Tải bản đầy đủ (.pdf) (189 trang)

Văn hóa tổ chức đời sống của người mạ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (13.5 MB, 189 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN TUẤN ANH

VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI MẠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ HỌC
MÃ SỐ: 603170

Hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Phan Xuân Biên

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013


2

Mục lục
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 7
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 7
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 8
3. Lịch sử nghiên cứu ....................................................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 15
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ................................................ 16
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .................................................................... 17
7. Bố cục luận văn .......................................................................................... 18
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ................................................ 19
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................ 19
1.1.1. Các khái niệm ................................................................................. 19


1.1.2. Các lí thuyết tiếp cận...................................................................... 23
1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ........................................................... 26
1.2.1.Tỉnh Lâm Đồng................................................................................ 26
1.2.2. Địa bàn khảo sát nghiên cứu-huyện Đạtẻh .................................. 28
1.2.3. Người Mạ ở Đạtẻh .......................................................................... 30
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 36
Chương 2 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MẠ .. 37
2.1. Tổ chức cư trú ......................................................................................... 37
2.1.1. Theo huyết thống ............................................................................ 37
2.1.2. Theo địa vực .................................................................................... 44
2.2. Tổ chức hoạt động mưu sinh ................................................................... 49
2.2.1. Kinh tế chiếm đoạt ......................................................................... 49
2.2.2. Nông nghiệp .................................................................................... 51


3
2.2.3. Thủ cơng nghiệp ............................................................................. 57
2.3. Đặc trưng văn hố tổ chức đời sống cộng đồng người Mạ ..................... 61
2.3.1. Tính cộng đồng ............................................................................... 61
2.3.2. Tính tự quản ................................................................................... 62
2.3.3. Tính hịa hợp với thiên nhiên ........................................................ 62
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................... 64
Chương 3 VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN NGƯỜI MẠ ........ 65
3.1. Tín ngưỡng .............................................................................................. 65
3.2. Phong tục, tập quán ................................................................................. 68
3.2.1. Nghi lễ vòng đời người ........................................................................ 68
3.2.1.1. Sinh nở và đặt tên cho trẻ ........................................................... 68
3.2.1.2. Trưởng thành............................................................................... 70
3.2.1.3. Hôn nhân ...................................................................................... 72
3.2.1.4. Tang ma ........................................................................................ 80

3.2.2. Nghi lễ nông nghiệp ............................................................................. 84
3.2.3. Đặc trưng phong, tục tập quán của người Mạ ...................................... 87
3.3. Văn hố giao tiếp và nghệ thuật ngơn từ ................................................. 89
3.3.1. Đặc trưng văn hoá giao tiếp của người Mạ.................................. 89
3.3.2. Đặc trưng nghệ thuật ngôn từ của người Mạ .............................. 91
3.4. Nghệ thuật thanh sắc và hình khối .......................................................... 93
3.4.1. Đặc trưng nghệ thuật thanh sắc của người Mạ ........................... 93
3.4.2. Đặc trưng nghệ thuật hình khối của người Mạ ........................... 97
3.5. Đặc trưng của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của người Mạ ............ 99
3.5.1. Tính thiêng liêng ............................................................................. 99
3.5.2. Tính thế tục ..................................................................................... 99


4
Tiểu kết chương 3 ................................................................................... 101
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 105
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 112


5

Lời cảm ơn

Em xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tp. HCM.
Xin cảm ơn q Thầy, Cơ trong khoa Văn hóa học đã truyền đạt kiến thức và
hướng dẫn em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Phan Xuân Biên đã tận tình hướng dẫn em
trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.

Xin cảm ơn các anh chị và các bạn đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Xin cảm ơn mọi người thân đã thông cảm và chia sẻ với tôi.

Ngày 30 tháng 08 năm 2013

Trần Tuấn Anh


6
Lời cam đoan

Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân. Kết quả
nghiên cứu trong luận văn này chưa từng được công bố. Luận văn có tham khảo và sử
dụng các tài liệu, các cơng trình nghiên cứu, các tạp chí và các trang thơng tin điện tử
theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn.
Tác giả luận văn

Trần Tuấn Anh


7

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, bao gồm 54 tộc người sống hòa hợp với
nhau. Người Mạ là một trong những tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
thuộc nhóm ngơn ngữ Mơn - Khmer, cư trú tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, ngồi ra cịn
có một số cư trú ở các tỉnh Đắk Nơng, Đồng Nai, Bình Phước, v.v…
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số
41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, nhưng cư trú tập trung tại

tỉnh Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0 % tổng số người Mạ tại Việt Nam), ngồi ra
cũng có khá đơng người Mạ cư trú ở Đắk Nông (6.456 người) và Đồng Nai (2.436
người).
Tộc người Mạ là cư dân bản địa của khu vực Nam Tây Nguyên - Đông Nam
Bộ. Trong lịch sử tồn tại và phát triển, tộc người Mạ đã từng là một tộc người phát
triển phồn thịnh, từng được coi là chủ nhân của “vương quốc Mạ”. Cư dân Mạ ở khu
vực Nam Tây Ngun - Đơng Nam Bộ nói chung có truyền thống văn hóa phong phú,
thể hiện sống động trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Văn hóa giữ vai trị quan trọng trong đời sống các tộc người nói chung và cộng
đồng người Mạ nói riêng. Văn hóa góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống của một dân tộc, một quốc gia. Văn hóa bao gồm tất cả những quan niệm
sống, các sinh hoạt hàng ngày, cách thức tổ chức đời sống hàng ngày, tổ chức cộng
đồng cư trú, cách thức sản xuất, các nghi lễ trong đời sống con người v.v… Những yếu
tố đó tạo nên văn hóa đặc sắc của mỗi tộc người, góp phần làm nên sự đa dạng của văn
hóa Việt Nam đa tộc người.
Tộc người Mạ có nền văn hóa truyền thống lâu đời, tiếp nối qua các thế hệ, tạo
nên một nét văn hóa độc đáo góp phần hình thành nên nền văn hóa đa dạng và thống
nhất của các dân tộc Việt Nam.
Trong xu thế phát triển chung hiện nay, với sự phát triển về nhiều mặt, trong đó
yếu tố kinh tế, xã hội đã tác động đến cộng đồng Mạ. Các tộc người cộng cư cũng đã


8
có những ảnh hưởng làm biến đổi nhất định các giá trị văn hóa của họ. Việc sưu tầm,
nghiên cứu và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của người Mạ là vấn đề cấp
thiết hiện nay. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tơi đã mạnh dạn chọn đề tài Văn
hóa tổ chức đời sống của người Mạ làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ văn hóa tổ chức đời sống cá nhân và văn hóa tổ chức đời sống
cộng đồng của người Mạ. Qua đó nhận diện những giá trị văn hóa người Mạ trong

truyền thống cũng như trong quá trình phát triển hiện nay.
Với xu thế phát triển và với những tác động của môi trường tự nhiên, xã hội,
giao lưu tiếp biến văn hóa của các tộc người cộng cư đối với người Mạ hiện nay, văn
hóa tổ chức đời sống của người Mạ đã có những thay đổi so với thời gian trước giải
phóng, thống nhất đất nước (1975). Luận văn mong muốn tìm hiểu những biến đổi đó
có ảnh hưởng như thế nào đối với cộng đồng người Mạ nói chung và văn hóa tổ chức
đời sống của người Mạ nói riêng.
3. Lịch sử nghiên cứu
Nghiên cứu các tộc người nói chung và việc nghiên cứu tộc người Mạ nói riêng
đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước tiến hành từ rất lâu.
Trong đó có rất nhiều cơng trình và bài viết đã được cơng bố, có thể nêu ra những cơng
trình nghiên cứu sau đây:
3.1. Tình hình nghiên cứu ngồi nước
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, công việc nghiên cứu cộng đồng người Mạ
phần lớn đều do các nhà nghiên cứu người Pháp thực hiện.
Người đầu tiên phải kể đến là Adelé với công trình Renseignement recueillis sur
les coutumes des Ma de B'sre, Archives de la province de Haut Donnai (Chỉ dẫn việc
thu thập phong tục của người Mạ ở B'sre), Djring 1932 [83]. Tác giả đã thu thập và
phân tích khá kĩ những phong tục của người Mạ.
Kế đến là tác giả J. Boulbet, một người được xem là nhà nghiên cứu chuyên sâu
với những cơng trình xuất sắc về tộc người Mạ vào những năm 50 - 60 của thế kỉ


9
trước. Năm 1957, ông xuất bản tác phẩm Quequees aspects du Coutumier (Ndri) des
Cau Maá “Vài phương diện của bộ luật tục N’Dri người Mạ” [84], cơng trình đã ghi
chép và phân tích khá tỉ mỉ luật tục của người Mạ ở khu vực Đồng Nai Thượng, bao
gồm các qui định về hôn nhân, về tập quán sinh hoạt của cộng đồng. Đây là nguồn tài
liệu để chúng tơi tìm hiểu phong tục tập quán, đời sống cộng đồng Mạ. Cơng trình tiếp
theo của ơng là Trois Légendes Maa’ (Ba truyền thuyết Mạ) [85] viết về những truyền

thuyết của người Mạ. Năm 1960, cơng trình Description de la végétation en Pays
Maa’ (Mô tả thảo mộc xứ Mạ) xuất bản ở Paris [87]. Một cơng trình khác cũng được
xuất bản trong năm là Bordee au Rendez – vous des Génies (Men theo điểm hẹn với
thần linh) [86], trong đó mơ tả một lễ hiến tế trâu của người Mạ ở làng Bordee, những
nghi thức cúng tế và những lời khấn đã được ghi chép rất chi tiết. Đây là một nguồn tài
liệu cần thiết cho chúng tơi. Qua cơng trình này, chúng tơi có thể hình dung được
những sinh hoạt đời sống tinh thần của người Mạ trước đây. Đến năm 1984, cơng trình
Forêt et pays (Rừng và xứ sở) được in trong BEFEO [91] là tài liệu giúp chúng tôi tìm
hiểu thêm về hệ thống rừng cùng với những quan niệm về rừng của người Mạ. Cơng
trình Modes et Techniques du Pays Maa (Phương thức và kỹ thuật của xứ Mạ) [88],
viết về những quan niệm thẩm mĩ, những kiểu và cách thức làm đẹp, cùng với những
kĩ thuật dệt của người Mạ. Tài liệu này giúp chúng tơi có được những cơ sở khoa học
khi nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật hình khối và thẩm mĩ của người Mạ. Bài viết Le
Miir, Culture itinérante avec jachère forestiere en Pays Maa’ (Miir, du canh với đất
rừng bỏ hóa ở xứ Mạ) [89], nghiên cứu việc canh tác lưu động (du canh) với đất rừng
bỏ hoang ở xứ Mạ, trong đó cách thức trồng tỉa được mơ tả một cách chi tiết trong bài
viết là nguồn tài liệu cho chúng tơi. Một cơng trình khác đã được J. Boulbet bỏ công
sưu tầm và nghiên cứu khá sâu sắc cũng là nguồn tài liệu cần thiết cho nghiên cứu luận
văn của chúng tôi là Dialogue Lyrique des cau Maa' [90], bao gồm những khúc hát
tâm tình nổi tiếng của những chàng trai xứ Mạ, với 200 câu hát được sưu tầm trực tiếp
từ những Kơong, K’Yai, từ đó đã khắc họa bức tranh sinh hoạt của trai gái vùng người
Mạ. Năm 1967, cơng trình Pays des Maa' Domaine des génies, Nggar Yang (Xứ người
Mạ, lãnh thổ của thần linh) [92], mô tả rất chi tiết toàn bộ xứ Mạ gồm nếp sống, phong
tục, tập qn, các dịng họ, các bài tình ca, v.v... Đây là những tài liệu giúp chúng tơi
tìm hiểu rõ hơn toàn bộ cuộc sống vùng người Mạ.


10
Ngồi Adelé và J.Boulbet là những tác giả có cơng trình chun khảo về người
Mạ cịn có các tác giả như J. Dournes với các cơng trình: Chants antiques de la

Montagne (Cổ ca miền núi) [98], Structure sociale des Montagnards du Haut-Donnai,
Tribu des Riziculteurs (Cấu trúc xã hội của người miền núi ở Đồng Nai thượng, bộ lạc
những người làm ruộng) [97], Les Populalations Montagnardes du sud Indochinois
(Các tộc người miền núi Nam Đông Dương) [99]; G. Condominas: Nous avons mangé
la forêt (Chúng tôi ăn rừng) [95], Không gian xã hội vùng Đơng Nam Á [96]. Các cơng
trình nói trên dù không viết riêng về người Mạ nhưng đã giúp chúng tôi nhiều tài liệu
cần thiết như những khái niệm và những quan điểm về không gian xã hội, không gian
sinh sống, cách thức sinh hoạt trong đời sống kinh tế, đời sống văn hóa tinh thần, nghệ
thuật, mơi trường sinh thái v.v…
3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu các tộc người thiểu số nói chung, tộc người Mạ nói riêng cũng
đã được các nhà nghiên cứu trong nước thực hiện từ rất lâu. Trong đó gồm có Gia
Định Thành thơng chí [27] của Trịnh Hồi Đức biên soạn vào khoảng đầu thế kỉ thứ
XIX, Đại Nam Nhất thống chí tỉnh Biên Hịa [19], Phủ biên Tạp lục [25] của Lê Q
Đơn, Phương đình dư địa chí [54] của Nguyễn Siêu là những cơng trình đầu tiên
nghiên cứu về những vấn đề “thổ dân”, “man sách”, “máu” ở khu vực Đơng Nam
Bộ. Mặc dù các cơng trình nghiên cứu này không nghiên cứu và đưa ra những tài liệu
cụ thể về người Mạ nhưng dựa vào những công trình này chúng tơi có thể nghiên cứu
để tìm ra những dấu tích lịch sử của cư dân Mạ.
Năm 1970, trong Tập san Sử Địa số 19, Sài Gòn đã in bài nghiên cứu của tác
giả Bình Nguyên Lộc Việc mãi nơ dưới vịm trời Đơng Phố [34], viết về việc mãi nô ở
vùng đất Nam Bộ xưa, về tộc người và ngơn ngữ Mạ. Mặc dù vẫn cịn nhiều vấn đề
cần tiếp tục nghiên cứu, song đây cũng là tài liệu để chúng tôi tham khảo và so sánh
trong quá trình thực hiện luận văn này.
Từ sau năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị
của các tộc người ở Tây Ngun nói chung và người Mạ nói riêng cũng đã được các
nhà Dân tộc học triển khai nghiên cứu.
Đầu tiên phải kể đến là các nghiên cứu của Phan Xuân Biên: Một số ý kiến về



11
thành phần dân tộc của cư dân bản địa Lâm Đồng [6] được cơng bố trên tạp chí Dân
tộc học năm 1977, tiếp theo là nghiên cứu Những vấn đề dân tộc học vùng Lâm Đồng
[7] công bố vào năm 1979. Các nghiên cứu trên đã đưa ra những nét khái quát về các
tộc người cư trú và sinh sống trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong đó có tộc người Mạ.
Năm 1983, cơng trình Những vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng [29] do Mạc Đường
chủ biên được công bố. Cơng trình đã đưa ra những nét khái qt cơ bản về các tộc
người thiểu số ở Lâm Đồng, đặc biệt trong cơng trình này có các chun khảo về
người Mạ của các tác giả: Phan Ngọc Chiến, Một số vấn đề dân tộc học nông nghiệp ở
vùng người Mạ tỉnh Lâm Đồng; Phan Xuân Biên, Xã hội cổ truyền của người Mạ qua
một số đặc điểm hôn nhân gia đình; Nguyễn Đình, Một vài nét về văn hóa tinh thần
của người Mạ; Phan Ngọc Chiến - Phan Xuân Biên, Người Mạ. Cũng trong năm này,
Viện Dân tộc học xuất bản Sổ tay về các Dân tộc ở Việt Nam [79], trong đó chú giải tỉ
mỉ về đặc điểm nhân chủng, ngôn ngữ, tộc danh v.v… của người Mạ. Đây là kết quả
của các chuyến điền dã, nghiên cứu các tộc người ở tỉnh Lâm Đồng. Nội dung nghiên
cứu sâu về những đặc điểm mơi trường địa lí, q trình hình thành các tộc người của
cư dân vùng đất này.
Năm 1984, Viện Dân tộc học Việt Nam đã công bố cơng trình nghiên cứu Các
dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) [21], viết về những đặc điểm văn hóa
truyền thống của các tộc người cư trú ở các khu vực phía Nam tổ quốc, trong đó có tộc
người Mạ ở Lâm Đồng.
Cơng trình Địa chí tỉnh Lâm Đồng [76] có phần viết về các dân tộc ít người ở
Lâm Đồng, trong đó có người Mạ. Năm 1986, cuốn Truyện cổ Mạ [67] của tác giả Tạ
Văn Thông ghi chép tỉ mỉ các truyện cổ Mạ được tác giả sưu tầm trực tiếp từ cộng
đồng người Mạ ở Lâm Đồng.
Năm 1987, Võ Quang Trọng với bài viết Truyện cổ Mạ [71], trong đó đã cơng
bố nhiều tư liệu về truyện cổ Mạ. Tuy nhiên, với dung lượng có hạn, bài viết chỉ nêu
những nét chung, khái quát chứ không đi vào cụ thể từng truyện cổ một.
Năm 1989, trên Tạp chí Dân tộc học có in bài của các tác giả Phạm Văn Lý,
Lâm Tuyền Tỉnh, Khai thác, giới thiệu và phát huy vốn văn hóa văn nghệ truyền thống

của các dân tộc gốc ở Lâm Đồng [36], đề cập đến việc phát huy những loại hình văn


12
học dân gian của các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng trong cuộc sống hiện đại, các loại
hình văn học dân gian của các tộc người thiểu số, trong đó có người Mạ.
Năm 1997, Ngơ Văn Lệ và nhóm tác giả đã cơng bố cơng trình nghiên cứu Văn
hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam [33], trình bày khái quát về văn hóa các tộc người
thiểu số, trong đó nêu lên những đặc trưng văn hóa của họ.
Năm 1998, nhạc sĩ Trần Viết Bính (Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Đồng
Nai) đã sưu tầm và ghi âm 34 bài dân ca Châu Mạ, cho ra đời tác phẩm Dân ca Châu
Mạ [10] trong đó có phần kí xướng âm của chính mình.
Năm 1999, tác giả Trần Sỹ Thứ cơng bố cơng trình Dân tộc - Dân cư Lâm
Đồng [69], cơng trình “Điều tra di sản văn hóa Mạ, Chu Ru” do Sở Văn hóa Thơng
tin Lâm Đồng chủ trì [57], cơng trình Văn hóa truyền thống K’Ho - Mạ [73] do Trung
tâm Kinh tế - Văn hóa - Xã hội Tây Nguyên - Đại học Đà Lạt chủ trì, đã cung cấp
những tài liệu cụ thể và chi tiết và về văn hóa truyền thống của người Mạ, người Chu
Ru và người K’Ho ở Lâm Đồng. Mặc dù các cơng trình này có tính chất nghiên cứu
định lượng, chưa đi sâu vào phân tích, nhưng đây cũng là nguồn tài liệu giúp chúng tôi
nghiên cứu.
Năm 2000, thực hiện chương trình mục tiêu 4 của Bộ Văn hóa Thơng tin về bảo
tồn văn hóa Phi vật thể, Sở Văn hóa Thơng tin tỉnh Đồng Nai - Nhà Bảo tàng Đồng
Nai đã tiến hành sưu tầm và biên soạn cơng trình Khảo luận Tâm Pớt (Loại hình hát kể
của người Mạ ở Đồng Nai) [57]. Cơng trình được nghiên cứu khá công phu gồm 160
bài hát được sưu tầm bằng tiếng Mạ và được dịch sang tiếng Việt. Đây là nguồn tài
liệu được chúng tôi tham khảo sử dụng trong luận văn khi nghiên cứu văn hóa nghệ
thuật ngôn từ và thanh sắc của người Mạ.
Năm 2001, Tạp chí Xưa và Nay có đăng tải bài viết Địa danh Bà Rịa đất đỏ và
dân tộc Mạ [22] của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu với những chú giải khá công
phu nhằm chứng minh những luận điểm và giả thuyết cho rằng xưa kia người Mạ đã

từng sinh sống ở vùng đất đỏ Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tác phẩm Truyện kể dân gian Mạ [74] đã được Hội Văn nghệ Dân gian Việt
Nam trao giải khuyến khích năm 2001, là một cơng trình sưu tầm các chuyện kể về


13
người Mạ, phần lớn tập trung ở Lâm Đồng. Bên cạnh đó, cơng trình Địa chí văn hóa
Thành phố Hồ Chí Minh [24] cũng có đề cập về tộc người Mạ. Cơng trình Địa chí
Đồng Nai, 2001 [23] là một chuyên khảo, trong đó phần tộc người Mạ được viết khá
công phu, bao gồm phong tục, tập quán, văn học nghệ thuật, đời sống kinh tế v.v...
Đây là tài liệu quan trọng giúp chúng tơi có được những cứ liệu cụ thể để tìm hiểu đời
sống văn hóa tinh thần của người Mạ ở Đồng Nai, qua đó có thể so sánh, đối chiếu
trong quá trình nghiên cứu người Mạ ở Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng, nơi chúng tôi chọn để
khảo sát nghiên cứu sâu.
Năm 2002, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã xuất bản cơng
trình Một số vấn đề phát triển kinh tế xã hội bn làng các dân tộc Tây Ngun [72],
trong đó, bài viết được quan tâm là Một số vấn đề mô hình định canh định cư ở Lâm
Đồng của tác giả Trần Bình đã mơ tả sự thành cơng của mơ hình định canh, định cư
của cư dân Mạ ở xã Lộc Lâm, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Tác giả Lê Hồng Phong với hàng loạt các bài nghiên cứu về truyện cổ Mạ in
trong các tạp chí như: Nhân vật mồ côi trong truyện cổ dân tộc Mạ [44], Về con số 7
trong truyện cổ Mạ [46], Huyền thoại Mạ – K’Ho về nguồn gốc tộc người [47], Yếu tố
văn hóa nguyên thủy qua truyện cổ Mạ – K’Ho [50], thể hiện những quan điểm của
người Mạ về nguồn gốc tộc người, về các con số v.v… đã cho thấy rõ những nét văn
hóa tinh thần của họ. Ngồi ra, tác giả cịn có các cơng trình Huyền thoại Mạ – K’Ho
[49], Truyện cổ tích Mạ – K’Ho qua tư liệu điền dã tại Lâm Đồng [48]. Năm 2003, Lê
Hồng Phong đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài Đặc điểm truyện cổ Mạ –
K’Ho (Lâm Đồng) [51]. Cơng trình nghiên cứu về truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và
huyền thoại về hai tộc người Mạ và K’Ho ở Lâm Đồng. Thông qua các nhân vật trong
truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngơn để thể hiện yếu tố văn hóa tinh thần của

người Mạ. Đây là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu về đời sống văn hóa
tinh thần của người Mạ.
Năm 2003, tác giả Nguyễn Thành Đức bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Múa
dân gian các tộc người Mạ, Chơ-ro, Xtiêng vùng Đông Nam Bộ [28]. Luận án là một
chuyên khảo về múa dân gian, với phần lịch sử tộc người, văn hóa truyền thống được
nghiên cứu khá đầy đủ. Việc chuyển thể Tâm Pớt thành một chương trình múa hát


14
nhạc của dân tộc Mạ gồm 6 tiết mục được dàn dựng cơng phu là một đóng góp to lớn
của tác giả. Cũng trong năm 2003, Bộ phận tư liệu của Nhà bảo tàng Đồng Nai thực
hiện chuyên khảo Bước đầu sưu tầm chuyện kể Châu Ro, Châu Mạ ở Đồng Nai [41]
với 39 văn bản chuyện kể Châu Mạ và cả những kiến giải khoa học đã được đưa ra.
Năm 2004, tác giả Bùi Thiết cơng bố cơng trình 54 dân tộc Việt Nam và các tên
gọi khác [66]. Đây là cơng trình nghiên cứu các tộc người trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Trong phần tộc người Mạ tác giả đã nêu ra một số nét đại cương như:
nguồn gốc tộc người, địa bàn cư trú, đời sống kinh tế, tín ngưỡng và các phong tục tập quán v.v…
Năm 2005, tác giả Nguyễn Tấn Đắc công bố cơng trình Văn hóa xã hội và con
người Tây Ngun [20]. Cơng trình đã mơ tả xã hội truyền thống của các tộc người
vùng Tây Nguyên, những biến đổi về dân số, kinh tế, văn hóa, các phong tục tập quán
v.v… Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị để Tây Nguyên hội nhập và
cùng phát triển. Cũng trong năm 2005, Nguyễn Đăng Hiệp Phố bảo vệ thành cơng luận
văn thạc sĩ Tìm hiểu đời sống tinh thần của người Mạ qua hát kể (kết quả sưu tầm ở
Đồng Nai) [52]. Luận văn nghiên cứu các bài hát kể của người Mạ, thể hiện đời sống
văn hóa tinh thần phong phú của người Mạ. Luận văn này là tài liệu quan trọng để
chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật thanh sắc của người Mạ.
Năm 2006, Trương Minh Dục cơng bố cơng trình Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Ngun [17]. Cơng trình nghiên cứu khái qt
về mặt lí luận và thực tiễn các đặc điểm văn hóa, kinh tế, xã hội, giáo dục, các phong
tục tập quán v.v… của các dân tộc Tây Nguyên trước và sau ngày đất nước được giải

phóng hồn tồn.
Năm 2008, Nguyễn Văn Chánh bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ Sự biến đổi
cơ cấu việc làm của người Châu Mạ trong quá trình biến đổi kinh tế xã hội hiện nay:
Nghiên cứu trường hợp Định Quán - huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai [11]. Luận văn
nghiên cứu những biến đổi trong đời sống văn hóa vật chất của người Mạ ở huyện
Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Những biến đổi trong đời sống kinh tế do những tác động
của biến đổi xã hội đã làm ảnh hưởng đến cơ cấu việc làm của người Châu Mạ.
Năm 2009, Trần Nguyễn Tường Oanh bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ Việc


15
tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ Châu Mạ tại xã Lộc Bảo, huyện Bảo
Lâm, tỉnh Lâm Đồng [43]. Luận văn nghiên cứu về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản
của phụ nữ Châu Mạ, qua đó cho thấy việc chăm lo sức khỏe nói chung, sức khỏe sinh
sản nói riêng theo xu hướng hiện đại đã mang lại những đảm bảo sức khỏe cho người
dân Châu Mạ.
Các cơng trình nghiên cứu kể trên đã đề cập khá khái quát về đời sống kinh tế,
xã hội, văn hố vật chất, văn hóa tinh thần v.v… của người Mạ. Tuy nhiên, đi sâu chi
tiết vào nghiên cứu liên quan đến Văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ vẫn chưa
được khai thác, nghiên cứu một cách hệ thống. Việc đi sâu tìm hiểu văn hóa tổ chức
đời sống của người Mạ vẫn chưa được nghiên cứu kĩ. Đặc biệt văn hóa tổ chức đời
sống của người Mạ bao gồm: tổ chức cư trú, ăn, ở, đi lại, sản xuất, phong tục tập quán,
nghi lễ vòng đời, văn hóa nghệ thuật ngơn từ, nghệ thuật thanh sắc, nghệ thuật hình
khối v.v… vẫn chưa được nghiên cứu sâu sắc.
Những biến đổi của kinh tế - văn hóa - xã hội trên cả nước cũng như trên thế
giới hiện nay tác động đến đời sống sinh hoạt văn hóa của các tộc người nói chung và
tộc người Mạ nói riêng có làm mất đi những nét văn hóa truyền thống của người Mạ?
Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Mạ có phù hợp
với xu thế hiện nay hay không cũng là vấn đề chúng tôi rất quan tâm.
Trên cơ sở nguồn tư liệu được tập hợp và khái quát trên đây, chúng tôi đã đi

sâu khảo sát, nghiên cứu vùng người Mạ ở huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng, vốn là một
trong những “trung tâm” có đơng dân cư Mạ cư trú và từ đó chúng tơi chọn đề tài Văn
hóa tổ chức đời sống của người Mạ, mong muốn góp một phần vào việc giải quyết
một số vấn đề khoa học đang tồn tại trong việc nghiên cứu văn hóa tổ chức đời sống
của người Mạ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn Văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ
bao gồm: tổ chức cư trú, tổ chức hoạt động mưu sinh, tín ngưỡng, phong tục-tập qn,
văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ v.v… của người Mạ.


16
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Không gian
Tỉnh Lâm Đồng là nơi người Mạ cư trú đông nhất, chiếm 70% tổng số người
Mạ trong cả nước. Ở Lâm Đồng người Mạ sinh sống tập trung ở huyện Bảo Lâm,
Đạtẻh, Cát Tiên và một số nơi khác. Sự phát triển kinh tế xã hội, giao lưu tiếp biến văn
hóa với các tộc người cộng cư v.v… đã có những ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng
Mạ. Vì vậy, chúng tơi chọn cộng đồng người Mạ sinh sống ở huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm
Đồng, cụ thể là: bon Tố Lan (xã An Nhơn), bon Đạ Nha (xã Quốc Oai), bon Con Ó (xã
Mỹ Đức) và khu phố 1C (thị trấn Đạtẻh) để khảo sát nghiên cứu.
4.2.2. Thời gian
Luận văn tập trung nghiên cứu văn hoá tổ chức đời sống của người Mạ từ
truyền thống đến hiện đại. Từ đó nêu rõ q trình, động thái biến đổi của nó để góp
phần nghiên cứu đặc trưng văn hóa cũng như q trình văn hóa tộc người của họ.
4.2.3. Khách thể
Khách thể nghiên cứu của luận văn là cộng đồng người Mạ hiện đang sinh sống
trên địa bàn huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo
sát, nghiên cứu cộng đồng Mạ sinh sống ở các địa phương khác để so sánh đối chiếu

nhằm tìm ra những tương đồng và khác biệt trong văn hóa tổ chức đời sống của họ.
Ngồi ra chúng tôi cũng tiến hành khảo sát các tộc người cộng cư và lân cận với tộc
người Mạ như Stiêng, K’Ho, M’Nơng v.v… để có thể so sánh nhằm làm rõ một số đặc
trưng trong văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành Văn hóa học và các ngành khác như: Nhân học văn hóa, Lịch sử,
Dân tộc học v.v…
Phương pháp Lịch sử được vận dụng trong q trình tìm hiểu và phân tích văn
hóa người Mạ dưới góc độ lịch đại thơng qua các tài liệu thư tịch, đặc biệt là tài liệu sử
học, tài liệu hồi cố khi đề cập đến tiến trình văn hóa Mạ qua các thời kì.


17
Phương pháp So sánh đối chiếu được vận dụng để so sánh đối chiếu giữa các
dạng thức văn hóa các nhóm người Mạ cư trú ở các tỉnh thành khác nhau trên cả nước
và so sánh với văn hóa tương đồng của các tộc người khác.
Điền dã Dân tộc học-Nhân học được vận dụng trong suốt quá trình thực hiện
luận văn kết hợp với các phương pháp và thao tác dưới đây:
Quan sát tham dự được vận dụng khi chúng tôi tham gia trực tiếp với đồng bào
Mạ trong các nghi thức sinh hoạt cộng đồng, tham dự một số nghi lễ tín ngưỡng của
người Mạ tại huyện Đạtẻh, tỉnh Lâm Đồng như: các lễ cúng nông nghiệp, cúng giải
hạn, tang ma, cưới, hỏi v.v… và các hoạt động sinh hoạt kinh tế - xã hội, mưu sinh
v.v… của người Mạ. Chúng tôi ghi chép đầy đủ mọi hoạt động này để tổng hợp thành
nguồn tư liệu phục vụ cho nghiên cứu.
Phỏng vấn sâu được vận dụng khi tiếp xúc với đồng bào Mạ để hỏi và nghe họ
trả lời về các vấn đề luận văn nghiên cứu. Các vấn đề đó được hỏi nhiều lần, hỏi nhiều
người khác nhau, thời gian và địa điểm cũng khác nhau nhằm tìm ra những kết quả cần
thiết cho việc nghiên cứu.
Phỏng vấn hồi cố là phương pháp phỏng vấn lịch sử theo những lời kể nhằm tìm

ra những cảm nhận của mỗi cá nhân trong cộng đồng Mạ về những vấn đề chúng tơi
đang nghiên cứu.
Trong q trình nghiên cứu, chúng tơi đã tham khảo có chọn lọc các tài liệu và
tư liệu từ nhiều nguồn bao gồm: sách, báo, Tạp chí Khoa học, Luận văn, Luận án, tài
liệu điện tử, phim, ảnh và các thơng tin điện tử v.v… có liên quan đến việc nghiên cứu
tộc người Mạ.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Từ nghiên cứu văn hóa tổ chức đời sống của người Mạ bao gồm cả loại hình
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần cả ở góc độ cộng đồng cũng như cá nhân sẽ góp
phần nghiên cứu đặc trưng văn hóa cư dân Mạ được hình thành trong lịch sử định cư,
khai phá vùng thượng sơng Đồng Nai. Kết quả đó cịn góp phần nghiên cứu q trình
tộc người của họ. Nghiên cứu về con người Mạ dưới góc độ Nhân học văn hóa trong


18
bối cảnh chung của lịch sử đất nước cũng như những đặc điểm riêng của người Nam
Tây Nguyên - Đông Nam Bộ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu làm rõ những giá trị văn hóa truyền thống của người Mạ. Góp
thêm cơ sở khoa học cho việc đề xuất việc bảo tồn những giá trị truyền thống văn hóa
người Mạ trong phát triển và hội nhập hiện nay. Bổ sung tư liệu để hoạch định các
Chính sách Dân tộc tại địa phương.
7. Bố cục luận văn
Mở đầu
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng người Mạ
Chương 3. Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân người Mạ
Kết luận
Tài liệu tham khảo

Phụ lục


19

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Văn hóa
Đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra bởi các
cá nhân và tổ chức. E.B.Tylor đã cơng bố cơng trình Văn hố ngun thủy ở Ln Đơn
vào năm 1871, trong đó tác giả định nghĩa: “Văn hố là một phức thể bao gồm kiến
thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng, thói quen
mà con người với tư cách là thành viên xã hội, đạt được” [94; tr. 13]. Đây là định
nghĩa đầu tiên về văn hóa, là cái mốc cho bước ngoặt để nghiên cứu văn hóa phương
Tây ra đời.
Đến năm 1982, tại Mêhicô, Hội nghị Thế giới về Chính sách Văn hóa vì sự phát
triển đã thơng qua Tuyên bố ngày 6 tháng 8, còn gọi là Tun bố Mêhicơ về Chính
sách văn hóa: “Văn hóa hơm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm
người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín
ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa
làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán
và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức
được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hồn thành đặt ra để xem xét
những thành tựu của bản thân, tìm tịi khơng biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và
sáng tạo nên những cơng trình vượt trội lên bản thân”1.
Cịn theo Phan Ngọc, “Văn hóa là mối quan hệ. Nó là quan hệ giữa thế giới biểu

tượng và thế giới thực tại. Mối quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của
một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác” [39; tr. 24].
Thập niên 40 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày một quan niệm
1

Tun bố về chính sách văn hóa-Hội nghị quốc tế do Unesco chủ trì từ 26-7 đến 6-8 năm 1982 tại Mêhicô


20
về văn hố: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, lồi người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức
sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hố” [37; tr. 431].
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực
vơ cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì khơng phải là thiên nhiên mà
có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người
làm nên lịch sử v.v… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao
đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống chính trị; tư tưởng và tình cảm, đạo đức với
phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức
bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để
bảo vệ mình và khơng ngừng lớn mạnh” [26; tr. 16].
Năm 2002, tổ chức UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chung về văn hóa như
sau: “Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc
cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngồi văn học
và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và
đức tin”. Định nghĩa này có giá trị là mẫu số chung cho các định nghĩa về văn hoá
khác trên thế giới.
Trong những thập niên cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, ngành Văn hóa học phát
triển khá rầm rộ ở nước ta. Theo đó đã có đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về văn
hóa, đặc biệt đã có nhiều giáo trình về Cơ sở Văn hóa ra đời, trong đó đều đã có định

nghĩa về văn hóa.
Giáo sư Trần Quốc Vượng định nghĩa: “Văn hóa là sản phẩm do con người
sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội lồi người” [81], theo ơng, văn hóa gắn liền
với sự phát triển của con người, “ở phương Đơng, từ Văn hóa đã có trong đời sống
ngơn ngữ từ rất sớm” [81].
Phó Giáo sư Chu Xuân Diên đã đưa ra những nét chủ yếu của văn hóa bao gồm:
văn hóa là hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có; hoạt động sáng tạo đó bao
trùm lên mọi lĩnh vực của đời sống con người bao gồm đời sống vật chất, tinh thần và
xã hội; giá trị của sự sáng tạo được kế thừa qua các thế hệ; đặc biệt văn hóa là đặc


21
trưng của mỗi cộng đồng nhằm phân biệt với các cộng đồng khác [16].
Nghiên cứu văn hóa theo phương pháp Hệ thống - Loại hình, Trần Ngọc Thêm
đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua q trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [61; tr. 25].
Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra một hệ tọa độ ba chiều. Con người là
Chủ thể văn hóa, mơi trường tự nhiên và xã hội là Khơng gian văn hóa và q trình
hoạt động là Thời gian văn hóa. Giới hạn theo khơng gian, văn hóa được sử dụng để
chỉ ra những giá trị đặc thù của từng vùng (như Vùng ăn hóa Nam Bộ, Vùng văn hóa
Tây Nguyên v.v… ). Định nghĩa nêu trên cũng bao gồm bốn đặc trưng cơ bản của văn
hóa là tính Hệ thống, tính Giá trị, tính Nhân sinh và tính Lịch sử. Các đặc trưng này
không chỉ giúp để phân biệt văn hóa với những khái niệm, hiện tượng có liên quan mà
còn là cơ sở để xác định các chức năng của nó như chức năng Tổ chức xã hội, chức
năng Điều chỉnh xã hội, chức năng Giao tiếp và chức năng Giáo dục. Chủ thể của một
nền văn hóa ln ln tồn tại và hoạt động trong mối quan hệ tương tác với môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội. Vì vậy, xét về cấu trúc, văn hóa là hệ thống qui định bởi
một loại hình văn hóa nhất định bao gồm ba thành tố gồm Văn hóa nhận thức, Văn hóa
tổ chức và Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong thành

tố Văn hóa tổ chức, kế thừa nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, chúng tôi nghiên cứu
theo cấu trúc văn hóa tổ chức đời sống bao gồm hai vi hệ: Văn hóa tổ chức đời sống
cộng đồng và Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của tộc người Mạ.
1.1.1.2. Tộc người và văn hóa tộc người
Tộc người là một khái niệm thuộc ngành Dân tộc học cũng như Nhân học. Tộc
người là đối tượng nghiên cứu của Dân tộc học, Nhân học và Văn hóa học.
Viện sĩ Xô Viết Iu.V.Bromlei định nghĩa tộc người như sau: “Tộc người được
hiểu là một tập đồn người ổn định có mối liên hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ,
kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa. Mỗi tộc người đều có nguồn gốc ý thức về tộc
người của mình” [32; tr. 21]. Định nghĩa này đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến các
trường phái nghiên cứu Dân tộc học của Liên Xô (cũ) và Việt Nam.


22
Văn hóa Tộc người: “Văn hóa Tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các
yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này
với tộc người khác. Chính văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức
tộc người” [32; tr. 318].
Các khái niệm trên đây là cơ sở lí luận, định hướng cho q trình tìm hiểu,
nghiên cứu về tộc người và văn hóa tộc người Mạ và những thay đổi văn hóa của họ
trong quá trình phát triển tộc người cho đến hiện nay.
1.1.1.3. Văn hóa tổ chức đời sống
Văn hóa là một hệ thống, chính vì thế, có nhiều cách nhận diện và chia các
thành tố của hệ thống văn hóa. Có cách chia văn hóa thành hai thành tố gồm Văn hóa
Vật chất và Văn hóa Tinh thần, có cách chia ba thành tố như Văn hóa Vật chất, Văn
hóa Tinh thần và Văn hóa Xã hội của PGS. Chu Xuân Diên, hay cách chia của L.White
văn hóa gồm ba tiểu hệ như: Công nghệ, Xã hội và Tư tưởng, hay cách chia của GS.
Trần Ngọc Thêm bao gồm: Văn hóa Nhận thức, Văn hóa Tổ chức, Văn hóa Ứng xử
v.v…
Đề cập đến phương diện văn hóa tổ chức cộng đồng, GS. Trần Ngọc Thêm đã

xem xét trên hai bình diện: nguyên tắc tổ chức cộng đồng và cách thức tổ chức cộng
đồng. Theo ơng, văn hóa tổ chức là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa,
bao gồm tổ chức đời sống cộng đồng và tổ chức đời sống cá nhân. Tổ chức đời sống
cộng đồng bao gồm những vấn đề tổ chức xã hội ở qui mô rộng lớn như tổ chức nông
thôn, quốc gia, đô thị. Tổ chức đời sống cá nhân bao gồm những vấn đề liên quan đến
đời sống của cá nhân trong cộng đồng như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa
giao tiếp và nghệ thuật ngơn từ [62, tr. 197].
Văn hóa tổ chức cộng đồng là sản phẩm được sáng tạo bởi con người thơng qua
q trình sinh sống trong cộng đồng. Văn hóa tổ chức cộng đồng đã xác lập một hệ
thống các giá trị được mọi người trong cộng đồng cùng chia sẻ và chấp nhận, góp phần
tạo nên sự khác biệt giữa các tộc người khác nhau.
1.1.1.4. Không gian văn hóa tộc người
Khơng gian văn hóa tộc người “chính là khơng gian sinh tồn của tộc người đó,


23
nó gắn với vùng lãnh thổ mà cộng đồng dân cư của tộc người đó sinh sống. Trong xã
hội nguyên thủy hay một số trường hợp xã hội hiện nay, lãnh thổ tộc người vẫn cịn
tồn tại, thì chính lãnh thổ tộc người là khơng gian văn hóa của tộc người đó. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển xã hội và sự di chuyển dân cư thì phần lớn các trường
hợp lãnh thổ tộc người bị phá vỡ, tạo nên tình trạng cư trú xen cài giữa các tộc người
trên cùng một lãnh thổ, do vậy, khơng gian văn hóa tộc người khơng cịn ngun vẹn,
tạo nên tình trạng đan xen. Đó cũng chính là một trong những xung lực tạo nên sự tiếp
biến, hỗn dung văn hóa, một hiện tượng phổ biến trong bức tranh chung văn hóa nhân
loại hiện nay” [63; tr. 6].
Chúng tôi vận dụng các khái niệm được trình bày ở trên để làm cơ sở lí luận
trong q trình nghiên cứu thực hiện luận văn này.
1.1.2. Các lí thuyết tiếp cận
1.1.2.1. Lí thuyết về vùng văn hố
“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự

nhiên, dân cư sinh sống ở đó đã từ lâu có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có
những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao
lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung,
thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với
vùng văn hóa khác” [63; tr. 64].
Chúng tơi vận dụng lí thuyết này trong q trình nghiên cứu nhằm tìm ra những
nét tương đồng văn hóa do cộng cư trong cùng điều kiện tự nhiên một vùng, những
mối liên hệ về nguồn gốc lịch sử tộc người Mạ với các tộc người khác cùng sinh sống
trên địa bàn, những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, sự giao lưu, tiếp
biến văn hóa giữa các tộc người cộng cư trên địa bàn huyện Đạtẻh, nơi chúng tôi khảo
sát nghiên cứu.
1.1.2.2. Biến đổi (thay đổi) xã hội
Thay đổi xã hội dùng để “chỉ những trạng thái vận động khác nhau: tiến bộ hoặc
thoái bộ, tiến bộ hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ v.v… Những thay đổi xã hội
thường gắn với điều kiện khách quan của tồn tại xã hội và những chủ quan của ý thức


24
xã hội hoặc với sự kết hợp của hai điều kiện đó. Những thay đổi xã hội thường diễn ra
khi những trật tự xã hội cũ tỏ ra lỗi thời và trong lòng xã hội xuất hiện những nhân tố
mới đến một mức độ nào đó. Thay đổi xã hội có thể diễn ra từ từ hoặc nhảy vọt, có hay
khơng có bạo lực. Thuật ngữ này cũng áp dụng cho những thay đổi văn hóa do hai
ngun nhân chính: tiếp xúc văn hóa (thích nghi văn hóa) và phát minh. Thay đổi xã
hội với các phát minh thường diễn ra theo những chu kì lớn (đồ đá mới, phục hưng,
cách mạng công nghiệp v.v…). Trong các xã hội công nghiệp, thay đổi xã hội gần như
diễn ra liên tục và những thay đổi kĩ thuật thường dẫn tới những thay đổi văn hóa phi
vật thể” [78; tr. 25].
Chúng tơi mong muốn tìm hiểu những thay đổi về đời sống xã hội của người
Mạ trước và sau năm 1975. Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống kinh tế văn hóa - xã hội của người Mạ. Những biến đổi đó tiến bộ hay thối bộ so với trước
đây, những biến đổi tác động tích cực hay tiêu cực đến đời sống của người Mạ hiện

nay.
1.1.2.3. Lí thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa
“Giao lưu và tiếp biến văn hóa là q trình các cộng đồng tộc người “gặp
nhau”, tiếp xúc với nhau trên cơ sở đó “tiếp nhận” những giá trị văn hóa là động lực
làm cho nhiều yếu tố văn hóa truyền thống ln được điều chỉnh và biến đổi cho phù
hợp.
Đó là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa
khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả
hai nhóm. Giao lưu tiếp biến văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn
hóa ở các cộng đồng” [75].
Mỗi tộc người đều có những nét văn hóa riêng biệt khi sinh sống trong những
điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội khác nhau v.v… Những nét văn hóa riêng của
các tộc người cộng cư sẽ cùng giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau. Trong quá trình cộng
cư các tộc người sẽ trao đổi, học hỏi văn hóa lẫn nhau tạo ra sự giao lưu văn hóa.
Trong q trình giao lưu đó sự tiếp biến văn hoá diễn ra tạo nên những khác biệt nhất
định về văn hóa các tộc người, hình thành nên những nét văn hóa đặc sắc.


25
1.1.2.4. Lí thuyết về văn hóa sinh thái - tộc người
Văn hóa sinh thái là các dạng thức văn hóa hình thành và phát triển tương ứng
với những mơi trường sinh thái nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng
châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao ngun v.v… Ở nước ta có rất nhiều loại
hình sinh thái tương ứng với vùng cư trú của các tộc người. Những tộc người sinh sống
lâu đời tại một mơi trường sinh thái nhất định sẽ hình thành một dạng thức văn hóa gọi
là văn hóa sinh thái - tộc người. Văn hóa sinh thái - tộc người theo Ngô Đức Thịnh:
“Sinh sống lâu đời trong một môi trường sinh thái quen thuộc nên mỗi tộc người đã
hình thành những kiểu thích ứng với mơi trường nhất định, tạo nên những truyền thống
sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa riêng” [64, tr. 33].
Người Mạ sinh sống trong mơi trường sinh thái rừng, núi, sông, suối v.v…

Canh tác nương rẫy của người Mạ phụ thuộc vào môi trường tự nhiên. Sự thay đổi về
mơi trường sinh thái có làm biến đổi đời sống văn hóa - kinh tế - xã hội của tộc người
Mạ là vấn đề chúng tôi quan tâm nghiên cứu.
1.1.2.5. Sự chấp nhận xã hội
Chấp nhận xã hội : “đây là một quá trình thay đổi xã hội, trong đó có việc học
hỏi cách tân, chấp nhận cách tân như là giá trị và sửa đổi kiến thức văn hóa của một
người để tiếp cận cách tân đó” [101].
Trong luận văn này, chúng tơi muốn tìm hiểu sự thay đổi về môi trường xã hội
của người Mạ do nhiều yếu tố như: sự biến đổi của mơi trường, Kinh tế - Văn hóa - Xã
hội, v.v... Người Mạ đã chấp nhập sự thay đổi của xã hội, họ đã học hỏi, cách tân và
thích nghi như thế nào để phù hợp với những thay đổi đó?
1.1.2.6. Lí thuyết về đặc thù luận lịch sử
Theo F. Boas và A. Kroeber: “Văn hóa của mỗi dân tộc được hình thành trong
q trình lịch sử, nó gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lí
cụ thể” [70].
Người Mạ đã biến đổi về văn hóa do những thay đổi về chính sách, xã hội, kinh
tế đặc thù của địa phương. Đây là một quá trình tất yếu của sự phát triển xã hội thơng
qua những biến đổi do xu thế hiện nay. Điều kiện tự nhiên và xã hội là những yếu tố đã


×