Tải bản đầy đủ (.pdf) (2 trang)

Mỹ Thuật Đồ Đồng ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (125.17 KB, 2 trang )

Mỹ Thuật Đồ Đồng ở Việt Nam
Cập nhật: Thứ hai, 08/06/2015 08:25:03
Là một nghề thủ cơng truyền thống đã có lịch sử hàng nghìn năm, nghệ thuật đúc đống ở Việt Nam
đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và đạt được đến độ đỉnh cao vào thế kỷ XIX, XX.

Nghệ thuật đúc đồng xuất hiện từ thời Phùng Nguyên, phát triển rực rỡ dưới thời đại Đông Sơn cách nay
gần 3 nghìn năm, tiêu biểu cho thời kỳ này có trống đồng Ngọc Lũ. Từ thời Lý – Trần đến các thời Lê,
Nguyễn, nghệ thuật đúc đồng ở Việt Nam càng phát triển mạnh mẽ tạo nên những dòng sản phẩm đồng đa
dạng.
Thửa sơ khai, nghệ thuật đúc đồng được hình thành chủ yếu từ nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống. Người
dân đã tạo nên các sản phẩm để phục vụ sinh hoạt hàng ngày như nồi, bát, cốc, những dụng cụ săn
bắn…Sau đó dần dần phát triển thêm những sản phẩm trưng bày, trang sức. Sản phẩm đồ đồng thờ cúng
cũng được phát triển từ tín ngưỡng thờ cúng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nhu cầu thờ cùng cũng
góp phần thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề thủ cơng trong đó đặc biệt là nghề đúc đồng. Những sản
phẩm như bát nhang, lư hương, chân nến, tượng Phật…được các làng đúc đồng và các nghệ nhân tạo ra
để phục vụ tín ngưỡng thờ cùng thiêng liêng của người Việt với kiểu dáng vô cùng đa dạng. Trong cả những
giai đoạn mà sản phẩm gia dụng đồ đồng khơng cịn thịnh hành thì sản phẩm đồ đồng thờ cùng vẫn được
ưa chuộng.
Tuy mỗi làng nghề, mỗi gia đình có nghề đúc đồng truyền thống sẽ có một bi quyết riêng để tạo dấu ấn cho
sản phẩm song kỹ thuật đúc đồng nhìn chung vẫn theo những bước cơ bản. Đầu tiên là tạo mẫu, người thợ
sẽ dùng đất sét hay thạch cao dẻo để tạo thành mẫu đã định sẵn. Bước thứ hai là tạo khuôn, dùng đất phù
sa trộn đất sét, tro trâu và bơng vụn đắp ngồi vật mẫu. Thứ ba, nấu chảy nguyên liệu: dùng đồng vụn và
các hợp kim với tỉ lệ phù hợp đun nóng chảy và trộn lẫn với nhau. Tiếp theo là rót khn, đây là khâu khó
nhất và địi hỏi trình độ của tay nghề cao của người thợ. Bước cuối cùng là hoàn thiện sản phẩm, sau khi
nguội, dỡ sản phẩm ra khỏi khuôn, mài, giũa, đục, chạm, tách và đánh bóng theo ý tưởng của nghệ nhân.


Để sản phẩm mượt mà, sáng bóng khơng bị gờ, khơng lẫn đồng sóng hay đồng cháy phụ thuộc nhiều vào
khả năng của những người thợ. Sản phẩm sau khi hồn tất phải đồng sắc – đồng khí mới đạt u cầu kỹ
thuật. Cịn về tính nghệ thuật lại địi hỏi cao trong khâu chế tác, những chi tiết chạm trổ hay tạo hình sản
phẩm là yếu tố cốt lõi tạo thành giá trị nghệ thuật.


Nhìn lại những tác phẩm nổi tiếng của lịch sử có thể thấy rõ sự phát triển của nghệ thuật đúc đồng mà sau
này được nâng lên thành riêng ngành mỹ thuật đồ đồng ở Việt Nam. Trống đồng Ngọc Lũ là tác phẩm tiêu
biểu của nghệ thuật đúc đồng từ thời kỳ Đông Sơn. Sản phẩm tiêu biểu cho thời nhà Nguyễn là Cửu đỉnh và
Cửu vị thần công hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế. Hiện vật này cũng đã được
Thủ tướng Chính Phủ cơng nhận là Bảo vật Quốc gia trong đợt công nhận thứ nhất ngày 01/10/2012. Bên
cạnh đó khơng thể khơng nhắc đến Tượng thánh Trấn Vũ bằng đồng đen đặt ở đền Quan Thánh, Hà Nội.
Đây là bức tượng được đúc bằng đồng đen, cao 3.96 mét với chu vi 8 mét và nặng tới 4 tấn.
Tuy có kích thước lớn như vậy nhưng tượng Tượng thánh Trấn Vũ không phải là pho tượng đồng lớn nhất.
Pho tượng đồng lớn và đẹp nhất ở Việt Nam hiện nay là tượng Phật A Di Đà tại chùa Thần Quang. Pho
tượng này do các nghệ nhân làng Ngũ Xã, Hà Nội đúc trong những năm 1949 -1952. Nếu tính cả tịa sen 96
cánh, pho tượng này cao khoảng 5,5 mét; với trọng lượng 12 tấn.
Qua lịch sử hàng nghìn năm kể từ khi xuất hiện cho đến nay, khắp trên dải đất hình chữ S đã có rất nhiều
làng nghề đúc đồng phát triển. Các làng nghề này cũng tự tìm tịi và tạo hướng đi riêng biệt chuyên sâu của
làng với những dòng sản phẩm chủ chốt như: gò đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh); đúc đồng Đền Cầu (Bắc
Ninh) và Đông Mai (Văn Lâm, Hưng Yên); đúc đồng Huế; đúc lư hương Tân Hồ Đơng và dát đồng tam khí
Hồ Hưng (Thành phố Hồ Chí Minh) và các làng nghề khác thuộc các tỉnh Hải Phịng, Hải Dương, Nam
Định, Thanh Hố…
Chính những người thợ thủ công từ các làng nghề này đã mang tinh hoa nghề của họ đến đất Thăng Long
để rồi hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã - nổi tiếng hơn 500 năm qua. Vào thế kỷ thứ XIX, làng Ngũ Xã được
coi là trung tâm đúc đồng lớn và nổi tiếng nhất cả nước.
Hiện nay, các sản phẩm đúc đồng chủ yếu vẫn là những sản phẩm thờ cúng và đồ trưng bày. Đồ gia dụng
bằng đồng khơng cịn phổ biến và ít được người dân sử dụng. Mặc dù vậy, các làng nghề đúc đồng truyền
thống trên cả nước trong đó đặc biệt có làng Ngũ Xã vẫn phát triển mạnh mẽ. Nghề đúc đồng cũng là một
trong số ít những nghề truyền thống khơng những vẫn tồn tại mà còn ngày càng phát triển ở Việt Nam.
Cũng chính vì thế mà mỹ thuật đồ đồng trở thành một loại hình riêng góp phần khơng nhỏ vào sự đa dạng
của các loại hình mỹ thuật ở Việt Nam.

Nguồn: Cinet.vn




×