ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU SO SÁNH
TỐ TÂM CỦA HOÀNG NGỌC PHÁCH
VÀ TUYẾT HỒNG LỆ SỬ CỦA TỪ CHẨM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
NGHIÊN CỨU SO SÁNH
TỐ TÂM CỦA HOÀNG NGỌC PHÁCH
VÀ TUYẾT HỒNG LỆ SỬ CỦA TỪ CHẨM Á
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN LÊ HOA TRANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi.
Các số liệu, thông tin và kết quả nêu trong luận văn là hoàn tồn trung thực và
chưa từng được cơng bố trên bất kỳ cơng trình nghiên cứu hay kênh thơng tin nào khác.
Tác giả
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến TS. Trần Lê Hoa Tranh, người đã
dành nhiều thời gian và tâm huyết, nhiệt tình hướng dẫn tơi thực hiện luận văn này.
Qua q trình làm việc với cô, tôi học được nhiều bài học về cách làm việc khoa học,
cẩn thận và chính xác.
Tiếp theo tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giảng dạy ở Khoa Văn
học và Ngôn ngữ của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM, những
người đã truyền đạt cho tôi tri thức q báu trong suốt q trình học tập.
Đồng thời, tơi xin cảm ơn các thầy cơ ở phịng Sau đại học trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn TP. HCM đã tạo điều kiện cho tơi hồn thành khóa học này.
Tơi cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo và đồng nghiệp ở cơ quan công tác đã giúp
đỡ tôi trong việc sắp xếp thời gian học tập và hồn tất luận văn.
Lời cuối cùng, tơi muốn nói lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã
chăm sóc, hỗ trợ, động viên và cổ vũ tơi đi đến hết chặng đường học tập này.
Trân trọng kính chào tất cả!
Tác giả luận văn
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
MỤC LỤC
DẪN LUẬN ............................................................................................................... ..1
1. Lý do chọn đề tài-------------------------------------------------------------------------------- 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài -----------------------------------------------------------------------2
3. Mục đích và đối tượng của đề tài --------------------------------------------------------------- 6
4. Phạm vi đề tài ----------------------------------------------------------------------------------- 6
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ---------------------------------------------- 7
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài ---------------------------------------------------------------- 7
7. Cấu trúc của luận văn ---------------------------------------------------------------------------8
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỐ TÂM (HOÀNG NGỌC PHÁCH) VÀ TUYẾT
HỒNG LỆ SỬ (TỪ CHẨM Á) ..................................................................................... 10
1.1. Về tác giả Hoàng Ngọc Phách và Từ Chẩm Á --------------------------------------------- 10
1.1.1. Nhà văn Hoàng Ngọc Phách (1896 - 1973) ------------------------------------------- 10
1.1.2. Nhà văn Từ Chẩm Á (1889 - 1937) --------------------------------------------------- 14
1.2. Bối cảnh văn hóa xã hội dẫn đến sự ra đời của Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử ------------- 17
1.2.1. Những tiền đề cho sự ra đời của Tố Tâm ---------------------------------------------- 17
1.2.2. Những tiền đề cho sự ra đời của Tuyết hồng lệ sử ------------------------------------ 21
1.2.3. Hơi thở tiến bộ về nữ quyền bao trùm lên thời đại của Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử 24
1.2.4. Tiểu thuyết và câu chuyện về nguyên mẫu -------------------------------------------- 29
1.3. Sơ lược về thể loại Tiểu thuyết “Uyên ương hồ điệp” và Tiểu thuyết lãng mạn---------- 33
1.3.1. Tiểu thuyết “Uyên ương hồ điệp” ----------------------------------------------------- 33
1.3.2. Tiểu thuyết lãng mạn------------------------------------------------------------------- 37
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG TỐ TÂM (HOÀNG NGỌC PHÁCH) VÀ TUYẾT
HỒNG LỆ SỬ (TỪ CHẨM Á) ..................................................................................... 41
2.1. Phụ nữ trước uy quyền kiên cố của đạo đức phong kiến khắc nghiệt --------------------- 41
2.1.1. Hình tượng nhân vật nữ trong nền tảng gia đình phong kiến ------------------------- 41
2.1.2. Thái độ và hành động của nhân vật nữ trước uy quyền lễ giáo phong kiến ---------- 52
2.2. Phụ nữ và bản tun ngơn tình u bất diệt ------------------------------------------------ 61
2.2.1. Nền tảng tình u đơi lứa -------------------------------------------------------------- 61
2.2.2. Mn mặt của một tình yêu ------------------------------------------------------------ 68
CHƯƠNG 3: NHỮNG THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG TỐ TÂM (HOÀNG NGỌC
PHÁCH) VÀ TUYẾT HỒNG LỆ SỬ (TỪ CHẨM Á) .................................................... 76
3.1. Nghệ thuật xây dựng kết cấu truyện theo không gian hồi tưởng và thời gian tâm lý ----- 76
3.1.1. Kết cấu truyện theo không gian hồi tưởng -------------------------------------------- 77
3.1.2. Diễn biến truyện theo thời gian tâm lý ------------------------------------------------ 87
3.2. Tổ chức ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện ----------------------------------------------- 97
3.2.1. Phương diện ngôn ngữ ----------------------------------------------------------------- 98
3.2.2. Nghệ thuật kể chuyện -----------------------------------------------------------------106
CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY ĐỐI VỚI TỐ TÂM, TUYẾT
HỒNG LỆ SỬ VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN HAI TIỂU THUYẾT TẠI VIỆT NAM 111
4.1. Ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây đối với Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử -----------111
4.2. Người đương thời với Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử ---------------------------------------122
4.2.1. Tiếp nhận về mặt văn học-------------------------------------------------------------122
4.2.1.1. Trường hợp Tuyết hồng lệ sử------------------------------------------------------------ 122
4.2.1.2. Trường hợp Tố Tâm ---------------------------------------------------------------------127
4.2.2. Tiếp nhận về mặt xã hội --------------------------------------------------------------134
KẾT LUẬN.............................................................................................................. 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
“Những ảnh hưởng Trung Hoa vốn âm thầm như những mạch nước ngầm, những
con suối nhỏ ngày đêm xâm nhập đời sống văn hóa người Việt.” [86] Suốt hơn nghìn
năm, văn học Việt Nam được bao bọc trong cái tổ cũ xưa, đan dệt bởi hằng hà điển tích,
điển cố từ nền văn hóa Trung Hoa. Nhìn vào mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và
Trung Hoa từ thế kỷ XIX về trước đã thấy hình thành một vài khn thước, đó là những
lối mịn trong khn khổ sáng tác thơ văn. Nhà nghiên cứu Phương Lựu, trong bài viết
“Quan niệm văn học của Lương Khải Siêu”, in trong Tân thư và xã hội Việt Nam cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng cho rằng: “Do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý và văn
hóa, mối liên hệ về quan niệm văn học giữa Việt Nam và Trung Hoa là liền mạch một
cách tất yếu.”[86]. Riêng trong văn xuôi, một trong những ảnh hưởng trực tiếp là tiểu
thuyết tài tử giai nhân, từ đó làm ra thể truyện Nơm. Về sau tiểu thuyết tài tử giai nhân
chuyển mình thành tiểu thuyết “Uyên ương hồ điệp”, đây được xem là bước cải lương
trong sáng tác tiểu thuyết ở Trung Quốc, thể loại tiểu thuyết ra đời dựa trên quá trình kết
hợp giữa dinh dưỡng của văn học nước ngoài với văn học truyền thống Trung Quốc.
Thành công của tiểu thuyết “Uyên ương hồ điệp” đã hình thành một văn phái lớn tập
trung đông đảo nhiều cây bút chuyên sáng tác thể loại này, văn phái Uyên hồ. Từ đó
“Uyên ương hồ điệp” trở thành một trong những dòng văn học chủ lưu của văn đàn
Trung Hoa thời kì cận đại. Tác phẩm tiêu biểu của văn phái này là Tuyết hồng lệ sử của
Từ Chẩm Á. Cuốn tiểu thuyết tạo nên làn sóng lớn đánh dạt mọi tư tưởng bảo thủ về
phong cách sáng tác văn chương trước nay ở Trung Quốc và gây ảnh hưởng lan tỏa sang
cả những quốc gia bên cạnh như Việt Nam.
Cũng trong bối cảnh va chạm giữa hai luồng văn hóa Đơng - Tây ấy, văn học Việt
Nam đầu thế kỷ XX bất ngờ chuyển mình, hồi sinh. Xu hướng sáng tác lúc này là chất
Tây trong cách viết, đặc biệt là bút pháp tiểu thuyết có nhiều thay đổi đáng ngạc nhiên.
Và, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách nổi lên như mốc đánh dấu việc đưa tiểu thuyết Việt
Nam theo hướng phương Tây hiện đại. Vấn đề đặt ra ở đây là không phải ngẫu nhiên, khi
đọc Tố Tâm người ta nghĩ ngay tới một cuốn tiểu thuyết Trung Quốc nổi tiếng khác.
2
Cuốn sách được khơng ít người giỏi Hán văn chuyền tay nhau đọc rất lâu trước khi bản
dịch được công bố trên Nam Phong tạp chí (1924), đó là Tuyết hồng lệ sử.
Tuyết hồng lệ sử có nội dung xuất phát từ chính tự truyện của Từ Chẩm Á. Ban
đầu Từ Chẩm Á dùng chuyện của mình với lối kể thông thường, kiểu văn biền ngẫu để
sáng tác Ngọc lê hồn. Thành công vang dội của Ngọc lê hồn đã cổ vũ họ Từ viết lại nó
thành một tiểu thuyết khác dưới dạng nhật ký lấy tên là Tuyết hồng lệ sử. Tuyết hồng lệ
sử in lần đầu trên Tiểu thuyết tùng báo ở Thượng Hải vào năm 1914, cho đến nay vẫn
được xem là tác phẩm có ảnh hưởng lớn trong lịch sử phát triển tiểu thuyết Trung
Quốc. Đặc biệt, khi cái bóng của Tuyết hồng lệ sử đổ dài lên địa hạt văn chương Việt
Nam, nó đã tạo nên cả một thời đại sách dịch.
Hơn nữa, “Lâu nay, nhiều người chỉ thấy Tố Tâm gần gũi với Tuyết hồng lệ sử là
ở hơi văn, là ở nguồn cảm thương tốt ra qua câu chữ, là ở cách hình dung về cuộc đời,
cái điệu tâm hồn của một thời đại dang dở.”[86] mà không thấy rằng, cùng mạch cảm
hứng về tâm lý thời đại, bối cảnh văn hóa xã hội với những giao thoa về văn học, cụ thể
là chủ nghĩa tình cảm trong văn học Đức - Pháp kiểu như Nỗi đau của chàng
Werther (W. Goethe) thì vấn đề “Nghiên cứu so sánh giữa Tố Tâm của Hoàng Ngọc
Phách và Tuyết hồng lệ sử của Từ Chẩm Á” cần được xem xét một cách nghiêm túc và
thấu đáo hơn. So sánh để thấy sự giống và khác nhau trong khả năng sáng tạo của hai nhà
văn khi cùng chịu ảnh hưởng luồng văn hóa phương Tây trong giai đoạn giao thời,
nguyên nhân và quá trình ra đời cũng như hướng tiếp nhận của công chúng độc giả đối
với hai tiểu thuyết.
Với lý do đó, chúng tơi mong muốn triển khai đề tài luận văn “Nghiên cứu so
sánh Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và Tuyết hồng lệ sử của Từ Chẩm Á”. Khi tập
trung so sánh hai tác phẩm này, chúng tơi chú tâm tìm hiểu sự vận động của tiểu thuyết
trong giai đoạn giao thời. Đặc biệt là cách đặt vấn đề so sánh ở góc độ phê bình nữ quyền
và đi sâu vào phân tích những thành công bước đầu trong kĩ thuật khai thác tâm lý nhân
vật ở cả hai sáng tác mang tính tiên phong cho nhu cầu đổi mới tiểu thuyết, chuẩn bị triệt
để cho những sáng tác văn xuôi về sau ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc.
Đề tài “Nghiên cứu so sánh Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và Tuyết hồng lệ sử
của Từ Chẩm Á” có thể là cơng trình mang lại nhiều sáng tỏ đối với những ai quan tâm
đến lịch sử văn học, u thích văn xi lãng mạn nói chung và văn xi lãng mạn Việt
Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
3
Có thể nói những năm hai mươi của thế kỉ trước, tiểu thuyết tình ái của Từ Chẩm Á
lan trong giới thanh niên Việt Nam cũng phổ biến như Quỳnh Dao, Kim Dung hay
Sydney Sheldon sau này. Tiểu thuyết của Từ Chẩm Á mà tiêu biểu là Tuyết hồng
lệ sử với những tình tiết lãng mạn đã làm rung động độc giả chưa từng thấy, và văn tài
của người dịch cũng đã khiến họ say lòng. Tương tự với mạch thơng điệp giàu tình cảm
ấy, Tố Tâm của Hồng Ngọc Phách giữ địa vị tiên phong, mở đầu cho nền tiểu thuyết
mới đầu thế kỷ XX, đồng thời mở màn cho trào lưu lãng mạn của văn học Việt Nam.
Cùng thở chung một bầu khơng khí thời đại và đều đạt được nhiều thành tựu đáng kể
trong kĩ thuật viết tiểu thuyết theo hướng hiện đại, Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết
hồng lệ sử (Từ Chẩm Á) đã đặt giới nghiên cứu vào những suy nghĩ đáng bàn luận và sâu
sắc. Bên cạnh đó, phải thấy rằng vấn đề nghiên cứu mối tương quan, sự du nhập và ảnh
hưởng của các thể loại, các tác phẩm tiêu biểu giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng đã
được giới nghiên cứu và phê bình để mắt từ lâu với những cơng trình lớn như: so sánh
Truyện Kiều (Nguyễn Du) với Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân), Tiễn đăng
tân thoại (Cù Hựu) với Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ),.... Nhưng trên thực tế, với nhiều
nét tương đồng gây chú ý, trường hợp của Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng lệ
sử (Từ Chẩm Á) gần như chưa có một cơng trình nghiên cứu hay bài khảo luận nào chính
thức đi vào so sánh hai tiểu thuyết này. Ở đây, chúng tơi chỉ xin liệt kê một vài cơng trình
và bài viết ít nhiều đề cập đến những ảnh hưởng, tương quan giữa Tố Tâm và Tuyết hồng
lệ sử:
* Trần Quang Huy là một trong những người nghiên cứu tiểu thuyết tài tử giai nhân
sâu sắc nhất: Trong luận án tiến sĩ Việt Nam Nôm truyện dữ Trung Quốc quan hệ chi
nghiên cứu (Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyện Nôm Việt Nam và tiểu thuyết Trung
Quốc), Trần Quang Huy đã chỉ ra những ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc với
truyện Nơm Việt Nam. Sau đó, Trần Quang Huy lại có bài viết Trung Quốc tiểu thuyết
đích diễn biến cập kỳ truyền nhập Việt Nam (Diễn biến sự truyền nhập của tiểu thuyết
Trung Quốc vào Việt Nam) đăng trong Trung Hoa văn hóa phục hưng nguyệt san, quyển
9, số 6, năm 1976, đã vạch rõ quá trình du nhập, ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc
vào Việt Nam, có nhắc đến Từ Chẩm Á và Tuyết hồng lệ sử.
* Hàng loạt các nghiên cứu của Vương Trí Nhàn đã chỉ ra ảnh hưởng của Tuyết
hồng lệ sử đối với tiểu thuyết Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX như:
Cơng trình “Nhà văn tiền chiến và q trình hiện đại hóa” với những bài viết
quan trọng: Những bước đột phá thường bị lãng quên (Chương 3), bàn về Sự hình
4
thành của tiểu thuyết Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ; Quá trình du nhập của một thể
tài (Chương 2) nói về Tiểu thuyết và một cách tiếp nhận ảnh hưởng nước ngoài đặc
trưng cho văn học Việt Nam. Đây là những tham luận lớn tại cuộc hội thảo về văn học so
sánh tổ chức tại Khoa văn ĐHSP Hà Nội, 5-2004. Trong những bài viết này, Vương Trí
Nhàn đưa người đọc quay về những bước đầu tiên của thời kỳ phơi thai tiểu thuyết Việt
Nam. Qua đó, ơng chỉ rõ, trong khoảng hai chục năm đầu thế kỷ XX, văn hóa dịch và
trào lưu dịch tiểu thuyết Tàu, chủ yếu là tiểu thuyết của Từ Chẩm Á như Tuyết hồng lệ sử
đã thúc đẩy người đương thời phải sớm có những thể nghiệm để tìm ra hình thức tiểu
thuyết cho thời đại mình. Trong đó thành tựu đáng kể nhất là trường hợp Hoàng Ngọc
Phách với tiểu thuyết Tố Tâm viết năm 1922, và công bố 1925.
Với “Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong sự hình thành tiểu thuyết Việt
Nam trước năm 1930”, Vương Trí Nhàn đã phản bác lại nhận định một chiều cho rằng
văn học Việt Nam chưa có tiểu thuyết; sự hình thành tiểu thuyết theo nghĩa đúng đắn của
khái niệm ấy chủ yếu diễn ra trong thế kỷ XX với những ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa
phương Tây, tức là tiểu thuyết phương Tây. Vương Trí Nhàn đã đưa ra những bằng
chứng về sự có mặt và tác động của tiểu thuyết Trung Quốc đến sự hình thành của thể
loại này. Ơng cũng cho rằng “văn hóa Trung Hoa là mơi giới giúp chúng ta làm quen; là
khoang đệm; là điểm đến đầu tiên, trên con đường dài đến với văn hóa phương Tây”
[86]. Từ hướng đi này, xuyên suốt bài viết là q trình Vương Trí Nhàn khảo sát sự ra đời
của tiểu thuyết Việt Nam ở Sài Gòn và Hà Nội. Đặc biệt, ơng có đề cập đến sự ảnh hưởng
rõ rệt của Tuyết hồng lệ sử đến nhận thức sáng tác tiểu thuyết của các nhà văn đương
thời, trong đó có Hồng Ngọc Phách với Tố Tâm.
* Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đưa người đọc tiếp cận đến những cơ sở hình
thành của tiểu thuyết Việt Nam trong thời kỳ đầu của thế kỷ XX bằng bài viết “Phụ nữ
tự sát - Lỗi tại tiểu thuyết?”. Nguyễn Nam đã chỉ ra nhiều vấn đề cho thấy tiểu
thuyết“Uyên ương hồ điệp” của Trung Quốc như Ngọc lê hồn và Tuyết hồng lệ sử đã ảnh
hưởng trực tiếp đến khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này mà Tố
Tâm là một điển hình dễ thấy.
Hay, bài viết “Tình sử loại lược” lưu truyền và ảnh hưởng ở Việt Nam của ơng
cũng có đề cập đến mối liên hệ của Tình sử với các tác phẩm của Từ Chẩm Á. Đặc biệt là
các cây bút Việt Nam dường như chịu ảnh hưởng khá nhiều ở Tình sử và Từ Chẩm Á cho
sáng tác của mình.
5
* Trong Cuộc phỏng vấn các nhà văn, Lê Thanh có đề cập đến việc Từ Chẩm Á
đã ảnh hưởng sâu đậm đến phong cách sáng tác của Trúc Khê một thời: “Những tiểu
thuyết ngoài loại lịch sử, trong thời kỳ này (khoảng cuối những năm 20 - đầu 30, N.N.)
tơi có viết được vài cuốn: Mặt nước cánh hoa, Thu phương hận sử và ít truyện ngắn.
Những truyện tơi viết về thời kỳ này còn theo lối văn cổ, xây dựng đã cổ và lối hành văn
cũng cổ, hay chen vào những đoạn biền ngẫu và hay có chữ thêm đệm rất thừa. Nhất là
quyển Mặt nước cánh hoa tôi viết rất công phu, phần nhiều bằng lối văn tứ lục, lối văn
của nhà văn Tàu Từ Chẩm Á trong những cuốn Ngọc lê hồn và lối văn của nhà văn sĩ
này.” [54]. Điều này cho thấy văn chương của Từ Chẩm Á đã trở thành kim chỉ nam cho
nhiều cây bút Việt Nam muốn thử sáng tác tiểu thuyết.
* Trong cuốn Hoàng Ngọc Phách - đường đời và đường văn, Nguyễn Huệ Chi
đã dành nguyên Chương 2 để đi sâu vào phân tích tác phẩm Tố Tâm ở nhiều phương diện
khác nhau về nội dung và nghệ thuật, gồm 7 phần. Trong đó phần thứ 4, “Tố Tâm: từ một
vài khía nhìn thi pháp”, Nguyễn Huệ Chi đã phần nào so sánh tiểu thuyết của Hoàng
Ngọc Phách và Tuyết hồng lệ sử của Từ Chẩm Á giống và khác nhau ở một vài phương
diện.
* Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Quyển hạ (1862-1945) của Thanh Lãng lại
giới thiệu chi tiết về tiểu thuyết Tuyết hồng lệ sử cùng với những ảnh hưởng của nó đối
với tiểu thuyết Việt Nam những năm 1920 - 1926. Qua đó, Thanh Lãng kết luận rằng các
truyện ra đời khoảng thời gian này đều ít nhiều nhuốm màu sắc đau đớn của các tiểu
thuyết Trung Hoa.
* Cuốn Nhất Linh - cây bút trụ cột của Tự lực văn đoàn do Mai Hương tuyển
chọn và biên soạn có trích dẫn bài viết Nhất Linh - đời văn, đời người của tác giả Vu Gia.
Vu Gia cho rằng Nhất Linh cũng chịu ảnh hưởng lối viết tiểu thuyết Tàu khi bước đầu bắt
tay vào sáng tác tiểu thuyết, cụ thể là tác phẩm Tuyết hồng lệ sử của Từ Chẩm Á. Nhân
đó, Vu Gia cũng đề cập những trang viết có nội dung giống nhau giữa Tố Tâm (Hoàng
Ngọc Phách), Tuyết hồng lệ sử (Từ Chẩm Á) và Nho phong (Nhất Linh).
* Riêng trường hợp Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, một vài bài luận đã tiến hành
so sánh nó với một tiểu thuyết khác, qua đó cũng nhắc đến Tuyết hồng lệ sử khi người
viết cho rằng cả Hoàng Ngọc Phách và Từ Chẩm Á đều chịu nhiều ảnh hưởng của văn
học phương Tây như: Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Văn học của Quách Trọng Trà
với đề tài “Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách và tiểu
thuyết “Nỗi đau của chàng Werther” của Johann Wolfgang Goethe” [59]
6
* Luận văn tốt nghiệp cử nhân Văn học của Lê Thị Huyền Trang tại đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh đi sâu vào phân tích các tiểu thuyết của Từ
Chẩm Á và chỉ nhắc sơ qua Tố Tâm khi trình bày những vấn đề nghiên cứu về tiểu thuyết
của văn phái Uyên hồ mà Từ Chẩm Á là đại diện trong đề tài Tiểu thuyết “Uyên ương
hồ điệp” trong văn học Trung Quốc.
Tóm lại, sau khi khảo sát lịch sử nghiên cứu của đề tài, có thể kết luận rằng cho
đến nay vẫn chưa có một cơng trình nào chính thức đi vào so sánh Tố Tâm và Tuyết hồng
lệ sử. Vì vậy, những bài viết trên được xem là nguồn tư liệu tham khảo để đề tài “Nghiên
cứu so sánh Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và Tuyết hồng lệ sử của Từ Chẩm Á”
được triển khai trọn vẹn.
3. Mục đích và đối tượng của đề tài
Để triển khai đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát hai tác phẩm: Tố Tâm
(Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng lệ sử (Từ Chẩm Á) - thông qua bản dịch của Mai
Nhạc, NXB Thọ Xuân, năm 1957; đặt mục tiêu so sánh, tìm hiểu trên ba bình diện:
- Một là vấn đề phụ nữ trong Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng lệ sử
(Từ Chẩm Á)
- Hai là tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật trong Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và
Tuyết hồng lệ sử (Từ Chẩm Á), đặc biệt chú trọng khai thác về kĩ thuật viết tiểu thuyết
theo hướng phân tích tâm lý.
- Cuối cùng, luận văn sẽ dành nhiều trang triển khai vấn đề ảnh hưởng của văn học
phương Tây đối với Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng lệ sử (Từ Chẩm Á),
cũng như việc tiếp nhận của hai tiểu thuyết này tại Việt Nam để thấy được những nét đặc
thù trong mối quan hệ mang tính văn học và xã hội giữa tác phẩm văn chương với bạn
đọc.
4. Phạm vi đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ giới hạn trong việc làm sáng tỏ:
- Vấn đề phụ nữ trong Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng lệ sử (Từ Chẩm
Á)
- Những thủ pháp nghệ thuật trong Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng lệ
sử (Từ Chẩm Á), như: nghệ thuật xây dựng kết cấu truyện theo không gian hồi tưởng và
thời gian tâm lý; tổ chức ngôn ngữ và nghệ thuật kể chuyện
- Ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử;
khuynh hướng tiếp nhận về văn học - xã hội của hai tiểu thuyết cũng như ảnh hưởng của
7
chúng đến những nhà văn đương thời và thế hệ tiếp sau về phong cách và kĩ thuật sáng
tác tiểu thuyết.
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Thông qua phương pháp so sánh dưới lăng kính phê bình nữ quyền, đề tài góp
phần làm rõ những đòi hỏi bức thiết về việc khẳng định con người cá nhân, giá trị đích
thực và nhu cầu cảm xúc của người phụ nữ trong hoàn cảnh giao thời của xã hội Trung
Quốc và Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.
- Khi đi sâu vào phân tích những thủ pháp nghệ thuật của hai tiểu thuyết, đề tài
muốn chỉ ra sự chuyển biến nghệ thuật trong sáng tác văn xuôi của văn học Việt Nam và
tác động của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam giai đoạn đầu chịu chi
phối giữa Đông - Tây.
- Thấy được những đặc trưng về văn hóa - xã hội Trung Quốc và Việt Nam giai
đoạn giao thời, sự giao lưu tiếp xúc giữa hai nền văn hóa thơng qua văn học.
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ đối tượng và tính chất của đề tài, trong q trình thực hiện luận văn,
chúng tơi vận dụng đồng thời những phương pháp sau đây:
* Phương pháp so sánh: Là phương pháp chủ yếu được sử dụng nhằm đối chiếu
những điểm tương đồng, khác biệt giữa Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử ở cả nội dung lẫn
hình thức nghệ thuật, đối chiếu quá trình tiếp nhận của hai tác phẩm.
* Phương pháp phê bình nữ quyền: Ánh sáng của lý thuyết nữ quyền sẽ soi rọi
việc phân tích và so sánh những vấn đề liên quan đến các nhân vật nữ trong Tố Tâm và
Tuyết hồng lệ sử như: số phận, ý thức về bản thân, ý thức về tình yêu và cuộc sống
* Phương pháp thi pháp học: Vận dụng thi pháp học vào nghiên cứu, phê bình
văn học giúp tìm hiểu thi pháp tiểu thuyết hiện đại của Hoàng Ngọc Phách và Từ Chẩm
Á trong sáng tác Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử.
* Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Đặt Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử vào
chính thời đại, hồn cảnh xã hội đã nảy sinh ra chúng để tìm thấy những tiền đề cho sự ra
đời cũng như tác động ngược lại của lịch sử, xã hội đối với nội dung và nghệ thuật ở cả
hai tiểu thuyết.
Ngoài ra luận văn cịn sử dụng các phương pháp như phân tích - tổng hợp để xử
lý, khai thác và hệ thống các dẫn chứng, tư liệu; phương pháp nghiên cứu liên ngành như:
8
xã hội học, tâm lý học, văn hóa học,… để nội dung của đề tài có chiều sâu và cơng phu
hơn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Dẫn luận (9 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo (106 đề
mục), luận văn gồm có bốn chương chính như sau:
* Chương 1: Giới thiệu chung về Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết hồng
lệ sử (Từ Chẩm Á) (32 trang)
Trong chương này, chúng tơi sẽ trình bày khái qt về tiểu sử, sự nghiệp văn học
của Hoàng Ngọc Phách và Từ Chẩm Á. Sau đó, tìm hiểu về bối cảnh văn hóa xã hội dẫn
đến sự ra đời của Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử. Đây là những tiền đề quan trọng cho sự
xuất hiện mang tính giao thời của hai tiểu thuyết. Bên cạnh đó, phong trào nữ quyền ở
Trung Quốc và Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX cũng là một trong những chất liệu
quan trọng khiến Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử trở thành những tác phẩm văn học tiêu biểu
như một lời hô đáp cho cao trào nữ quyền ở Châu Á những năm này. Đặc biệt, việc tìm
hiểu nguyên mẫu những câu chuyện của Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử sẽ giúp luận văn có
thể dễ dàng tiếp cận đến những mạch ngầm trong nội dung và nghệ thuật của hai tiểu
thuyết. Và cuối cùng, nội dung của phần giới thiệu không thể nào bỏ qua lý thuyết về
“Tiểu thuyết Uyên ương hồ điệp” và “Tiểu thuyết lãng mạn”. Những kiến thức nền cơ
bản này sẽ giúp đề tài được triển khai một cách đầy đủ và khoa học.
* Chương 2: Vấn đề phụ nữ trong Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Tuyết
hồng lệ sử (Từ Chẩm Á) (36 trang)
Một trong những nội dung trọng tâm của luận văn là sử dụng lý thuyết nữ quyền
để nghiên cứu so sánh Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử ở các vấn đề phụ nữ trong hai tiểu
thuyết. Đây cũng chính là mục tiêu và nhiệm vụ của chương 2. Ở chương này, chúng tơi
sẽ lần lượt tìm hiểu những tác động của uy quyền phong kiến quyền kiên cố đến những
nhân vật nữ trong Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử. Liệu rằng khi đối mặt với những thử thách
khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, nữ nhân vật chính trong hai tiểu thuyết sẽ thể hiện
tun ngơn tình u của họ như thế nào?
* Chương 3: Những thủ pháp nghệ thuật trong Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách)
và Tuyết hồng lệ sử (Từ Chẩm Á) (37 trang)
9
So với những tác phẩm văn học đương thời thì Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử có
những cách tân mới mẻ về nghệ thuật viết tiểu thuyết. Chính vì vậy chương 3 sẽ đi sâu
vào phân tích những thủ pháp nghệ thuật trong Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử để làm rõ sự
gặp gỡ giữa nghệ thuật Đông - Tây trong phương pháp sáng tác của Hoàng Ngọc Phách
và Từ Chẩm Á. Cụ thể, chương 3 sẽ so sánh nghệ thuật xây dựng kết cấu truyện theo
không gian hồi tưởng, thời gian tâm lý và cách tổ chức ngôn ngữ, cũng như nghệ thuật kể
chuyện trong Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử.
* Chương 4: Ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với Tố Tâm, Tuyết hồng
lệ sử và quá trình tiếp nhận hai tiểu thuyết tại Việt Nam (28 trang)
Có thể nói mọi tác phẩm văn học đều dang dở. Khi người đọc chạm đến dấu
chấm hết của văn bản ấy thì vẫn có hàng ngàn vấn đề bị bỏ ngõ, bị treo lửng lơ. Vì thế
tác giả cần người đọc tự tìm hiểu và phát hiện ra thơng qua những điều được mã hóa
trong tác phẩm. Dấu chấm hết của một văn bản văn học không phải là dấu hiệu của sự
kết thúc mà là bắt đầu, bắt đầu cho một quá trình đối thoại, giữa người viết và người
đọc. Quá trình tiếp nhận của người đọc đảm bảo cho đời sống của một tác phẩm văn
học. Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử đã được công chúng độc giả ở Việt Nam tiếp nhận trên
nhiều bình diện khác nhau như thế nào? Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử đã chịu ảnh hưởng
điều gì từ văn học phương Tây? Tất cả những vấn đề này gây hứng thú cho việc nghiên
cứu so sánh hai tiểu thuyết này. Đây cũng là nội dung mà chương 4 sẽ triển khai trong
luận văn.
10
CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ
TỐ TÂM (HOÀNG NGỌC PHÁCH) VÀ TUYẾT HỒNG LỆ SỬ (TỪ CHẨM Á)
1.1. Về tác giả Hoàng Ngọc Phách và Từ Chẩm Á
1.1.1. Nhà văn Hoàng Ngọc Phách (1896 - 1973)
Đối với văn học sử, Hoàng Ngọc Phách được xem là người mở cánh cửa đầu tiên
cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Hoàng Ngọc Phách có bút hiệu là Song An, tên
húy là Tước. Ông sinh ngày 20/8/1896 tại làng Đông Thái, xã Yên Đồng, huyện Đức
Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Hoàng Ngọc Phách là con thứ sáu của một gia đình nhà Nho yêu
nước. Thân phụ ơng là chí sĩ Hồng Mộng Cân, một trong những sĩ phu yêu nước của
phong trào Cần Vương. Sau khi phong trào Cần Vương thất bại, để tránh sự khủng bố gắt
gao của thực dân Pháp, cả gia đình Hồng Ngọc Phách dắt díu nhau ra ấp Đơng Côi,
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh sống. Tại đây, ông được học chữ Nho với sự rèn cặp
của người anh trai đầu và được chăm chút thêm từ cụ Hoàng Mộng Cân. Thời gian này,
Hoàng Ngọc Phách vừa học chữ Nho, vừa học thêm chữ quốc ngữ.
Năm 15 tuổi, Hoàng Ngọc Phách ra Hà Nội học tiếng Pháp trường cụ Bùi Đình Tá
tại ấp Thái Hà. Một năm sau (1912), nhân kỳ thi khóa sinh mở (thi cả chữ Nho và chữ
quốc ngữ), ông đi thi và đỗ bằng này. Năm 1913, Hoàng Ngọc Phách vào học trường
Tiểu học Hàng Vôi. Đến năm 1914, đỗ bằng Tiểu học Pháp - Việt. Cùng năm này, Hoàng
Ngọc Phách trúng tuyển vào trường Trung học Bảo hộ (trường Bưởi). Nhờ học hành
chăm chỉ, ông được cấp học bổng lưu trú tại trường. Với chuyện này, Hồng Ngọc Phách
có kể rằng: “Chúng tơi vào học trường Bưởi ngày 02 tháng 9 năm 1914 đúng một tháng
sau cuộc đại chiến lần thứ nhất bùng nổ. Anh em gọi khóa chúng tơi là Khóa Đại chiến.”
[9; tr. 136-178]
Năm 20 tuổi, Hồng Ngọc Phách kết hơn với người vợ là Phan Thị An, con của một
đồng chí trong phong trào Cần Vương với cha ông. Kết hôn sớm, lại lớn tuổi và đạo mạo,
nho nhã so với nhiều bạn bè cùng lớp, Hồng Ngọc Phách ln được đề cử vào chức
11
“anh cả”, “trưởng ban”, trưởng hội”, đại diện cho anh em học sinh trong bất cứ công việc
hay sự kiện nào ở trường cũng như khi ra trường. Có lẽ vì thế mà tác phong và giọng văn
của Hồng Ngọc Phách sau này được xem là chỉ đường dẫn lối cho nhiều cây bút.
Trong những năm theo học ở Bưởi, Hồng Ngọc Phách cùng bạn bè tham gia nhiệt
tình các cuộc vận động, bãi khóa, mít-tinh của phong trào u nước, như sự kiện đòi nhà
cầm quyền thả Phan Bội Châu, lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh, hay thành lập Hội Học
sinh tương tế chống bọn giám thị khinh rẻ, bạc đãi học sinh nghèo.
Ngoài học giỏi ra, khiếu văn chương của Hoàng Ngọc Phách cũng sớm bộc lộ.
Năm 1916 khi mới học xong năm thứ hai trường Bưởi, Hoàng Ngọc Phách đã trúng giải
8 trong 20 giải của cuộc thi thơ nhằm cổ động cho việc xây dựng rạp hát Xán Nhiên Đài.
Ông là người đạt giải trẻ tuổi nhất của cuộc thi. Nhưng phải đến năm 1919 thì thơ văn
của Hồng Ngọc Phách mới được chính thức đăng trên Nam Phong tạp chí. Đó cũng là
lúc ơng chuẩn bị bước vào trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Trước khi thi đậu vào Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội, Hoàng Ngọc Phách đã cầm trên tay ba tấm bằng xán lạn khác:
bằng Sơ đẳng và Cao đẳng Tiểu học của Pháp (thi chung với học sinh con Tây ở trường
Albert Sarraut), bằng Thành chung của trường Bưởi. Khi cân nhắc cho việc học lên cao,
sở dĩ, Hoàng Ngọc Phách chọn trường sư phạm mà bỏ qua trường thuốc là vì nhiều lí do
nhưng cơ bản theo lời của ơng thì: “Trường luật, tơi đã dứt khốt khơng vào, vì khơng
thích làm quan. Cịn trường sư phạm và trường thuốc thì tơi đương cân nhắc; thầy thuốc
chữa thể chất, thầy giáo chữa tâm hồn. Hai nghề cùng hay cả và tơi cùng thích cả.
Nhưng tơi thích viết văn và dạy học nên vào học “nghề thầy” để ra dạy văn chương luân
lý” [8; tr. 179]
Ở tuổi 23, Hoàng Ngọc Phách trúng tuyển vào ban Văn chương của trường Cao
đẳng Sư phạm. Ba năm trời chuyên cần học tập, Hoàng Ngọc Phách cùng với nhiều bạn
bè tập viết văn, làm thơ gửi cho các báo Trung Bắc, Thực nghiệp, Tạp chí Nam
Phong,…Và, giữa những người đồng mơn, Hồng Ngọc Phách đã nổi lên như một con
chim đầu đàn về sáng tác.
Thế hệ của Hoàng Ngọc Phách được đọc nhiều các sách luận thuyết, văn chương
truyền bá quan điểm tự do bình đẳng của cách mạng tư sản Pháp như Montesquieu (1689
- 1755), Voltaire (19694 - 1778), Rousseau (1712 - 1778), Diderot (1713 - 1784),... Cùng
với đó là mảng sách triết học, tâm lý học, xã hội học... của nhiều triết gia Âu Tây như
Aristote (384 - 322 tr.CN), Platon (427 - 348 tr.CN), Socrate (469 - 399 tr.CN), Descartes
(1596 - 1650),... Đây có lẽ là những cơng cụ mới mẻ và có ích cho hướng sáng tác theo
12
cách tư duy, mổ xẻ tâm lý sau này của Hoàng Ngọc Phách. Nhưng ảnh hưởng đến sự
nghiệp cầm bút của ông nhiều nhất vẫn là thơ văn lãng mạn Tây Âu thế kỉ XIX mà mạnh
nhất là Victor Hugo. Hoàng Ngọc Phách bị chi phối bởi các sáng tác từ trào lưu lãng mạn
của Lamartine (1790 - 1769), Musset (1710 - 1757), Vigny (1797 - 1763), Baudelaire
(1721 - 1767), cha con nhà Dumas, Balzac (1799 - 1750),... cả những nhà văn tiên phong
của chủ nghĩa lãng mạn như Madame de Staël (1766 - 1717), Chateaubriand (1768 1748), Rousseau (truyện Julie hay nàng Héloise mới; 1761),... Không dừng lại ở đó,
Hồng Ngọc Phách cịn theo dõi hàng kì các tiểu thuyết Trung Quốc được dịch và đăng
trên Nam Phong tạp chí, mà rầm rộ nhất thời bấy giờ phải kể đến Tuyết hồng lệ sử của
Từ Chẩm Á.
Hoàng Ngọc Phách tích cóp những hiểu biết từ việc đọc và quan sát thực tế cho bài
viết của mình. Những bài viết này thể hiện đầy đủ các kiến thức về tâm lý học, luân lý
học, xã hội học, chú trọng vào giải phẫu tâm lý và tư tưởng, nhất là đối với phụ nữ. Năm
1920, bài báo Văn chương với nữ giới của ơng đăng trên Tạp chí Nam Phong đã làm xôn
xao dư luận trong giới học đường bằng những phê phán kịch liệt tâm trạng sầu thảm,
chán đời, tuyệt vọng…trong văn chương. Vì bài báo này, Hồng Ngọc Phách đã có dịp
đấu khẩu với nữ sinh Đỗ Thị Đàm, chính là nhà thơ Tương Phố sau này.
Học tập các nhà văn phương Tây, Hoàng Ngọc Phách bước vào quá trình xâm nhập
thực tế đời sống. Sự lố lăng, bỉ ổi, lai căng của đời sống thành thị những năm đầu thế kỉ
XX, cùng thực trạng thảm khốc của thanh niên khi đối mặt với nền luân lý cổ hà khắc đã
dần hình thành ý tưởng sáng tác trong ơng. Cho đến mùa hè cuối cùng của đời sinh viên
(1922), Tố Tâm, “đứa con đầu lịng” của Hồng Ngọc Phách ra đời ở dạng bản thảo, được
anh em bạn bè say mê chuyền tay đọc. Ba năm sau, Tố Tâm chính thức ra mắt đơng đảo
độc giả và nhanh chóng trở thành một hiện tượng của làng văn Việt.
Năm 1922, ra trường, Hoàng Ngọc Phách được bổ về dạy ở trường Thành chung
Nam Định, kiêm Phó thanh tra học chính và Quản đốc trường sư phạm của tỉnh. Ba năm
sau, ông được chuyển lên quản lý tờ Học báo của Nha học chính Đơng Dương và làm
Tổng thư ký trường Cao Đẳng Sư phạm. Sau đó, vì liên can đến phong trào yêu nước
trong trường, ông bị đổi xuống Học khu ở tỉnh Kiến An. Năm 1927, ông xin chuyển sang
dạy học tại trường Trung học Bonnal (Hải Phòng). Đến năm 1931, lại bị tình nghi liên
can tới phong trào cách mạng, Hoàng Ngọc Phách một lần nữa bị thuyên chuyển lên
Lạng Sơn dạy Cao đẳng Tiểu học. Đến năm 1935, ông xin được về Bắc Ninh. Tại đây,
ông được cử làm Giám đốc Học khu Bắc Ninh cho đến ngày Tổng khởi nghĩa năm 1945.
13
Cách mạng tháng Tám thành cơng, Hồng Ngọc Phách vẫn giữ nguyên với chức
Giám đốc Học khu Bắc Ninh, kiêm hiệu trưởng trường Trung học Hàn Thuyên, đồng thời
được bầu vào Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (1946).
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hoàng Ngọc Phách cùng gia đình lặn lội khắp nơi,
tham gia công tác giáo dục của vùng kháng chiến. Thời gian này, ông lần lượt giữ chức
Giám đốc giáo dục Chiến khu XII, Giám đốc giáo dục Liên khu I (1948), Hiệu trưởng
trường Trung học Kháng chiến Liên khu X (1949), Giám đốc trường Cao đẳng Sư phạm
trung ương (1950), Thanh tra trung học vụ toàn quốc (1951),... Mấy năm này, Hồng
Ngọc Phách cịn tham gia Mặt trận Liên Việt tỉnh và khu, tham gia Ban chấp hành Cơng
đồn Giáo dục trung ương và đã được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất.
Năm 1952, ở tuổi 56, chịu nhiều đả kích về tinh thần sau cái chết của vợ, cũng như
một thời gian dài lao lực, Hoàng Ngọc Phách bị ốm nặng và xin về nghỉ dưỡng ở Hà
Tĩnh. Trở về ít lâu, ơng khỏe hơn, lại đi dạy ở trường Phan Đình Phùng trong tỉnh. Sau,
ơng được lệnh ra Hà Nội công tác ở Ban tu thư Bộ Giáo dục. Tại đây, Hồng Ngọc Phách
tham gia nhóm Lê Q Đơn, sưu tầm và biên soạn các cơng trình về văn học cổ điển, cận
đại và dân gian. Trong thời gian này, ông được bầu vào Ban chấp hành Hội Liên hiệp văn
học nghệ thuật Việt Nam. Đến năm 1959, khi Viện Văn học thành lập, ông được điều làm
Chuyên viên nghiên cứu ở Tổ Văn học cổ cận đại của viện cho đến năm 1963 mới về
hưu.
Năm 1972, khi đế quốc Mỹ “leo thang” ném bom miền Bắc, Hoàng Ngọc Phách đi
di tản và không may bị vấp ngã, mang vết thương khá nặng. Đó là nguyên nhân dẫn đến
tình trạng sức khỏe ơng kém đi rõ rệt, cho đến chiều ngày 24 tháng 11 năm 1973, nhà văn
ra đi tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, hưởng thọ 77 tuổi. Tên của ông được đặt cho một
con đường tại phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội.
Hoàng Ngọc Phách được coi là cây bút tiên phong mở đường cho trào lưu lãng mạn
với cuốn tiểu thuyết Tố Tâm. Đây là thành tựu quan trọng ghi nhận bước nhảy vọt của
q trình hiện đại hóa văn xi Việt Nam những năm 20 của thế kỉ XX. Những sáng tác
của ông bao gồm: Tố Tâm (1925), Thời thế với văn chương (luận thuyết; 1941), Đâu là
chân lý (truyện ký, luận thuyết; 1941), Bên bờ sông Lô (1966), Chuyện trường Bưởi,
Chuyện Trường Cao đẳng Sư phạm (viết 1968, in 1989), Tuyển tập Hoàng Ngọc Phách
(1989) và một số sách sưu tầm, nghiên cứu in chung với các tác giả khác,v.v…
14
1.1.2. Nhà văn Từ Chẩm Á (1889 - 1937)
Từ Chẩm Á là một trong những đại diện có ảnh hưởng nhất của văn phái Uyên hồ.
Ông cũng được xem là cây bút mở đầu cho văn xuôi hiện đại Trung Quốc. Từ Chẩm Á
sinh ngày 05 tháng 8 năm 1889, là người Thường Thục (tỉnh Giang Tô), tên gốc là Giác,
tự là Chẩm Á, cịn gọi là Chẩm Hà. Ơng là tác giả với rất nhiều bút danh như: Từ Từ, My
Tử, Khấp Châu Sinh, Đông Hải Tam Lang, Đông Hải Giao Nhân, hay Thanh Lăng Nhất
Điệp, Giang Tô Thường Thục Nhân.
Từ Chẩm Á sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống văn chương. Cha của ơng
tuy khơng có danh tiếng gì nhưng kèm cặp Từ Chẩm Á và anh trai ông rất chu đáo. Bản
thân ông cũng rất thông minh, ham học và sớm bộc lộ thiên bẩm sáng tác. Lên 5 tuổi, Từ
Chẩm Á đi học cùng anh trai tại một học quán tư do cha mở; 8 tuổi, tập làm thi từ; 10
tuổi, đã có thể soạn lời bài hát, làm thơ, tập viết truyện ngắn và tiểu luận; đến 20 tuổi, Từ
Chẩm Á đã có trong tay hơn 800 bài thơ.
Khi 14 tuổi (1903), Từ Chẩm Á theo anh trai Thiên Khiếu đến học ở trường Sư
phạm Ngu Nam, thành Thường Thục. Đây là một bước ngoặc lớn trong đời Từ Chẩm Á.
Ơng có cơ hội được gặp gỡ và kết giao với Từ Tiếu Vấn, Ngô Song Nhiệt. Từ Chẩm Á
cùng những người bạn này không những yêu mến và hiểu biết nhau mà cịn có chung sở
thích làm thơ, viết văn. Họ cùng nhau tạo nên một thi đàn nhỏ, ngâm vịnh thơ của nhau
và tổng hợp các sáng tác thành Tứ si thù xướng tập. Sự ăn ý của bộ ba này được người
trong nhóm là Ngơ Song Nhiệt bày tỏ bằng Chứng minh văn, tự xưng là ba kỳ nhân ở
thành Hải Ngu: một cười - một khóc - một câm (Ngô Song Nhiệt hay cười, Từ Thiên
Khiếu thâm trầm như câm, Từ Chẩm Á đa sầu hay khóc).
Năm 1904, cha của Từ Chẩm Á mở một ngơi trường nhỏ có tên là “Thiện dục tiểu
học đường”. Từ Chẩm Á cùng Thiên Khiếu rời trường Sư phạm Ngu Nam trở về dạy học
tại trường tư giúp cha. Thời gian này, Từ Chẩm Á tìm đọc các tác phẩm văn học cổ điển
như Yên sơn ngoại sử của Trần Cầu đời Hán, Du tiên thuật của Trương Trạc đời Đường,
và Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần đời Thanh. Ngoài việc thưởng thức các áng văn tự
sự này, Từ Chẩm Á dành thời gian tìm hiểu và ghi chép những phát hiện trong lối viết
đậm chất lãng mạn, đặc biệt là tập trung vào những tình tiết yêu đương nam nữ phức tạp.
Phải chăng đây là bước đầu cho những ấp ủ sáng tác về sau của Từ Chẩm Á cũng như
ảnh hưởng khá lớn đến cách hành văn của cây bút này?
Năm 1907, cha Từ Chẩm Á bệnh nặng, ngôi trường nhỏ phải đóng cửa, cảnh nhà
sa sút dần nên đến đầu năm 1909, Từ Chẩm Á tìm tới trấn Tây Thương, Vơ Tích để dạy
15
học. Tại đây, ơng quen biết và sa vào tình yêu với một góa phụ trẻ là Trần Bội Phân, vốn
là mẹ của học trò Mộng Tăng. Mối quan hệ này đi ngược với định kiến xã hội và vướng
phải rào cản lễ giáo lúc bấy giờ nên họ không dám đến với nhau. Cuối cùng, để chấm dứt
mối bi tình đó, Trần Bội Phân đã đem người em chồng của mình là Thái Nhị Châu gả cho
Từ Chẩm Á.
Sau khi kết hôn, Từ Chẩm Á một lần nữa chuyển đến dạy ở trường tiểu học Hoa
Nam (Thường Thục). Tuy sống với Thái Nhị Châu nhưng chưa bao giờ Từ Chẩm Á qn
được Trần Bội Phân, thậm chí cịn treo cả ảnh của nàng trong phòng làm việc ở thư cục.
Những nuối tiếc, tương tư về tình cảm vơ vọng này được ông chuyển tải hết vào Trù
trướng từ và Trầm châu ngọc toái từ, Đãng hồn tử. Đây là những tập thơ với ca tư réo rắt
như khóc như thương về tình đầu khơng lối thốt. Đồng thời, mối tình tuyệt vọng ấy cũng
là nguyên bản cho bản thảo tiểu thuyết Ngọc lê hồn nổi tiếng sau này và cuốn Tuyết hồng
lệ sử làm dậy sóng văn đàn Trung Hoa lẫn Việt Nam một thuở.
Năm 1911, sau Cách mạng Tân Hợi, Trung Quốc bước vào thời kỳ Dân quốc. Cũng
như bao nhà văn cùng thời, Từ Chẩm Á bị hút bởi sự sầm uất, phồn hoa của Thượng Hải,
trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, với sự xuất hiện của nhiều đầu báo. Làm văn viết báo
trở thành nghề kiếm sống của nhiều trí thức đương thời, trong đó có Từ Chẩm Á. Thơng
qua giới thiệu của anh trai, Từ Chẩm Á cùng Ngô Song Nhiệt đến đầu quân cho Dân
Quyền Báo. Tại Dân Quyền Báo, Từ Chẩm Á được phân công làm biên tập viên ở mảng
tân văn, cịn Ngơ Song Nhiệt viết bài cho phụ khan văn nghệ. Cơ hội làm việc tại đây
cũng thúc đẩy đam mê sáng tác tiểu thuyết của ông. Và, Từ Chẩm Á đã lấy ngun bản
mối tình đầu của ơng với Trần Bội Phân viết thành cuốn tiểu thuyết Ngọc lê hồn. Năm
1913, Ngọc lê hồn được đăng dài kỳ trên phụ san Dân Quyền Báo và thu hút đông đảo
độc giả trong nước cũng như hải ngoại. Từ Chẩm Á vụt trở thành nhà văn nổi tiếng, còn
Ngọc lê hồn được tái bản nhiều lần với số lượng lên tới hàng trăm ngàn ấn bản, lan ra cả
Hong Kong, Singapore và Việt Nam.
Mùa đông năm 1913, Dân Quyền Báo vì phản đối việc Viên Thế Khải khơi phục
nền qn chủ nên bị buộc phải ngừng xuất bản. Từ Chẩm Á chuyển sang làm việc cho
“Trung Hoa thư cục”, biên tập tờ Trung Hoa Tiểu Thuyết Giới.
Đến giữa năm 1914, Từ Chẩm Á được mời làm chủ biên cho tờ Tiểu Thuyết Tùng
Báo mới phát hành. Trong giai đoạn này, Từ Chẩm Á chỉ tập trung duy nhất vào công
việc sáng tác tiểu thuyết. Ông phát huy hơn nữa lối hành văn điêu luyện, từ ngữ thanh
nhã, xoáy sâu vào những câu chuyện tình rối rắm, đau đớn, đầy bi kịch và xót xa, mà lay
16
động tâm hồn, lấy đi vô vàn nước mắt của độc giả. Đặc biệt, từ nội dung của Ngọc lê hồn,
lúc này, Từ Chẩm Á gò bút viết thành một tiểu thuyết khác, dưới dạng nhật ký với tên gọi
là Tuyết hồng lệ sử, rồi cho đăng dài kỳ trên Tiểu Thuyết Tùng Báo. Tuyết hồng lệ sử
thành công đến nỗi vượt xa người anh em của nó là Ngọc lê hồn, thậm chí chỉ nhờ phát
hành nó mà có thể cứu nguy về tài chính cho Tiểu Thuyết Tùng Báo.
Tháng 7 năm 1917, Từ Chẩm Á rời Tiểu Thuyết Tùng Báo, tự mình thành lập và
làm chủ biên cho “Thanh Hoa thư cục”, phát hành Tiểu Thuyết Quý Báo. Do quản lý kém
nên ngay sau kỳ phát hành thứ tư thì đình bản.
Tháng 9 năm 1922, sau những mâu thuẫn căng thẳng với mẹ chồng khiến tâm tư
phiền muộn, thêm vào đó là sức khỏe kém, bệnh tật triền miên, Thái Nhị Châu qua đời.
Quá đau đớn vì sự ra đi của vợ, Từ Chẩm Á ngày nhớ đêm thương, tự lấy bút danh là
Khấp Châu Sinh viết 100 bài Điệu vong từ, lại soạn Vong thê Nhị Châu sự lược, gồm 30
bài, in thành Cổ bồn di hận, chia ra tặng cho bạn bè, người thân. Thời gian này, Từ Chẩm
Á đã mắc phải chứng thổ huyết do buồn bực rồi chìm trong men rượu.
Sau đó, Từ Chẩm Á tái hôn với Lưu Nguyên Dĩnh, con gái của Lưu Xuân Lâm,
trạng nguyên cuối cùng của nhà Thanh. Nàng là độc giả trung thành của Từ Chẩm Á,
hâm mộ ông qua Ngọc lê hồn và Điệu vong từ. Hai người bái phỏng làm quen, thư từ liên
tục rồi nảy sinh tình cảm. Trải qua nhiều khó khăn vướng mắc từ gia đình, đến năm 1926,
Lưu Nguyên Dĩnh được gả cho Từ Chẩm Á.
Năm 1934, Từ Chẩm Á trở về Thường Thục, qy quần với gia đình, ơng mang
“Thanh Hoa Thư Cục” chuyển cho “Đại Chúng Thư Cục”, rồi mở “Lạc Chân Lư” chuyên
kinh doanh thư pháp, triện khắc và đồ cổ để kiếm sống nhưng cũng không khấm khá hơn,
đời sống của nhà văn lúc này khá chật vật.
Năm 1936, người vợ thứ hai là Lưu Nguyên Dĩnh cũng sớm qua đời. Từ Chẩm Á
liên tục chịu những cú sốc tinh thần từ cái chết của hai người vợ đã khiến đau thương dồn
nén đau thương trong ông. Gom mọi thương tâm, đau khổ vào đầu bút, ông viết 8 bài
Sám vân, ký thác tâm trạng và nỗi lòng của mình.
Tháng 8 năm 1937, bệnh thổ huyết của Chẩm Á phát tác. Gia cảnh khó khăn, sinh
hoạt khốn quẫn, trong lịng khổ sở, lại dính vào rượu chè, thuốc phiện, bệnh ông càng
thêm nặng. Tâm không muốn chữa nên Từ Chẩm Á không thể qua khỏi. Đến ngày 27
tháng 9 năm 1937 thì Từ Chẩm Á mất ở tuổi 49.
Tuy tuổi đời ngắn ngủi nhưng Từ Chẩm Á đã đóng góp cho văn đàn Trung Quốc
hơn hai mươi năm miệt mài lao động nghệ thuật và một số lượng tiểu thuyết không hề
17
nhỏ. Đó là những sáng tác nổi tiếng một thời như: Ngọc lê hồn, Tuyết hồng lệ sử, Dư chi
thê, Dư chi phu, Song hoàn ký, Nhượng tế ký, Lan khuê hận, Khắc cốt tương tư ký, Thu
chi hồn, Tình hải chi nam,… Sáng tác của Từ Chẩm Á là thành quả của quá trình lao
động sáng tạo và học hỏi không ngừng. Bên cạnh sự trung thành với lối văn biền ngẫu cổ
điển, Từ Chẩm Á còn thử vận dụng lối viết mới từ phương Tây ở hình thức, kết cấu và đi
sâu vào phân tích nội tâm nhân vật. Chính nền tảng học vấn từ gia đình, niềm đam mê
văn học nghệ thuật, cùng nỗi đau đời tư khơn ngi và khơng khí giao thoa Á - Âu rạo
rực đương thời là những tác nhân lớn tạo nên cây bút nổi tiếng Từ Chẩm Á.
1.2. Bối cảnh văn hóa xã hội dẫn đến sự ra đời của Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử
Khi viết về “Văn học và văn hóa truyền thống”, Huỳnh Như Phương cho rằng:
“Văn hố tác động đến văn học khơng chỉ ở đề tài mà cịn ở tồn bộ bầu khí quyển tinh
thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Bản
thân nhà văn với thế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hố.” [82]. Ơng cũng
khẳng định: “Văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa lượng định, vừa kiểm nghiệm chất
lượng và trình độ văn hố của một xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định”, đồng
thời có thể căn cứ vào những dữ liệu văn học để tìm hiểu bức tranh văn hố của một thời
đại. Trên tinh thần đó, chúng tơi thấy rằng khi khảo sát Tố Tâm và Tuyết hồng lệ sử theo
hướng đối chiếu so sánh trên cơ sở trào lưu văn hóa xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam và
Trung Quốc những năm đầu thế kỉ XX là một yêu cầu cần thiết.
1.2.1. Những tiền đề cho sự ra đời của Tố Tâm
Nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam có nhiều biến động dữ dội.
Năm 1758 thực dân Pháp bắt đầu tấn công quân sự Việt Nam. Sau khi đánh chiếm được
nước ta, thu phục bộ máy vua quan nhà Nguyễn, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị
thực dân nửa phong kiến và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài ngun,
bóc lột nhân cơng rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Cùng với nó là sự ra
đời của một hệ thống đô thị lớn xuất hiện ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Đà
Nẵng, Sài Gịn... dẫn đến sự hình thành tầng lớp thị dân, tư sản, tiểu tư sản, trí thức “Tây
học” và dân nghèo thành thị. Văn hoá phương Tây bắt đầu chi phối mạnh mẽ đến đời
sống tinh thần dân chúng ở các thành phố. Người ta gọi đây là thời kì “gió Á mưa Âu”,
“cũ mới tranh nhau”, “Á Âu xáo trộn”...
Người Pháp ra sức củng cố và tăng cường bộ máy cai trị, chèn ép các phong trào
cách mạng và nô dịch tinh thần người Việt bằng phương châm duy trì để lợi dụng nền
Nho học với giáo lý cổ hủ, chế độ khoa cử lỗi thời. Mặt khác để có người giúp việc trong
18
các phịng, sở ở các cơ quan hành chính, để đào tạo những đồng sự đắc lực, chính quyền
thực dân phải tổ chức giáo dục. Nhưng chúng chỉ mở tại các đô thị lớn một số trường
Tiểu học Pháp - Việt, trường thông ngôn trong phạm vi tối cần thiết. Chính vì vậy nền
giáo dục của Việt Nam giai đoạn này là một nền giáo dục thực dân - nửa phong kiến với
mục đích nhằm nơ dịch và đồng hóa nhân dân Việt Nam. Tồn quyền Paul Doumer đã
nói toạc ra rằng: “Nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tơn kính, chính
quyền được tn thủ đều rút từ các sách Hán học. Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là
họ học những nguyên tắc rường cột của luân lý đạo Khổng, họ khắc sâu vào lịng những
ngun tắc sẽ hướng dẫn họ suốt đời. Chính các trường làng đã cung cấp cho họ nền
giáo dục đó” [18; tr. 41]
Cho đến khi tồn quyền Sarraut sang thay thế thì nền giáo dục cũ đi đến hồi kết.
Năm 1915, khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc kỳ đã diễn ra và ba năm sau, năm 1917, phái
cựu học đã chính thức cáo chung bằng kì thi Hương cuối cùng ở Huế. Tiếp theo những
năm này, các trường dạy chữ Nho đều lần lượt đóng cửa, đồng thời một chương trình đào
tạo mới được ban bố. “Tiếng Pháp trở thành ngơn ngữ chính trong nhà trường. Bên cạnh
đó, các trường kỹ thuật Trung - Sơ cấp mà thực dân Pháp gọi là đại học cũng lần lượt
được mở ra ở Sài Gịn, Huế, Hà Nội. Đó là những trường Y học, Thú y, Nông lâm, Sư
phạm, Luật,… nhằm đào tạo những phụng sự viên có trình độ cao hơn.” [25]
Lúc này, chữ quốc ngữ latin đã ra đời và dần ổn định vị trí của nó, nhanh chóng trở
thành thứ ngôn ngữ phổ biến trong xã hội được người dân chuộng học hơn chữ Hán và
chữ Pháp. Đây được xem là tiền đề cho cuộc cách mạng về chất liệu văn học, tạo cơ sở
cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam trong giai đoạn này.
Hơn nữa, lớp người tân học chịu ảnh hưởng của chương trình giáo dục Pháp văn đã
xác định: “Pháp học là một môn học rất mới, rất hay, đã giúp mở trí khơn mà lại giúp
con người có nghị lực, có can đảm, biết tốt xấu, biết quấy phải…” [77]. Vì vậy, họ có tư
tưởng tiến bộ hơn và bắt đầu học tập một cách có chọn lọc những kiến thức, văn hóa và
văn minh phương Tây được truyền bá vào Việt Nam thời gian này. Từ đó, đời sống Việt
Nam bắt đầu có những trở mình với sự giao thoa giữa hai luồng văn hóa Đơng - Tây. Tuy
vẫn cịn chi phối mạnh mẽ nhưng ý thức hệ Nho giáo đã đi vào hậu kỳ và dần rệu rã. Tư
tưởng phương Tây tràn vào đem lại cho xã hội những quan niệm mới về vũ trụ, nhân
sinh, thổi vào đời sống văn hóa tinh thần người Việt những tư tưởng khoa học, lý thuyết
dân chủ, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật,… Đô thị phát triển, tập trung ngày càng
nhiều những thanh niên, trí thức mới, những người biết chữ và quan tâm đến đời sống
19
tinh thần hơn. Nhà in lần lượt xuất hiện, báo chí ra đời và phát triển. Đó là điều kiện thiết
yếu để cho sách báo sớm đến tay độc giả.
Nhìn lại ta thấy: “Xưa, đối với nhà Nho, trung tâm văn học là khu lều chõng ba
năm mở hội một lần, là nơi thầy đồ bình văn, giảng sách, là nơi thi hữu xướng họa, đối
ngâm . Nay, trung tâm ấy chuyển ra tòa báo, nhà in, hiệu sách, thư viện… Xưa, nhà thơ,
nhà văn là nhà Nho. Nay, việc viết văn, viết báo được xã hội công nhận là nghề của văn
sỹ, ký giả.” [25]. Lúc này, xã hội Việt Nam đã hình thành nhiều tầng lớp với những mâu
thuẫn đan xen và cách biệt nhau rất rõ về giai cấp. Trong gia đình cũng có sự đối kháng
sâu sắc. Bố mẹ, ông bà là lớp người cũ mang nặng đầu óc phong kiến, cổ hủ. Trong khi
con cái đã bắt đầu có những tư tưởng, tình cảm mới mẻ từ văn minh Tây Âu. Họ cảm
thấy phiền phức và mệt mỏi với những bổn phận và giáo huấn về luân lý. Họ khao khát
được tự do, được sống với những trải nghiệm thực tế chứ không phải là giáo điều suông
theo những tấm gương trung hiếu, tiết nghĩa của Nho gia. Họ thích đọc, cần đọc để tìm
kiếm sự đồng cảm trong cuộc sống. “Hơn nữa, trong một xã hội đã bắt đầu tư sản hóa
như xã hội ta thời bấy giờ, tư sản và tiểu tư sản lớp trên sống thừa mứa trong nhung lụa,
trong những nhà lầu, xe hơi… cần chơi thể thao, cần nghe hòa nhạc, cần đọc sách văn
chương để tô điểm thêm cho cuộc sống đầy đủ của họ.” [25]. Với lớp người nghèo hơn,
người ta cũng có thể qua trang sách mà tìm kiếm một liều thuốc có thể xoa dịu cơn đau
nghèo đói, túng thiếu quanh năm. Tóm lại, việc đọc đã trở thành nhu cầu văn hóa bức
thiết trong đời sống tinh thần người Việt lúc bấy giờ.
Nhu cầu ấy lại nảy sinh một vấn đề mới. Nếu như ngày trước biết chữ Hán, các nhà
Nho đọc sách Trung Quốc; ngày nay biết chữ Pháp, lớp thanh niên tân học đọc sách Tây;
nhưng đa số người ta biết chữ quốc ngữ thì lại chưa có gì để đọc, phải chờ. Sự chờ đợi đó
cũng khơng q lâu và được thỏa nguyện bằng phong trào dịch sách nước ngoài ra chữ
quốc ngữ. Phong trào này bắt đầu bằng việc dịch tiểu thuyết Trung Quốc khởi lên đầu
tiên ở miền Nam. Trong đó, người dịch tác phẩm văn học Trung Quốc ra quốc ngữ trước
nhất có lẽ là Huỳnh Tịnh Của với tác phẩm Chuyện giải buồn (1785) gồm 112 truyện.
Theo Nghiêm Toản thì những năm đầu thế kỷ XX ở miền Nam đã thịnh hành những
truyện Tàu đã dịch ra quốc ngữ như: Chinh Đông Chinh Tây, Thủy Hử, Thuyết đường,
Phong thần,... và vô số những truyện kiếm hiệp khác. Cũng tại miền Nam, từ năm 1901,
trên Nơng cổ mín đàm đã có bản dịch Tam quốc chí của Canavaggio, là cuốn tiểu thuyết
ngoại văn đầu tiên được dịch ra chữ quốc ngữ latin ở đây. Đến khi Đông Dương tạp chí