HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN CHÍNH TRỊ HỌC
BÀI THU HOẠCH
MƠN: CHÍNH TRỊ HỌC
VĂN HĨA CHÍNH TRỊ TRONG SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Học viên: NGUYỄN TRUNG SƠN
Mã số học viên: ................
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT K70-C04
HÀ NỘI - 2020
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................3
1. Cơ sở hình thành và phát triển của văn hố chính trị Việt Nam........................3
2. Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam....8
3. Định hướng xây dựng văn hóa chính trị trong giai đoạn hiện nay..................12
KẾT LUẬN.........................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................18
MỞ ĐẦU
Văn hóa chính trị của mỗi quốc gia được nhìn nhận là một cấu trúc
phức tạp bao gồm những tri thức đa dạng về các lĩnh vực của đời sống chính
trị, xã hội; sự định hướng tư tưởng, tình cảm, niềm tin và thái độ, hành vi
chính trị. Văn hố chính trị khơng phải là bản thân chính trị, bản thân văn hoá,
hay là sự tổng hợp đơn giản của hai lĩnh vực này, mà đó là chính trị bao hàm
tính văn hóa từ bản chất bên trong của nó, là những giá trị văn hóa được biểu
hiện trong đời sống chính trị.
Văn hóa chính trị hướng đến những giá trị nhân văn cao cả của đời
sống chính trị, đó là những giá trị dân chủ, hướng tới mục đích cao nhất là vì
con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người, tạo điều kiện
cho con người phát triển tự do, tồn diện, hài hịa. Đây là tính nhân văn sâu
sắc của một nền chính trị có văn hóa.
Văn hóa chính trị tác động đến đời sống chính trị cũng giống như tác
động của văn hóa đến đời sống xã hội nói chung. Đó là sức mạnh không dựa
vào quyền lực hay ép buộc mà thông qua cảm hóa, khơi dậy tinh thần sáng
tạo, ý thức tự giác của các tầng lớp xã hội, thơng qua lịng tự tôn của mỗi cá
nhân, mỗi cộng đồng.
Những yếu tố làm nên nét đặc sắc của văn hóa chính trị Việt Nam là ý
thức độc lập dân tộc, tự lực tự cường, tinh thần yêu nước, đoàn kết cộng đồng
đã trở thành nội dung bền vững mang tính truyền thống của văn hóa chính trị
Việt Nam; là lịng tự hào, tự tôn dân tộc, nền văn hiến quốc gia, tinh thần yêu
nước, đoàn kết, phát huy nội lực, sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, gắn
liền với việc coi trọng, tôn vinh hiền tài đã tạo nên sức sống của văn hóa
chính trị; là sự tơn trọng đạo lý, tơn trọng chính nghĩa, bảo vệ cơng lý, ý chí
quật cường dân tộc, lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, vị tha. Những nét
đẹp đó đã tác động, ảnh hưởng, làm cho văn hóa chính trị Việt Nam mang tính
1
nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Tất cả những giá trị căn bản này tạo nên nét đẹp
của văn hóa chính trị của con người Việt Nam và cũng là những giá trị đạo
đức tốt đẹp được lưu truyền qua các thế hệ.
Với mục đích tìm hiểu sâu hơn và có nhận thực đầy đủ về vấn văn hóa
chính trị ở Việt Nam, em chọn vấn đề “Văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam” làm nội dung bài thu hoạch hết mơn của mình.
Nội dung bài thu hoạch nghiên cứu kỹ hơn các nội dung chủ yếu về văn
hóa chính trị, biểu hiện của văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng cộng
sản Việt Nam và một số định hướng trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, bài thu
hoạch được kết cấu thành 3 phần:
1) Sự hình thành và phát triển của văn hóa chính trị Việt Nam.
2) Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
3) Định hướng xây dựng văn hóa chính trị trong giai đoạn hiện nay.
2
NỘI DUNG
1. Sự hình thành và phát triển của văn hố chính trị Việt Nam
Văn hố chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hố là khái niệm
nói về sự thẩm thấu của văn hố vào chính trị, là chính trị có tính văn hố.
Như vậy, văn hố chính trị khơng phải là bản thân chính trị, bản thân văn hoá,
hay là sự cộng gộp giản đơn hai lĩnh vực này, mà đó là chính trị bao hàm tính
văn hố từ bản chất bên trong của nó. Biểu hiện của văn hố chính trị thể hiện
ở hai phương diện cơ bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới
mục đích cao nhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con
người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà. Đây là
tính nhân văn sâu sắc của một nền chính trị có văn hố.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm
trừu tượng mà phải thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là
nó phải thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện qua đường lối chính
sách của đảng cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc
triển khai các kế hoạch cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống
của cá nhân cũng như của cộng đồng xã hội.
Văn hóa chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển trên cơ sở sau:
Thứ nhất, công cuộc xây dựng đất nước, sự gắn bó giữa con người với
thiên nhiên, với quê hương xứ sở và lịch sử đấu tranh chống thiên tai.
Đây là cơ sở chung của tình yêu đất nước đối với nhân dân của mọi
quốc gia - dân tộc; đồng thời cũng là cơ sở chung của văn hóa chính trị Việt
Nam truyền thống và hiện đại.
Việt Nam với vị trí địa lý và đặc điểm về địa hình, khí hậu, tài nguyên,
sinh thái, là một thiên nhiên nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng, chứa đựng
nhiều tiềm năng to lớn nhưng cũng đặt ra khơng ít thách thức đối với con
3
người. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, con người vừa thích nghi, vừa
khai phá tài nguyên và mặt thuận lợi của thiên nhiên để mở mang đồng ruộng,
xóm làng, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp với các nghề
thủ công, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán... Mặt khác, con người cũng phải liên
kết lại trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên, chống
thiên tai... Từ rất sớm, nhân dân ta đã biết đắp đê sông, đê biển để chống lũ
lụt, bão tố; đào kênh, khơi mương, làm thủy lợi để chống hạn hán, tưới tiêu
cho đồng ruộng. Công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội
trong những đặc điểm của thiên nhiên Việt Nam đã sớm tạo nên sự gắn bó
cộng đồng, sự gắn bó với quê hương, xứ sở. Đó chính là cơ sở của tình yêu
đất nước, của tình cảm và là cơ sở hình thành, phát triển của văn hóa chính trị
Việt Nam.
Thứ hai, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
Tính đặc thù và đặc biệt của chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam
biểu thị tập trung ở chỗ: Hiếm có dân tộc nào trên thế giới phải chống ngoại
xâm nhiều lần như Việt Nam. Kể từ kháng chiến chống Tần thế kỷ III TCN
đến kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và các thế lực
ngoại xâm khác… trong hơn 23 thế kỷ, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước
và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang với những cuộc khởi nghĩa và những
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đã lên đến trên 12 thế kỷ. Điều đáng lưu
ý ở đây là độ dài thời gian, tần số xuất hiện, độ chênh lệch, cường độ, số
lượng các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng quá lớn so
với các nước khác trên thế giới.
Do đó, con đường sống còn và chiến thắng của dân tộc Việt Nam là
phải biết huy động sức mạnh của toàn dân, của cả đất nước, sức mạnh vật chất
và tinh thần của toàn thể dân tộc. Lịch sử chống ngoại xâm với những đặc
điểm trên đã tác động sâu sắc đến tồn bộ tiến trình lịch sử và sự phát triển
4
của tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường bất
khuất, niềm tự tơn dân tộc, văn hóa chính trị của dân tộc Việt Nam.
Thứ ba, sự tiến triển của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử phát
triển của Việt Nam.
Sự phát triển xã hội luôn luôn diễn ra trong sự tiến triển của các hình thái
kinh tế - xã hội. Trong quy luật vận động chung của xã hội loài người, sự tiến
triển của các hình thái kinh tế - xã hội của mỗi nước mang những nét đặc thù có
ảnh hưởng đến sự phát triển văn hố, ý thức, trong đó có văn hóa chính trị.
Trong thời cổ đại, Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển của chế
độ chiếm hữu nô lệ. Quan hệ nô tỳ, tức chế độ nơ lệ gia trưởng có phát triển
trong mức độ nào đó, nhưng khơng bao giờ trở thành quan hệ chi phối, thống
trị của xã hội và nô tỳ chưa bao giờ giữ vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu của
xã hội.
Chế độ phong kiến Việt Nam cũng mang đặc điểm của chế độ phong
kiến phương Đông và khác với chế độ phong kiến phương Tây. Trong thời kỳ
phong kiến, ở Việt Nam khơng có thời kỳ tồn tại của chế độ lãnh địa với quan
hệ lãnh chúa - nông nô, không trải qua thời kỳ phân quyền cát cứ lâu dài. Đặc
điểm này cũng ảnh hưởng đến sự cố kết cộng đồng và sự phát triển của tinh
thần, ý thức dân tộc và văn hóa chính trị Việt Nam.
Thứ tư, sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá dân tộc.
Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học gần đây cho phép xác nhận
trong thời cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay hình thành ba trung tâm
văn hoá - văn minh dẫn đến sự ra đời của ba nhà nước sơ khai: văn hố Đơng
Sơn với nước Văn Lang - Âu Lạc ở miền Bắc, văn hoá Sa Huỳnh với vương
quốc Champa cổ, văn hố Ĩc Eo với vương quốc Phù Nam. Trải qua nhiều
biến thiên lịch sử, ba dịng văn hố và lịch sử đó hịa nhập vào dịng chảy
5
chung của Việt Nam, lấy dịng văn hố Đơng Sơn với nước Văn Lang - Âu
Lạc làm dòng chủ lưu.
Việt Nam là một nước gồm nhiều thành phần tộc người mà ta quen gọi
chung là nhiều dân tộc, là một quốc gia đa tộc người với 54 dân tộc anh em
cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh (Việt) chiếm 87% dân số. Các dân
tộc thiểu số phần lớn sống ở vùng trung du và miền núi, cũng sống xen kẽ
với nhau. Mỗi dân tộc có vốn văn hố riêng, tạo nên những vùng địa - tộc
người rất phong phú, đa dạng. Nhưng do sự gắn bó lâu đời trong một quốc gia
thống nhất, do yêu cầu chống thiên tai, chống ngoại xâm và do sự giao lưu,
hội nhập văn hố, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vẫn có mẫu số chung của
một nền văn hoá thống nhất trong tính đa dạng, một ý thức chung về vận
mạng cộng đồng.
Việt Nam bao gồm nhiều vùng địa lý với những đặc điểm khác nhau về
địa hình, khí hậu, mơi trường, sinh thái. Những điều kiện tự nhiên đó kết hợp
với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tạo nên những vùng địa - văn hố khác nhau
cũng góp phần tăng thêm tính đa dạng của văn hố Việt Nam. Với vị trí đầu
mối giao thơng tự nhiên của Đơng Nam Á, Việt Nam vừa nối liền với đại lục
vừa nhìn ra đại dương và hải đảo, một khu vực giao tiếp của nhiều nền văn
minh trên thế giới. Văn hoá Việt Nam qua giao lưu và tiếp biến, đã tiếp nhận
nhiều ảnh hưởng văn hố bên ngồi làm phong phú văn hoá dân tộc, nhưng
vẫn giữ bản sắc văn hoá của mình. Đó là tính thích nghi, hội nhập, tiếp biến
và bản lĩnh của văn hoá Việt Nam.
Tinh thần yêu nước, ý thức về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là
một bộ phận tạo thành của văn hoá Việt Nam, vừa kết tinh những giá trị tiêu
biểu, vừa chi phối sự phát triển của nền văn hoá dân tộc nói chung và văn hóa
chính trị Việt Nam nói riêng.
6
Thứ năm, quá trình thống nhất quốc gia và hình thành sớm của dân tộc
Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam ra đời khơng chỉ trên cơ sở phân hóa xã hội, phân
hóa giai cấp, mà chủ yếu cịn do u cầu của lịch sử , đó là phải có một tổ chức
đứng ra để tập hợp lực lượng, để chỉ huy dân tộc xây dựng và quản lý các cơng
trình đê điều, thủy lợi và yêu cầu tự vệ chống ngoại xâm. Quá trình hình thành,
phát triển của nhà nước gắn liền với quá trình thống nhất quốc gia.
Việc sử dụng quyền lực nhà nước ở thời kỳ dựng nước cũng không phải
chủ yếu là để thống trị giai cấp, mà chủ yếu là để cố kết dân tộc, tập hợp lực
lượng, chỉ huy dân tộc đánh giặc ngoại xâm và chống thiên tai xây dựng đất
nước. Đây là những nét độc đáo mang đậm tính nhân văn sâu sắc của lịch sử
chính trị Việt Nam. Nó hình thành quy luật cơ bản của chính trị Việt Nam, của
văn hóa chính trị Việt Nam - Đồn kết mang đậm tính nhân văn.
Quá trình thống nhất quốc gia và thống nhất dân tộc sớm tác động sâu
sắc đến sự phát triển của tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc, tạo nên tinh
thần đoàn kết dân tộc và sự cố kết cộng đồng mang tính dân tộc, chưng cất
nên đặc trưng của văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa chính trị Việt Nam
nói riêng.
Những yếu tố làm nên nét đặc sắc của văn hóa chính trị Việt Nam là ý
thức độc lập dân tộc, tự lực tự cường, tinh thần yêu nước, đoàn kết cộng đồng
đã trở thành nội dung bền vững mang tính truyền thống của văn hóa chính trị
Việt Nam; là lịng tự hào, tự tơn dân tộc, nền văn hiến quốc gia, tinh thần yêu
nước, đoàn kết, phát huy nội lực, sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, gắn
liền với việc coi trọng, tôn vinh hiền tài đã tạo nên sức sống của văn hóa
chính trị; là sự tơn trọng đạo lý, tơn trọng chính nghĩa, bảo vệ cơng lý, ý chí
quật cường dân tộc, lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, vị tha. Những nét
đẹp đó đã tác động, ảnh hưởng, làm cho văn hóa chính trị Việt Nam mang tính
7
nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Tất cả những giá trị căn bản này tạo nên nét đẹp
của văn hóa chính trị của con người Việt Nam và cũng là những giá trị đạo
đức tốt đẹp được lưu truyền qua các thế hệ.
2. Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam
Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh là mục tiêu mang đậm tính văn hóa chính trị nhân văn sâu
sắc, mà đất nước ta, nhân dân ta vươn tới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam - Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Nét văn hóa chính trị
trong sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, về lựa chọn giá trị, Đảng ta khẳng định để xây dựng nền văn
hóa chính trị Việt Nam tiên tiến, hiện đại, cần kế thừa các giá trị văn hóa
chính trị truyền thống tốt đẹp được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và
giữ nước, kế thừa các giá trị văn hóa chính trị tinh hoa của các nước trên thế
giới, trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Chính vì cách lựa chọn giá trị như
vậy nên trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp
đổ vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn kiên định chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, đồng thời chủ trương thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất
nước. Đảng cũng khẳng định chúng ta “đổi mới” nhưng tuyệt đối không "đổi
màu". Bản chất nền chính trị của chúng ta là khoa học, cách mạng, dân chủ và
nhân văn. Đó là nền chính trị phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân, hướng tới
mục đích "dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh". Mục
tiêu ấy không chỉ phù hợp với nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam,
của lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa, mà còn là mục tiêu cao đẹp mà nhân
loại tiến bộ hướng tới.
Thứ hai, trong đường lối xây dựng và phát triển kinh tế, Đảng chủ
8
trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc xây
dựng một nền kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế khách quan, bởi kinh tế
thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, phát huy sức sản xuất, khơi dậy
tính năng động, sáng tạo của con người, tính hiệu quả trong việc sử dụng hợp
lý các nguồn lực...Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có rất nhiều mặt trái, đó
là sự cạnh tranh tàn khốc “cá lớn nuốt cá bé"; tạo ra sự bất cơng, bất bình
đẳng, phân hóa giàu nghèo, phân cực trong xã hội; khai thác cạn kiệt môi
trường, tài nguyên vì mục tiêu lợi nhuận kinh tế thuần túy; làm băng hoại
nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp; làm quan hệ con người với con người trở nên
sòng phẳng, lạnh lùng hơn; làm phai nhạt những giá trị văn hóa truyền
thống... Việc Đảng ta xác định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa chính là để khắc phục những hạn chế vốn có của nền kinh tế thị
trường. Đây là khía cạnh văn hố của tăng trưởng kinh tế: tăng trưởng phải
gắn liền với việc đảm bảo quyền lợi của đa số nhân dân lao động, với tiến bộ
và thực hiện công bằng xã hội.
Thứ ba, trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân. Việc khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân đã được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam 1992. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: "Nhà nước ta là
công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực của nhà nước là thống nhất là của
dân, khơng phân chia nhưng có sự phân cơng và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, cơng chức,
mọi cơng dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật". Việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là hợp quy luật phát triển
của lịch sử vì "suy cho cùng chính là nhằm thực hiện dân chủ. Pháp luật của
9
Nhà nước ta luôn luôn là công cụ mạnh mẽ và có hiệu lực đối với việc dân
chủ hố mọi mặt của đời sống xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền cơng
dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội...".
Tinh thần dân chủ trong tư duy chính trị của Đảng được thể hiện rất rõ
ở tư tưởng lấy “dân làm gốc”, và, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Một nền chính trị nhân văn phải là nền chính trị tơn trọng quyền lợi của đa số
nhân dân, thực sự do dân làm chủ, nhà nước là cơ quan được ủy quyền để
thực thi quyền lực nhân dân, để thực hiện lợi ích và nguyện vọng chính đáng
của nhân dân. Những bước tiến trong nhận thức lý luận và tư duy chính trị của
Đảng được thể hiện rõ trong hàng loạt các văn kiện ban hành trong thời kỳ đổi
mới. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (năm 1991) đã chính thức sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị". Hệ
thống chính trị của chúng ta được vận hành theo cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý và nhân dân làm chủ".
Để tăng cường vai trò của Nhà nước và sự nghiêm minh của pháp luật,
Nhà nước đã ban hành nhiều luật khác nhau, nhằm làm cho mọi người sống
và làm việc theo pháp luật. Chủ trương cải cách bộ máy hành chính, trưng cầu
ý kiến rộng rãi của nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội chính là những bước tiến đáng chú ý của văn
hố chính trị trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hồ
bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn,
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào
tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Phát triển quan hệ với tất cả các nước,
các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn
10
trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các
bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hịa bình; tơn trọng lẫn nhau,
bình đẳng và cùng có lợi. Với đường lối và chính sách đối ngoại rộng mở đó
đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ kinh tế - thương mại với trên 170 quốc
gia, nền kinh tế, đã ký kết khoảng 60 hiệp định kinh tế - thương mại song
phương, trong đó có tồn bộ các nước, nền kinh tế phát triển, thị trường lớn.
Chúng ta ngày càng hoạt động tích cực và hiệu quả, nâng cao vị thế đất nước
trong các thể chế hợp tác quốc tế.
Thứ năm, xác định “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”. Để lãnh
đạo đất nước nắm bắt cơ hội, vượt qua khó khăn, đạt được mục tiêu cao cả đã
đề ra, Đảng - người lãnh đạo đất nước, phải có một đội ngũ cán bộ có văn hóa
chính trị cao, có trình độ và khả năng thực hiện các nội dung chính trị một
cách văn hóa. Chính vì thế, Đảng ln tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng,
làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đồn kết và uy tín của
Đảng trong nhân dân. Bản chất văn hố chính trị tiến bộ cũng xa lạ với tệ
quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng phí. Trong những năm đổi mới vừa qua,
Đảng ta đã tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán
bộ, đảng viên, giữ vững sự đồn kết và uy tín của Đảng, củng cố, và giữ vững
niềm tin trong nhân dân. Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định: "Đảng ta
coi việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng là
yêu cầu quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, là công việc
thường xuyên bảo đảm cho Đảng ta luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng".
Tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi trọng phản biện xã hội,
mở rộng dân chủ trong tất cả các lĩnh vực, xây dựng và từng bước hoàn thiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa... đã tạo nên những tiền đề, động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng tiến triển mạnh mẽ.
11
3. Định hướng xây dựng văn hóa chính trị trong giai đoạn hiện nay
Cơ chế thị trường đã mở ra khả năng tiềm tàng giải phóng mọi năng
lực của con người, gạt bỏ những cái cũ kỹ, lạc hậu, cổ vũ cho những cái mới,
hợp quy luật. Sự phá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp đã tạo đà cho
những chuẩn mực đạo đức mới ra đời và phát triển.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường có những mặt trái dễ làm cho con
người sa ngã trước những cám dỗ, lợi ích vật chất, những chuẩn mực đạo đức
truyền thống bị xem nhẹ. Sự suy thoái đạo đức đang diễn ra trong xã hội, đặc
biệt là trong một bộ phận khơng nhỏ cán bộ, cơng chức. Khơng ít những vụ
việc tiêu cực trong thời gian qua đã chứng tỏ điều đó.
Vấn đề đặt ra cho xã hội ta hiện nay là vừa phát triển kinh tế thị trường,
vừa giữ vững được những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, vừa xây
dựng được các quan hệ và phẩm chất mới phù hợp với thời đại mới của sự
phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoạt
động công vụ gắn với quyền lực của nhà nước, tác động trực tiếp đến đời
sống xã hội, do vậy, nếu đạo đức người cán bộ, cơng chức được xem trọng sẽ
góp phần đưa xã hội phát triển, ngược lại, nó sẽ là một trở lực đối với sự phát
triển chung.
Hiện nay, có nhiều nguyên nhân tác động đến đạo đức của người cán
bộ, công chức và cũng là nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế của văn
hóa chính trị, trong đó có vấn đề thuộc về chủ quan của người cơng chức,
như: thiếu được rèn luyện, thiếu tuân thủ những quy định của các quy tắc ứng
xử trong nền công vụ; nhưng cũng có những yếu tố khách quan từ bên ngồi
tác động làm cho người cơng chức khó tn thủ những chuẩn mực bắt buộc về
đạo đức, về hành vi xử sự và tự tạo ra những hành vi mới.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái đạo đức là sự du
nhập của lối sống thực dụng trong một bộ phận dân cư cũng như ảnh hưởng
12
của cơ chế kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường kích thích cái “tơi” một cách
thái q và là tác nhân làm mất cân đối, thậm chí làm lệch lạc trong sự phát
triển nhân cách. Điều này khiến cho những giá trị của văn hóa chính trị khơng
được chú trọng. Có quan niệm cho rằng, trong điều kiện nền kinh tế thị trường
cạnh tranh khốc liệt hiện nay nói đến lý tưởng, niềm tin… thì thật xa vời và
thiếu thực tế. Từ đó, họ chuyển sang lối sống thực dụng một cách triệt để. Lối
sống thực dụng chắc chắn sẽ là sai lầm, khơng sớm thì muộn cũng sẽ bị trả
giá. Vì mỗi cá nhân chỉ có thể đạt được hạnh phúc khi có sự hài hịa, cân đối
trong quan niệm về vật chất và tinh thần, giữa cá nhân và xã hội, giữa hiện đại
và truyền thống.
Một trong những yếu tố cấu thành của văn hóa chính trị nói chung và
đạo đức người cơng chức nói riêng là niềm tin, lý tưởng, niềm tự hào dân tộc,
ý thức tự tôn dân tộc. Tuy nhiên, bởi sự ảnh hưởng của lối sống thực dụng,
điều này dường như đang bị lu mờ. Sự sùng ngoại, sẵn sàng tiếp thu văn hóa
nước ngồi mà khơng chọn lọc, cân nhắc dễ dẫn đến hậu quả là đánh mất
niềm tự hào dân tộc, sự tự trọng vốn có của mỗi con người Việt Nam ở một
bộ phận không nhỏ người dân, nhất là ở các đô thị cũng như trong bộ phận
không nhỏ cán bộ, công chức. Một số người chỉ chú ý đến đời sống vật chất
mà quên mất các giá trị văn hóa, tinh thần và trở thành những con người cằn
cỗi về tâm hồn, ốm yếu về nhân cách.
Muốn xây dựng văn hóa trong chính trị, phải chú trọng xây dựng con
người, hồn thiện nhân cách trong hoạt động chính trị, từ những công dân của
nhà nước pháp quyền đến cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ chức vụ, được giao
trọng trách ở các cấp, các ngành.
Trước hết, cần nâng cao nhận thức về văn hóa và xây dựng văn hóa
trong chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên, công chức, nhất là cho cán bộ
lãnh đạo, quản lý trong đó cần phải chú trọng vai trị của tư tưởng, lý luận,
13
của ý thức hệ trong xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng. Đây là
quan điểm nhất quán, cần thường xuyên củng cố sự thống nhất nhận thức
trong Đảng và trong xã hội về vấn đề hệ trọng này.
Mặt khác, cần thấm nhuần các quan điểm của Đảng về xây dựng văn hóa
theo các đặc trưng Dân tộc - Nhân văn - Dân chủ và Khoa học, xây dựng con
người để phát triển văn hóa và phát triển văn hóa để hoàn thiện nhân cách.
Giáo dục nhận thức và rèn luyện trong hoạt động thực tiễn để con
người Việt Nam biết trọng đạo đức - cái gốc của nhân cách, trọng chân lý, đề
cao khoa học, có trọng sự thật thì mới trọng chân lý. Hệ giá trị con người
Việt Nam phải được nhận thức đúng và sâu sắc, chú trọng nâng cao ý thức,
tinh thần dân tộc, thấy giá trị hàng đầu và ý nghĩa thiêng liêng của phát triển
văn hóa để phát triển con người, làm cho con người Việt Nam, trên bộ mặt
nhân cách và đời sống tinh thần con người là những phẩm chất, đức tính:
yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đồn kết, cần cù, sáng tạo. Chất
lượng con người với những giá trị, đặc trưng đó sẽ quyết định sức mạnh nội
sinh của văn hóa.
Thứ hai, tập trung nỗ lực của Đảng, Nhà nước, xã hội và nhân dân vào
công cuộc chấn hưng đạo đức, chấn hưng giáo dục. Nhìn thẳng vào sự thật thì
phải nói rằng, chưa bao giờ vấn đề này được đặt ra và thực hiện đúng mức cần
phải có của nó. Phải kết hợp cả sức mạnh của dư luận xã hội với sức mạnh
của phê phán, xử lý, trừng phạt bằng hệ thống chế tài nghiêm ngặt. Gần đây
đã xuất hiện lời xin lỗi của cá nhân và tổ chức đối với những sai trái gây hậu
quả. Đó là một khởi động tốt nhưng phải sớm đề phòng, ngăn chặn “hội
chứng xin lỗi” mà vẫn vắng bóng hành vi sửa lỗi.
Văn hóa xin lỗi chỉ có ý nghĩa tích cực bằng thước đo sửa lỗi, đồng thời
phải sớm hình thành và thực hiện văn hóa từ chức với sức đẩy của liêm sỉ,
14
nhân phẩm, danh dự, trách nhiệm đối với người giữ chức quyền. Đó là địi hỏi
của xã hội, là ý nguyện của nhân dân.
Thứ ba, văn hóa trong chính trị nổi bật một nội dung quan trọng là thái
độ, chuẩn mực đạo đức văn hóa trong ứng xử với người dân, chuẩn mực pháp
luật trong thi hành bổn phận, nghĩa vụ, chức trách của các quan chức và công
chức, trong Đảng, trong Nhà nước và trong các tổ chức chính trị - xã hội.
Đó là văn hóa trọng dân và văn hóa trọng pháp. Đây là vấn đề thiết
thực nhất, là thực hành Dân chủ, thực hành Dân vận, thực hành Đạo đức với ý
nghĩa là thực hành Văn hóa trong chính trị. Phải chú trọng tiếng nói của người
dân, làm cho người dân tham gia vào xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước,
Mặt trận và Đồn thể, trong đó có sự đánh giá chính sách, đánh giá cán bộ,
đánh giá tác dụng, hiệu quả của thể chế, của chính sách với những phát hiện,
đề xuất, khuyến nghị cụ thể từ phía người dân.
Văn hóa trong chính trị địi hỏi phải tăng cường các đối thoại, chất vấn,
góp ý phê bình giữa các nhà lãnh đạo, quản lý với dân chúng. Diễn đàn này là
nơi đo lường cả năng lực, phẩm chất lẫn trách nhiệm của người lãnh đạo và
quản lý với dân chúng. Đó cũng là mơi trường thử thách dân chủ, đo lường
trình độ dân chủ của đội ngũ cán bộ và người dân đồng thời đào thải những gì
khơng xứng đáng với văn hóa dân chủ mà cốt lõi của nó là văn hóa pháp luật
và văn hóa đạo đức trong đời sống chính trị - xã hội.
Thứ tư, đổi mới căn bản và đồng bộ cả thể chế - chính sách và cơ chế
liên quan trực tiếp tới việc đánh giá, bố trí cán bộ, sử dụng và đãi ngộ cán bộ.
Thực tế đã cho thấy, đây lại là lĩnh vực có khơng ít hạn chế, yếu kém, thiếu
sót. Thậm chí đã nhiều lần chúng ta công khai thừa nhận rằng, công tác tổ
chức cán bộ là yếu kém của mọi yếu kém, khuyết điểm của mọi khuyết điểm.
Do đó, xây dựng văn hóa trong chính trị cần phải làm cho văn hóa tác động
sâu sắc nhất, tạo ra chuyển biến có tính đột phá rõ rệt nhất ở lĩnh vực tổ chức
15
cán bộ, qua việc đổi mới thể chế, chính sách, cơ chế đối với cán bộ, nói vắn
tắt là chế độ, chính sách dùng người.
16
KẾT LUẬN
Văn hố chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội
giống như sức mạnh của văn hố. Đó là loại sức mạnh khơng dựa vào quyền
lực hay ép buộc mà thông qua cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự
giác của các tầng lớp xã hội. Việc xây dựng văn hố chính trị phải chú trọng
đồng thời cả ba phương diện: giá trị xã hội được lựa chọn, năng lực chính trị
và trình độ phát triển về văn hóa chính trị của chủ thể chính trị.
Phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó khăn, thách
thức trong q trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt an sinh xã hội, giải
quyết những tồn đọng, những vấn đề gây bức xúc trong dân hiện nay..., sẽ là
những yếu tố quan trọng để nâng cao hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự
lãnh đạo của Đảng, để Đảng xứng đáng với tên gọi: "Đảng ta là đạo đức, là
văn minh”.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản chính trị
quốc gia, Hà Nội 1996.
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 2006.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XI,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, HN. 2011.
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, HN. 2016.
5. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình cao cấp Lý luận
chính trị, Chính trị học, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018.
6. Website: tapchicongsan.vn.
18