Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
TƯ TƯỞNG ĐỒN KẾT HỒ CHÍ MINH - DƯỚI GÓC ĐỘ
KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ ĐOÀN KẾT VÀO VIỆT NAM
TS. Trần Thị Điểu*
Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt
Đồn kết khơng chỉ là nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà cịn
là mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đồn kết ln được quán triệt
trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng. Với mục đích làm rõ sự kế thừa và phát triển sáng tạo
của Hồ Chí Minh về tư tưởng đoàn kết trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, bài
viết tập trung phân tích những điểm giống (tương đồng) và phát triển sáng tạo
(khác biệt) tư tưởng đoàn kết mà Hồ Chí Minh vận dụng vào thực tiễn cách mạng
Việt Nam.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, đồn kết, kế thừa, phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác - Lênin.
I. MỞ ĐẦU
Tƣ tƣởng về đại đoàn kết dân tộc là tài sản tinh thần vơ giá của tồn Đảng, tồn
dân, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Là một
lãnh tụ cộng sản và nhà hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã khơng ngừng xây dựng,
hoàn thiện một hệ thống quan điểm về đại đồn kết dân tộc, đó là một di sản quý của
Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết là tƣ
tƣởng cơ bản, cốt lõi của Hồ Chí Minh, đƣợc thể hiện nhất quán từ lý luận đến thực
tiễn. Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống vô
cùng quý báu của nhân dân Việt Nam, đƣợc hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử mà nó
cịn trở thành một động lực to lớn, một triết lý nhân sinh và hành động giúp dân tộc
Việt Nam tồn tại và phát triển bền vững. Trong mọi giai đoạn lịch sử, tƣ tƣởng về đại
đồn kết dân tộc của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của
cách mạng, khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc, phát huy tinh thần tự lực, tự cƣờng, chấn
hƣng đất nƣớc, từng bƣớc đƣa Việt Nam rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nƣớc
*
Khoa Triết học - Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
|256
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020)
phát triển trên thế giới. Nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đồn kết dân tộc, làm rõ
sự kế thừa, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định, ghi nhận,
biết ơn những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh với dân tộc mà cịn góp phần
chỉ ra cơ sở, nền tảng của tƣ tƣởng đoàn kết và sự cần thiết phải giữ gìn, phát triển sáng
tạo trong giai đoạn hiện nay.
II. NỘI DUNG
2.1. Hồ Chí Minh kế thừa tư tưởng đoàn kết của chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ nhất, về mục đích của cách mạng. Học thuyết Mác - Lênin đã đƣa tới sự phát
triển triệt để và hoàn bị nhất trong lịch sử phát triển của các hình thức của chủ nghĩa
duy vật. Tính khoa học của học thuyết không chỉ ở việc chỉ ra đƣợc các quy luật chi
phối toàn bộ sự vận động, biến đổi và phát triển của thế giới vật chất mà nó cịn khẳng
định giá trị lớn hơn là trở thành học thuyết về sự giải phóng triệt để con ngƣời, đƣa lại
cuộc sống ấm no, tự do thực sự cho con ngƣời theo nghĩa làm ngƣời đích thực. Giá trị tƣ
tƣởng vƣợt thời đại của Mác - Ăngghen không chỉ là lý luận về cách mạng vô sản mà
còn là phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và nhận thức từ chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Với Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin “phải học tinh thần của chủ
nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trƣờng, quan điểm và phƣơng pháp của chủ nghĩa Mác Lênin,… để giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng”1. Sự
gặp gỡ của những bộ óc vĩ đại và nhân cách lớn lao đã giúp Mác - Lênin - Hồ Chí Minh
tạo thành một dòng chảy lịch sử cho sự tƣơng đồng về mục tiêu giải phóng con ngƣời.
Tùy theo điều kiện khác nhau mà Mác - Lênin - Hồ Chí Minh có những phƣơng cách
phù hợp; tuy nhiên, họ đều gặp nhau ở tƣ tƣởng coi đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là
nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng.
Từ quan điểm, cách mạng là sự nghiẹ p của quần chúng; sự thành co ng của
phong trào co ng nha n trong mỗi nu ớc chỉ có thể đu ợc bảo đảm bằng sức mạnh
của một tổ chức thống nhất, Mác - Lênin đều nhấn mạnh đến vị trí, vai trị của sự đồn kết.
Với Mác, để đạt đƣợc mục đích vĩ đại mà nhân loại đang hƣớng tới nhất định phải nhớ
nguyên tắc cơ bản: “... chúng ta hãy nhớ một nguyên tắc cơ bản của Quốc tế: sự đồn
kết”2.
1
2
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.95.
Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.212.
257
|
Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lênin đã kế thừa, tiếp thu và phát triển chủ
nghĩa Mác về cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng nhà nƣớc ở một quốc gia
chƣa kinh qua chủ nghĩa tƣ bản, đƣa tới sự thắng lợi hoàn toàn của cách mạng Tháng
Mƣời Nga và nhiều nƣớc thuộc địa, phụ thuộc trên tồn thế giới. Nói về tinh thần đoàn
kết để thực hiện mục tiêu cách mạng, Lênin nhấn mạnh: “Thắng lợi của cách mạng vô
sản thế giới địi hỏi giai cấp cơng nhân các nƣớc tiên tiến phải hết sức tin cậy lẫn nhau,
đoàn kết anh em hết sức chặt chẽ với nhau và phải hết sức nhất trí trong các hành động
cách mạng”3.
Với Hồ Chí Minh, trong bài “Con đƣờng dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” Ngƣời
viết: “Lúc bấy giờ… tơi kính u Lênin vì Lênin là một ngƣời yêu nƣớc vĩ đại đã giải
phóng cho đồng bào mình,… dần dần tơi hiểu đƣợc rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng đƣợc các dân tộc bị áp bức và những ngƣời lao động
trên thế giới khỏi ách nô lệ”4. Nhấn mạnh đến vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ
Chí Minh cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin nhƣ cái cẩm nang thần kỳ”5, là mạ t trời
soi sáng, là ngọn cờ đoàn kết, là co sở để vạch ra đu ờng lối chiến lu ợc, sách
lu ợc cho cách mạng mà mỗi khi gặp khó khăn ngƣời ta mở cẩm nang ra có ngay cách
giải quyết. Do đó, muốn thực hiện mục tiêu lớn lao của cách mạng thì phải có tinh thần
đồn kết, mà ở đó, nền tảng gốc của tƣ tƣởng đồn kết Hồ Chí Minh là triết lý: dân là
gốc. Chỉ cần thống kê trong Hồ Chí Minh tồn tập vấn đề đồn kết dân tộc đƣợc thể
hiện trong 839 bài viết, chiếm tỷ lệ 43%; sử dụng từ đoàn kết, đại đoàn kết tới 1.809
lần; đặc biệt, tƣ tƣởng đại đoàn kết dân tộc đƣợc nhắc lại 16 lần trong “Sửa đổi lối làm
việc”, 17 lần trong “Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên
Việt”, 19 lần trong “Diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 2/9/1957”, 8 lần trong “Di chúc”,…
những con số thống kê trên đã cho thấy, vai trò đặc biệt quan trọng của vấn đề xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Thứ hai, xác định được vị trí, vai trị của đồn kết trong cách mạng vơ sản. Đồn
kết khơng chỉ là sức mạnh mà cịn là vấn đề có ý nghĩa chiến lƣợc, là nhân tố cơ bản
quyết định thắng lợi của cách mạng. Với Mác, “Cách mạng là phải đồn kết”6, nếu làm
cách mạng mà khơng có tinh thần đồn kết thì khơng thể thành cơng. Nhấn mạnh điều này,
3
V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.132.
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.561.
5
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.588.
6
C. Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.212.
4
|258
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020)
Mác chỉ rõ: “Công xã Pari sở dĩ thất bại vì tất cả những trung tâm chính nhƣ Béc-lin, Mađrít,… đã khơng đồng thời bùng nổ một phong trào cách mạng to lớn tƣơng xứng với
trình độ đấu tranh cao của giai cấp vơ sản Pari”7. Cịn với V.I. Lênin thì cho rằng:
“đồn kết là nguồn gốc, sức mạnh chủ yếu, vo tạ n và vo địch của Đảng”8.
Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, tự do cho
nhân dân, nhất thiết phải xây dựng khối đại đồn kết dân tộc. Đồn kết đóng vai trị “là
lực lƣợng mạnh nhất”, “là sức mạnh vô địch”, hơn thế nữa “đoàn kết là sức mạnh, là
then chốt của thành cơng”. Hồ Chí Minh khẳng định: “khơng đồn kết thì suy và mất.
Có đồn kết thì thịnh và cịn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ
gìn dân tộc và bảo vệ nƣớc nhà”9. Hồ Chí Minh cịn đúc kết thành triết lý hành động:
“Đồn kết, đồn kết, đại đồn kết, Thành cơng, thành cơng, đại thành công”10.
Trong từng giai đoạn của cách mạng, trƣớc những yêu cầu và nhiệm vụ mới,
phƣơng pháp đoàn kết dân tộc cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với những đối tƣợng
khác nhau, nhƣng đồn kết phải ln ln đƣợc nhận thức là vấn đề sống còn của cách
mạng, là một chiến lƣợc bất di bất dịch. Theo Hồ Chí Minh, “Nhờ đại đồn kết mà
nhân dân Việt Nam đã đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm Cách mạng Tháng Tám
thành công và đã kháng chiến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn dân mà nƣớc Việt Nam
nhất định sẽ thống nhất”11. Vì vậy, phải đồn kết mọi lực lƣợng có thể đồn kết để đƣa
cách mạng đến thành công. Tinh thần ấy luôn nhất quán, xuyên suốt trong tƣ tƣởng và
hành động của Hồ Chí Minh từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
Đoàn kết là điểm xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán trong tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh và trong toàn bộ đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng. Để xây dựng đƣợc khối đại
đoàn kết, nhiệm vụ đầu tiên của Đảng cách mạng là tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng
lớp nhân dân ở trong nƣớc, nhân dân u chuộng hịa bình, tiến bộ trên thế giới, hình
thành nên khối đại đồn kết to lớn, mạnh mẽ. Ngƣời chỉ rõ: “Đoàn kết là điểm mẹ.
Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”12. Để đồn kết tồn dân, phải có
sự lãnh đạo của Đảng, do đó muốn xây dựng đƣợc tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trƣớc
C. Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.212.
V.I. Le nin (1976), Toàn tạ p, tập 16, Nxb Tiến bọ , Mátxcơva, tr.705.
9
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.55.
10
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.119.
11
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.272.
12
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.244.
7
8
259
|
Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
hết Đảng phải giữ gìn đƣợc sự đồn kết. Đây là điều Hồ Chí Minh ln trăn trở, trong
Di chúc, Ngƣời đã viết “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân
tộc ta”13, và hơn nữa, đồn kết trong Đảng cịn là cơ sở, là hạt nhân cốt lõi để xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân. Trong mối quan hệ giữa Đảng với dân, nếu khơng có nhân
dân thì Đảng khơng đủ lực lƣợng, nếu khơng có Đảng, thì nhân dân khơng ai dẫn đƣờng.
Do đó, trong mọi hồn cảnh Đảng và dân phải đoàn kết với nhau thành một khối.
2.2. Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo tư tưởng đồn kết của chủ nghĩa Mác - Lênin
Thứ nhất, về lực lượng tham gia cách mạng, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin từ đoàn kết giai cấp tới đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Từ bản chất của giai
cấp tƣ sản, từ mục đích xóa bỏ mọi hình thức sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất nhằm
giải phóng con ngƣời, Mác nhận thấy vai trị to lớn của giai cấp cơng nhân trên tồn thế
giới. Với Mác, sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và đội ngũ của giai cấp cơng nhân
chính là nội dung cơ bản, nguyên tắc hàng đầu. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản do Mác và Ăngghen thay mặt Liên đồn những ngƣời cộng sản đƣợc cơng bố vào
tháng 3/1848 có lời kết nhƣ lời kêu gọi hành động của tất cả những ngƣời vô sản trên
thế giới: Vô sản tất cả các nƣớc đoàn kết lại! Lời kêu gọi đó nhƣ một khẩu hiệu cơng
khai tun bố tính chất quốc tế của cuộc đấu tranh.
C. Mác khẳng định: “Sự thống trị của tƣ bản là có tính chất quốc tế. Chính vì thế,
cuộc đấu tranh của cơng nhân ở tất cả các nƣớc để tự giải phóng, chỉ có thể thành cơng
đƣợc, nếu cơng nhân cùng nhau đấu tranh chống lại tƣ bản quốc tế”14. Sự liên minh của
giai cấp cơng nhân tồn thế giới khơng chỉ là sự đồng cảm của những ngƣời cùng bị tƣ
bản bóc lột, mà còn khẳng định sức mạnh, sự phát triển trí tuệ của giai cấp cơng nhân
từ nhận thức về tƣ tƣởng trong đấu tranh nội bộ tới hành động. Sự phát triển lớn mạnh
và thống nhất của giai cấp cơng nhân trên tồn thế giới là là kết quả của chính phƣơng
thức sản xuất đại cơng nghiệp tạo ra. Sự thống nhất của giai cấp công nhân là nền tảng
cho mối liên hệ bình đẳng về lợi ích, về tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp chung của
giai cấp công nhân ở các quốc gia dân tộc. Mác nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản chiến
thắng giai cấp tƣ sản đồng thời cịn có nghĩa là khắc phục tất cả những cuộc xung đột
dân tộc và xung đột công nghiệp hiện nay đang sinh ra sự thù hằn giữa các dân tộc. Vì
vậy mà thắng lợi của giai cấp vơ sản đối với giai cấp tƣ sản đồng thời còn là dấu hiệu
13
14
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.611-612.
V.I.Le nin (1976), Toàn tạ p, tập 2, Nxb Tiến bọ , Mátxcơva, tr.115.
|260
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020)
giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức”15. Khẳng định thêm điều này, trong lời tựa viết
cho bản tiếng Đức của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, tái bản năm 1890, Ăngghen
viết: “Để đạt tới thắng lợi cuối cùng của những nguyên lý đã đề ra trong “Tuyên ngôn”,
Mác chỉ tin tƣởng vào sự phát triển trí tuệ của giai cấp cơng nhân, sự phát triển mà
hành động chung và tranh luận chung nhất định sẽ mang lại”16.
Phân tích những điều kiện mới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin không chỉ
nhấn mạnh đến sự liên minh giai cấp công nhân trên tồn thế giới mà cịn đặc biệt nhấn
mạnh đến sự gắn bó về lợi ích giữa giai cấp cơng nhân và mối quan hệ của các dân tộc
bị áp bức: “công nhân đƣa ra một thế giới mới, một thế giới trong đó những ngƣời lao
động thuộc mọi dân tộc đồn kết với nhau, trong đó khơng có chỗ cho bất cứ một đặc
quyền đặc lợi nào, cũng nhƣ khơng có chỗ cho bất cứ một sự áp bức nào giữa ngƣời
với ngƣời”17. Sự thống nhất của giai cấp công nhân và mối quan hệ của giai cấp công
nhân với các dân tộc bị áp bức là sự thống nhất từ chiều sâu của nhận thức về nhu cầu
phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng mình và giải phóng nhân loại, đó cịn là một
ngun tắc quốc tế nhƣ quan điểm của Mác “... đối lập với xã hội cũ cùng với sự bần
cùng về kinh tế và sự điên rồ về chính trị của nó đang xuất hiện một xã hội mới mà
nguyên tắc quốc tế phải là hịa bình, bởi vì cùng một ngun tắc giống nhau ngự trị ở
tất cả các dân tộc - lao động!”18. Trên cơ sở đó, Lênin đã phát triển khẩu hiệu vơ sản tất
cả các nƣớc đồn kết lại thành khẩu hiệu hành động chiến lƣợc: Giai cấp công nhân và
các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới hãy đồn kết lại!
Hồ Chí Minh phân tích các sự phân hóa giai cấp ở các nƣớc thuộc địa, phụ thuộc
để thấy thực chất mâu thuẫn chủ yếu ở các nƣớc phƣơng Tây là mâu thuẫn giữa giai
cấp vô sản và giai cấp tƣ sản, còn ở xã hội thuộc địa phƣơng Đông mâu thuẫn chủ yếu
lại là mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân; do đó, đối tƣợng cách
mạng mà các dân tộc thuộc địa cần tập trung đánh đổ trƣớc hết là chủ nghĩa thực dân
và tay sai phản động chứ không phải là giai cấp tƣ sản bản xứ, càng không phải là giai
cấp địa chủ nói chung. Trên cơ sở phân tích đúng đắn đặc điểm xã hội Việt Nam, xác
định đúng đối tƣợng chính của cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo trong
giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp. Nếu nhƣ chủ nghĩa Mác - Lênin đề cao đấu
C. Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.526-527.
C. Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.524.
17
V.I. Le nin (1976), Toàn tạ p, tập 23, Nxb Tiến bọ , Mátxcơva, tr.194.
18
C. Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội,t.3, tr.64.
15
16
261
|
Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
tranh giai cấp thì Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp với vấn đề dân
tộc, giải quyết triệt để mối quan hệ hài hịa giữa giải phóng giai cấp với giải phóng dân
tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, lấy mục tiêu độc lập dân tộc làm điểm tƣơng đồng
để tập hợp đồn kết tồn dân tộc. Khơng chỉ nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa cách
mạng vô sản với cách mạng giải phóng dân tộc đã đƣợc Lênin nêu ra, Hồ Chí Minh cịn
nhận thấy sự liên minh giữa giai cấp vơ sản chính quốc và các dân tộc thuộc địa bị áp
bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tƣ bản là tất yếu. Ngoài việc nhận thấy giai
cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức phải giúp đỡ nhau, sự giúp đỡ ấy đồng thời là sự tự
cứu mình, là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi bên, Hồ Chí Minh cịn nhận thấy một
hình thức liên minh quan trọng nữa là liên minh giữa các dân tộc thuộc địa với nhau.
Đây là một sáng tạo đặc biệt của Ngƣời. Nếu nhƣ với các nƣớc láng giềng, có cùng
chung kẻ thù, chung nguyện vọng là độc lập, tự do cho mỗi dân tộc, Hồ Chí Minh lập
Mặt trận Thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào trong kháng chiến chống thực dân
Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lƣợc; ngƣợc lại, với các nƣớc xã hội chủ nghĩa anh em
nhƣ Trung Quốc, Liên Xô, Cuba, Triều Tiên,... để tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ đối với
cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, vì hịa bình, chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam, trên tinh thần “bốn phƣơng vô sản đều là anh em”, Hồ Chí Minh xây dựng Liên
minh hữu nghị hợp tác và tƣơng trợ với các nƣớc. Ngoài ra, đối với nhân dân u
chuộng hịa bình, dân chủ trên thế giới, Hồ Chí Minh xây dựng Mặt trận đồn kết với
phong trào hịa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới nhƣ Mặt trận đoàn kết giữa nhân
dân Việt Nam với nhân dân Á - Phi, Mỹ Latinh, Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân
dân Việt Nam và nhân dân Mỹ...
Hồ Chí Minh cịn đặc biệt chú ý đến việc xây dựng khối đoàn kết với các lực
lƣợng cách mạng trên thế giới, tùy từng đối tƣợng để đề ra phƣơng pháp đoàn kết phù
hợp: Đối với phong trào cộng sản và cơng nhân quốc tế, đồn kết trên tinh thần “bốn
phƣơng vô sản đều là anh em”; đối với phong trào giải phóng dân tộc, đồn kết với giai
cấp vô sản và nhân dân lao động trên toàn thế giới, cùng chống chủ nghĩa đế quốc, thực
dân; đối với phong trào hịa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới, đồn kết vì hịa bình,
ổn định và phát triển; coi trọng và xây dựng tình đoàn kết với các nƣớc láng giềng, trên
tinh thần “giúp bạn tức là tự giúp mình”, “vừa là đồng chí vừa là anh em”.
Nếu nhƣ chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh vào vai trị của liên minh cơng nơng, lực lƣợng chính của cách mạng, xét vào điều kiện thực tế của Việt Nam, Hồ Chí
Minh cho rằng cách mạng phải hƣớng tới ba mục tiêu là: giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp, giải phóng con ngƣời. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, cách mạng giải phóng dân tộc
|262
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020)
“là việc chung cả dân chúng chứ khơng phải việc một hai ngƣời”, vì vậy, lực lƣợng
cách mạng không chỉ đơn thuần là liên minh cơng nơng mà cịn cần sự tham gia của
nhiều giai tầng khác, làm nên “lực lƣợng toàn dân”. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại đồn kết
tức là trƣớc hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công
nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đồn
kết. Nó cũng nhƣ cái nền của nhà, gốc của cây. Nhƣng đã có nền vững, gốc tốt, cịn
phải đồn kết các tầng lớp nhân dân khác”19. Với chủ trƣơng đoàn kết các dân tộc thành
một khối thống nhất, bất kỳ ai mà thật thà tán thành hịa bình, độc lập, dân chủ thì
chúng ta đều thật thà đồn kết với họ, khơng có sự phân biệt dân tộc hay tôn giáo. Đây
là một phát hiện của Hồ Chí Minh về vai trị, sứ mệnh và khả năng thực thi nhiệm vụ
cách mạng giải phóng dân tộc của giai cấp nông dân và công nhân ở các nƣớc thuộc địa
nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Thứ hai, đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất là sự sáng tạo độc đáo của
Hồ Chí Minh. Với mục tiêu đƣa tới sự ra đời chính đảng của giai cấp cơng nhân, “Liên
đồn những ngƣời cộng sản” do Mác và Ăngghen xây dựng đã trở thành trung tâm
quốc tế đầu tiên lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân các nƣớc, Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản (3/1848) đƣợc coi là “bản khai sinh” của tổ chức quốc tế đầu tiên
này, là nền tảng tƣ tƣởng và kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế. Cùng với sự phát triển về mọi mặt của giai cấp công nhân và yêu
cầu mới của cuộc đấu tranh giai cấp, giai cấp cơng nhân và những ngƣời cộng sản trên
tồn thế giới đã có nhiều sáng tạo về hình thức tổ chức nhƣ Quốc tế I (1864 - 1889),
Quốc tế II (1889 - 1914), Quốc tế III (Quốc tế cộng sản 1919 - 1943) sau này đến các
hình thức tổ chức quốc tế tƣơng đƣơng nhƣ Cục Thông tin quốc tế, Hội nghị các đảng
cộng sản và công nhân quốc tế, Diễn đàn thƣờng niên của các đảng cộng sản và công
nhân quốc tế... Sự phối hợp hành động cách mạng không chỉ đƣợc hiểu là những biểu
hiện, gần gũi nhất là sự ủng hộ, giúp đỡ, phối hợp hành động giữa giai cấp công nhân
của các dân tộc đã đƣợc đoàn kết lại nhƣ Lênin từng trao nhiệm vụ cho Quốc tế III:
“Quốc tế cộng sản còn phải xác định và chứng minh trên lý luận cho một nguyên tắc là:
với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nƣớc tiên tiến, các nƣớc lạc hậu có thể tiến tới
chế độ Xô viết và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản,
không phải trải qua giai đoạn phát triển tƣ bản chủ nghĩa”20 mà sự phối hợp hành động
19
20
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.245.
V.I. Le nin (1976), Toàn tạ p, tập 41, Nxb Tiến bọ , Mátxcơva, tr. 294-295.
263
|
Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
ấy còn bao gồm cả sự kết hợp cuộc cách mạng của giai cấp cơng nhân chính quốc với
các phong trào dân tộc, dân chủ.
Với Hồ Chí Minh, Mặt trận là một liên minh chính trị nhằm đoàn kết rộng rãi các
tổ chức yêu nƣớc vào một khối thống nhất, đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội. Mặt trận là phƣơng tiện để thực hiện mục đích đồn kết. Mặt trận dân tộc
thống nhất đƣợc xây dựng phải đảm bảo hai yêu cầu: Mặt trận phải lấy liên minh công
- nông - trí làm nền tảng và phải đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng. Trong liên minh công nông - trí phải lấy cơng - nơng làm nịng cốt. Để đảm bảo mặt trận phát triển bền vững
lâu dài, phải đảm bảo yếu tố cần là có Liên minh cơng - nơng - trí vững chắc; mặt khác,
Mặt trận phải đoàn kết với các tầng lớp yêu nƣớc khác để mở rộng tổ chức, mở rộng
khối đại đoàn kết, đây là yếu tố đủ. Khơng những thế, phải có Đảng của giai cấp công
nhân lãnh đạo nhằm tăng cƣờng khối đại đoàn kết trong Mặt trận.
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam, ở mỗi thời kỳ, Đảng đều tổ chức và
xây dựng Mặt trận với nhiều tên gọi khác nhau, nhƣ: Hội Phản đế (1930), Mặt trận Dân
chủ (1936), Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Liên Việt (1951), Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam (1955 ở miền Bắc), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960
ở miền Nam). Khi cả nƣớc thống nhất đến nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1976).
Nhấn mạnh vai trò của Mặt trận với tƣ cách là một tổ chức để tập hợp lực lƣợng, Hồ
Chí Minh viết: “Đồn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng
Tháng Tám thành công, lập nên nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hịa. Đồn kết trong
Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hịa bình ở Đơng
Dƣơng, hồn tồn giải phóng miền Bắc. Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
nhân dân ta đã giành đƣợc thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội
chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”21.
Thứ ba, Hồ Chí Minh xây dựng được nguyên tắc đoàn kết và phương pháp đoàn
kết phù hợp với cách mạng Việt Nam. Về nguyên tắc đoàn kết, Hồ Chí Minh xây dựng
bốn nguyên tắc cơ bản. Một là, đoàn kết phải đƣợc xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa
lợi ích của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội; giữa
lợi ích dân tộc và quốc tế. Ngƣời nhấn mạnh, tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do. Dân tộc Việt Nam có quyền
đƣợc hƣởng tự do, độc lập: “Nƣớc độc lập mà dân không hƣởng hạnh phúc, tự do thì
21
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.452.
|264
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020)
độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”22, mặt khác: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của
độc lập khi mà dân đƣợc ăn no, mặc đủ”23. Với Hồ Chí Minh, đồn kết quốc tế là điều
kiện đảm bảo, ổn định của đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, đoàn kết quốc tế phải dựa trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổ của nhau, khơng xâm
phạm vào cơng việc nội bộ của nhau, ln đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết,
trƣớc hết, phấn đấu vì hịa bình, ổn định và phát triển. Hai là, nguyên tắc tin vào dân,
dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong
bầu trời khơng gì q bằng nhân dân. Trong thế giới khơng gì mạnh bằng lực lƣợng
đồn kết của nhân dân”24. Tin vào dân, dựa vào dân vừa là sự kế thừa, nâng cao tƣ duy
chính trị truyền thống dân tộc “lấy dân làm gốc”, “gốc có vững cây mới bền, xây lầu
thắng lợi trên nền nhân dân”25 vừa là sự quán triệt nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Ba là, ngun tắc đồn kết một cách
tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đồn kết lâu dài, chặt chẽ. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đồn
kết của ta khơng những rộng rãi mà cịn đồn kết lâu dài. Đồn kết là một chính sách
dân tộc, khơng phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đồn kết để đấu tranh cho thống nhất
và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nƣớc nhà”26. Đoàn kết phải
là một tập hợp lâu dài dựa trên nền tảng là khối liên minh cơng - nơng - trí, là khối bền
vững của các lực lƣợng xã hội có định hƣớng, có tổ chức, có Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Bốn là, đoàn kết phải đƣợc xây dựng trên nguyên tắc chân thành, thẳng thắn, thân ái;
đoàn kết phải gắn với tự phê bình và phê bình. Hai vấn đề Hồ Chí Minh đặc biệt quan
tâm là đoàn kết dân tộc và đồn kết tơn giáo. Đồn kết vừa phải có lịng nhân ái, khoan
dung: “Sơng to, biển rộng, thì bao nhiêu nƣớc cũng chứa đƣợc, vì độ lƣợng nó rộng và
sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nƣớc cũng đầy tràn, vì độ lƣợng của nó hẹp
nhỏ...”27, vừa phải có đấu tranh, có phê bình, đó là cơ sở để củng cố đoàn kết: “Đoàn
kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình
những cái sai của nhau và phê bình trên lập trƣờng thân ái, vì nƣớc, vì dân”28. Tự phê
bình và phê bình phải chân thành, thẳng thắn, thân ái, có lý, có tình, phê bình việc chứ
22
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.64.
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,tr.175.
24
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.453.
25
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.502.
26
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.245.
27
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.130
28
Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.362.
23
265
|
Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
khơng phê bình ngƣời, có nhƣ vậy mới khắc phục đƣợc khuyết điểm và phát huy đƣợc
những ƣu điểm.
Về phương pháp đoàn kết. Để xây dựng khối đại đoàn kết xã hội tạo động lực cho
sự phát triển, theo Hồ Chí Minh, phải nắm vững ba phƣơng pháp cơ bản sau. Một là,
phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục. Đây là phƣơng pháp đầu
tiên, cơ bản nhằm thức tỉnh mọi ngƣời tự nguyện tự giác tham gia đoàn kết thành một
khối. Tuy nhiên, để tuyên truyền đạt hiệu quả cao nhất cần phải chú ý tới nội dung
tuyên truyền và phƣơng pháp tuyên truyền. Hai là, về phương pháp tổ chức, theo Hồ
Chí Minh cần phải có phƣơng pháp tổ chức khoa học, củng cố, phát triển hệ thống
chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà nƣớc, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Trong đó,
Đảng cộng sản: Là hạt nhân lãnh đạo khối đồn kết, đề ra đƣợc đƣờng lối đoàn kết
đúng đắn; Đảng phải đoàn kết, thống nhất cả trong tƣ tƣởng lẫn hành động, từ trên
xuống dƣới; Đảng phải là một tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, tự giác, thực hiện tốt các
nguyên tắc sinh hoạt Đảng kiểu mới; đảng viên “là ngƣời đày tớ thật trung thành của
nhân dân”, “phải giữ gìn sự đồn kết nhất trí của Đảng nhƣ giữ gìn con ngƣơi của mắt
mình”. Nhà nước: Nhà nƣớc là ngƣời tổ chức, quản lý, điều hành mọi hoạt động của
đời sống xã hội, mỗi chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc đều tác động trực tiếp đến
cuộc sống, lợi ích, tâm tƣ, tình cảm của nhân dân. Phải xây dựng Nhà nƣớc thật sự là
của dân, do dân, vì dân; khơng ngừng cải cách bộ máy hành chính và hồn thiện hệ
thống pháp luật. Cán bộ cơng chức nhà nƣớc phải tận tụy, trung thành phục vụ nhân
dân, phải là “công bộc của dân”. Mặt trận và các đoàn thể quần chúng: Là sợi dây gắn
kết Đảng với dân. Vì vậy, Cƣơng lĩnh đề ra phải thiết thực, ngắn gọn, rõ ràng; hình
thức tổ chức phải phong phú, đa dạng, phù hợp với trình độ nhận thức của quần chúng;
Cán bộ phải óc nghĩ, chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm và đặc biệt, phải
làm tốt công tác dân vận. Ba là, về phƣơng pháp xử lý và giải quyết các mối quan hệ.
Trong cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp, tƣơng quan lực lƣợng bao giờ cũng đƣợc phân
định thành ba tuyến: Cách mạng - trung gian - phản cách mạng. Với lực lượng cách
mạng, phải xây dựng đƣợc khối đoàn kết, thống nhất, là điều kiện tiên quyết giúp cho
việc thu hút, tập hợp lực lƣợng trung gian vào trận tuyến cách mạng, cô lập lực lƣợng
thù địch cần khai thác. Muốn vậy, cần phát huy những điểm thống nhất, tƣơng đồng;
hạn chế, khắc phục tiến tới xóa bỏ dần những khác biệt giữa các thành viên. Với lực
lượng trung gian, cần xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, cổ vũ ý thức dân tộc, tinh thần
yêu nƣớc; chân thành hợp tác, trọng dụng những ngƣời có tài, có đức ra giúp dân, giúp
nƣớc. Với lực lượng phản cách mạng, bên cạnh việc chủ động, kiên quyết đấu tranh
trên cơ sở phân hóa cô lập cao độ cũng cần phải chú ý khai thác mâu thuẫn trong nội bộ
|266
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020)
kẻ thù, lôi kéo những ngƣời có thể tranh thủ đƣợc, đồng thời tạm hịa hỗn có ngun
tắc với những lực lƣợng, bộ phận có thể hịa hỗn đƣợc.
III. KẾT LUẬN
Đồn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lƣợc, nhân tố cơ bản quyết định sự
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, từ khi
Đảng ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh ln kế thừa và phát
triển sáng tạo tƣ tƣởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết, thi hành đƣờng lối
đoàn kết nhất quán, đúng đắn, có hình thức tổ chức phù hợp, phát huy đƣợc truyền
thống yêu nƣớc, đoàn kết của dân tộc, của quốc tế tạo thành sức mạnh vô địch cho cách
mạng. Công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế trong xu hƣớng tồn cầu hóa và hội nhập
quốc tế đƣa đến sự biến đổi sâu sắc về các giá trị truyền thống, giá trị liên kết cộng
đồng trong xã hội. Do đó, việc nghiên cứu tƣ tƣởng đồn kết của Hồ Chí Minh chỉ ra
việc kế thừa, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cơ sở cho sự phát triển xã
hội có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đúng nhƣ Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (đƣợc bổ sung, phát triển năm 2011) đã đúc kết một
trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam là: “Khơng ngừng củng cố, tăng
cƣờng đồn kết tồn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là
truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nƣớc ta”29.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C. Mác và Ph. Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, tập 3, tập 4, Nxb Sự thật,
Hà Nội.
2. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (2011), Tồn tập, tập 4, tập 5, tập 6, tập 7, tập 8, tập 9, tập 10,
tập 11, tập 12, tập 13, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 2, tập 16, tập 23, tập 30, tập 38, tập 41, Nxb
Tiến bộ, Mátxcơva.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị
quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.66.
29
267
|