những
cuộc thi cỗ, thi làm bánh của các bà các cô. Trẻ em có những cuộc rước đèn và
nhiều nơi có mở cuộc thi đèn. Nhiều gia đình bày cỗ riêng cho trẻ em và trong
mâm cỗ xưa thường có ông tiến sĩ giấy đặt ở nơi cao đẹp nhất, xung quanh là
bánh trái hoa quả. Sau khi chơi cỗ trông trăng, các em cùng nhau phá cỗ, tức
là ăn mâm cỗ lúc đã khuya.
---Hát Trống
quân---Tết Trung Thu ở miền Bắc cịn có tục hát trống quân. Ðôi bên nam nữ vừa hát
đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên
một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng "thình thùng thình" làm nhịp cho
câu hát. Những câu hát vận (hát theo vần, theo ý) hoặc hát đố có khi có sẵn,
có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống
quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc. Trai gái dùng
điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm
tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn
trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát
biến thể để hát. Tục hát trống quân, theo truyền thuyết, có từ thời vua Lạc
Long Quân đời Hồng Bàng. Tết Trung Thu của người Hoa khơng có phong
tục này.
điềm lành. Người Trung Hoa khơng có những phong tục này. Người ta
thường múa Lân vào hai đêm 14 và 15. Ðám múa Lân thường gồm có một
người đội chiếc đầu lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này
theo nhịp trống. Ðầu lân có một đi dài bằng vải màu do một người cầm
phất phất theo nhịp múa của lân. Ngồi ra cịn có thanh la, não bạt, đèn màu,
cờ ngũ sắc, có người cầm cơn đi hộ vệ đầu lân... Ðám múa Lân đi trước, người
lớn trẻ con đi theo sau. Trong những ngày này, tại các tư gia thường có treo