ĐỒN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP. HỒ CHÍ MINH
----------------------
CƠNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LẦN THỨ XV NĂM 2013
TÊN CÔNG TRÌNH
VAI TRỊ CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI
TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU GIẢI TRÍ
CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
(Điển cứu tại trường tiểu học Nguyễn Huệ và Lê Lợi,
Huyện Thống Nhất, Tỉnh Đồng Nai)
Phan Kiều Khanh (CN)
Nguyễn Thị Ngun
Nguyễn Thị Phương Thảo
Nguyễn Thị Hồi Thu
Hồng Nguyễn Đình Hưng (CTV)
Lưu Thanh Hưng (CTV)
ThS. Nguyễn Thị Hồng
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: Xã hội và nhân văn
CHUYÊN NGÀNH : Xã hội học
Mã số cơng trình : …………………………….
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ...........................................................................................
TÓM TẮT ĐỀ TÀI .................................................................................................... 1
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU ............................................................................................. 2
PHẦN 2: NỘI DUNG ................................................................................................. 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN ................................................................................. 9
1.1.
Lý thuyết áp dụng................................................................................................... 9
1.2.
Cách tiếp cận ........................................................................................................ 12
1.3.
Một số khái niệm liên quan .................................................................................. 13
1.4.
Vài nét về địa bàn và mẫu nghiên cứu ................................................................. 14
CHƯƠNG 2: NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ......................... 16
2.1. Trong hoạt động vui chơi ........................................................................................ 16
2.2. Trong hoạt động nghệ thuật..................................................................................... 23
CHƯƠNG 3: VAI TRỊ CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI TRONG
VIỆC ĐÁP ỨNG NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC……………31
3.1.
Vai trị của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học ... 31
3.2.
học
Vai trò của nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu
.............................................................................................................................. 43
3.3.
Vai trị của xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học ...... 57
3.4. Liên kết giữa gia đình – nhà trường – xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải
trí của học sinh tiểu học .................................................................................................. 74
PHẦN BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 90
PHỤ LỤC................................................................................................................. 95
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TCN: Trước công nguyên
TH: Tiểu học
THCS: Truong học cơ sở
TNTP: Thiếu niên tiền phong
UBND: Ủy ban nhân dân
1
TĨM TẮT ĐỀ TÀI
Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học ở hai trường
tiểu học trong mẫu điển cứu, bên cạnh đó tìm hiểu vai trị và khả năng đáp ứng nhu cầu
giải trí cho trẻ từ phía gia đình, nhà trường và xã hội, từ đó nêu lên những suy nghĩ mang
tính khuyến nghị nhằm giúp nhu cầu giải trí của trẻ được thỏa mãn đầy đủ hơn.
Trong đề tài này, lý thuyết cấu trúc chức năng, lý thuyết lựa chọn hợp lí và lý thuyết
nhu cầu được sử dụng xuyên suốt.Bên cạnh đó, đề tài sử dụng cách tiếp cận lối sống và
tiếp cận văn hóa.Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông
tin định tính (thu thập tư liệu sẵn có, phỏng vấn sâu, quan sát) và thu thập thông tin định
lượng (phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi) trên 200 học sinh của hai trường TH
Nguyễn Huệ và Lê Lợi. Đồng thời đề tài kết hợp phương pháp mã hóa và xử lí thơng tin.
Thơng tin thu được từ cuộc nghiên cứu đã cho thấy nhu cầu giải trí của học sinh
trong khu vực điển cứu là khá lớn, tuy nhiên việc đáp ứng nó lại chưa thực sự tốt từ phía
gia đình, nhà trường và xã hội. Những khó khăn và kinh tế và sự giới hạn trong nhận thức
đã làm cho cha mẹ không thể đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con. Đối với nhà trường,
những khó khăn xuất phát từ nguồn kinh tế eo hẹp và sự liên kết giữa các bộ phận trong
nhà trường chưa chặt chẽ cùng sự thay đổi thất thường của thời tiết đã làm giảm đi khả
năng đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy quyết định
của cha mẹ có ảnh hưởng khá nhiều đến việc trẻ có tham gia hoạt động ở trường
khơng.Nhà thờ có vai trị vượt trội hơn UBND xã trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của
học sinh tiểu học thông qua những hoạt động và sự quan tâm đến các em.Cuối cùng,
nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa ba mơi trường gia đình – nhà trường – xã hội chưa
chặt chẽ để tạo được điều kiện tốt nhất cho trẻ thỏa mãn nhu cầu giải trí của mình.Bên
cạnh đó, việc đạt chuẩn Quốc gia có thuận lợi cho nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu
giải trí của học sinh.Tuy nhiên điều đó đồng nghĩa với việc áp lực học tập của học sinh
nặng nề hơn khiến các em khơng tận dụng được hết lợi ích từ những hoạt động nhà
trường tổ chức.
2
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của một
quốc gia, là biểu hiện trình độ phát triển của quốc gia đó. Nghị quyết của Đại hội lần thứ
IV của Đảng năm 1979 đã ra quyết định số 14-NQTW về cải cách giáo dục với quan
điểm phát triển toàn diện cho học sinh. Với mục tiêu này, việc học văn hóa khơng cịn là
mục tiêu duy nhất được đặt ra cho học sinh tiểu học, mà bên cạnh đó cịn là việc phát
triển tồn diện cả về trí lực và thể lực.
Theo lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh, trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ
biết học hành là ngoan, trẻ em mà trong đó đặc biệt là các em ở độ tuổi học sinh tiểu học
là một thành phần cần nhận được nhiều sự quan tâm của cả xã hội. Góp phần tạo nên sự
phát triển tồn diện cho trẻ ở lứa tuổi này ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ăn, ngủ, học
tập… của các em còn là việc đáp ứng những nhu cầu giải trí. Bởi đây là độ tuổi chuyển
đổi từ lứa tuổi mẫu giáo sang lứa tuổi nhi đồng, và hoạt động vui chơi giải trí đóng một
vai trị quan trọng trong việc hình thành nhân cách của trẻ. Các nhà khoa học trên thế giới
cũng đều nhất trí rằng, trẻ em phát triển và hình thành thể chất, trí tuệ, nhân cách... một
cách toàn diện một phần là nhờ tham gia các hoạt động vui chơi - giải trí phù hợp.
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 đã nhấn mạnh đến
các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí… đối với sự phát triển tồn diện của trẻ, cũng
như vai trị của gia đình, nhà trường và cộng đồng trong việc đáp ứng những nhu cầu này.
Gia đình – nhà trường – xã hội là ba giai đoạn xã hội hóa trong cuộc đời của mỗi
con người. Gia đình là mơi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng nhất, là nơi trẻ tiếp
xúc đầu tiên để học những bài học vỡ lịng, là nơi có ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc
phát triển toàn diện và hình thành nhân cách của trẻ. Đứa trẻ bắt đầu học về thế giới xung
quanh ngay từ khi nó được sinh ra, và vì thế mà những người trong gia đình đã trở thành
một thành phần trong xã hội ban đầu của đứa trẻ. Chính trong gia đình này, đứa trẻ được
người ta cung cấp những nhu cầu bằng cách cho bú, vệ sinh, ẵm bồng và vỗ về1. Gia đình
cũng là nơi có vai trị trong việc đáp ứng những nhu cầu giải trí của trẻ. Nhà trường là
mơi trường xã hội hóa có vai trị quan trọng khi trẻ đến tuổi đi học. Ở đây, trẻ được học
văn hóa, học về những giá trị và tập quán của xã hội, học kiến thức. Ở độ tuổi này, nhà
1
Richard T. Schaefer (2005), Xã hội học, Nhà xuất bản Thống kê, trang 131.
3
trường giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ, bởi đây là môi trường trẻ tiếp xúc
hằng ngày, là nơi trẻ dành phần lớn thời gian để phát triển cả trí lực và thể lực. Bên cạnh
gia đình và nhà trường, xã hội mà trong đó là hệ thống các thiết chế cũng như các tổ chức
xã hội khác mà trẻ tham gia cũng góp phần quan trọng tác động đến q trình xã hội hóa
cá nhân của trẻ. Như vậy, cùng với nhau, gia đình – nhà trường – xã hội ln có một vai
trị quan trọng nhất định nào đó trong việc giúp trẻ phát triển một cách tồn diện, trong đó
việc đáp ứng nhu cầu giải trí là một ví dụ điển hình.
Theo số liệu nghiên cứu của Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình, năm 2005
Việt Nam có Tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng được đi học ở thành thị là 98,6% và 95,4% ở
nông thôn. Vấn đề đặt ra là với tỉ lệ trẻ em ở nông thôn được đi học ít hơn trẻ em ở thành
thị có làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí cho trẻ từ phía nhà trường hay khơng.
Bước đầu tìm hiểu về nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học, những câu hỏi được đặt
ra là Thực trạng việc giải trí hiện tại của học sinh tiểu học được diễn ra như thế nào? Trẻ
có nhu cầu giải trí như thế nào? Có hay khơng sự khác nhau về nhu cầu giải trí giữa
những nhóm học sinh có một số đặc điểm nhân khẩu xã hội khác nhau? Gia đình – nhà
trường – xã hội có vai trị như thế nào trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh
tiểu học? Chính những câu hỏi nêu trên đã thơi thúc chúng tơi thực hiện đề tài “Vai trị
của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu của học sinh tiểu học”
(Điển cứu tại trường tiểu học Nguyễn Huệ và trường tiểu học Lê Lợi, huyện Thống Nhất,
tỉnh Đồng Nai)
2.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc học tập và vui chơi giải trí của trẻ em là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm. Trong đó, những nghiên cứu tập trung chủ yếu vào từng vai trị của gia đình,
nhà trường và xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học
2.1.
Vai trị của gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ em
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Anh (2008) đã đề cập đến vai trị của gia đình trong việc
giáo dục đạo đức của thế hệ trẻ, chính tại gia đình, qua những câu chuyện được kể, trẻ
nhận biết được những việc nên làm và không nên làm trong cuộc sống, nhận biết cái thiện
và cái ác, và từ đó nhận thức và hình thành nên những “hàng rào miễn dịch” chống lại
những hành vi xấu ở trẻ. Đây là một tác dụng tích cực từ việc vui chơi giải trí đến việc
hình thành nhân cách của trẻ. Hơn thế nữa, sự quan tâm của cha mẹ có ảnh hưởng lớn
4
đến kết quả học tập của con cái. Trong nghiên cứu của Phan Thị Thu Hiền (2006) đã thể
hiện được hoạt động cùng tham gia của cha mẹ trong học tập của con cái ở nhà như giúp
đỡ con làm bài tập, giải đáp thắc mắc các môn học cho con, làm không gian và thời gian
học tập cùng con, đây là một yếu tố thúc đẩy cho việc học tập của con cái có kết quả tốt
hơn, vì cha mẹ là nguồn động viên tinh thần to lớn, cũng như là nguồn kiểm soát và tạo
động lực cho con cái học tập hiệu quả, do đó, chính sự tương tác chặt chẽ đó, cha mẹ là
những người nắm bắt được nhu cầu giải trí của con cái nhiều nhất và nếu thiếu vai trò của
cha mẹ trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học là một thiếu hụt khá lớn.
Góp phần khẳng định vai trị của gia đình đối với hoạt động giải trí của trẻ, nghiên cứu
của Lê Mỹ Dung (2010) đã đưa ra ngun nhân của vẫn đề khó khăn tâm lí trong hoạt
động học tập của học sinh lớp 3, đó là chính do trẻ khơng nhận được sự quan tâm chăm
sóc thường xun về vật chất lẫn tinh thần, tình cảm và sự giáo dục của cha mẹ, nên trẻ
không có sự phát triển tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần. Gia đình sẽ là nơi có ảnh hưởng
lớn đến đời sống tâm lí của trẻ, và như vậy hoạt động vui chơi ở gia đình phải được coi
trọng. Kĩ năng sống ở gia đình được tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh (2010) nhắc đến, cha mẹ
cần phải hiểu rõ những kĩ năng sống cần được dạy cho trẻ như lễ phép,.. cha mẹ cần chơi
chung với trẻ và chuyện trò nhiều hơn để tăng hiệu quả giáo dục kĩ năng sống và góp
phần thỏa mãn nhu cầu được giải trí, giao lưu tình cảm ở trẻ. Chính sự quan tâm từ cha
mẹ đối với trẻ sẽ giúp trẻ phát triển và hoàn thiện nhân cách và thỏa mãn nhu cầu tinh
thần.
Tuy gia đình có vai trị quan trọng đối với trẻ trong hoạt động giải trí, nhưng khả
năng đáp ứng của gia đình về vấn đề này vẫn còn nhiều khập khiễng, thiếu sự quan tâm.
Bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Hữu Minh(2006) đã làm rõ điều kiện kinh tế kém của
gia đình, như: gia đình không đầy đủ, thiếu cha hoặc thiếu mẹ hay li dị, cha mẹ có trình
độ học vấn thấp,sự gắn kết trong gia đình, những xung đột trong gia đình, cha mẹ nghiện
rượu, say xỉn...đây là nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ xuất hiện những vấn đề về tổn
hại tinh thần cho các em vị thành niên, qua đó cho thấy yếu tố gia đình là một chỗ dựa
tinh thần to lớn để các em hình thành nhân cách cũng như được đáp ứng những nhu cầu
cơ bản nhất. Một vấn đề nữa đang tồn tại chính yếu trong nhiều gia đình hiện nay chính
là khác biệt giới, trong nghiên cứu của tác giả Trịnh Hịa Bình (2005) đã làm rõ về việc
hiểu con cái của cha mẹ, cụ thể tỉ lệ nữ hiểu về con cái cao hơn nam (với nữ là 65.1% và
nam là 65.8%), từ đó đã làm nổi lên đặc điểm, nữ giới giành nhiều thời gian quan tâm
5
đến con cái hơn người nam, lí do được nhiều người đồng ý do vai trò giáo dục con cái là
nhiệm vụ nghiêng về nữ giới, sự chênh lệch về sự quan tâm và hiểu con cái giữa cha và
mẹ đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giáo dục con cái. Tác giả cịn tìm hiểu về sự khác
nhau giữa nông thôn và thành phố về những điều kiện đáp ứng nhu cầu của con cái, theo
đó, trẻ em ở khu vực nơng thơn chịu thiệt thịi hơn ở khu vực thành thị, bởi vì cha mẹ
chúng phải lo nhiều vấn đề “cơm áo gạo tiền” và khơng cịn nhiều thời gian, điều kiện để
quan tâm con cái, hơn thế nữa, cha mẹ ở thành thị có tỉ lệ hiểu biết con cái nhiều hơn
nông thôn (69% ở thành thị và 59.58% ở nơng thơn).
Hoạt động giải trí trong nhà trường cịn có vai trị hình thành kĩ năng sống và gia
tăng vốn xã hội cho học sinh. Vũ Minh Tuấn (2010) khi nghiên cứu về việc giáo dục
hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học đã cho thấy, thơng qua hoạt động ngoại khóa, giáo
viên tổ chức hình thức hoạt động vui chơi giải trí tạo một mơi trường thân thiện, hịa
đồng và cùng phát triển. Ngồi việc vui chơi để giảm căng thẳng, vui chơi để tăng tính
cộng đồng và đồn kết thì hoạt động này cịn hướng đến giáo dục hành vi đạo đức cho
học sinh là hướng đi mới trong việc nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay. Cùng quan
điểm này, tác giả Trương Quang Dũng (2008) đánh giá rằng nhu cầu giải trí của trẻ em là
tương đối cao nhưng các em còn ngại tham giao vào các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp. Một số học sinh có năng lực thì dành thời gian chủ yếu chuyên tâm vào việc học văn
hóa, số cịn lại chưa tích cực thì dành thời gian vào việc vui chơi giải trí, nhất là các trị
chơi điện tử, các thơng tin lệch lạc trên mạng.
Nguyễn Thị Mai Hà (2006) cho rằng học sinh tiểu học không chỉ tiếp thu kiến thức,
kĩ năng qua hoạt động vui chơi có tính chất kinh nghiệm mà chủ yếu thơng qua các
chương trình các mơn học có tình hệ thống và khoa học. Thơng qua đó, chúng ta cũng có
thể ngầm hiểu rằng trẻ em cần được chú trọng vào những mơn khoa học mang tính hệ
thống cao. Cũng theo ý kiến này thì hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em khơng phải là
vấn đề quan trọng như những tác giả trước đó có bày tỏ quan điểm của mình. Cũng trong
một nghiên cứu vào năm 2006 về các học sinh nữ trung học phổ thông dân tộc thiểu số,
Nguyễn Thị Mai Hà đã cho thấy rằng học sinh nữ ở những nơi này thường có mối quan
hệ xã hội hạn chế. Các em ít tiếp xúc, rụt rè, ngại tham gia vào các hoạt động xã hội.
Điều đó cho thấy nhu cầu tham gia các hoạt động cộng đồng nói chung và các hoạt động
giải trí tập thể nói riêng là rất cần thiết để các em có thể tự tin hơn vào chính mình khi
6
bước vào đời sống xã hội. Chính vì vậy, nhu cầu giải trí của các em cần được quan tâm
hơn nữa.
Bên cạnh những nghiên cứu, bài báo khoa học về hai chủ đề gia đình và nhà trường
trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học, nhóm nghiên cứu cịn tổng quan
những đề tài liên quan đến vấn đề vai trò của xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí
của trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng.
2.2.
Vai trị của xã hội trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ em
Nước ta có khoảng 23,63 triệu trẻ em, chiếm 27,5% dân số, trong đó 1,53 triệu em
có hồn cảnh đặc biệt khó khăn. Số lượng trẻ em tăng dần theo từng năm (dự báo sau
năm 2020 tỷ lệ dân số trẻ em sẽ tăng lên 30%). Trong khi đó, số lượng điểm vui chơi,
giải trí tăng khơng đáng kể. Năm 2003, hệ thống nhà văn hóa thiếu nhi cấp tỉnh và cấp
huyện là 274, năm 2005 tăng lên 304, năm 2008 tăng lên 307. Hiện cả nước mới có
khoảng 148 điểm vui chơi cấp tỉnh, hơn 770 điểm vui chơi cấp huyện, khoảng 4.200 điểm
vui chơi cấp xã, phường, 3.673 nhà văn hóa cấp xã, 37.134 nhà văn hóa thôn, bản. điều
này cho thấy, việc đáp ứng nhu cầu giải trí cho các em cịn q hạn chế.
Nói sâu hơn về nhu cầu giải trí của trẻ em hiện nay, tác giả Anh Khôi (2012) cũng
đưa ra những bằng chứng chứng minh: nhu cầu này ở trẻ em là rất lớn nhưng chưa được
quan tâm đúng mức. Trẻ em ở ngoại thành vẫn phải lấy hồ, ao làm nơi tập bơi, lấy diện
tích cơng cộng hiếm hoi cịn sót lại làm sân bóng đá. Trên thực tế, ở vùng nơng thơn,
miền núi, các em phải tự tìm sân chơi cho mình với những trị chơi: đá cầu, nhảy dây, bắn
bi … hoặc rủ nhau tắm ở sông, suối, hồ, ao; chơi ở ven đường quốc lộ đi qua thôn với
nhiều nguy hiểm rình rập khi khơng có sự giám sát của người lớn. Tại thành phố, khi
thành phố càng mở rộng, càng hiện đại thì sân chơi càng thu hẹp, nhường chỗ cho các
cơng trình xây dựng nhà chung cư, các khu biệt thự, khu công nghiệp… Do không có sân
chơi, nhiều em đã dùng vỉa hè làm sân bóng, sa đà vào các trị chơi nguy hiểm, hay game
online không lành mạnh. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các em
Tại các khu đô thị, các huyện, các tỉnh, nhà thiếu nhi không phải nơi nào cũng có;
có nơi có địa điểm nhưng lại không dung nạp được nhu cầu của giới trẻ. Điều này lại một
lần nữa khẳng định vui chơi giải trí là một nhu cầu văn hóa khơng thể thiếu của con
người, đặc biệt đối với trẻ em. Các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh rèn luyện cho
trẻ những phẩm chất cơ bản về trí tuệ, đạo đức, thể chất theo quy luật của cái đẹp. Cũng
cần tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể tại các trung tâm học tập cộng
7
đồng, nhà văn hố thơn, cụm dân cư để các em giao lưu, kết bạn, tham gia các hoạt động
xã hội, giúp các em có điều kiện hiểu biết thêm về cuộc sống. Xây dựng mạng lưới các
trung tâm vui chơi, giải trí, các nhà thiếu nhi cấp tỉnh và cấp huyện, điểm vui chơi giải trí
cấp xã hoặc liên xã dành cho trẻ em... các khu đô thị, các trung tâm thương mại phải có
khu vực vui chơi, giải trí dành cho trẻ em; khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia
đầu tư xây dựng cơ sở văn hóa, vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao dành cho trẻ em... cần
mở nhiều lớp học kỹ năng cho các em như võ thuật, cờ vua, bóng đá, bơi, thể dục nhịp
điệu, thanh nhạc, organ, guitar, piano, múa, mỹ thuật; các chương trình đào tạo kỹ năng
khám phá, thể hiện cảm xúc, giao tiếp, ứng xử, kỹ năng thuyết trình…điều này cho thấy
nhu cầu mong muốn được tham gia những lớp học như vậy của trẻ là rất cao. Thế nhưng
vấn đề này chưa được đáp ứng nên mới có những cuộc họp và khuyến nghị mở cửa các
sân chơi cho trẻ.
Việc đáp ứng những nhu cầu của trẻ về vấn đề giải trí của xã hội nhìn chung còn rất
hạn chế. Vẫn còn nhiều tư tưởng cho rằng đây không phải là vấn đề quan trọng nên
những nơi trẻ có thể vui chơi khơng hề được đề cao như thế nào là tốt cho trẻ và như thế
nào là một sân chơi an toàn cho sự phát triển của trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh đó cịn rất
nhiều chương trình cũng như kế hoạch được đưa ra thực hiện nhằm giải quyết những khó
khăn trong việc giải trí của trẻ em.
3.
Mục tiêu nghiên cứu
-
Tìm hiểu nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học ở hai trường tiểu học Nguyễn Huệ
và Lê Lợi.
-
Tìm hiểu khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học từ phía gia đình,
nhà trường và xã hội.
4.
Phương pháp nghiên cứu
4.1.
Phương pháp thu thập thông tin
Đề tài thu thập thông tin bằng phương pháp:
+ Phân tích tư liệu sẵn có. Dựa vào những tài liệu thu thập được liên quan đến đề tài
và những tài liệu của địa phương, nhóm nghiên cứu tiến hành phân tích những tư liệu liên
quan đóng góp cho nội dung của đề tài.
+ Bảng hỏi. Đề tài thực hiện khảo sát ý kiến 200 học sinh bằng 200 bảng hỏi.
8
+ Phỏng vấn sâu. Đề tài thực hiện 12 cuộc phỏng vấn sâu với các tiêu chí như sau: 3
học sinh nữ, 1 học sinh nam, 2 tổng phụ trách, 1 chủ khu vui chơi nhà văn hóa xã, 1 phó
chủ tịch xã, 2 phụ huynh học sinh, 1 giáo viên chủ nhiệm.
4.2.
Phương pháp chọn mẫu
Đề tài lựa chọn cách chọn mẫu xác suất khơng đều (một hình thức của mẫu hạn
ngạch). Dung lượng mẫu là 200, trong đó mỗi trường thuộc khu vực điển cứu là 100. Mỗi
khối của mỗi trường điển cứu chọn ra 20 học sinh bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ
thống.
9
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.
Lý thuyết áp dụng
1.1.1. Lí thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parson
Lí thuyết cấu trúc chức năng chú trọng tính liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu
thành nên một chỉnh thể thống nhất. Trong mỗi chỉnh thể như vậy, mỗi bộ phận sẽ đảm
nhiệm chức năng nhất định, mỗi bộ phận khơng chỉ tồn tại độc lập mà cịn có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau, tạo ra cỗ máy hệ thống xã hội vận hành nhịp nhàng ổn định, bền vững.
Là người có cơng lớn trong việc xây dựng nên chủ thuyết này, Talcott Parsons cho rằng
chức năng là những nhu cầu, là những yêu cầu, những đòi hỏi của hệ thống đối với từng
bộ phận cấu thành của nó.
Thuyết hệ thống xã hội của T.Parsons, “xã hội là một kiểu hay loại hệ thống xã hội
đáp ứng được tất cả các đòi hỏi chức năng cơ bản của sự tồn tại lâu bền từ các nguồn
lực bên trong của nó. Hệ thống xã hội là hệ thống của các quá trình tương tác giữa các
tác nhân, do đó, Parsons cho rằng, cấu trúc của hệ thống xã hội về cơ bản là cấu trúc
của các mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia vào quá trình tương tác”2.Theo đó, hệ
thống xã hội sẽ gồm nhiều tiểu hệ thống, mỗi tiểu hệ thống sẽ đảm nhiệm một chức năng
riêng biệt và có sự tác động khá chặt chẽ với nhau trong việc đáp ứng nhu cầu xã hội. Để
minh chứng cho lí thuyết của mình, Parsons đã đưa ra sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết
tắt là AGIL theo bốn chữ cái của bốn tiểu hệ thống, tương ứng với bốn lại nhu cầu hay
bốn loại chức năng cơ bản của hệ thống xã hội.
Một là: thích ứng (Adaptation – kí hiệu là A) với mơi trường tự nhiên –vật lí xung
quanh.
Hai là: Hướng đích (Goal Attainment- G) - huy động các nguồn lực nhằm vào các
mục đích đã xác định.
Ba là: Liên kết ( Integration – I) phối hợp các hoạt động, điều hòa và giải quyết
những khác biệt, mâu thuẫn.
Bốn là: Duy trì khuôn mẫu lặn (Latent – Pattern Maintenance – L) – tạo ra sự ổn
định, trật tự.
2
Lê Ngọc Hùng (2010), Lịch sử và lí thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội
10
Trong hệ thống xã hội, tiểu hệ thống (A) có chức năng cung cấp các phương tiện,
nguồn lực và năng lượng để thực hiện các mục đích đã xác định. Trong hệ thống xã hội,
đây là tiểu hệ thống kinh tế.
Tiểu hệ thống mục đích (G) đóng vai trị xác định các mục tiêu và định hướng cho
toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện mục đích đã xác định. Tiểu hệ thống hướng đích
trong xã hội chính là hệ thống chính trị với các tổ chức đảng phái và các cơ quan chính
quyền trung ương và chính quyền địa phương cùng các cơ quan quyền lực khác.
Tiểu hệ thống liên kết (I) thực hiện chức năng gắn kết các cá nhân, các nhóm và tổ
chức xã hội, đồng thời kiểm sốt xã hội thơng qua giám sát, kiểm tra, điều chỉnh, trừng
phạt để giải quyết các quan hệ mâu thuẫn, xung đột nhằm tạo nên sự ổn định, sự đoàn kết
và trật tự xã hội. Tiểu hệ thống liên kết gồm các cơ quan pháp luật, cơ quan hành chính
và bộ máy an ninh xã hội.
Để tồn tại một cách ổn định và trật tự, mỗi xã hội cần phải có tiểu hệ thống bảo tồn
(L) thực hiện chức năng kích thích, động viên các cá nhân và nhóm xã hội, đồng thời
đảm nhiệm chức năng quản lí và bảo trì các khn mẫu hành vi, ứng của của các thành
viên. Tiểu hệ thống L bao gồm gia đình, nhà trường, tổ chức văn hóa, tơn giáo, khoa học,
nghệ thuật. Thơng qua các cơ chế xã hội hóa, hợp thức hóa và thiết chế hóa hệ các giá trị,
chuẩn mực xã hội có khả năng đáp ứng nhu cầu duy trì các kiểu hành động, các khn
mẫu hành vi để đảm bảo trật tự, ổn định, cân bằng và an tồn xã hội. Gia đình, nhà
trường, và các tổ chức xã hội thuộc tiểu hệ thống bảo tồm L, điều đó đã tạo cơ sở cho
việc xác định vai trò của 3 thiết chế này đối với học sinh tiểu học trong việc đáp ứng nhu
cầu giải trí.
Áp dụng lí thuyết này vào việc tiếp cận lí giải đề tài cho thấy gia đình, nhà trường
và xã hội thực nằm trong nhóm Liên kết (L) đảm nhiệm vai trị trong việc quản lí, tạo
điều kiện cho các cá nhân thỏa mãn những nhu cầu của mình, góp phần tn thủ theo
những quy tắc được xã hội coi trong, như thế ba mơi trường này khơng những góp phần
vào cho cá nhân phát triển mà cịn đảm bảo tính vận hành tốt của tồn hệ thống xã hội.
Mỗi mơi trường này được coi như một tiểu hệ thống góp phần quản lí và đáp ứng nhu cầu
giải trí của học sinh. Trong mỗi trường gia đình, nhà trường và xã hội với những đặc tính
chun biệt của mình, các tiểu hệ thống này có vai trị quan trọng trong việc đáp ứng nhu
cầu giải trí của trẻ một cách tồn diện nhất.
1.1.2. Lí thuyết lựa chọn hợp lí
11
Thuyết lựa chọn hợp lí với nội dung trọng tâm trong việc luôn cho rằng con người
luôn luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ tính tốn hợp lí dựa vào những
nguồn lực đang có của bản thân để đạt được kết quả tối ưu nhất. Theo Marx, mục đích tự
giác của con người như là quy luật quyết định tồn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất,
phương pháp của hành động và ý chí của con người.
Thuyết lựa chọn hợp lí khơng chỉ giải thích thành viên của xã hội trên cấp độ vi mô
– hành động cá nhân. Thuyết này được xây dựng, phát triển để xem xét hoạt động chức
năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế, xã hội, tức là trên cấp độ vĩ mơ. Nó được dùng
làm phương pháp tiếp cận hành động của cá nhân, của nhóm và chức năng của cả hệ
thống.
Qua đó, nếu muốn đánh giá, phân tích giữa nhu cầu và hoạt động giải trí thực tế của
trẻ học sinh phải dựa trên đánh giá về các nguồn lực mà chính bản thân trẻ đang có, cũng
như xem xét những yếu tố khác về điều kiện gia đình, sự phổ biến của các loại hình giải
trí...Về phía các nhóm xã hội, khả năng đáp ứng nhu cầu giải trí của trẻ cũng dựa trên
những tiêu chí nhất định về vốn đầu tư, con người quản lí, cơ sở vật chất,...để có thể đánh
giá một cách tồn diện nhất trong việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học.
1.1.3. Lí thuyết nhu cầu của Maslow
Tháp nhu cầu của Maslow (1970) được nhà tâm lí học Abraham Maslow đưa ra vào
năm 1943. Theo Maslow, về văn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm
chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lí của con người như mong muốn có đủ
thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ,...những nhu cầu này là những nhu cầu thiết yếu nhất
đối với con người, vì nếu những nhu cầu này khơng được đáp ứng thì con người khó có
thể tồn tại và duy trì cuộc sống.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu
cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị
xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,...
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên trước so với những nhu cầu bậc cao.
Đồng thời nhu cầu vừa mang tính sinh học (đáp ứng địi hỏi của sự phát triển sinh
hoạt của con người), vừa mang tính xã hội (được đáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội) bị quy
định bởi văn hóa cộng đồng, mỗi nền văn hóa thì nhu cầu khác nhau. Chẳng hạn, ở mỗi
nhóm dân tộc sẽ có nhu cầu về thức ăn, loại trang phục khác nhau,...
12
Tháp nhu cầu của Maslow3
Cấu trúc tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo
một thứ tự bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.
Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy phải được thỏa mãn trước khi nghĩ đến các nhu
cầu cao hơn. các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thỏa mãn ngày càng
mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới đã được đáp ứng đầy đủ.
Theo tháp nhu cầu trên, thì nhu cầu giải trí thuộc phạm vi nhu cầu văn hóa, nhu cầu
tinh thần gồm nhu cầu được giao tiếp, thưởng thức, vui chơi, giải trí, và như vậy nhu cầu
giải trí thuộc nấc thang thứ ba là nhu cầu xã hội. Nhu cầu giải trí là một nhu cầu thiết yếu
của con người, đặc biệt trong lứa tuổi tiểu học, giải trí khơng chỉ để thỏa mãn nhu cầu
tinh thần mà còn là cách để trẻ tiếp nhận bài học cuộc sống cần thiết cho sự phát triển
toàn diện.
1.2. Cách tiếp cận
1.2.1. Cách tiếp cận lối sống
Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là q trình hiện
thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người. Lối sống bao gồm
tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ
phận lớn hoặc tồn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một
khỏang thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện
sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của nó4 .
Như vậy, mỗi cộng đồng người, mỗi nhóm xã hội đều có những lối sống khác nhau
đặc trưng bởi hoạt động sản xuất kinh tế cũng như yếu tố văn hóa. Khơng chỉ gói gọn
trong những hoạt động mang tính chất thiết yếu như ăn uống, ngủ nghỉ, mà lối sống còn
chi phối khá lớn đến việc thỏa mãn nhu cầu vui chơi, cũng như trong việc đáp ứng của
các thiết chế liên quan đang chịu ảnh hưởng từ lối sống đó. Trong cách tiếp cận này, khi
đề cập đến nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học, cần làm rõ về đặc điểm lối sống của
khu vực các em đang sinh sống, trong đó liên quan đến yếu tố vùng miền, tôn
giáo,...đồng thời, phải đặt gia đình, nhà trường và xã hội trong mối liên hệ với lối sống
3
Theo Wikimedia ( />Phạm Hồng Tung (2007), Nghiên cứu về lối sống: Một số vấn đề về khái niệm và cách
tiếp cận , Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 271278.
4
13
của địa phương để làm rõ được vai trò của các môi trường này như thế nào trong việc
thỏa mãn nhu cầu giải trí của trẻ một cách kĩ lưỡng.
1.2.2. Cách tiếp cận văn hóa
Theo định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp
của những đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một
nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngồi văn học và nghệ thuật, cả các phong
cách sống, các lối chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và đức tin”. Văn
hóa bao trùm mọi hoạt động của đời sống xã hội. Ở mỗi xã hội cụ thể, văn hóa ln được
thể hiện sâu sắc đến hoạt động của con người, nếu muốn có những đánh giá chính xác
nhất về hành động thì phải gắn liền với việc phân tích sự ảnh hưởng của văn hóa trong
những hoạt động ấy. Văn hóa được hình thành suốt một chặng đường lâu đời từ hình
thành đến sự phát triển khu dân cư.
Văn hóa là yếu tố ln gắn liền mật thiết với lối sống, tạo nên tính đặc thù của lối
sống. Chính sự ảnh hưởng to lớn từ văn hóa đến mọi lĩnh vực của đời sống như vậy, cho
nên khi phân tích những nhu cầu vui chơi từ phía trẻ em và khả năng đáp ứng nhu cầu vui
chơi đó thì phải phân tích dựa trên các yếu tố văn hóa của khu vực như về văn hóa tơn
giáo, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã đã ảnh hưởng như thế nào đến việc vận hành nhà
nước tại địa phương và hoạt động của người dân nơi đây, cụ thể hoạt động giải trí của
học sinh tiểu học và việc đáp ứng nhu cầu đó.
1.3. Một số khái niệm liên quan
1.3.1. Nhu cầu
Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó. Nhu cầu
thể hiện sự lệ thuộc của mỗi cơ thể sống vào mơi trường bên ngồi, thể hiện thành những
ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện tồn tại và phát triển. Thỏa mãn được
nhu cầu, con người cảm thấy thích thú hài lịng. Khơng thỏa mãn được, con người cảm
thấy bị hụt hẫng và có thể đi tới các hành vi chống lại sự trở ngại.
5
Nhu cầu của con
người là điều tất yếu để con người tồn tại và phát triển.
1.3.2. Giải trí
Theo từ điển Xã hội học, Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng
những nhu cầu phát triển con người về các mặt thể chất, trí tuệ, và mỹ học. Giải trí khơng
chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà cịn là nhu cầu giải trí của đời sống cộng đồng.
5
Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, tr. 221.
14
Giải trí được thể hiện dưới nhiều hính thức khác nhau: có thể là hoạt động vui chơi,
xem chương trình cả nhạc, chơi thể thao, sáng tác nghệ thuật,..Giải trí đảm bảo tính duy
trì cuộc sống ở trạng thái cân băng, giúp con người tránh khỏi những căng thẳng từ công
việc, học hành,....
Như vậy, dựa vào hai định nghĩa nhu cầu và giải trí, Nhu cầu giải trí là nhu cầu về
việc thỏa mãn của con người trong các lĩnh vực thể chất, trí tuệ và mỹ học. Nhu cầu giải
trí được nảy sinh trong q trình sống của con người, nhất là trong điều kiện các điều
kiện vật chất được ổn định và đảm bảo thì nhu cầu giải trí ngày càng cao
Trong bài nghiên cứu này của chúng tơi sẽ thao tác hóa khái niệm nhu cầu giải trí
thành 6 lĩnh vực chính:
Nhu cầu sáng tạo nghệ thuật không chuyên
Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật không chuyên
Nhu cầu tham gia trò chơi
Nhu cầu về hoạt động thể thao giải trí
Nhu cầu du lịch dã ngoại
Nhu cầu giao tiếp
1.3.3. Vai trò
Vai trò được coi như tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà người khác chờ đợi
ở nó.6
Một định nghĩa khác, vai trị là một khái niệm then chốt trong lý thuyết xã hội học.
Nó nhấn mạnh những kì vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã
hội và nó phân tích sự vận hành của những kì vọng ấy.7
Gia đình, nhà trường và xã hội đều đảm nhiệm một vai trò khác nhau trong xã hội.
Đối với việc đáp ứng nhu cầu giải trí của học sinh tiểu học, mỗi mơi trường này sẽ đảm
nhiệm vai trị cụ thể để đáp lại kì vọng về việc được giải trí của trẻ.
1.4. Vài nét về địa bàn và mẫu nghiên cứu
1.4.1. Địa bàn nghiên cứu
Xã Quang Trung thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai với diện tích 36,28 km2.
Đây là một xã thuộc vùng nơng thơn, đang trong q trình thực hiện chương trình phát
6
Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, tr. 335.
Bùi Thế Cường – Đặng Thị Việt Phương – Trịnh Huy Hóa (2010), Từ điển Xã hội học
Oxford, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
7
15
triển nông thôn mới của Đảng và Nhà nước.Được thành lập vào năm 1984, xã hiện nay
có 7 ấp, có quốc lộ 20 chạy xuyên qua. Xã có 4541 hộ gia đình với dân số là 22134
người, có thể nói đây là một xã có số dân khá đơng trong địa bàn Huyện Thống Nhất.
Tình hình kinh tế của xã phát triển tương đối mạnh so với những xã vùng lân cận, tỉ lệ
việc làm của người dân trong xã : 65% dân số hoạt động sản xuất nông nghiệp, 10% làm
nghề thương mại dịch vụ, 20% sản xuất công nghiệp, 5% làm trong lĩnh vực khác. Với tỉ
lệ dân số hoạt động trong sản xuất nơng nghiệp vẫn cịn cao cho thấy xã Quang Trung
vẫn là một xã mang tính thuần nơng.
Địa bàn xã bao gồm 4 giáo xứ và 3 trường tiểu học, trong đó trường tiểu học
Nguyễn Huệ và Lê Lợi thuộc giáo xứ Ninh Phát và Hưng Bình nằm ở khu vực khá ít dân
và xa trung tâm hành chính của xã nhất. Trường TH Nguyễn Huệ và TH Lê Lợi là hai
trường nằm ở ấp Nguyễn Huệ 1 và Lê Lợi 1, đây là hai trường nằm xa trung tâm hành
chính của xã nhất (khoảng 3km). Hai trường này tiền thân là trường cấp 2,3 Quang
Trung, được tách ra vào năm 1987 thành hai trường tiểu học Lê Lợi và Nguyễn Huệ cùng
với trường THCS Quang Trung. Tổng số học sinh năm học 2012-2013 của trường TH
Nguyễn Huệ là 680, nhiều hơn trường tiểu học Lê Lợi (406 học sinh). Từ năm 2012,
trường TH Nguyễn Huệ được công nhận là trường chuẩn Quốc gia cấp độ 1, trường TH
Lê Lợi đang trong quá trình phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia.
1.4.2. Mô tả mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã khảo sát 200 học sinh trong độ tuổi tiểu học
(6-10 tuổi), trong đó 100 em học sinh trường tiểu học Lê Lợi và 100 em học sinh trường
tiểu học Nguyễn Huệ. Trong mẫu nghiên cứu, tỉ lệ nam chiếm 47,5%, nữ chiếm 52,5%.
Đây được xem là một tỉ lệ khá cân bằng. 71,5% học sinh tham gia cuộc khảo sát có học
lực khá – giỏi, 25,5% học sinh có học lực trung bình – yếu. 100% học sinh tham gia khảo
sát là người dân tộc Kinh, trong đó 93,5% theo Thiên Chúa giáo, 6,5% cịn lại theo đạo
Phật, ngồi ra khơng có tơn giáo nào khác. Chỉ có 3,5% học sinh sống chung với người
ni dưỡng, tỉ lệ cịn lại sống chung với cha mẹ. 42,5% học sinh sống trong gia đình chỉ
có từ 1 đến 2 con.
16
CHƯƠNG 2:
NHU CẦU GIẢI TRÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
Nhóm nghiên cứu tiến hành tìm hiểu thực trạng giải trí của học sinh tiểu học trong
mẫu nghiên cứu đang diễn ra như thế nào thơng qua ba hình thức biểu hiện chính của nhu
cầu giải trí: hoạt động vui chơi, hoạt động nghệ thuật và hoạt động giao tiếp.
2.1. Trong hoạt động vui chơi
Vui chơi là hoạt động của con người nhằm để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú và sở
thích của cá nhân. Nó là một dạng giải trí nhưng đồng thời thông qua những hoạt động
vui chơi hợp lí, con người thiết lập được cho mình những mối quan hệ và góp phần phát
triển các chức năng trí tuệ cũng như hoàn thiện về nhân cách.Chơi là nhu cầu khơng thể
thiếu của trẻ em.Hoạt động vui chơi chính là hình thức thể hiện thái độ tích cực của trẻ
em với môi trường xung quanh, tạo điều kiện cho trẻ em biểu hiện xúc cảm tinh tế, tự
nhiên trong cuộc sống8.Như vậy, hoạt động vui chơi có một vai trò rất quan trọng trong
sự phát triển của trẻ. Thực hiện nghiên cứu trên 200 phiếu khảo sát, 12 cuộc phỏng vấn
sâu tại địa bàn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học ở
hai trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi rất cao. Nó được biểu hiện thơng qua số lượng, loại
hình, cách thức tổ chức những hoạt động vui chơi cũng như thời gian, không gian vui
chơi của trẻ.Đồng thời nhu cầu này cũng được nhìn thấy thơng qua mức độ hứng thú, sự
yêu thích và mức độ tham gia của các em vào những hoạt động vui chơi hiện có ở địa
phương nghiên cứu.
Theo kết quả nghiên cứu, trẻ em nơi đây có rất nhiều hoạt động vui chơi đa dạng,
phong phú.Nó khơng chỉ phong phú về số lượng trị chơi mà còn về chất lượng cũng như
địa điểm vui chơi; quy mô hay cách thức tổ chức các hoạt động vui chơi này.
Thứ nhất, chúng tôi muốn đề cập đến địa điểm diễn ra hoạt động vui chơi của các
em.Sở dĩ nói phong phú bởi lẽ nó khơng chỉ diễn ra ở một địa điểm mà diễn ra ở rất nhiều
địa điểm khác nhau. Thơng thường, theo cách nhìn của lí thuyết xã hội hóa, trẻ ở độ tuổi
tiểu học sẽ tiếp xúc ở hai mơi trường gia đình và nhà trường hầu hết thời gian của mình.
8
Xem thêm: Đề tài nghiên cứu khoa học khoa Giáo dục học- Đại học sư phạm Hà Nội, “
Biện pháp chỉ đạo hoạt động vui chơi cho học sinh của hiệu trưởng trường tiểu học Hồ
Tùng Mậu – Thành phố Nam Định ”, 2010, trang 12.
17
Chính vì thế, các hoạt động vui chơi của chúng cũng sẽ diễn ra phần lớn ở đây. Tuy
nhiên, theo kết quả nghiên cứu, chúng tơi nhận thấy, ngồi hai khu vực này, các em còn
vui chơi ở nhà văn hóa, những khu vui chơi tư nhân, khu đất trống, ngoài vườn, con
đường hẻm hay ở nhà thờ… những nơi vui chơi này của trẻ không phải là những khu
công viên, không phải những khu vui chơi như Thảo Cầm Viên hay Suối Tiên và Đầm
Sen… đây chỉ là những khoảng đất rộng và trống không được xây dựng cho mục đích vui
chơi, có khơng gian tương đối thoải mái để các em có thể tổ chức những trị chơi thường
xuyên nên còn nhiều hạn chế trong việc đảm bảo an tồn cũng cho các em vui chơi các
trị chơi: đuổi bắt ở những khu vườn nhà, chơi đá banh ở những khu đất trống, chạy xe
đạp ở những con hẻm vắng hay sườn dốc…
“Nè đi đồi nè, đạp xe đạp lòng vòng nè, thường thường....đi đạp xe đạp, Tụi con đạp
xe đạp lên dốc rồi thả dốc xuống với gần nhà con”
(Nữ, học sinh lớp 4)
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy trẻ em khu vực này có rất nhiều khơng gian để
lựa chọn tổ chức các trị chơi ngoài giờ học.
Bảng 1. Nơi trẻ em thường xuyên chơi ngoài giờ học
Nơi vui chơi
Tần số
Tỉ lệ (%)
Chơi ở nhà nhau
93
46,5
Chơi ở nhà thờ/nhà chùa
40
20
Chơi ở sân trường
95
47,5
Chơi ở khu đất trống
14
7
Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi
Trong tổng số 200 người trả lời, có 93 em thường chơi ở nhà của nhau (46%), 40 em
trả lời chơi ở sân nhà thờ (20%), 95 em thường chơi ở sân trường (47,5%) và có 14 em
chơi ở khu đất trống (7%). Mặc dù số các em chơi ở khu đất trống còn ít, nhưng nó cũng
thể hiện nhu cầu muốn chơi ở những khơng gian rộng và thoải mái để các trị chơi được
lựa chọn có thể diễn ra tốt hơn. Tuy nhiên, do điều kiện địa lí và kinh tế khu vực nên các
em cịn chịu nhiều thiệt thịi, khơng được tiếp xúc với những sân chơi như những khu vực
thành thị khác.
18
Thứ hai muốn đề cập đến loại hình vui chơi của các em học sinh tiểu học. Tưởng
rằng những trò chơi dân gian trước đây sẽ bị mất đi khi xã hội ngày càng phát triển nhiều
hình thức giải trí mới mang tính cơng nghệ cao. Thế nhưng kết quả nghiên cứu lại cho
thấy, những trò chơi dân gian đang dần phát triển mạnh hơn nữa cùng những trò chơi
hiện đại trong các hoạt động vui chơi của học sinh tiểu học khu vực này.
“Ở trường đã được tổ chức cho nó chơi, ngày xưa thì có mơn đá banh rồi cầu lơng
và nhiều thứ khác nữa. Cịn bây giờ đang hướng về trò chơi dân gian là chủ yếu, ví dụ
như là cướp cờ nè, rồi ơ quan, rồi chơi cờ ô quan, ô quan bằng người, rồi chơi keo, chơi
cờ tướng, rồi mấy trò như nở nụ trồng hoa.Đã một thời gian nó bị bỏ qua và bây giờ họ
đang khơi gợi lại giống như ngày xưa”
(Nữ, 45 tuổi, Phụ trách thiếu nhi Giáo xứ Hưng Bình)
Cũng theo kết quả phỏng vấn sâu, trẻ em trong khu vực này thường chơi những trò
chơi dân gian như lò cò, năm mười, nhảy dây, đá banh, kéo co, bịt mắt bắt dê, đuổi bắt là
chủ yếu.
Bên cạnh đó, các em cịn tham gia các trị chơi có sử dụng những vật dụng vui chơi
hỗ trợ trên trường như xích đu, cầu trượt, dây quay và chơi búp bê, đồ lắp ghép, đồ hàng
ở nhà. Hầu hết các em đều nói đến hoạt động chơi các trò chơi vận động cùng với các bạn
trong lớp vào những giờ ra chơi (nam 56,2%, nữ 43%). Chúng ta có thể nhận thấy trẻ em
nam thường tham gia chơi các trò chơi vận động nhiều hơn các em nữ. Ở đây liệu có sự
khác biệt gì về giới trong sự lựa chọn các trị chơi này? Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa
chọn này là do đâu? Chúng tơi sẽ làm rõ khía cạnh này trong phần vai trò và khả năng
đáp ứng nhu cầu giải trí của nhà trường.
Đa phần chúng tơi sẽ nhận được câu trả lời “chơi búp bê”, “chơi đá banh”, “chơi đồ
hàng”,… khi hỏi về các trò chơi ở nhà thường chơi thông qua phỏng vấn sâu học sinh.
“Em thường đi chơi cầu trượt với các bạn và chơi cị cị dí”
(Nữ, học sinh lớp 2)
“Ở nhà em có hai con búp bê, em chơi búp bê với đồ hàng với chị”
(Nữ, học sinh lớp 2)
Tất cả những điều này chứng tỏ các trò chơi của học sinh tiểu học tại khu vực điển
cứu rất đa dạng. Nó có thể phục vụ tương đối cho nhu cầu của các em học sinh tiểu học
tại đây để các em lựa chọn các trò chơi phù hợp hơn với sở thích hay giới tính của mình.
Bảng 2. Tương quan giữa giới tính và hoạt động giờ ra chơi của học sinh
19
Đơn vị tính: %
Giới tính Trị chơi giờ ra chơi
người trả Chơi các trị chơi vận Ngồi nói chuyện với
Tổng
lời
động cùng các bạn
các bạn
Nam
56,2
0,8
56,2
Nữ
43
0,8
43,8
Tổng
99,2
1,7
100
Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi
Qua bảng phân tích chúng ta có thể nhận thấy, vào giờ ra chơi trẻ em nam thường
chơi các trò chơi vận động nhiều hơn (56,2%) so với trẻ em nữ (43%) trong tổng số
người trả lời. Những hoạt động khác như vào thư viện, ngồi học bài… dường như khơng
tìm thấy với những mức thống kê có ý nghĩa. Ngồi ra, thường thấy các em nữ có xu
hướng quan tâm hơn đến chơi những trị chơi có sự hỗ trợ của các vật dụng như xích đu,
cầu trượt… như vậy, chúng ta cũng có thể nhận xét các em nam có thể năng động hơn
các em nữ thông qua việc tham gia các trò chơi vận động tại trường vào giờ ra chơi.
Ở một khía cạnh khác, cách thức tổ chức các trò chơi cũng trở nên đa dạng hơn với
những khoảng thời gian đa dạng hơn cũng tạo điều kiện để các em có thể vui chơi nhiều
hơn: các em có thể tự chơi một mình ở nhà vào các ngày nghỉ, rủ bạn đến nhà chơi cùng
(35,5%), tham gia các buổi vui chơi tập thể ở các cơ sở tư nhân vào những này lễ tết,
đăng kí vào sinh hoạt với những câu lạc bộ ở trường, tham gia các cuộc thi về hoạt động
vui chơi do nhà thờ vào cuối tuần, các hoạt động vui chơi, giao lưu ở nhà trường hay nhà
văn hóa tổ chức vào các dịp lễ hội, đi tham quan do nhà trường tổ chức (33%)… Các
hình thức tổ chức thi đua giữa các cá nhân, tập thể với nhau là một cách thức để khuấy
động các hoạt động vui chơi này cho các em. Những cách thức này cũng phần nào tăng
cường hoạt động vui chơi sao cho phù hợp hơn với nhịp độ sinh hoạt hiện nay. Tuy
nhiên, kết quả khảo sát cho thấy hầu như vẫn chưa có nhiều sự kết hợp giữa các đơn vị, tổ
chức để tổ chức các chương trình giao lưu giữa các trường, tổ chức thi các trò chơi dân
gian, thi đua các họat động vui chơi giải trí giữa các khối lớp… trong khu vực nghiên
cứu.
“Nếu mà muốn giao lưu giữa trường này với trường kia thì khó khăn lắm. Kinh phí
tốn kém mà nhà trường nhiều khi họ cũng khơng có kinh phí để bọn mình hoạt động và tổ
chức”
20
(Nam, 33 tuổi, tổng phụ trách đội)
Chính vì vậy đây là một thiệt thòi cho các em thiếu nhi trong các hoạt động vui chơi
tập thể. Qua hiện trạng này chúng ta cũng có thể nhận thấy lí do các em thường rủ bạn về
nhà chơi, chơi với nhau trên trường và sinh hoạt bên nhà thờ là chủ yếu là do cịn ít các
hoạt động để các em chơi chung và giao lưu với nhau.
Bảng 3. Tương quan giữa giới tính và mức độ thường xuyên dẫn bạn về nhà chơi
của học sinh
Đơn vị tính: tần số
Giới tính Mức độ thường xuyên dẫn bạn bè về nhà chơi9
người trả
Thường xun
Thỉnh thoảng
Ít khi
Khơng bao giờ Tổng
Nam
29
25
27
14
95
Nữ
42
28
25
10
105
lời
Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi
Qua bảng chúng ta có thể nhận thấy, để cùng vui chơi với nhau, ngoài thời gian chơi
ở trường, các em nữ thường dẫn bạn về nhà chơi nhiều hơn (40%) so với các em nam
(30,5%). Bên cạnh đó, khi so sánh về thích các hoạt động do nơi nào tổ chức nhất, trẻ em
nam lại có sự u thích nhất là các hoạt động vui chơi do gia đình tổ chức (40%). Tuy
vậy lại không dẫn bạn về nhà chơi nhiều như các em nữ. Như vậy chúng ta cũng có thể
nhận thấy các em nam thích chơi ở nhà nhiều hơn, hơn nữa lại chơi một mình hoặc chơi
với anh chị em trong gia đình. Việc vui chơi với bạn bè ở tại nhà dường như không nhiều.
Bảng 4. Mối tương quan giữa nơi tham gia hoạt động giải trí và giới tính
Đơn vị tính: tần số
Nơi tham gia các hoạt động vui chơi
Nam
Nữ
Nhà trường
31
40
Nhà văn hóa xã
35
31
Nhà thờ/ nhà chùa
26
21
Gia đình
38
44
Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi
9
Thường xuyên = một tuần vài lần, thỉnh thoảng = một tuần một lần, ít khi = vài tuần
một lần.
21
Ngồi thời gian có thể chơi trong ở trường, chơi lúc về nhà, vui chơi tại các cơ sở
giáo lí hàng tuần cịn có đến 91% trong tổng số các em trả lời đã được đi chơi xa cùng
với gia đình vào những dịp hè, tết.. ở những địa điểm du lịch như Vũng Tàu, Đà Lạt, Mũi
Né, Đại Nam, Đầm Sen, Suối Tiên… Có 33% các em tham gia vào những kì vui chơi
tham quan do nhà trường tổ chức.
Nhìn chung, cả về hình thức tổ chức và loại hình vui chơi của học sinh tiểu học tại
địa phương đều rất đa dạng và phong phú để cả trẻ em nam và nữ có thể lựa chọn những
trị chơi phù hợp với bản thân mình. Có thể đó chính là một điều kiện mở để các em có
thể tham gia nhiều hơn vào hoạt động vui chơi đáp ứng nhu cầu giải trí vốn rất cần thiết
của lứa tuổi này.
Tiếp theo, nhu cầu vui chơi của các em còn được đánh giá là cao thông qua những
chỉ báo về mức độ yêu thích, tham gia và mức độ hứng thú với các hoạt động vui chơi
này. Dựa vào số liệu phân tích, tuy khơng phải ở mức độ tuyệt đối cao, nhưng nó đã cho
thấy bên cạnh việc học tập giữ vai trò chủ đạo ở lứa tuổi này thì các em vẫn cần và coi
vui chơi là hoạt động không thể thiếu.
Trên thực tế, những học sinh trong phạm vi nghiên cứu đều cho thấy những mong
muốn được tham gia hoạt động vui chơi thông qua mức độ tham gia vào các trò chơi, độ
hứng thú với những hoạt động này với những con số khá cao. Chúng ta có thể thấy mức
độ u thích của các em khi tìm hiểu về những hoạt động vui chơi được yêu thích cũng
đã chứng minh điều này khi trên 50% các đáp án trả lới đều có thang điểm tối đa là 10.
Mặt khác, các kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy các em rất hứng thú với các hoạt
động vui chơi ở cả nhà trường, nhà thờ cũng như các cơ sở vui chơi khác: rủ nhau đi chơi
ngoài giờ lên lớp ở nhà của nhau, các em cũng thường rủ nhau chơi những trò chơi tập
thể trong những giờ ra chơi… Các em đều cho biết sẽ có hứng thú học tập nhiều hơn bình
thường nếu trong các tiết học có lồng ghép các trị chơi vận động. Hầu hết các cuộc
phỏng vấn sâu đều nhận được câu trả lời là rất hứng thú hay rất thích học những tiết học
như vậy.
Bên cạnh đó các em cũng rất thích thú khi được tham gia các ngày vui chơi ngoại
khóa trong trường cùng với các bạn.
“Hầu như làmột trăm phần trăm các em tham gia. Các em nó rất hào hứng...Ví dụ
các em nói thầy ơi, thứ hai tới hay thứ sáu tới, thầy cứ ở nhà thầy tổ chức cho tụi con đi,
22
tụi con thấy rằng mỗi lần đi lên trườngđược chơi và tham gia các hoạt động đấy...tụi con
thích lắm”
(Nam, 33 tuổi, Tổng phụ trách)
Hay một số lượng rất đông (59%) thích được vui chơi ở trường, ở nhà văn hóa hay
nhà thờ vì có nhiều trị chơi và có thể chơi cùng với các bạn
“Chơi ở trường vui hơn vì có nhiều bạn, được chơi nhiều trị chơi ở nhà”
(Nữ, học sinh lớp 2)
Trong tất cả những hoạt động có thể làm ở trường trong giờ ra chơi, các em lựa
chọn nhiều nhất là các trò chơi vận động cùng với bạn bè của mình (60%) trong khi ngồi
một mình chỉ có 1,5% trong tổng số đó. Số cịn lại tham gia vào những cuộc nói chuyện
với bạn bè là chủ yếu (20%). Qua phỏng vấn sâu, chúng tôi cũng thu nhận được những
câu trả lời thể hiện sẽ chơi các trò chơi vận động cùng với bạn bè trong lớp vào giờ ra
chơi:
“Có bạn chơi trốn tìm, có bạn chơi nhảy dây”
(Nữ, học sinh lớp 2)
Theo kết quả nghiên cứu, trong số những hoạt động vui chơi được các em thích nhất
những hoạt động vui chơi cùng với gia đình và gặp gỡ bạn bè với con số chứng minh khá
cao.
Bảng 5. Điểm trung bình những loại hình hoạt động vui chơi được yêu thích
Đi chơi Tham
cùng
Điểm
gia Tham gia Sinh
Chơi trò Sử dụng
các cuộc thi cắm trại, hoạt đội chơi cùng internet
gia đình thể thao
picnic
4,3
2,34
2.72
bạn bè
2,36
2,48
2,57
trung bình
Nguồn: Số liệu cuộc khảo sát 200 học sinh trường Nguyễn Huệ và Lê Lợi
Điểm trung bình cho hoạt động vui chơi cùng với gia đình là 4,3 là cao nhất trong
khi đó, những hoạt động khác có số điểm u thích rất ít: sinh hoạt đội (2,36), tham gia
cắm trại, picnic (2,34).Mặt khác, vào các ngày lễ tết, các em thường đi chơi với gia đình
(69,5%) là chủ yếu. Những hoạt động vui chơi khác dường như không được tham gia
nhiều vào những dịp lễ tết.
Có thể nói, nhu cầu vui chơi của trẻ em tại địa phương này nói riêng được thể hiện
trên cả ba mặt: nhận thức, thái độ và hành vi. Như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể