MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về đổi mới mơ hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã được các cấp, các
ngành triển khai thực hiện và đạt được kết quả bước đầu. Kinh tế vĩ mô cơ bản
ổn định; tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý. Mơ hình tăng trưởng từng
bước chuyển đổi theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu; năng suất lao
động, năng suất các nhân tố tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia được cải
thiện. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Nguồn nhân lực và
khoa học - cơng nghệ có bước phát triển. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện,
quan tâm đầu tư.
Tuy nhiên, nhìn chung mơ hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mơ hình cũ,
chậm được đổi mới; tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số
lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học
- công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng
trưởng thấp. Phương thức phân bổ nguồn lực xã hội chưa có sự thay đổi rõ rệt;
năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp còn thấp. Kinh tế vĩ mô ổn
định nhưng chưa vững chắc, bội chi ngân sách cịn lớn, nợ cơng tăng nhanh, nợ
chính phủ đã vượt trần cho phép, áp lực trả nợ lớn.Việc thực hiện ba đột phá
chiến lược chưa đạt mục tiêu đề ra. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa chậm được cải thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều trở
ngại. Việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại cịn
nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực cịn thấp, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao.
Vì vậy, để hiểu sâu hơn về các giải pháp để đổi mới mô hình tăng trưởng
kinh tế Việt Nam, em xin chọn nội dung “Một số giải pháp đổi mới mơ hình
tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế” làm hướng nghiên cứu của mình.
NỘI DUNG
Mơ hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ khi bắt đầu thực hiện công
cuộc đổi mới đến nay là một cơ chế hỗn hợp giữa thị trường và Nhà nước trong
huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực. Trong ba thập niên qua, chúng ta đã
đổi mới cách thức vận hành nền kinh tế từ mơ hình cũ nặng về tập trung quan
liêu bao cấp sang mô hình mới và đạt được nhiều thành tựu, song cũng cịn
khơng ít những hạn chế, khiếm khuyết, địi hỏi có các định hướng đúng đắn hơn
trong thời gian tới.
1. Nhìn lại thời gian qua
So với trước đây, mơ hình tăng trưởng kinh tế ở nước ta từ đổi mới (năm
1986) đến nay đã được đổi mới về cơ bản với cách thức vận hành, những động
lực, cấu trúc mới. Với mơ hình này, chúng ta đã và đang mở cửa hội nhập hơn,
từng bước hồn thành mục tiêu cơng nghiệp hóa.
Mơ hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từ đổi mới đến nay được vận
hành khá tốt theo cơ chế thị trường có kiểm sốt đã thúc đẩy tổng sản phẩm
trong nước (GDP) tăng trưởng liên tục và duy trì dài hạn, đưa Việt Nam trở
thành nước có thu nhập trung bình trong nhóm các nước đang phát triển. Động
lực của tăng trưởng được tạo bởi các động lực bộ phận cho phép khai thác tốt
tiềm năng của các thành phần kinh tế, từng bước chuyển dần theo hướng cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Cấu trúc kinh tế dịch chuyển tích cực, hiện đại và phù hợp với xu thế
chung, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế liên tục trong
những năm qua. Kinh tế vĩ mô liên tục được duy trì ổn định hơn trên cơ sở tăng
trưởng GDP và việc làm, lạm phát nhìn chung được kiểm sốt. Các chính sách vĩ
mơ, như tiền tệ, tài khóa và thương mại... đã trở thành yếu tố công cụ trong cơ
chế vận hành mơ hình tăng trưởng kinh tế và được sử dụng để kích thích tăng
trưởng kinh tế, bình ổn kinh tế vĩ mô.
Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, mơ hình tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam thời gian qua còn tạo được cơ chế phân bổ và phân phối sản
lượng tương đối phù hợp với trình độ phát triển, góp phần cải thiện và tạo bước
tiến đáng kể về phát triển xã hội trên nhiều khía cạnh, như thu nhập và mức sống
cho các tầng lớp nhân dân đã tăng lên và được cải thiện đáng kể; cơng tác xóa
đói, giảm nghèo đạt những kết quả khá bền vững; chỉ số phát triển con người
Việt Nam được nâng cao; các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe được cải thiện; sự
nghiệp giáo dục được đầu tư đáng kể, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực; việc làm được tạo ra gần tương đương với tốc độ gia tăng của nguồn lao
động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống khá thấp.
Tuy nhiên, mơ hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm qua đã
bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong cơ chế vận hành. Nghiêm trọng nhất là tình
trạng trục trặc, thiếu linh hoạt và kém hiệu quả trong sự kết hợp giữa tổng cung
và tổng cầu, khiến sản lượng luôn thấp hơn tiềm năng, không phát huy được hết
các động lực. Bên cạnh đó, nó cịn chứa đựng khơng ít bất ổn và nhiều vấn đề xã
hội chưa được giải quyết.
Tăng trưởng sản lượng thấp hơn tiềm năng, tính ổn định chưa cao trước
những biến động kinh tế cả trong và ngoài nước. Tăng trưởng kinh tế ở nước ta
dựa quá nhiều vào đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, quá coi trọng
vai trò của khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả, trong khi lại chưa quan
tâm đúng mức đến các động lực khác của nền kinh tế, như khoa học - công
nghệ, nhu cầu của thị trường trong nước... Mơ hình tăng trưởng kinh tế dựa q
nhiều vào cấu trúc kinh tế thiên lệch về nguồn lực cho cơng nghiệp, dịch vụ,
chưa chú trọng và đầu tư thích đáng cho nơng nghiệp, nơng thơn. Điều đó đã tạo
ra sự mất cân bằng và tiềm tàng bất ổn về kinh tế - xã hội.
Những nhân tố gây bất ổn cho kinh tế vĩ mô luôn tiềm ẩn do đầu tư quá
cao so với khả năng tiết kiệm của nền kinh tế, thâm hụt ngân sách liên tục kéo
dài càng khiến vay nợ đầu tư và thâm hụt tăng. Các chính sách vẫn chưa thực sự
hiệu quả. Vấn đề bình ổn kinh tế vĩ mô vẫn luôn là thách thức.
Bên cạnh đó, nhiều vấn đề xã hội vẫn tồn tại dai dẳng, chưa được giải
quyết. Tình trạng bất bình đẳng, chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch vùng, miền,
khu vực chưa được rút ngắn, tốc độ giảm nghèo còn chậm. Hệ thống cung cấp
dịch vụ y tế, giáo dục chưa đáp ứng kịp với u cầu đổi mới mơ hình tăng
trưởng kinh tế theo chiều sâu. Vấn đề việc làm vẫn còn là thách thức lớn...
2. Quan điểm và định hướng thời gian tới
Về quan điểm, từ những thành tựu và hạn chế đó, có thể thấy mơ hình tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế hiện nay cần quán triệt quan điểm xuyên suốt, đó là bảo đảm
tăng trưởng GDP tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế. Để có thể bảo đảm
thực hiện được quan điểm này, theo chúng tơi, trước hết cần duy trì tăng trưởng
GDP ổn định dài hạn tương xứng với năng lực sản xuất; đồng thời, hoàn thiện
thể chế kinh tế bảo đảm cho vận hành mơ hình tăng trưởng kinh tế và duy trì ổn
định kinh tế vĩ mơ dài hạn. Ngồi ra, cần bảo đảm khơng ngừng mở rộng năng
lực sản xuất theo hướng hiện đại phù hợp với điều kiện của đất nước và bối cảnh
hội nhập quốc tế sâu rộng; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước
để phân bổ và sử dụng theo hướng cấu trúc lại nền kinh tế và tạo ra những động
lực mới của nền kinh tế, nhất là phát huy nhân tố con người; kích thích tiêu dùng
nội địa, cải thiện cán cân thương mại và mở rộng thị trường quốc tế; duy trì bội
chi ngân sách trong ngưỡng cho phép và giảm nợ cơng; phát triển hệ thống
chính sách an sinh xã hội tương xứng với đà tăng trưởng kinh tế.
Về định hướng, mơ hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời gian tới
được xác định vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hiện
đại, tạo ra sự tương tác linh hoạt và hiệu quả giữa cách thức huy động, phân bổ
và sử dụng nguồn lực trong nước và bên ngoài, tạo ra năng lực sản xuất ngày
càng lớn và có chiều sâu, hiệu quả. Cơ chế phân phối hợp lý, góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống cho người dân. Thúc đẩy tăng tổng cầu trên thị trường
trong và ngoài nước để đạt tăng trưởng GDP tương xứng với tiềm năng của nền
kinh tế. Để đổi mới mơ hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm tới,
thiết nghĩ cần có một lộ trình thích hợp. Giai đoạn đầu cần hình thành sự tương
tác linh hoạt và hiệu quả giữa cách thức tạo ra năng lực sản xuất với sự kết hợp
của các nhân tố chiều rộng và chiều sâu một cách hiệu quả, đồng thời phải tạo
được cách thức phân phối tương xứng với nó.
3. Một số giải pháp
Một là, đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế.
Tạo dựng môi trường, đổi mới thể chế phù hợp với nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, thông qua: Đưa vào vận hành các quy tắc, chuẩn
mực về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường; bảo đảm cho các quy tắc, chuẩn
mực thị trường trên cơ sở hoàn thiện các cơ chế bổ sung giữa thị trường và Nhà
nước; tạo ra cơ chế dân chủ hơn trong quản lý kinh tế theo hướng chặt chẽ, rõ
ràng, minh bạch và hiệu quả; tạo ra “sân chơi” kinh tế mang tính cạnh tranh,
bình đẳng nhờ hệ thống các thị trường hoàn chỉnh và hoạt động hiệu quả; bảo
đảm các chủ thể thị trường thể hiện được vai trị và bình đẳng với nhau trong
hoạt động.
Hồn thiện quy trình hoạch định chính sách kinh tế. Để có được các chính
sách hiệu quả, cần có quy trình xây dựng và thực hiện chính sách hiệu quả và
khoa học. Cách tiếp cận chính sách mới cần dựa trên số liệu thực tế, phân tích và
đánh giá khoa học để xây dựng các chính sách phù hợp với thực tiễn và cần có
quy trình rõ ràng để theo dõi, đánh giá chất lượng và sự phù hợp của chính sách.
Trong công tác lập quy hoạch, kế hoạch, cần củng cố, nâng cao năng lực và phối
hợp tốt hơn. Trong quá trình xây dựng chính sách đối thoại giữa Chính phủ và
các khu vực ngồi chính phủ, cần thực hiện một cách có hệ thống.
Tiếp tục đổi mới cơng tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân. Những thay
đổi lớn của nền kinh tế và bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng địi hỏi phải tiếp
tục đổi mới cơng tác này. Những nội dung chủ yếu là: Cần phải có luật về cơng
tác kế hoạch, khung pháp lý quan trọng cho hoạt động của các cơ quan kế
hoạch; nâng cao chất lượng và bảo đảm vị trí trung tâm trong công tác kế hoạch
của kế hoạch trung hạn 5 năm; kế hoạch mang tính định hướng nhiều hơn thơng
qua việc thu hẹp hệ thống chỉ tiêu kế hoạch và ít định lượng hơn; quá trình lập
kế hoạch phải đổi mới theo hướng dân chủ và công khai, phát huy vai trò của
các địa phương và thu hút nhiều hơn sự tham gia của người dân và các bên có
liên quan; việc điều hành kế hoạch cần phải chuyển từ sự can thiệp trực tiếp của
Trung ương và các bộ, ngành sang duy trì các cân đối vĩ mơ, sử dụng các cơng
cụ gián tiếp; phương pháp kế hoạch hóa theo chương trình mục tiêu nhằm giải
quyết những vấn đề bức xúc nhất về kinh tế - xã hội đang dần được hoàn thiện.
Phân cấp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương.
Cần thiết phải rà soát, xem xét lại cơ chế phân cấp và chế độ trách nhiệm giải
trình hiện nay, đồng thời củng cố chức năng giám sát và kiểm soát của Trung
ương đối với cấp địa phương trong ban hành và thực thi chính sách, thẩm quyền
được giao. Các vùng hay địa phương cần được khuyến khích nâng cao tính tự
chủ và năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của
vùng, địa phương.
Hai là, tạo ra và duy trì năng lực sản xuất có chiều sâu hiệu quả, sức
cạnh tranh cao.
Tạo ra động lực mới cho nền kinh tế nhờ: 1- Phát triển các ngành cơng
nghiệp có nhiều lợi thế chuyển dần giai đoạn đầu và giữa sang giai đoạn sau, tập
trung vào các ngành cung cấp hàng tiêu dùng lâu bền và hàng tư liệu sản xuất, từ
đó, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; 2- Cấu trúc lại và đầu tư thích đáng
cho nơng nghiệp, nơng thơn; 3- Phát triển khu vực ngoài nhà nước.
Nâng cao hiệu quả trong huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực: 1- Đẩy
mạnh phát triển khoa học - công nghệ trong nền kinh tế. 2- Nâng cao hiệu quả
trong huy động, phân bổ và sử dụng vốn: Trên góc độ nền kinh tế thì việc huy
động vốn chỉ nên đạt tỷ lệ tương xứng với “trạng thái vàng” của nền kinh tế - tỷ
lệ tích lũy cho mức tiêu dùng tối đa. Phân bổ vốn đầu tư trong nền kinh tế nên
tập trung vào ngành công nghiệp được định hướng phát triển, đầu tư thích đáng
cho nơng nghiệp có khả năng cơng nghệ cao. Đầu tư tập trung, khắc phục tình
trạng đầu tư dàn trải. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước. 3- Phát
huy vai trò của nhân tố lao động trong tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Huy
động tối đa nguồn lực lao động đang trong thời kỳ “dân số vàng” trên cơ sở
nâng cao trình độ lao động. Phân bố lại lao động theo hướng kết hợp dịch
chuyển lao động từ ngành có năng suất thấp sang năng suất cao với dịch chuyển
từ ngành có tốc độ tăng năng suất thấp sang ngành có tốc độ tăng năng suất cao.
Đổi mới cơ chế chính sách sử dụng lao động, như cần hoàn thiện khung pháp lý
cho vận hành của thị trường lao động hoạt động hiệu quả; về tổ chức quản lý và
sử dụng lao động, cần xây dựng được cơ chế quản lý và sử dụng sao cho người
lao động có động lực yên tâm cơng tác, phấn đấu vươn lên hồn thiện bản thân.
4- Nâng cao hiệu quả trong huy động, phân bổ, khai thác và sử dụng tài nguyên.
Hoàn thiện thể chế, pháp luật về bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường. Sử dụng
có hiệu quả gắn với bảo vệ nguồn tài ngun mơi trường. Chống thối hóa và
bảo đảm bền vững sử dụng tài nguyên đất. Bảo vệ môi trường nước và sử dụng
bền vững tài nguyên nước. Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài
ngun khống sản. Bảo vệ mơi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài
nguyên biển.
Ba là, vận hành thúc đẩy tổng cầu.
Kích thích, tạo điều kiện tăng tiêu dùng cá nhân, nâng cao mức sống và
đẩy mạnh giảm nghèo: 1- Tăng tiêu dùng cá nhân tiệm cận với mức của nước
trung bình và thay đổi cơ cấu tiêu dùng, như tăng thu nhập cá nhân thông qua cải
cách và áp dụng chính sách phân phối hợp lý trong nền kinh tế thị trường; bình
ổn giá cả, nhất là giá những hàng hóa thiết yếu đi cùng với kiểm soát thị trường;
phát triển kết cấu hạ tầng phân phối hàng hóa rộng khắp, nhất là nơng thơn,
vùng sâu, vùng xa; hoàn thiện và mở rộng hệ thống an sinh xã hội giảm bớt rủi
ro trong cuộc sống cho người dân sẽ kích thích tiêu dùng. 2- Nâng cao mức sống
cho dân cư nông thôn. 3- Tiếp tục đẩy mạnh giảm nghèo: Tập trung giải quyết
thực hiện thành cơng Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối
với 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008, của
Chính phủ. 4- Đổi mới tư duy, phương pháp hoạch định và thực thi chính sách
xóa đói, giảm nghèo. 5- Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở trong triển khai
chương trình và chính sách xóa đói, giảm nghèo. 6- Nâng cao chất lượng các
chính sách nguồn lực cho xóa đói, giảm nghèo, như các chính sách đất đai, hỗ
trợ vốn, lao động - việc làm và an sinh xã hội.
Tăng tỷ lệ hàng hóa đầu tư trong nước trên cơ sở tham gia sâu vào phân
công lao động và chuỗi giá trị toàn cầu: 1- Tiếp tục mở rộng quy mô vốn sản
xuất của nền kinh tế tương xứng với quy mô nền kinh tế đang mở rộng và đã
điều chỉnh tập trung theo chiều sâu trên cơ sở mở rộng đầu tư vào các ngành sản
xuất hàng hóa. 2- Khuyến khích các hình thức th và chuyển giao tư liệu sản
xuất thông qua thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngồi. Hình thức này cho
phép giải quyết khó khăn về nguồn tài trợ đầu tư, đồng thời đủ thời gian và điều
kiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản trị. 3- Nhập khẩu hàng
hóa đầu tư với những loại mà nền kinh tế chưa đủ khả năng sản xuất vẫn cần
thiết nhưng cần lựa chọn kỹ trình độ cơng nghệ và điều kiện khả năng khai thác
sử dụng có hiệu quả.
Cải thiện thâm hụt ngân sách và giảm nợ công, bằng cách: 1- Điều chỉnh
và kiểm soát chặt chẽ dự toán và chi tiêu ngân sách để bảo đảm tốc độ tăng
chậm hơn tăng trưởng kinh tế, trong đó quan trọng nhất là minh bạch hóa chi
tiêu ngân sách; 2- Nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách thông qua thực hiện
thành cơng chương trình cải cách hành chính, qua đó tinh giảm và nâng cao
năng lực của bộ máy nhà nước, góp phần quan trọng giảm bội chi ngân sách; 3Tăng thêm nguồn thu thông qua phân cấp mạnh trong quản lý thu và chi tiêu
ngân sách, giảm dần tình trạng bao cấp từ Trung ương để tăng tính chủ động của
chính quyền địa phương; 4- Kiên quyết thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà
nước theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh và cổ phần hóa; 5- Điều chỉnh
hướng đầu tư công và nâng cao hiệu quả đầu tư cơng.
Cấu trúc lại cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng nâng cao hiệu
quả. Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng: Chuyển đổi cơ cấu xuất
khẩu bao gồm duy trì phát triển sản xuất nhóm sản phẩm thơ xuất khẩu dựa vào
lợi thế - đó là những sản phẩm mà Việt Nam có số lượng nhiều gắn với tài
nguyên và nguồn lao động rẻ. Tăng nhanh tỷ trọng các sản phẩm chế biến dựa
trên cơ sở nguyên liệu sẵn có của đất nước và tỷ lệ thâm dụng vốn, lao động như
nhau, gồm sản phẩm công nghiệp chế biến rau quả, lương thực, thực phẩm; sản
phẩm gỗ chế biến; sản phẩm dệt may; sản phẩm điện, điện tử, cơ kim khí, hóa
chất, xi-măng; Tăng mạnh các loại hàng hóa có hàm lượng cơng nghệ và chất
xám cao, đòi hỏi nhiều vốn. Đây là ngành hàng mới mang lại giá trị gia tăng cao
nhưng hiện tại chúng ta chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Thứ
hai, nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu. Hàng hóa sản xuất ra phải bảo
đảm chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế chung và từng thị trường đối với từng
ngành cụ thể. Để bảo đảm tính hiệu quả trong phát triển xuất khẩu, điều quan
trọng hơn là hàng hóa phải đem lại cho người tiêu dùng những cơng dụng đặc
biệt. Thứ ba, mở rộng thị trường xuất khẩu trên cơ sở đa dạng hóa thị trường
xuất khẩu, giữ vững và mở rộng thị trường truyền thống, đồng thời tích cực tìm
kiếm thị trường mới./.
KẾT LUẬN
Nhìn lại 30 năm qua, trong bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức
tạp, khó lường; trong nước những thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức đan
xen, chúng ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” cả trên
lĩnh vực kinh tế cũng khẳng định đổi mới là sự lựa chọn chính xác và chứng
minh đường lối đổi mới nói chung và đổi mới kinh tế nói riêng của Đảng ta là
đúng đắn, khoa học, sáng tạo. Sự vấp váp, hạn chế, thậm chí yếu kém trên con
đường phát triển càng chứng tỏ đổi mới là một sự nghiệp khó khăn, lâu dài,
phức tạp, đòi hỏi phải chủ động, kiên định và không ngừng sáng tạo, phải
thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút những kinh nghiệm thành lý luận để
điều chỉnh, hồn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng “để sớm đưa
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, thực hiện mục
tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN KINH TẾ
BÀI THU HOẠCH MÔN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài: “Một số giải pháp đổi mới mơ hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”
Học viên: Lê Thị Thu Trang
Mã số học viên: FF170875
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT, K68-C06 (2017-2018)
Hà Nội, tháng 02/2018
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC
BÀI THU HOẠCH MƠN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: “Đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam”
Học viên: Lê Thị Thu Trang
Mã số học viên: FF170875
Lớp: Hoàn chỉnh CCLLCT, K68-C06 (2017-2018)
Hà Nội, tháng 01/2018