Tải bản đầy đủ (.doc) (12 trang)

Tư tưởng hồ chí minh về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (100.66 KB, 12 trang )

MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội được bắt đầu hình thành từ
khi Nguyễn Ái Quốc phát hiện ra đường lối giải phóng dân tộc, đặt cách mạng
Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với
chủ nghĩa xã hội. Từ đó, trong cuộc đời cách mạng phong phú vừa đấu tranh,
vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm cơng tác thực tế, nhận thức của Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ngày càng hoàn thiện, sáng tỏ hơn.
Con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là trong quá trình nhận thức và chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu
nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận chủ nghĩa
xã hội từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là từ: lập
trường yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc; phương diện đạo đức; và, từ
truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Chính từ các cách tiếp cận
này đã tạo nên bản sắc đặc thù về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Vì vậy, để hiểu sâu hơn về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, em xin chọn nội dung “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam” làm hướng nghiên cứu của mình.

NỘI DUNG


1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
Con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam là trong quá trình nhận thức và chuyển biến tư tưởng từ chủ nghĩa yêu
nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp cận chủ nghĩa
xã hội từ chủ nghĩa yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là từ: lập
trường yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc; phương diện đạo đức; và, từ
truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Chính từ các cách tiếp cận


này đã tạo nên bản sắc đặc thù về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội có các
điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thống nhất về bản
chất với lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học, nhưng được Việt Nam hóa, phù
hợp với thực tiễn Việt Nam; Thứ hai, tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội lại
rất phong phú và đa dạng; Thứ ba, chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh
nói tới đó là chủ nghĩa xã hội thực tế, gần gũi với đời sống, vì con người, do con
người và cho con người; Thứ tư, chủ nghĩa xã hội theo Người là dựa trên nền
tảng lý luận Mác - Lênin, thấm nhuần truyền thống văn hóa dân tộc và kết tinh
những giá trị nhân văn của văn hóa nhân loại.
Là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư
tưởng về chủ nghĩa xã hội của Người cũng có một q trình hình thành và phát
triển hồn thiện. Thật vậy, chẳng hạn về những quan niệm cụ thể như: chủ nghĩa
xã hội là gì? Xây dựng chủ nghĩa xã hội ra sao? Chỉ từ năm 1954, khi miền Bắc
bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nghĩa là chủ nghĩa xã hội đã trở
thành mục tiêu trực tiếp, Hồ Chí Minh mới có điều kiện đi sâu nghiên cứu.
Với câu hỏi, chủ nghĩa xã hội là gì, Người đã giải thích một cách vắn tắt
như sau: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh” (1); “Chủ nghĩa
xã hội là gì? Là mọi người ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do.”;(2) "Chủ nghĩa xã
hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, khơng làm thì
khơng hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ
chăm nom"(3); "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội là trước hết
nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có


công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc"(4); "Chủ nghĩa xã
hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành"(5); "Chủ
nghĩa xã hội là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta
ngày càng sung sướng"(6); "Chủ nghĩa xã hội là mọi người cùng ra sức lao động

sản xuất để được ăn no mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ"(7) …
Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo cách của riêng mình đã chỉ rõ "Chủ nghĩa xã
hội là gì?". Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo Người, đó là xã hội do nhân dân
lao động làm chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, là xã hội dân giàu,
nước mạnh; một xã hội ln chăm lo đến lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của
mỗi người; nơi kết hợp hài hịa giữa lợi ích cá nhân với tập thể và lợi ích xã hội;
nơi giải quyết thỏa đáng giữa cống hiến và hưởng thụ; nơi mà sự phát triển tự do
của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người; hạt nhân lãnh
đạo của xã hội ấy là Đảng cộng sản - Đảng của giai cấp công nhân, theo chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội ngày càng được thể hiện rõ cả về
lý luận và thực tiễn. Những điểm chung đó là: chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
một chế độ xã hội dân chủ, do nhân dân làm chủ; là xây dựng nhà nước của dân,
do dân, vì dân và có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; là xã hội dân giàu, nước mạnh,
nền kinh tế phát triển cao với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; là
một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức con người; là một xã hội được
xây dựng theo nguyên tắc công bằng, hợp lý; là do quần chúng nhân dân tự xây
dựng nên và dưới sự lãnh đạo của Đảng; là các dân tộc đều bình đẳng, đồn kết
và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có mối quan hệ hịa bình, hữu nghị, hợp tác với
các nước trên thế giới.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa (thời kỳ 1920-1945)
Trong tác phẩm Con đường dẫn tôi đến với chủ nghĩa Lênin (1960), Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải
là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng


bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm

công tác thực tế, dần dần tơi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động
trên thế giới khỏi ách nơ lệ”(8). Trước đó, vào các năm 1923 - 1924, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: “Chỉ có giải phóng giai cấp vơ sản thì mới giải phóng được
dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng
sản và của cách mạng thế giới”(9). Vậy là, sau khi đọc Luận cương của Lênin,
trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành nên quan điểm: cách mạng giải
phóng dân tộc ở Việt Nam muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô
sản.
Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (1930), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nêu rõ: “… tư bản bản xứ khơng có thế lực gì ta khơng nên nói cho họ đi về phe
đế quốc được, chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc
chủ nghĩa nên chủ trương làm tư bản dân quyền C.M và thổ địa C.M để đi tới xã
hội cộng sản”(10). Như vậy, theo Người, mục tiêu cao nhất của con đường cách
mạng vô sản là “đi tới xã hội cộng sản”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa ở Việt Nam (thời kỳ 1945-1954)
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành quả lớn nhất của cuộc cách mạng
Tháng Tám là tuyên bố sự ra đời của chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ nhân
dân: “Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng
ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ
mới”(11).
Tuy nhiên, khi khẳng định Cách mạng Tháng Tám khai sinh chế độ dân
chủ nhân dân thì một vấn đề nảy sinh: mục tiêu tổng quát của cuộc cách mạng
mà toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định một cách rõ ràng là “chế độ
cộng sản”, là “xã hội cộng sản”, vậy tại sao sau khi cách mạng thành công lại
không bắt tay thực hiện ngay mục tiêu ấy mà lại phải trải qua xây dựng chế độ
dân chủ nhân dân?. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chế độ dân chủ nhân dân
không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa, song đó là chế độ xã hội hướng tới xã hội



chủ nghĩa, hay nói cách khác, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ ra đời từ
chế độ dân chủ nhân dân.
Năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Tức
là bắt tay “xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã
hội”(12), song đây là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng chế độ
dân chủ nhân dân. Từ 1945, Người luôn khẳng định chế độ ta là chế độ dân chủ
nhân dân, đặc biệt là về phương diện chế độ chính trị. Trong những năm 19541955, Hồ Chí Minh nhiều lần nói rõ: “chế độ của ta là chế độ dân chủ”, hay “nước
ta là nước dân chủ”. Đến những năm 1964 - 1965, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục
khẳng định “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ”.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sau khi Cách mạng Tháng Tám
thành cơng, chế độ dân chủ nhân dân được tuyên bố ra đời và tồn tại hiện thực.
Với chế độ dân chủ nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Thứ nhất, mục tiêu “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân” là mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam, song ở trình độ
phát triển của xã hội Việt Nam, chế độ xã hội có thể thực hiện được mục tiêu ấy
trước hết phải là chế độ dân chủ nhân dân. Thứ hai, ở Việt Nam, những mầm
mống của chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa sẽ nảy sinh và phát
triển trong lòng chế độ dân chủ nhân dân.
Theo Người, bước chuyển từ chế độ dân chủ nhân dân lên chế độ xã hội
chủ nghĩa là bước chuyển về chất, và chuyển dần dần, “không thể một sớm một
chiều”(13)...
Như vậy, quan hệ của chế độ dân chủ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa
trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quan hệ giữa hai giai đoạn trong quá trình vận
động của xã hội. Chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn phát triển cao hơn chế độ
dân chủ nhân dân. Đây là sự vận động, phát triển đặc thù của xã hội Việt Nam,
vừa phù hợp, vừa không hồn tồn trùng khớp với lơgic vận động chung của lịch
sử tồn nhân loại.
Khi nói về con đường q độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Chủ tịch

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một
nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua


giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(14). Tiến thẳng hiểu theo nghĩa là không
phải “kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, song để tiến tới chủ nghĩa
xã hội, chúng ta nhất định phải “kinh qua” một thời kỳ phát triển, đó là chế độ
dân chủ nhân dân. Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân không chỉ là q trình
từng bước xóa bỏ triệt để các tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến, mà cịn
là q trình từng bước các mầm mống của chủ nghĩa xã hội phát triển. Rõ ràng,
đối với Hồ Chí Minh, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là một tất yếu lịch sử
trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa (thời kỳ 1954-1969)
Sau năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ khi kháng chiến thắng
lợi và hịa bình lập lại, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới.
Miền Bắc nước ta hồn tồn giải phóng dưới chế độ dân chủ nhân dân, đã bước
vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội”(15). Đây là thời kỳ Người trực tiếp
bàn nhiều về vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa là một tất yếu. Tính tất yếu của việc lựa
chọn định hướng xã hội chủ nghĩa và quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí
Minh luận giải trên mấy phương diện sau:
Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là tương lai của xã hội
loài người. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng
sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ
nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa
và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó khơng ai ngăn cản
được”(16);
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tích cực, là nhân sinh quan của

chủ thể hành động - những người cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ rõ: “Chế độ cộng sản là ai cũng no ấm, sung sướng, tự do; ai cũng thơng thái
và có đạo đức. Đó là một xã hội tốt đẹp vẻ vang. Trừ những bọn phản động quá
sá, thì chắc ai cũng tán thành chế độ cộng sản”(17);


Thứ ba, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, thời đại quá độ
lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành xu thế phát triển của lịch sử không thể đảo
ngược. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Những thắng lợi bước đầu trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần
thiết và khả năng của một nước như nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội
một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa”(18).
Trên cơ sở nhận thức quy luật chung của lịch sử nhân loại và đặc điểm
riêng của Việt Nam khi bước vào thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác
định: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến
chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì lồi người phát
triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát
triển theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội
(cộng sản) như Liên Xơ. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến
lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam
ta”(19).
Về thời kỳ quá độ, Người nói: “Một chế độ này biến đổi thành một chế độ
khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, kịch liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt,
giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và
cái đang phát triển. Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất định thắng”(20).
Trên đây, là một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Trên
thực tế, các luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về vấn đề này rất phong
phú, đa dạng và còn những nội dung chưa được khái quát ở đây.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ

qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa được Người trình bày một cách khái quát nhất
trong Diễn văn khái mạc lớp học lý luận khoá I trường Nguyễn Ái Quốc. Thay
lời kết, xin trích ý kiến của Người: “Ở miền Bắc, chúng ta đang ở trong giai
đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc
biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn
toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi
triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng


ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột,
xây dựng quan hệ sản xuất mới khơng có bóc lột áp bức. Muốn thế chúng ta phải
dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công
nghiệp. Chúng ta phải dần dần tập thể hóa nơng nghiệp. Chúng ta phải tiến hành
cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công
nghiệp. Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa
cao và đời sống tươi vui hạnh phúc. Chúng ta lại phải tiến hành những nhiệm vụ
đó trong những điều kiện đặc biệt của nước ta, nghĩa là trên cơ sở của một xã
hội vừa mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, hết sức lạc hậu và trong hoàn
cảnh nước ta đang bị chia cắt làm hai miền. Trong những điều kiện như thế,
chúng ta phải dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để
tiến dần lên chủ nghĩa xã hội? Đó là những vấn đề đặt ra trước mắt Đảng ta hiện
nay. Muốn giải quyết tốt những vấn đề đó, muốn đỡ bớt mị mẫm, muốn đỡ
phạm sai lầm, thì chúng ta phải học tập kinh nghiệm các nước anh em và áp
dụng những kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo. Chúng ta phải nâng cao sự tu
dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp
chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích
một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có
thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được
những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa
thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao

trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của
Đảng”(21)./.


KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam bao quát những vấn đề cốt
lõi, cơ bản nhất trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin
về bản chất, mục tiêu và động lực của CNXH; về tính tất yếu khách quan của
thời kỳ quá độ; về đặc điểm, nhiệm vụ lịch sử, nội dung, các hình thức, bước đi
và biện pháp tiến hành công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.. Tư tưởng đó trở
thành tài sản vơ giá, cơ sở lý luận và kim chỉ nam cho việc kiên trì, giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta, đồng thời gợi mở nhiều vấn đề về xác
định hình thức, biện pháp và bước đi lên CNXH phù hợp với những đặc điểm
dân tộc và xu thế vận động của thời đại ngày nay.
Cùng với việc tổng kết lý luận - thực tiễn công cuộc xây dựng đất nước
trong mấy thập kỷ qua, quan niệm về CNXH, về con đường đi lên CNXH ngày
càng được cụ thể hoá. Nhưng trong quá trình xây dựng CNXH, bên cạnh những
thời cơ, vận hội, Việt Nam đang phải đối đầu với hàng loạt thách thức, khó khăn
cả trên bình diện quốc tế, cũng như từ các điều kiện thực tế trong nước tạo nên.
Trong bối đó, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ
lên CNXH, chúng ta cần tập trung giải quyết những vấn đề quan trọng nhất. Đó
là: Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, khơi dậy mạnh mẽ tất cả các nguồn lực, nhất là nguồn lực nội
sinh để đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển
kinh tế tri thức; Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Chăm lo xây


dựng Đảng vững mạnh, làm trong sạch bộ máy nhà nước, đẩy mạnh đấu tranh
chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí cơng
vơ tư để xây dựng CNXH.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1),(2),(17),(19). Hồ Chí Minh: Tồn tập, t.8. Nxb Chính trị quốc gia. H,
2011. Tr.226; 326; 294; 293;
(3). Hồ Chí Minh: Sđd, t.9. tr.175
(4),(5), (6),(7),(13), (21). Hồ Chí Minh: Sđd, t.10. tr.17;375; 258; 329;
(8),(14),(15),(16) . Hồ Chí Minh: Sđd, t.12. tr.563; 411; 367; 601-602;
(9), (20). Hồ Chí Minh: Sđd, t.11. tr.441; 238
(10). Hồ Chí Minh: Sđd, t.3. tr.1-2
(11). Hồ Chí Minh: Sđd, t.7. tr.361
(12). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb
Chính trị quốc gia. H. 2011, tr. 435
(18). Hồ Chí Minh: Sđd, t.14. tr.374-37

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC LÃNH TỤ CỦA ĐẢNG

BÀI THU HOẠCH MƠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam”

Học viên: Lê Thị Thu Trang
Mã số học viên: FF170875
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT, K68-C06 (2017-2018)

Hà Nội, tháng 01/2018

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VIỆN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

BÀI THU HOẠCH MƠN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ


Đề tài: “Đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam”

Học viên: Lê Thị Thu Trang
Mã số học viên: FF170875
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT, K68-C06 (2017-2018)

Hà Nội, tháng 01/2018



×