Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Thực trạng phát âm tiếng nhật của sinh viên việt nam trong trường đại học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.85 MB, 99 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC



SÁI THỊ MÂY

THỰC TRẠNG PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC


SÁI THỊ MÂY

THỰC TRẠNG PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
MS: 60.31.50


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN HUỆ

TP.HỒ CHÍ MINH - 2013


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên xin được được gửi lời cảm ơn và biết ơn trân trọng đến PGS.TS Nguyễn
Văn Huệ đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo trong suốt thời gian làm luận văn. Mặc dù người
viết vẫn còn thiếu rất nhiều kiến thức về ngữ âm tiếng Nhật, về phương pháp phân tích
ngữ âm học thực nghiệm nhưng dưới sự chỉ dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Huệ người viết
đã có thể hồn thành luận văn.
Tiếp theo, xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô, giáo vụ Khoa Đông
Phương đã hỗ trợ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường. Nhờ vào sự giúp đỡ
tận tình của các thầy cơ và giáo vụ Khoa Đơng Phương người viết mới có thể hồn thành
các môn học và luận văn.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các học viên Châu Á học khóa 2010, gia đình, bạn
bè đã ln ủng hộ và giúp đỡ người viết trong suốt quá trình học tập và viết luận văn.


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 3
3. Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 10
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ...................................................................... 10
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ................................................... 11
6.1 Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 11
6.2 Nguồn tư liệu ...................................................................................... 12

7. Bố cục luận văn ............................................................................................ 12
Chương một: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ...................................... 14
1.1 Cơ sở lý luận.............................................................................................. 14
1.1.1 Vai trò của phát âm trong việc học ngoại ngữ ........................................ 14
1.1.2 Lý luận phương pháp giảng dạy ngữ âm ................................................ 17
1.1.2.1 Vai trò của giáo viên trong việc giảng dạy ngữ âm ....................... 17
1.1.2.2 Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy ngữ âm ......................... 20
1.2 Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 26
1.2.1 Tình hình đào tạo tiếng Nhật ở Việt Nam .............................................. 26
1.2.2 Tình hình giảng dạy tiếng Nhật và phát âm tiếng Nhật tại các trường Đại học
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay .......................................................... 30
1.3 Tiểu kết ...................................................................................................... 32
Chương hai: KHẢO SÁT PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM ..................................................................................................... 33
2.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật ...................................... 33
2.1.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt .......................................................... 33
i


2.1.2 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Nhật ......................................................... 35
2.1.3 So sánh hệ thống ngữ âm tiếng Việt và tiếng Nhật ................................... 36
2.2 Các lỗi phát âm tiếng Nhật thường gặp của sinh viên Việt Nam .............. 37
2.2.1 Các lỗi phát âm sai về mặt đơn vị ngữ âm ................................................ 37
2.2.1.1 Các lỗi phát âm trong nghiên cứu của SugimotoTaeko .................. 37
2.2.1.2 Lỗi phát âm của sinh viên thông qua khảo sát thực tế .................... 40
2.2.2 Các lỗi phát âm liên quan đến ngôn điệu .................................................. 47
2.2.2.1 Trọng âm ...................................................................................... 47
2.2.2.2 Ngữ điệu ....................................................................................... 52
2.3 Ý thức về việc phát âm tiếng Nhật của sinh viên ...................................... 55
2.4 Tiểu kết ...................................................................................................... 60

Chương ba: ĐÁNH GIÁ PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM ..................................................................................................... 62
3.1 Đánh giá của người Nhật làm việc tại Việt Nam ...................................... 62
3.1.1 Đánh giá tổng quan về phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam ....... 64
3.1.2 Ảnh hưởng của phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam đến giao tiếp hằng
ngày ....................................................................................................... 67
3.2 Đánh giá của giáo viên tiếng Nhật ............................................................ 71
3.2.1 Đánh giá tổng quan phát âm của sinh viên Việt Nam ............................. 72
3.2.2 Ý kiến về việc giảng dạy phát âm tiếng Nhật cho sinh viên .................... 75
3.3 Đánh giá của bản thân sinh viên .............................................................. 76
3.4 Đề xuất về việc giảng dạy phát âm cho sinh viên ...................................... 77
3.5 Tiểu kết ...................................................................................................... 79
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 85
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 89

ii


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản (Japan Foundation) năm
2012 số người học tiếng Nhật ở Việt Nam đã đạt tới con số 46.762 người và
đứng vị trí thứ 8 trong số các nước có đơng người học tiếng Nhật. Ngồi ra, tính
đến tháng 10 năm 2012 có khoảng 940 công ty Nhật đầu tư vào Việt Nam
(Nguồn: Hiệp hội xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO)). Bên cạnh đó, hiện
nay rất nhiều doanh nghiệp Nhật đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Việt Nam.
Thế nên dự đoán trong thời gian sắp tới, con số này sẽ còn tăng đáng kể.
Để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực có khả năng sử dụng tiếng
Nhật, chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã có khoảng gần 10 trường đại học có

Khoa, Bộ mơn tiếng Nhật. Bên cạnh đó, các hệ thống các trường chuyên giảng
dạy tiếng Nhật, các trung tâm tiếng Nhật cũng ngày càng gia tăng. Đáp ứng nhu
cầu đào tạo của xã hội là việc rất cần thiết. Thế nhưng, chất lượng đào tạo vẫn
cần phải đặt lên hàng đầu. Rõ ràng thị trường Việt Nam hiện nay rất cần nguồn
nhân lực biết tiếng Nhật. Đặc biệt là nguồn nhân lực thực sự giỏi tiếng Nhật.
Các doanh nghiệp Nhật chỉ mới bắt đầu đầu tư vào Việt Nam trong vài năm trở
lại đây và hiện nay đang gặp phải rào cản ngơn ngữ rất lớn. Vì thế các doanh
nghiệp Nhật luôn mong mỏi tuyển dụng được những cá nhân sử dụng thành thạo
tiếng Nhật và am hiểu văn hóa Nhật. Thế nhưng đây vẫn cịn là một bài tốn khó.
Ước tính trung bình, chỉ riêng các trường đại học có đào tạo tiếng Nhật hiện nay
thì hàng năm có khoảng trên dưới 1000 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành tiếng
Nhật. Số sinh viên tốt nghiệp ra trường làm việc tại nhiều ngành nghề khác nhau.
Trong số đó, có khơng ít người làm trong lĩnh vực giảng dạy, biên phiên dịch.
Những cơng việc này địi hỏi phải có sự giao tiếp với người Nhật. Tuy nhiên, đa

1


số người Nhật hiện nay lên tiếng rằng những người biết và có thể sử dụng tiếng
Nhật để giao tiếp phát âm khá khó nghe. Trường hợp, phải giao tiếp bằng tiếng
Nhật trong thời gian dài sẽ khiến người Nhật cảm thấy mệt mỏi vì cứ phải chăm
chú lắng nghe.
Theo nghiên cứu của Matsuda Makiko (2012) thì trong số người học tiếng
Nhật của Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Việt Nam thì phát âm của người
Việt Nam xếp hạng thấp nhất. Điểm qua tình hình giảng dạy chỉ riêng ở các
trường đại học hiện nay thì rõ ràng thấy rằng các trường hầu như không chú
trọng đến việc giảng dạy phát âm cho sinh viên. Ở khu vực phía Nam, ngoại trừ
trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đưa mơn Ngữ âm tiếng Nhật
vào giảng dạy chính thức cho sinh viên thì các trường đại học khác hầu như
khơng có mơn ngữ âm. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo

sinh viên ngành tiếng Nhật. Vì phát âm cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh
giá trình độ tiếng Nhật của mỗi sinh viên khi ra trường.
Trong khi các trường đại học ở Hà Nội đã đưa môn Ngữ âm học tiếng Nhật
vào giảng dạy từ rất lâu thì khái niệm giảng dạy ngữ âm tiếng Nhật có vẻ vẫn
cịn khá xa lạ tại các trường đại học phía Nam điển hình là Thành phố Hồ Chí
Minh. Lực lượng giảng viên tiếng Nhật hiện nay là những người có trình độ
chun mơn tiếng Nhật rất cao. Tuy nhiên, hầu như khơng có ai nghiên cứu
chuyên ngành ngữ âm học. Không chỉ riêng gì tiếng Nhật phát âm chuẩn bất kì
ngoại ngữ nào cũng khiến người nghe cảm thấy an tâm và giảm thiểu áp lực cho
người nghe. Vì vậy, việc giảng dạy ngữ âm tiếng Nhật là hết sức quan trọng và
sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên ngành Nhật tại Việt Nam.
Nắm bắt được tình hình phát âm tiếng Nhật của sinh viên hiện nay cũng như tìm
hiểu những suy nghĩ, nhu cầu về học phát âm tiếng Nhật của sinh viên là rất
quan trọng để tìm ra hướng đào tạo phát âm cho sinh viên trong tương lai. Vì lý

2


do như trên mà người viết quyết định thực hiện đề tài: Thực trạng phát âm tiếng
Nhật của sinh viên Việt Nam trong các trường đại học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm 5 mục đích chính.
Thứ nhất là nhìn nhận lại tầm quan trọng của việc dạy và học phát âm trong
quá trình học ngoại ngữ. Hiện nay, môn ngữ âm học hầu hết đã được triển khai
trong ngành đào tạo tiếng Anh. Tuy nhiên, ngành đào tạo tiếng Nhật chỉ mới bắt
đầu nên trong thời gian tới việc đưa môn ngữ âm tiếng Nhật vào giảng dạy là rất
cần thiết.
Thứ hai là tìm hiểu thực trạng giảng dạy tiếng Nhật và phát âm tiếng Nhật
của sinh viên Việt Nam trong một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí
Minh. Số lượng sinh viên theo học và mong muốn theo học tiếng Nhật ngày

càng đông. Cùng lúc đó, các khoa bộ mơn tiếng Nhật phải khơng ngừng cải tiến
nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Nhật để đáp ứng được nhu cầu đào tạo của thị
trường. Chính vì điều đó, tìm hiểu thực trạng giảng dạy liên quan đến tiếng Nhật
sẽ góp phần nhận rõ những vấn đề cần giải quyết tiếp theo trong quá trình giảng
dạy tiếng Nhật.
Thứ ba là tìm hiểu đánh giá phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện
nay. Trong nhiều nghiên cứu gần đây, phát âm của sinh viên Việt Nam bị đánh
giá thấp hơn các nước trong khu vực. Có một số lỗi phát âm sai đặc trưng mà
sinh viên Việt Nam thường mắc phải. Người viết sẽ tìm hiểu đánh giá phát âm
tiếng Nhật thực tế của sinh viên thông qua bảng hỏi điều tra của người Nhật,
giáo viên dạy tiếng Nhật và chính sinh viên đang học tiếng Nhật, sinh viên đã
tốt nghiệp ngành Nhật. Từ đó, hiểu rõ hơn về các vấn đề phát âm tiếng Nhật của
sinh viên Việt Nam.

3


Thứ tư là tìm hiểu một số vấn đề phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
hiện nay. Những lỗi phát âm tiếng Nhật nào thường gặp phải ở phát âm tiếng
Nhật của sinh viên Việt Nam và một số nguyên nhân gây ảnh hưởng tới phát âm
tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam.
Thứ năm là sau khi tìm hiểu các lỗi phát âm sai của sinh viên Việt Nam
người viết sẽ đề xuất một số phương pháp khắc phục và đề xuất một số ý kiến
về việc giảng dạy ngữ âm cho sinh viên Việt Nam.
3. Lịch sử nghiên cứu
Môn ngữ âm là một môn học cần thiết với những sinh viên chuyên ngành
ngoại ngữ. Tuy nhiên, giảng viên tiếng Nhật hiện nay hầu hết tốt nghiệp chuyên
ngành tiếng Nhật ở Việt Nam và rất ít người có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ chuyên
ngành nghiên cứu tiếng Nhật. Vì thế mà hiện nay có rất ít giảng viên nào thực
sự tập trung nghiên cứu riêng về tiếng Nhật. Đặc biệt là mơn ngữ âm tiếng Nhật.

Trong q trình nghiên cứu tìm tư liệu để thực hiện đề tài, ngoài đề tài nghiên
cứu của Phạm Thu Hương, hầu như khơng tìm thấy các đề tài liên quan đến phát
âm và phương pháp giảng dạy phát âm trong tiếng Nhật do người Việt nghiên
cứu.


Phạm Thu Hương (2006): Vấn đề nghe phân biệt hàng za, ja, ya trong
tiếng Nhật của người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, Tập san hội nghiên cứu
văn hóa ngơn ngữ Nhật, Kì số 2, Học viện nghiên cứu Seisaku, trang 83 -108
là một trong những nghiên cứu hiếm hoi của người Việt có liên quan đến
ngữ âm tiếng Nhật.
(Trang 83 – 108, Viện nghiên cứu Seisaku, Tập san Hội nghiên cứu Văn hóa
Ngơn ngữ tiếng Nhật, Số 2)

4


(ファン

トゥー

ザ行音.ジャ

フォン(2006)「ベトナム語母語話者による日本の

行音.ヤ行音の聞き分け」『日本言語文化研究会論集』

第 2 号、政策研究大学院、pp.83-108)
Nội dung của đề tài nghiên cứu này là tìm hiểu vấn đề phát âm nhầm lẫn
giữa 3 từ hàng za (ザ), ja (ジャ), ya (ヤ) của sinh viên miền Bắc và miền Nam.

Nghiên cứu được thực hiện thông qua điều tra thu âm, phỏng vấn 208 sinh viên
trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và 57 sinh viên trường Đại học Ngoại thương
Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả điều tra được tổng hợp theo từng mục riêng biệt: Phụ âm, Vị trí của phụ
âm, Nguyên âm phía sau, Trọng âm. Nghiên cứu cho thấy rằng cả sinh viên
miền Bắc và sinh viên miền Nam đều xảy ra hiện tượng phát âm nhầm lẫn giữa
3 từ trên. Trong đó, nhầm lẫn giữa za (ザ) và ja (ジャ) thường gặp nhất. Đặc
biệt, khi từ za (ザ) đứng ở đầu từ. Khi ngun âm phía sau là /u/ thì sẽ dễ nghe
hơn. Ngồi ra, trọng âm khơng ảnh hưởng đến khả năng nghe của sinh viên.
Ngồi ra, ở Nhật cịn có một số luận văn, đề tài nghiên cứu ở Nhật có liên
quan đến phát âm của người Việt như sau:
 Kanamura Kumiko (1999): Đặc trưng về mặt thanh điệu phát âm tiếng
Nhật của người nói tiếng Việt, Tạp chí Khoa học ngơn ngữ, Số 12, Hội
nghiên cứu Văn hóa ngôn ngữ Đại học Nagoya, Trang 77 -92
(金村久美子(1999)「ベトナム語話者による日本語の発音の音調上
の特 徴」『こ とばの科学』12 号、名古屋大学言 語文化研 究会、
pp.73-92)
Thông qua điều tra thu âm các từ có âm tiết, trọng âm khác nhau của 44 sinh
viên năm tư (Nam: 11, Nữ: 33) trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Kanamura
Kumiko đã khái quát lại một số đặc trưng phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt
Nam. Kết quả thu âm được phân tích theo mối liên hệ với trọng âm, mối liên hệ

5


với ngôn điệu và sự liên tiếp của các từ, mối liên hệ với số âm tiết, mối liên hệ
với cấu trúc âm tiết trong tiếng Việt. Nghiên cứu cho thấy phát âm tiếng Nhật
của sinh viên Việt Nam không liên quan đến trọng âm mà liên quan đến sự liên
tiếp của các từ. Người Việt Nam có khuynh hướng áp đạt cấu tạo âm tiết trong
tiếng Việt vào trong các từ tiếng Nhật. Vì thế khi phát âm thường xảy ra 3 vấn

đề chính.
-

Tùy vị trị âm tiết, kéo dài nguyên âm trong tiếng Nhật để đạt cấu tạo gần
giống như âm tiết trong tiếng Việt.

-

Hai âm tiết mở sẽ được phát âm thành một âm tiết đóng.

-

Khi thời gian đóng của phụ âm vơ thanh kéo dài, xảy ra trường hợp thêm
phụ âm của âm tiết phía trước.

Nghiên cứu, cũng chỉ ra rằng cấu tạo âm tiết trong tiếng Việt cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam
Loạt nghiên cứu về lỗi phát âm của sinh viên Việt Nam do Sugimoto Taeko,
Đại học Ibaraki, Nhật Bản thực hiện.
 Sugimoto Taeko (2003): Trọng tâm vấn đề phát âm sai - Vấn đề phát âm sai
của người học tiếng Nhật có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt I, Tuyển tập ngành
giao tiếp, Kỉ yếu khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki, Kì số 14, Trang 19 -45.
(杉本妙子(2003)「ベトナム語圏日本語学習者の発音に関わる誤用
について I-誤用の実態を中心に-」、『茨城大学人文学部紀要コミ
ュニケーション学科論集』、14 号、pp.19-45)
 Sugimoto Taeko (2005): Vấn đề phát âm sai của người học tiếng Nhật có
tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt II, Quan sát và so sánh các lỗi sai kéo dài và thu
ngắn từ trong việc khảo sát phát âm và khả năng nghe, Tuyển tập ngành giao
tiếp, Kỉ yếu khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki, Kì số 17, Trang 73 -93.


6


(杉本妙子(2005)「ベトナム語圏日本語学習者の発音に関わる誤用
について II-音声聞き取り調査と発音調査における長音化.短音化の
誤用の比較と考察-」、『茨城大学人文学部紀要コミュニケーショ
ン学科論集』、17 号、pp.73-93)
 Sugimoto Taeko (2007): Vấn đề phát âm sai của người học tiếng Nhật có
tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt III, Quan sát và so sánh các lỗi sai về phụ âm mũi
âm tiết tính (撥音) và phụ âm kép (っ), Tuyển tập ngành giao tiếp, Kỉ yếu
khoa Nhân văn, Đại học Ibaraki, Kì số 2, Trang 149 -164.
(杉本妙子(2007)「ベトナム語圏日本語学習者の発音に関わる誤用
について III-促音と撥音における誤用の比較と考察-」、茨城大学
人文学部紀要『コミュニケーション学科論集』、2 号、pp.149-164)
Cả 3 nghiên cứu trên được thực hiện ở với các sinh viên ngành Nhật Bản,
khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà
Nội. Thông qua việc cho sinh viên đọc các từ vựng trong tiếng Nhật,
Sugimoto Taeko đã tổng hợp lại các lỗi phát âm của sinh viên Việt Nam theo
các mục: Nguyên âm, Vị trí âm tiết (đầu từ, giữa từ, cuối từ). Đồng thời,
phân tích ảnh hưởng trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt đối với các lỗi phát âm
sai của sinh viên Việt Nam.
 Shigekawa Akemi, Nakamura Tomoko (2005): Một ví dụ về việc giảng
dạy phát âm cho người Việt Nam, Tạp chí hội nghiên cứu phương pháp đào
tạo tiếng Nhật, Tập 12, Số 2, Trang 22 - 23
重川明美.中村倫子「ベトナム人学習者の発音指導の一例」『日本
語教育方法研究会誌 』vol.12, No.2,pp.22~23
Nhận thấy sinh viên Việt Nam có rất nhiều lỗi phát âm tiếng Nhật.
Shigekawa Akemi và Nakamura Tomoko đã tổ chức một lớp học phát âm ngắn
khoảng 6 tuần cho sinh viên Việt Nam. Mỗi tuần các sinh viên này sẽ được


7


hướng dẫn các kiến thức về phát âm tiếng Nhật như trọng âm, ngữ điệu… và
thực hiện luyện tập với giáo viên bản ngữ. 2 tháng sau khi khóa học kết thúc,
thông qua bảng hỏi điều tra các sinh viên đã thể hiện sự thay đổi nhận thức về
việc học phát âm sau khi đã được hướng dẫn cách phát âm tiếng Nhật.
 Matsuda Makiko (2012): Nghiên cứu tổng hợp liên quan đến đào tạo tiếng
Nhật dành cho người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, Luận văn Tiến sĩ Khoa
nghiên cứu xã hội Đại học Hitotsubashi.
松田真希子(2012)「ベトナム語母語話者のための日本語教育に関
する総合的研究」一橋大学大学院言語社会研究科博士後期論文未公

Luận văn Tiến sĩ của Matsuda Makiko là một bản đánh giá tổng quan về
trình độ tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam qua các kĩ năng ngữ pháp, từ vựng,
phát âm. Toàn bộ chương 5 của luận văn đề cập đến vấn đề phát âm của sinh
viên Việt Nam và phân tích các nguyên nhân gây ra các lỗi phát âm do ảnh
hưởng của tiếng Việt.
 Nakamura Noriko (2013): Điều tra nghiên cứu tại Việt Nam – Vấn đề
giảng dạy phát âm của giáo viên bản ngữ và giáo viên phi bản ngữ, Tập san
Trung tâm đào tạo tiếng Nhật du học sinh trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo,
trang 113 – 124
中村則子(2013) 「非母語話者教師と母語話者教師の発音指導-ベトナ
ムにおけるアンケート調査の結果から-」『東京外国語大学留学生
日本語教育センター論集』39:pp.113

~124)

Nhằm tìm hiểu suy nghĩ của giáo viên Việt Nam về việc giảng dạy phát âm,
những khó khăn khi giảng dạy phát âm, các vấn đề phát âm của sinh viên Việt

Nam, Nakamura Noriko đã thực hiện nghiên cứu điều tra với 13 giáo viên người
Việt Nam và 17 giáo viên người Nhật đang giảng dạy ở Hà Nội. Kết quả: 100%

8


giáo viên Việt Nam cho rằng phát âm tiếng Nhật là rất quan trọng, trong khi đó
chỉ có 41% giáo viên người Nhật có cùng câu trả lời. Bên cạnh đó, 62% giáo
viên Việt Nam cho rằng, phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện nay
gặp phải rất nhiều vấn đề. Tuy nhiên, chỉ 29% giáo viên người Nhật có cùng câu
trả lời. Điều này cho thấy, giáo viên phi bản ngữ có ý thức về tầm quan trọng
của phát âm cao hơn người bản ngữ. Một điều quan trọng được đề cập đến trong
nghiên cứu này là do thiếu kiến thức về ngữ âm tiếng Nhật, nên cả giáo viên
người Nhật và người Việt đều khơng có đủ tự tin để giảng dạy cho sinh viên.
Đây cũng là thực trạng chung trong đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam.
 Nakamura Noriko. Nakagawa Chieko(2007): Báo cáo thực tế lớp phát âm
dành cho đối tượng là người Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu phương pháp
đào tạo tiếng Nhật, Tập 14, Số 1
中村則子.中川千恵子(2007)「ベトナム人学習者を対象とした発音ク
ラス実践報告」『日本語教育方法研究会誌』 vol.14, No.1
Phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam không tốt nên khi phát biểu
người Nhật và sinh viên các nước khác không nghe được dẫn đến khơng hiểu
người nói muốn nói gì. Điều này gây cản trở khá nhiều trong giao tiếp. Vì thế từ
tháng 12 năm 2006 đến tháng 2 năm 2007, Nakamura Noriko và Nakagawa
Chieko đã thực hiện hướng dẫn phát âm tiếng Nhật cho sinh viên Việt Nam
trình độ tiếng Nhật cao cấp. Kết quả cho thấy so với trước khi được học phát âm
tiếng Nhật, các lỗi phát âm đã giảm đáng kể và các sinh viên cũng đã chú ý hơn
khi phát âm tiếng Nhật.
Các đề tài nghiên cứu trên có đề cập đến tình hình phát âm của sinh viên
Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ đề cập đến vấn đề phát âm mang

tính quy phạm thơng qua bảng hỏi điều tra đối với sinh viên hoặc giáo viên. Chứ
khơng đề cập đến những vấn đề khó khăn gặp phải khi giao tiếp với người bản

9


xứ do phát âm không tốt. Việc đánh giá phát âm của sinh viên cũng chỉ được
thực hiện trong phạm vi một trường đại học nhất định nào đó chủ yếu ở Hà Nội
chứ không trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế, vẫn chưa đánh giá
khách quan được về phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện nay. Do đó,
người viết quyết định thực hiện bảng hỏi đối với cả đối tượng là người Nhật –
những người hàng ngày giao tiếp với những sinh viên đã tốt nghiệp, sinh viên
đang học ngành Nhật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phát âm tiếng Nhật của sinh viên tại trường Đại học
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do số lượng sinh viên theo học chuyên ngành tiếng
Nhật tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh rất đơng trong phạm vi
nghiên cứu của một bài luận văn thạc sĩ, người viết chủ yếu tập trung vào điều
tra phân tích mẫu trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Về ý nghĩa khoa học, bổ sung thêm vào danh mục nghiên cứu một đề tài liên
quan đến mảng ngữ âm tiếng Nhật mà hiện nay vẫn cịn ít người quan tâm
nghiên cứu.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài cung cấp cho người đọc một cái nhìn tồn cảnh
về tình hình phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam hiện nay thông qua các
đánh giá khách quan của người Nhật đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam,
giáo viên người Nhật và người Việt đang giảng dạy tại Thành phố Hồ Chí Minh,
các sinh viên đang học ngành Nhật. Đồng thời, cùng với việc phân tích một số
lỗi phát âm sai mà sinh viên Việt Nam thường mắc phải sẽ giúp những sinh viên

đang học tiếng Nhật có thể tham khảo nhận ra được một số lỗi sai của mình và
dần dần khắc phục những lỗi sai đó để việc phát âm tiếng Nhật được hoàn thiện

10


hơn. Bên cạnh đó, đề tài cũng đề xuất một số ý kiến xoay quanh việc giảng dạy
ngữ âm tiếng Nhật thông qua kinh nghiệm của bản thân. Những cá nhân có quan
tâm và muốn luyện tập phát âm tiếng Nhật có thể tham khảo để áp dụng cho bản
thân mình.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành. Bên cạnh đó
cịn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp thống kê mơ tả.
Tiến hành điều tra trên 3 đối tượng chính: người Nhật làm việc tại Việt Nam,
Giáo viên dạy tiếng Nhật, và sinh viên bằng cách tạo bảng hỏi. Điều tra tra bảng
hỏi được tiến hành trong thời gian từ tháng 9 năm 2012 đến tháng 2 năm 2013.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:
 Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu
Sử dụng phần mềm SPSS để tổng hợp và phân tích kết quả qua các dữ liệu
thu được thông qua bảng hỏi điều tra. Đồng thời thể hiện kết quả phân tích bằng
biểu đồ và con số cụ thể. Sau đó đưa ra các nhận xét khách quan các về các vấn
đề có liên quan đến việc đánh giá phát âm tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam.
 Phương pháp phân tích ngữ âm học thực nghiệm
Phân tích ngữ âm thực nghiệm sẽ chỉ ra một cách tương đối chính xác những
khác biệt về phát âm tiếng Nhật giữa người bản ngữ Nhật và sinh viên người
Việt.

11



6.2 Nguồn tư liệu
Đề tài nghiên cứu về ngữ âm tiếng Nhật còn rất mới mẻ ở Việt Nam và hầu
như khơng có tài liệu chun mơn nào liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu này.
Theo đó người viết chỉ có thể tiếp cận qua tư liệu chủ yếu bằng tiếng Nhật. Do
khả năng tiếng Nhật của người viết vẫn còn hạn chế nên sẽ mất khá nhiều thời
gian để nghiên cứu các tài liệu này. Đồng thời, hiện nay ở Việt Nam khơng có
nhà nghiên cứu về ngữ âm tiếng Nhật nên người viết sẽ gặp khó khăn rất lớn về
mặt chuyên môn tiếng Nhật. Tuy nhiên, những kiến thức nền tảng chung về ngữ
âm người viết sẽ tìm hiểu thông qua giáo viên hướng dẫn và các tư liệu ngữ âm
bằng tiếng Việt. Bên cạnh đó, về mặt chuyên môn tiếng Nhật người viết đã nhờ
sự giúp đỡ của các giảng viên người Nhật đang giảng dạy tiếng Nhật ở Việt
Nam cũng như ở Nhật Bản. Dù tài liệu khan hiếm, gặp khó khăn trong sự trợ
giúp chuyên mơn nhưng người viết đã cố gắng hết sức mình để tiếp cận rộng rãi
đến tất cả các tài liệu chuyên môn để thực hiện tốt để tài nghiên cứu.
7. Bố cục luận văn
Luận văn gồm có 3 chương với bố cục như sau.
Chương một: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.3 Tiểu kết
Chương hai: KHẢO SÁT PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM
2.1 Hệ thống ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật
2.2 Các lỗi phát âm tiếng Nhật thường gặp của sinh viên Việt Nam
2.3 Ý thức về việc phát âm tiếng Nhật của sinh viên
2.4 Tiểu kết

12



Chương ba: ĐÁNH GIÁ PHÁT ÂM TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN
VIỆT NAM
3.1 Đánh giá của người Nhật làm việc tại Việt Nam
3.2 Đánh giá của giáo viên tiếng Nhật
3.3 Đánh giá của bản thân sinh viên
3.4 Đề xuất về việc giảng dạy phát âm cho sinh viên
3.5 Tiểu kết
Ngoài ra cịn có phần mở đầu và kết luận.

13


Chương một
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.4 Cơ sở lý luận
1.4.1

Vai trò của việc phát âm trong việc học ngoại ngữ

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ rằng khi học bất cứ một ngoại ngữ nào,
người học cũng mong muốn đạt đến được trình độ phát âm giống như người bản
ngữ. Tuy nhiên, để đạt được trình độ phát âm gần với người bản ngữ không hề
dễ dàng. Đó là cả một q trình luyện tập, phấn đấu từ lúc bắt đầu học và chịu
ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Thơng thường, nếu khơng có cơ hội học tập và
sinh sống tại nước bản địa trong một thời gian nhất định thì khả năng phát âm
một ngoại ngữ nào đó khó có thể đạt gần đến như người bản ngữ. Hoặc dù sinh
sống ở nước bản địa, nhưng khi người sử dụng ngoại ngữ hồn tồn khơng ý
thức về phát âm của mình cũng như khơng ý thức việc phải luyện tập phát âm

thì dù sống ở nước bản địa rất lâu thì phát âm của họ chưa chắc đã giỏi lên được.
Có rất nhiều người kể cả giáo viên, học viên cho rằng khi học ngoại ngữ chỉ
cần người nghe hiểu được nội dung mình đang nói thì việc giao tiếp sẽ được coi
là thành cơng. Bởi vì việc sử dụng thành thạo một ngoại ngữ nào đó vốn dĩ đã là
chuyện rất khó nên việc đòi hỏi thêm khả năng phát âm sẽ làm giảm động lực
của người học ngoại ngữ. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc hiểu thôi đôi khi sẽ
mang lại những tổn thất, bất lợi cho người sử dụng ngoại ngữ. Vì phát âm có vai
trị rất quan trọng trong giao tiếp một ngoại ngữ nào đó. Phát âm chuẩn một
ngoại ngữ nào đó sẽ tạo cảm giác tin tưởng, an tâm, gần gũi cho người nghe.
Ngược lại phát âm khơng chuẩn một ngoại ngữ có thể làm cho đối phương cảm
thấy bất an lo lắng.

14


Trong giao tiếp hằng ngày, có thể phát âm khơng ảnh hưởng nhiều đến việc
giao tiếp. Tuy nhiên, trong các cơng việc có sự giao tiếp với người bản ngữ và
đòi hòi phải sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, phát âm có ảnh hưởng rất lớn.
Việc phải lắng nghe một người nước ngồi nói tiếng bản địa khơng chuẩn trong
một thời gian dài sẽ khiến người nghe cảm thấy áp lực, mệt mỏi. Đặc biệt khi
nội dung cơng việc có tính chất chun mơn cao. Trong những trường hợp này,
phát âm không tốt sẽ làm giảm hiệu suất truyền đạt, gây ra một số hiểu lầm dẫn
đến công việc không được tiến hành một cách thuận lợi.
Ngoài ra, Kawano Toshiyuki (2009) cho rằng việc phát âm không tốt sẽ dẫn
đến các tình huống dưới đây.
 Phát âm khơng tốt khiến người nghe không hiểu dẫn đến việc giao tiếp không
thành công
Đây là cản trở lớn nhất trong giao tiếp do phát âm gây ra. Mục đích của giao
tiếp là để truyền đạt điều muốn nói cho người nghe hiểu. Khi người nghe khơng
hiểu người nói muốn nói gì thì giao tiếp hồn tồn thất bại.

 Phát âm khơng tốt khiến người nghe hiểu lầm dẫn đến việc giao tiếp không
thành cơng
Khi người nghe nghe một lần khơng hiểu thì sẽ phải hỏi lại vài lần. Nếu sau
khi hỏi vài lần mà vẫn khơng hiểu được thì bản thân người nghe hoặc người nói
sẽ từ bỏ ý định hỏi nữa. Và như thế thì giao tiếp cũng sẽ khơng thành cơng.
Người nói vì bị hỏi nhiều lần mà vẫn khơng truyền đạt được ý muốn nói nên sẽ
cảm thấy bất an và khơng muốn sử dụng ngoại ngữ đó nữa. Thậm chí có thể
tránh tiếp xúc với người người bản xứ. Khi người sử dụng ngoại ngữ cảm thấy
tự ti về trình độ ngoại ngữ của mình mà khơng tìm ra phương pháp cải thiện họ
sẽ phản ứng một cách tiêu cực hơn. Và việc sử dụng ngoại ngữ sẽ là một gánh

15


nặng rất lớn đối với bản thân họ. Đây cũng là nguyên nhân rất lớn cản trở giao
tiếp với người bản ngữ.
 Phát âm không tốt khiến người nghe cảm thấy mệt mỏi, không tập trung nghe
hoặc không nắm bắt được hết sắc thái biểu đạt, ý đồ muốn nói dẫn đến việc hiểu
lầm hoặc gây cảm giác khó chịu. Điều này cũng biểu hiện sự không thành công
trong giao tiếp.
Trường hợp này người nghe tạm hiểu được ý của người nói tuy nhiên người
nói dung các cấu trúc ngữ pháp khơng phù hợp khiến người nghe có cảm giác bị
ra lệnh hoặc không thoải mái lắm. Lâu dần sẽ tạo sự căng thẳng cho cả người
nói và người nghe.
 Phát âm không tốt sẽ thể hiện đặc trưng của người nước ngồi dẫn đến việc
giao tiếp khơng thành cơng.
Mặc dù các lỗi phát âm sai nhưng người bản xứ có thể sẽ nghe và hiểu ngay
được ý muốn nói. Tuy nhiên, các lỗi phát âm này tạo cho người nghe cảm giác
đối phương giống như một đứa trẻ chỉ mới bập bẹ tập nói.
Như vậy, trong bất cứ trường hợp giao tiếp nào, việc phát âm không tốt sẽ là

rào cản ngăn cách người nghe và người nói. Có những trường hợp, phát âm
chuẩn sẽ tạo thêm sự tự tin trong giao tiếp và sẽ làm tăng đánh giá tích cực trong
cơng việc. Mặt khác, khả năng phát âm còn gây ảnh hưởng đến khả năng nghe
hiểu. Thế nên cần phải giảng dạy phát âm để nâng cao khả năng nghe của học
viên.
Như đã trình bày ở trên, đa phần người học ngoại ngữ đều đặt cho mình mục
tiêu phát âm chuẩn như người bản ngữ. Tuy nhiên đây là một việc rất khó nên
hầu như mọi người đều từ bỏ ý định ngay từ đầu để tập trung vào học các mơn
học khác. Vì thế, cần phải tạo động lực học phát âm cho người học ngoại ngữ
hơn nữa.

16


1.4.2 Lý luận phương pháp giảng dạy ngữ âm
1.1.2.1 Vai trò của giáo viên trong việc giảng dạy ngữ âm
Theo Kashima Tanomu, nhà nghiên cứu ngữ âm học trường Đại học Nagoya,
“Giảng dạy ngữ âm là hoạt động hướng dẫn cơ sở ngữ âm tạo nên hình thức
ngơn ngữ, rồi cho sinh viên luyện tập.” (2002:148)
Trên thực tế, ngữ âm là một mơn học rất khó và đậm tính chất lý thuyết. Do
đó, các kiến thức về ngữ âm nên do các giáo viên chuyên về ngữ âm giảng dạy.
Vì là một mơn học khó nên rất ít sinh viên có hứng thú với mơn học này. Vì thế,
để sinh viên hứng thú với việc học phát âm và ý thức được tầm quan trọng của
phát âm thì vai trị của giáo viên rất quan trọng. Giáo viên là người truyền đạt
các kiến thức và cũng người tạo động lực học và luyện tập phát âm cho sinh
viên.
Hiện nay có rất nhiều ý kiến xoay quanh việc giảng dạy phát âm cho người
nước ngoài. Phát âm chuẩn một ngoại ngữ là điều rất quan trọng và cần thiết.
Thế nhưng cần phải sửa phát âm đến phạm vi nào? Phát âm đến như thế nào
được gọi là phát âm tốt, phát âm chuẩn? Những câu hỏi trên vẫn chưa có câu trả

lời thích hợp.
Trong xu hướng đào tạo ngoại ngữ hiện nay, mục tiêu nâng cao khả năng
giao tiếp được đặt nên hàng đầu. Thế nên có ý kiến cho rằng chỉ cần nói sao cho
người nghe hiểu là được. Thời gian luyện tập phát âm để dành để học tập thêm
những môn như ngữ pháp, nâng cao từ vựng. Chỉ những trường hợp, phát âm
quá tệ khiến cho việc giao tiếp gặp trở ngại thì mới cần phải luyện tập phát âm.
Ngồi những trường hợp này thì khơng cần thiết phải luyện tập. Tuy nhiên, việc
học tập, chỉnh sửa phát âm cần phải được đặt ngang hàng với các môn học khác
như ngữ pháp, nghe. Giống như việc giáo viên thường yêu cầu sinh viên sử
dụng đúng ngữ pháp, từ vựng để có thể truyền đạt chính xác ý nghĩa của câu, tạo

17


ấn tượng tốt với người nghe. Phát âm chính xác cũng giúp truyền đạt được đúng
ý nghĩa và làm cho người nghe cảm thấy thoải mái, tăng thêm sự tin tưởng trong
giao tiếp. Vì vậy, khơng nên cho rằng chỉ những trường hợp phát âm quá tệ mới
cần thiết phải luyện tập phát âm cịn những trường hợp khác thì không cần thiết.
Các giáo viên cần nhận thức rằng ngữ âm là môn học bắt buộc và đưa ra những
yêu cầu khắt khe giống như các môn ngữ pháp, nghe trong quá trình giảng dạy.
Giống như các kĩ năng học ngoại ngữ khác, kĩ năng phát âm nếu được rèn
luyện ngay từ đầu sẽ tạo cho người học có một nền tảng vững chắc để phát triển
lên các cấp học cao hơn. Nếu ngay từ đầu để người học quen dần với những lỗi
phát âm của chính mình thì sẽ rất khó sửa về sau. Tùy theo mục đích học ngoại
ngữ của học viên mà giáo viên có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy ngữ âm
thích hợp.
Mục đích học ngoại ngữ rất đa dạng. Trong đó có mục đích mang tính tinh
thần và mục đích mang tính thực tế. Chẳng hạn như có người học ngoại ngữ chỉ
nhằm mục đích biết thêm một ngơn ngữ, một nền văn hóa của đất nước nào đó.
Với những người này, khơng u cầu phải nói chuẩn, phát âm chuẩn. Ngược lại,

những người học ngoại ngữ để du học, phục vụ cho công việc cần địi hỏi về
trình độ phát âm khắt khe hơn. Tùy theo mục đích học ngoại ngữ mà yêu cầu về
sự chính xác trong phát âm khác nhau. Bên cạnh đó tùy theo tình huống mà địi
hỏi chính xác phát âm sẽ khác nhau. Chẳng hạn trong những giao tiếp hàng ngày
như đi mua sắm thì khơng cần phát âm chuẩn, nhưng trong những sự kiện quan
trọng như phát biểu tại hội nghiên cứu, thương lượng công việc với đối tác sẽ
địi hỏi phải phát âm chính xác để tăng hiệu quả cơng việc. Trong một số tình
huống, phát âm khơng tốt có khả năng bị đánh giá kém, và khơng có lợi cho bản
thân. Vì thế giáo viên đứng lớp tùy theo đối tượng học viên cần linh hoạt điều
chỉnh mức độ giảng dạy, yêu cầu phát âm cho phù hợp. Bởi lẽ khi giáo viên đòi

18


hỏi học viên chỉnh sửa phát âm nhiều sẽ làm giảm động lực học tập của học viên.
Hoặc ngược lại nếu làm ngơ trước phát âm sai của học viên thì cũng sẽ phủ
nhận những nỗ lực muốn cải thiện phát âm của học viên.
Trước khi tiến hành giảng dạy giáo viên cần phải truyền cảm hứng tăng động
lực học phát âm cho học viên. Dù có biết rất nhiều phương pháp giảng dạy phát
âm nhưng nếu như học viên khơng có động lực theo học thì hiệu quả giảng dạy
sẽ khơng được mong muốn. Nếu như học viên có ý nghĩ rằng phát âm sao cũng
được, chỉ cần truyền đạt được ý nghĩa là được thì bản thân giáo viên phải thấy
đó là chưa hồn thiện và cần làm cho học viên thay đổi suy nghĩ rằng muốn
luyện phát âm thật giỏi. Điều này sẽ làm tăng động lực, ý thức luyện tập phát
âm cho học viên và tạo ra những hiệu quả tích cực.
Bên cạnh đó, điều quan trọng nhất ở giáo viên dạy phát âm là phải có kiến
thức ngữ âm nhất định để phân biệt rằng mỗi từ phát âm khác nhau, biết trong
một từ chỗ nào cao, chỗ nào thấp. Không chỉ đơn thuần là có kiến thức ngữ âm
về ngơn ngữ mình giảng dạy mà còn phải hiểu được những phát âm mà sinh
viên phát ra. Một người giáo viên có thể bắt chước phát âm của học viên được

xem là có tài năng trong việc giảng dạy phát âm. Mặt khác, nếu giáo viên có
một số kiến thức về đặc trưng ngữ âm ngơn ngữ của học viên đang theo học thì
sẽ tìm ra được nguyên nhân phát âm sai và chỉ ra được những điểm mấu chốt để
học viên có thể sửa lỗi sai của mình. Ngồi ra, nếu giáo viên là người có giọng
chuẩn thì có thể làm mẫu phát âm cho sinh viên.
Theo Kawashima Tanomu (2002), không chỉ cần khả năng, tri thức về ngữ
âm mà một giáo viên giảng dạy ngữ âm cần có các đức tính của một người giáo
viên bình thường. Đó là tính nhẫn nại. Đây là khả năng rất cần thiết để có thể
tiến hành giảng dạy ngữ âm một cách có hiệu quả. Trong q trình giảng dạy
ngữ âm thì có thể học viên khơng hiểu những gì giáo viên đã dạy hoặc học viên

19


hiểu những điều giáo viên đã dạy nhưng lại không thực hiện đúng được. Khi bản
thân giáo viên không biết làm sao để có thể sửa lỗi phát âm cho học viên của
mình và bản thân học viên khơng biết làm sao để cải thiện phát âm của mình thì
cả hai bên phải chịu một áp lực rất lớn. Những lúc như thế này thì cần đến kĩ
thuật xử lý tình huống cũng như sự nhẫn nại của giáo viên. Khi nói đến việc
giảng dạy phát âm có thể người ta nghĩ ngay đến những thứ có liên quan đến
ngữ âm. Tuy nhiên ngữ âm chỉ là một phần trong đó. Tư chất của giáo viên bao
gồm cả 3 yếu tố: tính chun mơn, tính nhẫn nại, năng lực đào tạo. Ngữ âm học
chỉ liên quan đến yếu tố tính chun mơn. Ngồi ra khả năng chịu đựng, năng
lực quan sát thấu hiểu tâm trạng học viên, cũng là một trong vấn đề cốt lõi trong
việc đào tạo giảng dạy ngữ âm có hiệu quả.
1.1.2.2 Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy ngữ âm
Để có thể giảng dạy được phát âm cho học viên thì người dạy buộc phải có
các kiến thức cơ bản về đặc trưng ngữ âm của ngơn ngữ đó. Mặt khác, giảng
dạy ngữ âm không chỉ đơn thuần là hoạt động giảng dạy dành cho người nước
ngồi mà cịn cần được giảng dạy cho cả những người bản ngữ. Thông qua các

giờ học ngữ âm, người bản ngữ sẽ có cơ hội quan sát ngữ âm của ngơn ngữ mà
chính mình đang sử dụng một cách khách quan. Từ đó, có thể biết cách chỉnh
sửa phát âm cho người nước ngồi có hiệu quả hơn.
Theo Isomura Kazuhiro (2009) có rất nhiều phương pháp giảng dạy ngữ âm
tuy nhiên khơng có phương pháp nào đạt hiệu quả toàn diện. Tùy thuộc vào đối
tượng học viên mà người dạy phải suy nghĩ ra những nội dung giảng dạy sao
cho phù hợp. Tuy nhiên, có một số điểm chính cần lưu ý khi giảng dạy ngữ âm.
Thứ nhất, cần ý thức về tầm quan trọng của việc giảng dạy ngữ âm. Có rất
nhiều người cho rằng việc giảng dạy ngữ âm là khơng cần thiết. Bởi vì họ cho

20


×