1
MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn
đạt được trong 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng
sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa MácLênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta. Một trong những
nguyên tắc lý luận cơ bản mà Đảng ta đã vận dụng là nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mác – LêNin.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin, thực tiễn không có lý luận soi đường là thực tiễn mù quáng, lý luận
không liên hệ thực tiễn là lý luận suông”. Việc phân tích tìm hiểu mối liên hệ
biện chứng giữa lý luận và thực tiễn từ đó rút ra quan điểm thực tiễn và vận
dụng đúng đắn quan điểm đó trong hoạt động thực tiễn là rất cần thiết đối với sự
nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu vấn đề này là việc hết sức thiết
thực và quan trọng đối với việc nghiên cứu lý luận Mác- Lênin nói chung và đối
với cơng cuộc xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng. Chính
vì tầm quan trọng của cơng tác lý luận đối với thực tiễn nên em đã chọn đề tài
“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và vai trò của nguyên tắc
này đối với việc phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay”
làm bài thu hoạch môn Triết học Mác - Lê Nin.
2
NỘI DUNG
1. Phạm trù thực tiễn và lý luận
Theo quan điểm của triết học Mác – Lê nin, thực tiễn là tồn bộ những
hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải
tạo tự nhiên và xã hội.
Từ quan niệm về thực tiễn trên của triết học Mác – Lê nin, có thể thấy
rằng thực tiễn những đặc trưng sau:
Thứ nhất, thực tiễn khơng phải tồn bộ hoạt động của con người mà chỉ là
những hoạt động vật chất – cảm tính, đó là những hoạt động vật chất cảm giác
được. Nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các hoạt động vật chất
này.
Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã
hội của con người. Nghĩa là thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với
sự tham gia của đông đảo người trong xã hội.
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã
hội phục vụ con người.
Lý luận khoa học và hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh
nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính
quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy
luật, phạm trì.
Từ cách hiểu lý luận trên cho thấy, lý luận có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái qt cao, tính logic chặt chẽ.
Bởi lẽ, bản thân lý luận là hệ thống tri thức được khát quát từ kinh nghiệm thực
tiễn.
Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn. Khơng
có tri thức kinh nghiệm thực tiễn thì khơng có cơ sở để khái qt thành lý luận.
3
Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất của sự vật,
hiện tượng. Bởi lẽ lý luận phản ánh được mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang
tính quy luật của sự vật, hiện tượng.
2. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ
thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn, phản ánh thực tiễn xđó, nếu khơng
lý luận đó sẽ là lý luận sng, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống dễ trở
thành lý luận ảo tưởng, không căn cứ, giáo điều, kinh nghiệm. Thực tiễn có vai
trị to lớn đối với đối với lý luận bởi:
Thứ nhất, thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận. Hoạt động thực tiễn
của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại của
con người. Muốn sống, muốn tồn tại con người phải sản xuất vật chất, cải tạo tự
nhiên và xã hội, nghĩa là hoạt động thực tiễn. Như vậy, con người quan hệ với
thế giới xung quanh bắt đầu bằng và thông qua hoạt động thực tiễn. Bằng và
thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào sự vật làm cho chúng
bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật cunh. Trên cơ sở đó con người mới có hiểu
biết về sự vật và dần dần có cơ sở để khái quát những hiểu biết này thành lý
luận. Như vậy, chính thực tiễn đã cung cấp “vật liệu” cho nhận thức, cho lý
luận. Nói cách khác, thực tiễn là cơ sở của nhận thức, của lý luận.
Thực tiễn cịn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con người, làm
cho chúng phát triển tinh tế hơn, hoàn thiện hơn. Trên cơ sở đó giúp con người
nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn. Hoạt động thực tiễn
còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc hỗ trợ con người
nhận thức hiệu quả hơn và khái quát lý luận đúng đắn hơn. Chính nhu cầu chế
tạo, cải tiến công cụ sản xuất cũng như cơng cụ, máy móc hỗ trợ con người
nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy, lý luận và bản thân thực tiễn phát triển.
Như vậy, thực tiễn là cơ sở, động lực chủ yếu, trực tiếp của nhận thức,
của lý luận. Nhưng như thế khơng có nghĩa là mỗi người, mỗi thế hệ người đều
4
phải lặp lại những hoạt động thực tiễn giống nhau ban đầu để có được những tri
thức giống nhau. Mỗi người, mỗi thế hệ người có thể tiếp thu, kế thừa những
kinh nghiệm và tri thức của các thế hệ trước để bổ sung, phát triển làm giàu tri
thức, lý luận của mình.
Thứ hai, thực tiễn là mục đích của lý luận. Hoạt động nhận thức, lý luận
của con người ngay từ khi con người mới ra đời đã bị quy định bởi nhu cầu tồn
tại, nhu cầu sống, nhu cầu hoạt động thực tiễn của mình. Để tồn tại, để sống,
con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh để có những hiểu biết nhất định về
thế giới, trên cơ sở đó dần phải khái quát những hiểu biết của mình thành lý
luận để định hướng cho những nhu cầu này cũng như hoạt động của mình.
Thứ ba, thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá sự đúng, sai của lý luận. Tri thức
của con người là kết quả của q trình nhận thức. Tri thức ấy có thể phản ánh
đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan. Theo triết học Mác – Lê nin, chân
lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông. Chân lý không phải là cái gì đó
hiển nhiên. Chân lý cũng khơng phải chỉ là cái có ích, có lợi. Triết học Mác –
Lênin cho rằng, chân lý là tri thức phản ánh đúng đắn hiện thức khách quan và
được thực tiễn kiểm nghiệm. Chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn khách quan duy
nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm.
Thực tiễn đúng đắn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một lý
luận khoa học, đúng đắn, nếu khơng thực tiễn đó sẽ là thực tiễn mù qng, mị
mẫn, mất phương hướng, khơng có tính hướng đích. Lý luận khoa học có vai trị
to lớn đối với thực tiễn. Điều này được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, lý luận đóng vai trị soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Lý
luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến
đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn. Lý luận khoa học vạch ra
phương hướng, phương pháp cho hoạt động thực tiễn, nhằm biến đổi hiện thực
khách quan theo hướng tiến bộ vì lợi ích của con người.
5
Thứ hai, lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập
hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông
đảo quần chúng. Lý luận khoa học góp phần định hướng cho quần chúng trong
cuộc sống và trong hoạt động thực tiễn. Do vậy, khi lý luận khoa chọ thâm nhập
được vào đông đảo quần chúng sẽ tạo thành sức mạnh vật chất vĩ đại.
Thứ ba, lý luận nếu phản ánh đúng quy luật vật động, phát triển của sự
vật, của thực tiễn sẽ góp phần dự báo, định hướng đúng đắn cho hoạt động thực
tiễn; giúp cho hoạt động thực tiễn bớt tò mò, vòng vo, chủ động, tự giác hơn.
Thứ tư, lý luận khoa học cung cấp cho con người những tri thức khoa học
về tự nhiên, xã hội và về bản thân con người. Trên cơ sở những tri thức khoa
học đó, con người có thể thơng qua hoạt động thực tiễn làm biến đổi tự nhiên,
xã hội và bản thân phục vụ cho mục đích của mình.
Thứ năm, lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, do vậy nó có
thể thơng qua hoạt động thực tiễn tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến
đổi thực tiễn. Lý luận có vai trị tác động tích cực đối với thực tiễn, một khi nó
phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, thâm nhập được vào đông đảo quần
chúng nhân dân và được con người vận dụng nó một cách sáng tạo, linh hoạt,
phù hợp điều kiện thực tiễn, lịch sử - cụ thể.
Mức độ, hiệu quả tác động của lý luận đối với thực tiễn phụ thuộc vào
nhiều yếu tố nhưng trước hết phụ thuộc vào tính đúng đắn, kho học của lý luận,
mức độ thâm nhập của lý luận vào quảng đại quần chúng nhân dân; vào sự vận
dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận hay không bởi chủ thể hoạt động thực tiễn.
3. Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với
việc phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng việc vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
6
Minh để phát triển lý luận, đặc biệt là lý luận về chủ nghĩa xã hội. Điều này thể
hiện rõ nét ở những điểm sau:
Thứ nhất, Đảng tăng cường tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về chủ
nghĩa xã hội. Tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới, Đảng đã có những phát triển
vượt bậc lý luận về chủ nghĩa xã hội. Tiêu biểu là một số vấn đề lý luận sau:
Một là, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội. Đường lối đổi mới do Đại
hội VI của Đảng khởi xướng là thành quả to lớn đầu tiên của quá trình đổi mới
tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội. Đường lối đổi mới này đồng thời cũng đánh
dấu bước đột phá trong phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội của Đảng ta. Đại
hội VII đánh dấu mốc quan trọng trong phát triển lý luận của Đảng về chủ
nghĩa xã hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 05 năm đổi mới, Đại hội VII đã
thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (1991). Cương lĩnh 1991 đã đề cập tới 06 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà
nhân dân ta xây dựng. Đó là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất cơng, làm theo năng lực
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển tồn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đồn kết và giúp đỡ
nhau cùng tiến bộ, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước
trên thế giới. Đến Đại hội X, Đảng ta đã có bước phát triển quan trọng trong
quan niệm về chủ nghĩa xã hội.
Nội hàm của khái niệm xã hội xã hội chủ nghãi đã được Đại hội X nêu cụ
thể hơn với tám đặc trưng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ,
văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất; có nền văn hố tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người
7
được giải phóng khỏi áp bức, bất cơng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đồn kết,
tương trợ, giúp nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Hai là, về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh (1991)
đề ra bảy phương hướng cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đến Cương lĩnh
(bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta đã đưa ra tám phương hướng lớn. Như
vậy, lý luận về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta qua mỗi kỳ
đại hội lại được Đảng ta hoàn thiện, phát triển. Ngay trong từng phương hướng
này, trong quá trình đổi mới Đảng thường xuyên bổ sung, phát triển cho phù
hợp với thực tiễn đất nước và thời đại.
Ba là, phát triển lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa. Trước đổi mới, Đảng ta xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta là sự quá độ gián tiếp, nghĩa là bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa. Trong Cương lĩnh (1991) đã sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ tư bản” và
xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư ản, từ một xã
hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”.
Bốn là, hình thành và phát triển lý luận về nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Năm là, hình thành và phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa. Tổng kết việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và quá trình đổi
mới, Đảng ta nhận thấy sự cần thiết phải khai thác những giá trị của lý luận nhà
nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại.
Sáu là, phát triển lý luận về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Đại hội VIII (1996) lần đầu tiên trong quá trình đổi mới đề ra nhiệm
8
vụ “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đại hội tiếp tục
khẳng định vai trị, vị trí của phát triển văn hóa: Văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội”.
Thứ hai, Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh vào điều kiện thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới. Công cuộc đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự khẳng định một lần nữa tính đúng
đắn của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như sự vận dụng
sáng tạo của Đảng vào thực tiễn mới của đất nước.
Thứ ba, Đảng không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mình cũng như
của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới. Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ
tịch: Đảng mà không có lý luận cách mạng khoa học như người khơng có trí
khơn, tài khơng có bàn chủ nam. Đây thực chất là sự quán triệt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn. Bởi lẽ, khơng có trình độ lý luận thì khơng thể
tổng kết kinh nghiệm một cách có lý luận và khơng thể định hướng cho cơng
cuộc đổi mới. Trong tất cả các văn kiện Đại hội, Đảng ta luôn nhấn mạnh,
khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng. Đại hội XI còn đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương
thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác
tư tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Thứ tư, Đảng kiên quyết chống lại những biểu hiện lệch lạc, sai trái về tư
tưởng – lý luận bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Đây cũng chính là sự quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới của Đảng. Bởi lẽ, đổi mới không phải
là từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa của sự phát triển mà là từ bỏ mơ hình chủ
nghĩa xã hội giáo điều, tập trung, quan liêu; là sự lựa chọn biện pháp, cách thức
xây dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn Việt
9
Nam cũng như quốc tế. Qúa trình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta tiến hành
cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng – lý luận,
chống lại các chiêu bài “dân chủ hóa”, “tự do hóa”, “đa ngun chính trị”…Tiếp
tục tinh thần các Đại hội trước, Đại hội XI đề ra nhiệm vụ: “Kiên quyết đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hịa bình” của các thế
lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự
diễn biến”, ‘tự chuyển hóa” trong nội nộ ta, khắc phục sự suy thối về tư tưởng
chính trị…”.
KẾT LUẬN
10
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những
nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam nói chung, sự nghiệp đổi mới nói riêng, Đảng ta luôn quán
triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Điều này thể hiện ở chỗ, Đảng
thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, hồn thiện đường lối, chủ trương,
chính sách cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam. Đồng thời, Đảng
làm hết sức mình để nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và biết vận dụng những tư tưởng đó vào điều kiện nước ta. Khơng
những thế, Đảng cịn quan tâm tích cực chỉ đạo cuộc đấu tranh không khoan
nhượng với những kẻ thù về tư tưởng - lý luận, chỉ ra bản chất sai lầm, phản
khoa học, những mục đích sâu xa của chúng. Trên cơ sở đó, bảo vệ sự trong
sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ sự đúng đắn
trong đường lối của mình. Chính vì vậy mà 80 năm qua, Đảng ta ln hồn
thành xuất sắc sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng nước ta
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tám mươi năm qua, đặc biệt là những
năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng luôn luôn quán triệt tốt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo cách mạng.