ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
HỒ NGỌC TUYỀN
NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊA DANH TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60.22.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ TRUNG HOA
Tp. Hồ Chí Minh năm 2014
1
LỜI CÁM ƠN
Địa danh được xem là “tấm bia” lịch sử – văn hoá của một vùng đất. Nghiên
cứu địa danh là một lĩnh vực không mới đối với thế giới nhưng lại khá mới mẻ với
nước ta. Những bí ẩn của ngành địa danh học cùng với niềm khao khát muốn khám
phá vẻ đẹp của quê hương, dưới góc nhìn ngơn ngữ học, thơng qua hệ thống địa
danh của tỉnh Gia Lai khiến tôi mạnh dạn đăng ký làm luận văn với đề tài “Nghiên
cứu về địa danh tỉnh Gia Lai”.
Qua đây, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS. TS. Lê Trung Hoa – giảng viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp. Hồ Chí Minh – đã tận tâm hướng
dẫn cho tơi trong suốt quá trình thực hiện luận văn và cung cấp cho tôi nhiều tài
liệu khoa học quý báu.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô thuộc ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp. HCM đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi
những kiến thức sâu sắc, hướng dẫn cho tôi cách thực hiện luận văn tốt nghiệp một
cách nhiệt tình.
Cảm ơn phịng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp.
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu luận văn.
Cảm ơn Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh
Gia Lai đã hỗ trợ một số tư liệu về địa danh; cảm ơn gia đình và bạn bè đã động
viên và giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.
Chắc chắn vẫn cịn nhiều thiếu sót trong luận văn này, vì vậy, kính mong q
thầy cơ tiếp tục chỉ dẫn để luận văn đạt kết quả tốt. Xin chân thành cảm ơn!
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 9 năm 2014
Hồ Ngọc Tuyền
2
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1. Ký hiệu
- [x, tr.y]: x là tên tác phẩm, tài liệu trích dẫn ghi theo số thứ tự trong phần Tài
liệu tham khảo ở cuối luận văn, tr.y là số trang. Trường hợp tác phẩm có từ hai trang
trở lên được trích dẫn thì số trang được ngăn cách với nhau bằng dấu gạch ngang.
Ví dụ: [6, tr.25], [15, tr.24 - 26].
- : biến đổi thành.
2. Quy ước về cách viết tắt
STT
TÊN
CHỮ VIẾT TẮT
1
An Khê
AK
2
Ayun Pa
AP
3
Chư Păh
CPăh
4
Chư Prông
CPrông
5
Chư Pưh
CPưh
6
Chư Sê
CS
7
Chư Ty
CT
8
Công nghiệp
CN
9
Đak Đoa
ĐĐ
10
Đăk Pơ
ĐP
11
Đức Cơ
ĐC
12
Gia Lai
GL
13
Hecta
ha
14
Huyện
H.
15
Ia Grai
IG
16
Ia Pa
IP
17
Kbang
KB
18
Khu công nghiệp
KCN
19
Kông Chro
KC
3
20
Krông Pa
KP
21
Mang Yang
MY
22
Ngôn ngữ Bahnar
(B)
23
Ngôn ngữ Jrai
(J)
24
Ngôn ngữ Jrai – Việt
(J, V)
25
Ngôn ngữ Việt – Bahnar
(V, B)
26
Phú Thiện
PT
27
Pleiku
PK
28
Thành phố
TP.
29
Thị trấn
TT.
30
Thị xã
TX.
31
Trung tâm công nghiệp
TTCN
32
Xã
X.
4
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
A. Bảng
Bảng 1.1. Phân loại địa danh theo Nguyễn Văn Âu .................................................. 29
Bảng 1.2. Phân loại địa danh theo Lê Trung Hoa ...................................................... 30
Bảng 1.3. Phân loại địa danh theo Nguyễn Kiên Trường .......................................... 31
Bảng 1.4. Phân loại địa danh theo Trần Văn Dũng.................................................... 31
Bảng 1.5. Phân loại địa danh ở Gia Lai..................................................................... 33
B. Sơ đồ
Sơ đồ 1.1. Vị trí của Địa danh học trong Ngôn ngữ học ............................................ 33
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa Địa danh học với các ngành khoa học khác ................. 35
C. Hình ảnh
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai ................................................................. 38
5
MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN ......................................................................................................... 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT ............................................................... 2
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH ............................................................. 4
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 8
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................... 8
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ....................................................................................... 10
2.1. Nghiên cứu địa danh trên thế giới ........................................................... 11
2.2. Nghiên cứu địa danh ở Việt Nam ........................................................... 12
2.3. Nghiên cứu địa danh ở Gia Lai ............................................................... 16
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU .......................... 17
3.1. Đối tượng ............................................................................................... 17
3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 17
3.3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 17
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................................................................. 18
4.1. Phương pháp thống kê, phân loại............................................................ 18
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu .............................................................. 18
4.3. Phương pháp điền dã .............................................................................. 18
4.4. Phương pháp khảo sát bản đồ ................................................................. 19
5. NGUỒN NGỮ LIỆU..................................................................................... 19
6. ĐÓNG GÓP MỚI.......................................................................................... 19
7. BỐ CỤC........................................................................................................ 20
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................... 21
1.1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN ................................................................... 21
1.1.1. Khái niệm địa danh ............................................................................. 21
1.1.2. Những vấn đề của địa danh học ........................................................... 24
1.1.3. Mối quan hệ của địa danh học với các ngành khoa học khác ............... 33
1.1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu địa danh ................................................. 35
6
1.2. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ ĐỊA DANH TỈNH GIA LAI .................. 35
1.2.1. Lịch sử ................................................................................................ 35
1.2.2. Địa lý .................................................................................................. 36
1.2.3. Hành chính .......................................................................................... 37
1.2.4. Cơ sở hạ tầng ...................................................................................... 38
1.2.5. Kinh tế ................................................................................................ 39
1.2.6. Văn hoá - xã hội .................................................................................. 39
1.3. TIỂU KẾT.................................................................................................. 40
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ CHUYỂN BIẾN CỦA ĐỊA DANH Ở
TỈNH GIA LAI ..................................................................................................... 42
2.1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA CÁC ĐỊA DANH Ở GIA LAI ..................... 42
2.1.1. Phương thức định danh ........................................................................ 42
2.1.2. Vấn đề xây dựng mơ hình cấu trúc của một địa danh ........................... 55
2.1.3. Cấu tạo của địa danh ở tỉnh Gia Lai ..................................................... 60
2.2. ĐẶC ĐIỂM CHUYỂN BIẾN CỦA ĐỊA DANH TỈNH GIA LAI .............. 63
2.2.1. Nguyên nhân xã hội............................................................................. 63
2.2.2. Nguyên nhân ngôn ngữ ....................................................................... 64
2.3. TIỂU KẾT.................................................................................................. 66
Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA MỘT
SỐ ĐỊA DANH Ở TỈNH GIA LAI ........................................................................ 67
3.1. MỘT SỐ ĐỊA DANH CÓ NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA RÕ RÀNG ........ 67
3.1.1. Địa danh có nguồn gốc từ ngơn ngữ Bahnar ........................................ 67
3.1.2. Địa danh có nguồn gốc từ ngơn ngữ Jrai.............................................. 74
3.1.3. Địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ Việt............................................. 87
3.2. MỘT SỐ ĐỊA DANH CÒN TRANH LUẬN VỀ NGUỒN GỐC VÀ Ý
NGHĨA ............................................................................................................. 96
3.3. TIỂU KẾT.................................................................................................. 99
Chương 4: GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA CÁC ĐỊA DANH Ở TỈNH
GIA LAI .............................................................................................................. 100
7
4.1. PHẢN ÁNH LỊCH SỬ ............................................................................. 100
4.2. PHẢN ÁNH THIÊN NHIÊN.................................................................... 104
4.2.1. Phản ánh địa hình .............................................................................. 104
4.2.2. Phản ánh thực vật .............................................................................. 104
4.2.3. Phản ánh động vật ............................................................................. 106
4.3. PHẢN ÁNH KINH TẾ ............................................................................. 106
4.4. PHẢN ÁNH VĂN HOÁ, XÃ HỘI ........................................................... 107
4.4.1. Phản ánh về tín ngưỡng, tơn giáo....................................................... 107
4.4.2. Phản ánh về giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ ............................................ 107
4.5. PHẢN ÁNH NGÔN NGỮ ....................................................................... 108
4.6. TIỂU KẾT................................................................................................ 109
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 112
PHỤ LỤC................................................................................................................. i
8
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Truyền thuyết kể rằng, một ngư dân trẻ tên Lê Thận đánh lưới trên hồ Tả Vọng
được một lưỡi gươm và lưỡi gươm này đã giúp Lê Lợi đánh tan quân xâm lược nhà
Minh tàn bạo. Một năm sau khi đuổi giặc Minh, nhân dịp vua Lê Lợi cưỡi thuyền
rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại
thanh gươm thần. Nhà vua rút gươm đưa rùa vàng để trả lại cho Long Quân. Từ đó
hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hồn Kiếm. Truyền thuyết trên
gợi ý rằng địa danh khơng đơn thuần chỉ là một tên gọi của một địa điểm nào đó để
phân biệt nó với những địa danh khác, mà mỗi địa danh có thể ẩn chứa trong nó
những câu chuyện, những sự tích, sự kiện có ý nghĩa lớn lao về mặt lịch sử, văn hố
và ngơn ngữ. Dù ngơn ngữ có tính võ đốn, tức là tên gọi của một sự vật khơng có
mối liên hệ với sự tồn tại của sự vật đó, nhưng nhiều cơng trình nghiên cứu cho thấy
địa danh - được cấu tạo từ ngơn ngữ - có nguồn gốc và ý nghĩa riêng và nhiều khi
tên gọi của nó phản ánh một đặc trưng của một địa điểm hay một sự kiện đặc biệt
xảy ra ở nơi đó. Vì vậy, địa danh là một phần không thể tách rời khỏi ngôn ngữ, văn
hố và xã hội. Nó là một bộ phận đặc biệt của từ vựng, là một trong đối tượng
nghiên cứu của lĩnh vực ngôn ngữ học, cụ thể là của bộ môn từ vựng học.
Theo Liên Hợp Quốc [42], địa danh là một thuật ngữ dùng để chỉ một địa điểm
hay một vị trí địa lý bất kỳ. Nói một cách khác, địa danh chính là tên gọi của một
địa hình thiên nhiên, cơng trình xây dựng, đơn vị hành chính và vùng lãnh thổ nào
đó. Đa số các học giả có đồng quan điểm rằng địa danh mang lại những hiểu biết có
giá trị về lịch sử - địa lý của một khu vực nơi mà nó tồn tại. F. M. Powicke [40]
khẳng định rằng nghiên cứu địa danh, làm giàu tri thức và những phát hiện về khảo
cổ học, lịch sử và các quy luật ngôn ngữ học. Địa danh không những cho thấy kiểu
định cư của các tộc người mà nó cịn giúp nhận biết các giai đoạn riêng biệt của các
quá trình di cư [37] [34] [36]. Như vậy, có thể nói rằng nghiên cứu về địa danh
mang lại nhiều giá trị liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, vì địa danh có thể ẩn
9
chứa trong nó những sự kiện, câu chuyện hay một đặc điểm tự nhiên nào đó có ý
nghĩa với các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau. Cụ thể là ngoài việc giúp nhận biết
được những đặc điểm ngôn ngữ trong các phương thức cấu tạo của hàng loạt địa
danh còn góp phần đem lại nguồn tư liệu quý giá cho nhiều ngành khoa học khác
nhau như văn hóa học, sử học, địa lý học, dân tộc học, khảo cổ học và ngôn ngữ
học.
Địa danh là một phạm trù lịch sử, một địa danh có thể gắn liền với sự tồn tại và
phát triển của một cộng đồng người hay một dân tộc nào đó. Do vậy, một địa danh
có thể mang trong nó một bức tranh tổng quát về sự ra đời, tồn tại và phát triển cộng
đồng, một tộc người, hay thậm chí là của cả một dân tộc cũng như về sự hình thành,
phát triển, tiếp xúc và biến đổi của ngơn ngữ vùng đất đó. Điều này đồng nghĩa với
việc các địa danh không chỉ là một cái tên để gọi mà nó mang chức năng là một
phương tiện bảo lưu những giá trị lịch sử, văn hóa của một địa bàn trong những giai
đoạn và thời kỳ khác nhau. Và do đó, nghiên cứu về địa danh có vai trị quan trọng,
có thể mang lại cho các thế hệ sau một sự hiểu sâu sắc và tồn diện về cuộc sống, về
lịch sử văn hóa của các thế hệ đã đi trước ở một vùng đất nào đó.
Mỗi địa danh thực chất là một từ hay là một cụm từ, tức là một đơn vị ngôn
ngữ; do đó, xét về bản chất cấu tạo, địa danh là một bộ phận của từ vựng học đồng
thời còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ âm học, bởi vì địa danh được cấu tạo bởi
những đơn vị ngữ âm, chịu sự tác động của các quy luật ngôn ngữ nói chung và ngữ
âm nói riêng. Bên cạnh đó, đây còn là đối tượng nghiên cứu của phương ngữ học vì
đó là sản phẩm do người bản địa tạo ra, gắn chặt với lời ăn tiếng nói của từng vùng.
Điều này càng đúng trong bối cảnh nghiên cứu về Gia Lai, một địa phương có sự đa
dạng về dân tộc, có lịch sử phát triển lâu đời và phức tạp. Nghiên cứu địa danh sẽ
làm sáng tỏ nguồn gốc, đặc điểm, cấu tạo, ý nghĩa về ngôn ngữ của việc đặt tên ở
vùng phương ngữ. Qua đó, ta có thể làm rõ mối quan hệ giữa địa danh với các lĩnh
vực khác, đặc biệt là văn hóa. Thêm vào đó, địa danh cũng là tư liệu đáng quan tâm
của ngơn ngữ học lịch sử vì một địa danh ra đời trong một thời điểm lịch sử nhất
định. Nó đã trở thành một ‘tấm bia’ văn hóa - lịch sử bằng ngôn ngữ độc đáo về
10
thời đại mà nó ra đời. Vì lẽ đó, địa danh học thực sự là một ngành của ngôn ngữ
học. Việc nghiên cứu địa danh đứng trên bình diện ngơn ngữ học giúp ta nhận biết
sự tồn tại của các từ cổ, từ lịch sử và ý nghĩa của các từ ngữ địa phương, sự biến đổi
cách phát âm và chữ viết của địa danh.
Mảnh đất Tây Nguyên đã đi vào huyền thoại của lịch sử với biết bao chiến công
oanh liệt, hào hùng của các dân tộc thiểu số miền núi qua những sử thi và trường ca
hào hùng. Mảnh đất anh hùng này còn tiềm ẩn rất nhiều điều chưa được khám phá
hết, đặc biệt là những đặc điểm về địa danh. Nằm trên mảnh đất Tây Nguyên, Gia
Lai là một địa bàn chiến lược quan trọng về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, quốc
phịng, trên biên giới phía tây nam của Tổ quốc. Nơi đây là một vùng văn hóa đa
dạng, là quê hương của những bản trường ca hùng tráng (Khanhơamơn, Hơsi),
truyền thống văn hóa cồng chiêng, những nhà rông, nhà mồ, tượng mồ, những lễ
Pơthi, lễ cầu sức khỏe, và còn rất nhiều nét văn hóa đặc trưng khác. Vì vậy, địa
danh Gia Lai mang nhiều dấu ấn của tiến trình lịch sử dân tộc, nơi thu hút nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu, là nguồn cảm hứng sáng tạo cho biết bao văn
nghệ sĩ. Tuy nhiên, dù những nghiên cứu tổng quan về Gia Lai đã được tiến hành
dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa có cơng trình nghiên
cứu chun sâu nào về góc độ ngơn ngữ các địa danh ở Gia Lai. Cho nên việc tìm
hiểu đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, nguồn gốc, ý nghĩa cũng như quá
trình hình thành và biến đổi của địa danh ở Gia Lai sẽ có giá trị về nhiều mặt, góp
phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu về một vùng đất mang đậm dấu ấn lịch sử
và văn hóa, đồng thời cũng đóng góp, bổ sung cho cơng trình nghiên cứu các địa
danh ở Việt Nam hoàn chỉnh và hoàn thiện hơn, làm cho ngành địa danh học trở
thành một ngành khoa học thật sự vững mạnh.
Đây cũng chính là những lý do chúng tơi chọn “Nghiên cứu về địa danh tỉnh
Gia Lai” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu địa danh được tiến hành khá sớm ở các nước trên thế giới và ở
Việt Nam. Sau đây là một vài nét chính về sự kiện này.
11
2.1. Nghiên cứu địa danh trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu địa danh đã được ngôn ngữ học thế giới quan tâm nghiên
cứu từ rất sớm mặc dù chỉ dừng lại ở việc ghi chép, sưu tập, tổng hợp và giải thích
về cách đọc, về ý nghĩa của các địa danh. Ban Cố (32 - 92) ở Trung Quốc vào đầu
thời Đông Hán đã ghi chép lại hơn 4.000 địa danh (một số đã được thuyết minh lý
do gọi tên và quá trình diễn biến) trong tác phẩm Hán thư. Nhận xét về Hán thư,
Hsu Mei-ling [38], một sử gia hiện đại, phát biểu rằng phong cách viết của Ban Cố
trong các phần về địa lý đã thiết lập xu hướng các tiết đoạn địa lý trong các văn bản
lịch sử, và có thể nhất là đã khuấy động xu hướng về từ điển địa lý tại Trung Quốc
cổ đại. Bên cạnh đó, hơn hai mươi ngàn địa danh thời Bắc Ngụy cũng đã được Lệ
Đạo Nguyên (466 - 527) ghi lại trong tác phẩm Thủy Kinh chú, bao gồm hơn 1.252
tên con sông lớn nhỏ, tên các núi lửa, các suối nước nóng và các cơng trình thủy lợi.
Ở phương Tây, bộ môn địa danh học bắt đầu được nghiên cứu nhiều từ cuối thế
kỷ XIX, nhưng trên thực tế nó đã xuất hiện từ trước, cụ thể là trong Thánh Kinh của
Thiên Chúa giáo thu thập được rất nhiều địa danh. Thuật ngữ ‘toponym’ (địa danh)
lần đầu tiên xuất hiện ở Anh năm 1876. Từ đó đến nay, thuật ngữ này dần được thay
thế bằng một thuật ngữ khác là ‘place-names’ và địa danh đã trở thành đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như lịch sử, địa lý, văn hóa, du lịch..., nhưng
trước hết là ngơn ngữ học. Trên thế giới có thể kể tên nhiều nhà địa danh học
phương Tây nổi tiếng như George R. Stewart, Richard Coates (Anh), Oliver Padel,
Eilert Ekwall (Mỹ), G.P.Smolisnaja, M. V. Gorbanevskij và A. V. Supêranskaia
(Nga). Mỗi nhà nghiên cứu có mục tiêu nghiên cứu và cách tiếp cận riêng đã đặt
nền móng cho sự phát triển và tạo ra sự phong phú và đa dạng cho ngành địa danh
học.
Từ điển địa danh đầu tiên xuất hiện ở Ý vào thế kỷ XVII có tên gọi Poyares
Dicionario de nomes proprios de Regiónes vào năm 1667. Việc nghiên cứu địa
danh mới mang tính tổng hợp, liên quan đến các ngành khác nhau và cơ sở lý luận
cũng ngày càng hoàn thiện hơn từ thế kỷ XX. Jilliénon (1854 - 1926) đã xuất bản
Atlat ngơn ngữ Pháp năm 1902 với mục đích xúc tiến việc nghiên cứu địa danh theo
12
hướng địa lý học. A. Dauzat, một nhà địa danh học người Pháp, cho ra đời Nguồn
gốc và sự phát triển địa danh trong đó có đề xuất phương pháp văn hóa, địa lý học
để nghiên cứu các lớp địa danh vào năm 1926 và Địa danh học Pháp vào năm 1948.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời điểm nở rộ các cơng trình nghiên cứu
về địa danh và đã mang tính chất lý luận cao. Tiêu biểu là các cuốn Địa lý từ
nguyên học (1835) của T. A. Gibson hướng đến một danh sách phân loại về từ ngữ
thường gặp như tiền tố, hậu tố trong phức thể của tên địa lý; cuốn Từ và các địa
điểm hay sự minh hoạ có tính ngun lai về lịch sử, dân tộc học và địa lý học
(1864) của I. Taylor (Anh); cuốn Địa danh học (1872) của J. J. Egli (Thụy Sỹ);
cuốn Địa danh học (1903) của J. W. Nagl (Áo). Bên cạnh đó cũng có rất nhiều cơng
trình nghiên cứu đi sâu về địa danh, tiêu biểu là các tác phẩm Các tên gọi, một khảo
sát về việc đặt tên địa điểm (1958) của G. R. Stewart, Thực hành địa danh học
(1977) của P. E. Raper.
Ngoài ra cịn có hàng loạt cơng trình của các nhà địa danh học Nga củng cố nền
tảng cho việc xây dựng hệ thống lý luận về địa danh học. Đó là E.M.Murzaev
(1965) với tác phẩm Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học, và Dẫn luận
địa danh học (1965), Từ điển bỏ túi địa danh của V. A. Nhikinov (1968); Môn địa
lý trong các tên gọi (1979) của E. M. Muzaev; Địa danh Matxcơva (1982) của G. P.
Smolisnaja; Bàn về địa danh học đồng đại (1964) của M. P. Gorbanhexki và A.
Karpenko; Những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh (1964) của
A. I. Popôv. Đặc biệt là cơng trình Địa danh học là gì? (1985) của A. V.
Superanskaja đã mang lại những định hướng mới cho việc nghiên cứu địa danh, tạo
ra những giá trị nhất định trong quá trình phát triển của địa danh học.
2.2. Nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những tác phẩm có liên quan đến địa danh học xuất hiện từ thế kỷ
XV. Tuy nhiên, đây chỉ là giai đoạn sơ khai, địa danh học gắn liền với các bộ lịch
sử, địa chí mà trong đó chỉ đơn thuần ghi chép lại các địa danh và giải thích địa
danh ở góc độ địa lý - lịch sử, khơng phải là những tác phẩm chuyên biệt về nghiên
cứu địa danh. Có thể kể đến các tác phẩm nổi bật như Dư địa chí (1435) của
13
Nguyễn Trãi; Đại Việt sử ký toàn thư (1479) của Ngơ Sĩ Liên; Ơ châu cận lục
(1553) của Dương Văn An; Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn; Hồng Việt
nhất thống dư địa chí (1806) của Lê Quang Định; Lịch triều hiến chương loại chí
(soạn trong mười năm từ 1809 - 1819) của Phan Huy Chú; Gia Định thành thơng
chí (1820) của Trịnh Hồi Đức; Đại Nam nhất thống chí (1882) của Quốc sử quán
triều Nguyễn - cơ quan biên soạn lịch sử chính thức duy nhất ở Việt Nam từ năm
1821 đến năm 1945; Từ vựng làng xã Bắc Kỳ (1928) do Ngô Vĩ Liễn biên soạn và
cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, ghi chép và giải thích các địa danh
thuộc các tỉnh phía bắc từ Nghệ An trở ra do Dương Thị The và Phạm Thị Thoa
dịch và biên soạn năm 1981.
Ở Việt Nam, địa danh học và nghiên cứu về địa danh bắt đầu hình thành và thu
hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau như lịch sử,
văn hố, địa lý và ngơn ngữ từ đầu những năm 1960. Hàng loạt các tác phẩm về địa
danh Việt Nam ra đời trong thời kỳ này, với sự mở đầu là tác phẩm Đất Việt trời
Nam (1960) của Thái Văn Kiểm; đây có thể được xem là một trong những tác giả
đầu tiên của Việt Nam đã tiếp cận địa danh dưới góc độ lịch sử - văn hoá. Kế đến,
tác giả Đào Duy Anh đã sử dụng phương pháp nghiên cứu địa lý học lịch sử trong
tác phẩm Đất nước Việt Nam qua các đời (1964) nhằm làm rõ quá trình xác lập và
phân định lãnh thổ của Việt Nam. Trong giai đoạn này cũng chứng kiến một số cách
tiếp cận khác trong lĩnh vực địa danh học ở Việt Nam, chẳng hạn như tác giả Hoàng
Thị Châu đã sử dụng các phương pháp ngôn ngữ học để nghiên cứu về địa danh với
tác phẩm Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đơng Nam Á qua một vài tên sơng
(1964). Hồng Thị Châu có thể được coi là người tiên phong trong việc gắn ngơn
ngữ học với địa danh học, góp phần làm đa dạng hóa ngành địa danh học ở Việt
Nam.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, rất nhiều tác phẩm cũng nghiên cứu sâu
về địa danh Việt Nam đã ra đời, có thể kể đến một số tác phẩm như Sự hình thành
và diễn biến của các tên làng người Việt cho đến năm 1945 (1987) của Bùi Thiết;
Đinh Xuân Vịnh với Sổ tay địa danh Việt Nam (1996); Việt Nam, những thay đổi
14
địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997 (1997) của Nguyễn Quang
Ân. Đinh Văn Nhật đã góp phần làm đa dạng các khuynh hướng nghiên cứu địa
danh ở Việt Nam với tác phẩm Phương pháp vận dụng địa danh học trong nghiên
cứu địa lý học, lịch sử cổ đại Việt Nam (1984). Cũng giống như lịch sử phát triển
địa danh học ở các nước phương Tây, một số nhà địa danh học Việt Nam cũng dành
mối quan tâm lớn đến vấn đề lý luận trong việc nghiên cứu địa danh. Cụ thể là tác
giả Trần Thanh Tâm với tác phẩm Thử bàn về địa danh Việt Nam (1976) và Nguyễn
Văn Âu với tác phẩm Một số vấn đề về địa danh học ở Việt Nam (2000) đã nêu lên
một số vấn đề lý luận cơ bản về địa danh, nghiên cứu địa danh và cách tiếp cận địa
danh dưới góc độ lịch sử - địa lý.
Những cơng trình nghiên cứu về địa danh trên bình diện ngôn ngữ học bắt đầu
nở rộ ở Việt Nam vào những năm đầu của thập niên 90 mà tiêu biểu nhất trong giai
đoạn này là luận án Phó tiến sĩ Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ
Chí Minh (1990) của Lê Trung Hoa. Nghiên cứu này đã được chỉnh sửa và xuất bản
thành sách với tựa đề Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1991. Tác phẩm
này đã hệ thống hoá lý luận và phương pháp nghiên cứu địa danh bao gồm định
nghĩa và phân loại địa danh, các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa, đặc
điểm về mặt phản ánh hiện thực và sự chuyển biến của địa danh. Sau thành công
của nghiên cứu này, tác giả Lê Trung Hoa cịn cho ra đời hàng loạt các cơng trình
nghiên cứu, các bài viết về địa danh mang tính chuyên sâu như Tìm hiểu ý nghĩa và
nguồn gốc một số thành tố chung trong địa danh Nam Bộ (1983), Tìm hiểu ý nghĩa
và nguồn gốc chung ‘Cái’ trong địa danh Nam Bộ (1988), Địa danh bằng chữ và
địa danh bằng số (1999), Chung quanh thuật ngữ ‘địa danh’ (2000), Những nguyên
nhân làm thay đổi và sai lệch một số địa danh Việt Nam trong tiếng dân tộc (2002),
Địa danh hành chính ở Việt Nam (2002). Bên cạnh đó, tác giả cũng cho ra đời một
số tác phẩm làm đa dạng hoá kho tàng lý luận nghiên cứu địa danh, trong số đó phải
kể đến các tác phẩm như Về vấn đề biên soạn từ điển địa danh (2003) và Địa danh
học Việt Nam (2006).
15
Nhà nghiên cứu địa danh Nguyễn Kiên Trường với luận án Phó tiến sĩ Những
đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác)
(1996) đã làm mới xu hướng nghiên cứu địa danh ở Việt Nam bằng việc bổ sung
một tiêu chí mới trong nghiên cứu về địa danh: phân loại địa danh theo chức năng
giao tiếp và hệ quy chiếu đồng đại - lịch đại. Bên cạnh đó, tác giả cịn có hàng loạt
bài viết trình bày cụ thể về địa danh của một số địa phương khác hay những khía
cạnh khác trong nghiên cứu địa danh như Vài suy nghĩ về việc khảo sát hệ thống tên
riêng địa lý ở Việt Nam (1993), Tìm hiểu về địa danh học (1994), Thử tìm hiểu sự
bảo lưu tên Nơm làng xã dưới góc độ ngơn ngữ và văn hóa (1994), Vài vấn đề liên
quan đến cơng tác thống nhất hố cách ghi địa danh ở Việt Nam (1995), Địa danh
biên giới Tây Nam và những dữ liệu cơ bản để nghiên cứu, hoạch định, xây dựng
đường biên (1996). Các tác phẩm và công trình nghiên cứu của Nguyễn Kiên
Trường khơng những có ý nghĩa trong việc tìm hiểu các giá trị văn hóa, ngơn ngữ
trong các địa danh ở Việt Nam mà cịn có ý nghĩa trong việc hoạch định và thống
nhất cách ghi địa danh ở một số vùng miền.
Các cơng trình nghiên cứu địa danh gần đây nhất phải kể đến luận án tiến sĩ của
Từ Thu Mai với tựa đề Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004). Trong luận án này,
tác giả đã vận dụng phương pháp ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh ở bình diện
từ vựng - ngữ nghĩa theo hướng đồng đại và sử dụng hệ quy chiếu thời gian (đồng
đại - lịch đại) để nghiên cứu các phương thức định danh và những biến đổi có tính
quy luật trong mối quan hệ giữa địa danh với các ngành khác. Ngồi ra, cịn có rất
nhiều những luận văn, luận án khác góp phần làm phong phú thêm khuynh hướng
nghiên cứu về địa danh ở Việt Nam chẳng hạn như Những đặc điểm chính của địa
danh Đăk Lăk (2005) của Trần Văn Dũng, Văn hóa qua địa danh Việt ở tỉnh Đồng
Nai (2006) của Võ Nữ Hạnh Trang, Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh
Long (sơ bộ có so sánh với địa danh một số vùng khác) (2008) của Nguyễn Tấn
Anh, Khía cạnh văn hố của địa danh ở tỉnh Đồng Tháp (2008) của Nguyễn Thị
Ngọc Bích, Những đặc điểm chính của địa danh tỉnh Kon Tum (2009) của Nguyễn
16
Hoa Vũ Duy, Văn hố qua địa danh Khánh Hịa (2009) của Huỳnh Lê Thị Xuân
Phương và Đặc điểm địa danh Hà Nội (2010) của Hoàng Thị Biên.
2.3. Nghiên cứu địa danh ở Gia Lai
Mặc dù Gia Lai có đặc điểm đa dạng về sắc tộc, có lịch sử phát triển phức tạp
và có sự đặc biệt về địa danh nơi đây, nhưng nhìn chung, các cơng trình viết về và
nghiên cứu về địa danh ở Gia Lai không nhiều. Có thể nêu ra một số tác phẩm sau:
Tác phẩm đầu tiên có bao hàm các địa danh của tỉnh Gia Lai là Địa chí Gia Lai
được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh biên soạn năm 1999. Tuy nhiên, Địa chí Gia
Lai mang tính tổng hợp nên chỉ tập trung miêu tả tổng quát sự vận động của vùng
đất Gia Lai dù theo cả không gian và thời gian, ở cả hai chiều lịch đại và đồng đại
trên các phương diện: tự nhiên và dân cư, kinh tế, văn hóa, lịch sử và truyền thống
đấu tranh. Sau tác phẩm này, đề tài nghiên cứu khoa học của Trần Quốc Nhân với
tựa đề Bước đầu tìm hiểu địa danh tỉnh Gia Lai (2003) là một trong số ít nghiên cứu
về những đặc điểm, nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh ở tỉnh Gia Lai.
Vào năm 2010, Nguyễn Thị Kim Vân cho ra đời tác phẩm Địa danh và di tích
Gia Lai từ góc nhìn lịch sử - văn hoá; tác phẩm đã hệ thống cơ bản những tư liệu và
kết quả nghiên cứu trước đây về các địa danh, di tích lịch sử - văn hố Gia Lai, làm
rõ biến đổi của địa danh trong lịch sử phát triển. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Kim Vân
cũng cố gắng tìm hiểu xu hướng phát triển của một số loại hình địa danh ở Gia Lai
qua tác động của các yếu tố văn hoá đa dạng, phức tạp ở một tỉnh đa tộc người và
có lịch sử phát triển lâu đời như Gia Lai. Bài viết gần đây nhất tìm hiểu về địa danh
Gia Lai là bài niên luận Sưu tầm và nhận xét địa danh tỉnh Gia Lai (2012) của
Nguyễn Thị Thủy, một sinh viên khoa Văn học và Ngôn ngữ. Tác giả đã nêu lên
được nguồn gốc và ý nghĩa cũng như phương thức và cấu tạo của địa danh ở Gia
Lai.
Nói tóm lại, cho đến nay đã có các đề tài nghiên cứu và các tác phẩm viết về địa
danh ở Gia Lai trên các bình diện văn hoá, xã hội, dân tộc và lịch sử. Trong giới hạn
tìm hiểu và các tài liệu thu thập được của chúng tơi, hầu như chưa có các nghiên
cứu chun sâu, đầy đủ và hệ thống về địa danh Gia Lai trên bình diện ngơn ngữ
17
học. Điều này khiến việc nghiên cứu về địa danh Gia Lai trên bình diện ngơn ngữ
có ý nghĩa lớn đối với việc tìm hiểu lịch sử phát triển của các địa danh nơi đây cũng
như việc khơi dậy và lưu giữ các giá trị văn hóa gắn liền với các địa danh được
nghiên cứu.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là hệ thống địa danh trên 17 thành phố,
thị xã và huyện của tỉnh Gia Lai, bao gồm toàn bộ tên gọi các đối tượng địa lý tự
nhiên (sông, hồ, suối, núi, đồi,...); địa danh nơi cư trú (làng, xã, thơn, xóm, huyện,
thị xã,...) và các cơng trình xây dựng thiên về khơng gian hai chiều (cầu, đường,
chợ, bến xe,...) trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sưu tầm, khảo sát các loại địa danh về mặt ngôn ngữ thiên về
diện đồng đại. Trong quá trình nghiên cứu, các tài liệu lịch sử và các nhân chứng
được sử dụng để tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về địa danh ở Gia Lai.
3.3. Mục đích nghiên cứu
Trước hết, luận văn nhằm mục đích hệ thống hố và làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận cơ bản của địa danh học, bao gồm các khái niệm về địa danh - đối tượng
nghiên cứu - phương pháp nghiên cứu, cách thức phân loại địa danh, phương thức
cấu tạo địa danh. Quan trọng hơn, dựa vào kết quả khảo sát, thu thập số liệu, tư liệu
qua thực tế địa bàn, phỏng vấn các nhân chứng và các tài liệu lịch sử có được,
chúng tơi tiến hành phân tích, đánh giá và bàn luận về địa danh ở địa bàn tỉnh Gia
Lai trên bình diện ngơn ngữ học. Trong đó, người viết tập trung vào việc tìm hiểu
về phương thức định danh, về đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa của các yếu tố
cũng như quy luật hình thành và biến đổi của địa danh để làm sáng tỏ mối quan hệ
gắn bó, tác động qua lại giữa địa danh với văn hoá, lịch sử và địa lý của vùng đất
nơi các địa danh tồn tại.
18
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Luận văn lấy phương pháp thống kê, phân loại là phương pháp nghiên cứu
chính. Tồn bộ các địa danh ở Gia Lai được thu thập dựa vào các nguồn tư liệu
được thống kê, phân loại nhằm rút ra những nhận xét có liên quan đến đề tài theo
các tiêu chí loại hình, ngữ nguyên và cách thức đặt tên để phân thành các tiểu loại.
4.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
4.2.1. Phương pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ đồng đại
Do đặc điểm đa sắc tộc và đa ngôn ngữ trong bối cảnh nghiên cứu tại Gia Lai,
phương pháp so sánh ngôn ngữ học trên cơ sở nghiên cứu từ vựng học, ngữ pháp
học, phương ngữ học, được sử dụng nhằm hỗ trợ người nghiên cứu trong quá trình
tìm hiểu sự đa dạng, các đặc điểm giống và khác nhau của các địa danh được tạo
bởi các dân tộc và bằng các ngôn ngữ khác nhau.
4.2.2. Phương pháp so sánh đối chiếu lịch đại
Phương pháp so sánh đối chiếu lịch đại được sử dụng nhằm cung cấp cho người
nghiên cứu các cứ liệu trong việc xác định nguồn gốc, ý nghĩa các lớp địa danh. Bên
cạnh đó, phương pháp này cũng hỗ trợ người viết trong việc khẳng định tính xác
thực của các cứ liệu lịch sử được tìm thấy từ các nguồn tư liệu khác nhau.
4.3. Phương pháp điền dã
Phương pháp điền dã hay còn gọi là phương pháp khảo sát thực địa được sử
dụng trong luận văn này đòi hỏi người nghiên cứu phải đi thực tế, quan sát, thu thập
và ghi chép giúp tìm ra những tư liệu phục vụ cho việc lập bảng thống kê phân loại
từng nhóm địa danh. Q trình điền dã có ý nghĩa lớn trong việc tìm hiểu thời điểm
ra đời của địa danh cũng như nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh vì nhiều nguồn tài
liệu viết khó có thể giải thích chi tiết về tồn bộ các địa danh. Hơn nữa, các nguồn
gốc và cách giải thích của nhiều địa danh chỉ được truyền miệng mà không được ghi
chép lại, nên việc trao đổi trực tiếp với những con người đã gắn bó với một địa danh
nào đó có vai trò quan trọng trong nghiên cứu địa danh.
19
4.4. Phương pháp khảo sát bản đồ
Khảo sát bản đồ theo diện đồng đại và lịch đại cho phép người nghiên cứu tìm
ra tần suất xuất hiện của các loại địa danh và ở những địa bàn nào, thời điểm nào
xuất hiện và biến mất cùng những thay đổi về văn tự của các địa danh.
5. NGUỒN NGỮ LIỆU
Đề tài sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau: tài liệu lịch sử Gia Lai; tư liệu từ
các sách, báo, bài nghiên cứu trong các thời kỳ; tư liệu bản đồ; tư liệu mạng trực
tuyến và các loại từ điển. Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng một lượng lớn thông tin từ
nguồn tư liệu điền dã, tức là các tư liệu được thu thập bằng hình thức ghi chép từ
quá trình đi thực tế. Để đảm bảo tính chính xác của thông tin, một số tư liệu từ
thông tin, tư liệu có nguồn gốc trên các trang mạng xã hội và điền dã được tuyển lọc
kỹ lưỡng qua việc hỏi ý kiến các nhà nghiên cứu văn hoá đương thời tại Gia Lai
hoặc so sánh với các tài liệu khác nếu có.
6. ĐĨNG GĨP MỚI
Về mặt khoa học, luận văn thể hiện một bức tranh toàn cảnh về địa danh ở Gia
Lai một cách khái quát qua việc thu thập và trình bày có hệ thống các địa danh với
những đặc điểm cơ bản về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa và sự chuyển biến về mặt ý
nghĩa của địa danh. Đề tài cịn góp phần làm đa dạng nguồn tài liệu về Gia Lai nói
chung và về nghiên cứu địa danh nói riêng.
Thêm vào đó, luận văn khảo sát những đặc điểm chính của địa danh ở Gia Lai
qua các thời kỳ, đồng thời làm rõ thêm những nét tương đồng và khác biệt trong
phương thức định danh của địa danh vùng này với các địa phương khác trong cả
nước.
Về mặt thực tiễn, luận văn sưu tầm và khảo sát một số địa danh tại địa phương,
tiếp thu và kế thừa những giá trị văn hóa, lịch sử của tỉnh nhà qua việc đặt tên
những địa danh. Đây là nguồn tư liệu quý báu để giúp các nhà nghiên cứu, những
người quan tâm đến địa danh có cái tổng quát về địa danh tại Gia Lai.
20
7. BỐ CỤC
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội
dung của luận văn gồm bốn chương chính sau:
Chương 1 - Những tiền đề lý luận và thực tiễn bao gồm các nội dung chính là
cơ sở lý luận về địa danh và địa danh học, mối quan hệ giữa địa danh với các ngành
khoa học khác, ý nghĩa việc nghiên cứu địa danh; khái quát về địa bàn tỉnh Gia Lai
(điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử và điều chỉnh địa giới qua các thời kỳ),
những nét khái quát về địa danh tỉnh Gia Lai thông qua kết quả thu thập và phân
loại địa danh theo tiêu chí loại hình và tiêu chí ngữ ngun.
Chương 2 - Đặc điểm cấu tạo và chuyển biến của các địa danh ở tỉnh Gia
Lai tập trung nghiên cứu các phương thức định danh chính trên địa bàn đặc biệt là
hai phương thức tự tạo và chuyển hóa; các kiểu địa danh xét về mặt cấu tạo; một số
nguyên nhân cơ bản của quá trình chuyển biến địa danh tại Gia Lai.
Chương 3 - Đặc điểm về nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh ở Gia
Lai trình bày nguồn gốc và ý nghĩa của một số địa danh ở Gia Lai.
Chương 4 - Giá trị phản ánh hiện thực của các địa danh ở tỉnh Gia Lai
phản ánh cái nhìn tồn cảnh về tỉnh Gia Lai qua các mặt lịch sử, văn hố, địa lý,
ngơn ngữ, kinh tế,…
21
Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm địa danh
Tương tự như rất nhiều các thuật ngữ thuộc lĩnh vực xã hội khác, tồn tại rất
nhiều định nghĩa khác nhau liên quan đến thuật ngữ ‘địa danh’ và khó có thể đưa ra
cho thuật ngữ này một định nghĩa thống nhất cả ở Việt Nam và trên thế giới.
M. Berry [29, tr.73 - 74] định nghĩa địa danh một cách đơn giản như sau: “Địa
danh là một tên gọi của một địa điểm mà ở đó việc viết hoa các ký tự là một chỉ báo
của một địa danh”. Trong khi đó, Liên Hợp Quốc [42] đưa ra một khái niệm có tính
tổng quát: địa danh là một thuật ngữ dùng để chỉ một địa điểm hay một vị trí địa lý
bất kỳ. Ngược lại, S. B. Cohen and N. Kliot lại không cho rằng địa danh đơn thuần
chỉ là một tên gọi mà địa danh nên được xem như là một “biểu tượng” của q trình
gắn ý nghĩa cho một mơi trường xung quanh của con người; chúng đóng vai trị như
là một nguồn thông tin, tạo điều kiện cho quá trình thơng tin liên lạc, giúp chúng ta
có thêm hiểu biết và phục vụ như là một kho các giá trị [30].
Ở Việt Nam, cách hiểu về thuật ngữ ‘địa danh’ cũng rất đa dạng, phong phú và
cho đến nay các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng không thể đưa ra một định nghĩa có
tính nhất qn cho thuật ngữ này.
Theo một số từ điển, đặc biệt là từ điển Việt Nam cũ, các nhà biên soạn thiên về
cách giải thích địa danh là tên đất hoặc tên các miền đất. Trong các từ điển của Đào
Duy Anh và Hoàng Phê, địa danh được định nghĩa là “tên các miền đất” [4, tr.268]
hay là “tên đất, tên địa phương” [5, tr.314]. Định nghĩa về thuật ngữ ‘địa danh’
trong Từ điển bách khoa Việt Nam [27, tr.780] có phần rõ ràng và chi tiết hơn, đó là
“tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm
kinh tế (vùng nông nghiệp, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi,
đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo
biển, đại dương có toạ độ địa lý nhất định ghi lại được trên bản đồ. Địa danh có thể
22
phản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố địa lý tự nhiên và lịch sử với
những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ.”
Rõ ràng, các định nghĩa về địa danh nêu trên hoặc là quá đơn giản như cách
định nghĩa trong [29], [4] và [5], hoặc là quá khái quát như trong [42], quá chi tiết
mà làm mất đi tính khái quát như trong [27] hay dựa theo ý nghĩa của chúng [30]
mỗi tác giả đều có cách hiểu khác nhau về khái niệm địa danh. Những cách hiểu
được đề cập ở đây rõ ràng gây khó khăn cho việc đi sâu nghiên cứu về địa danh vì
địa danh khơng chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lý, dùng riêng cho tên đất mà
còn là tên gọi của các đối tượng chỉ địa hình thiên nhiên hoặc các cơng trình xây
dựng nhân tạo và khơng phải tất cả các địa danh này đều bao hàm trong nó các
thơng tin về tồn tại địa lý nơi các địa danh này tồn tại.
Thực chất, khi đi vào các nghiên cứu cụ thể hay bàn về lý luận trong lĩnh vực
địa danh học, các nhà nghiên cứu và các học giả đều đề xuất những cách hiểu khác
nhau về thuật ngữ ‘địa danh’. Có thể nói, cách mà địa danh được định nghĩa có mối
quan hệ mật thiết với phương pháp tiếp cận mà các nhà nghiên cứu sử dụng trong
các công trình nghiên cứu của mình. Sau đây là một vài định nghĩa về địa danh của
các tác giả trong và ngồi nước.
Nhà ngơn ngữ học Nga A. V. Superanskaja [21, tr.1] đưa ra luận điểm rằng:
“Tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng. Đó là các tên gọi địa lý,
địa danh hay toponoma” và chỉ rõ “những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật
thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật
thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi
nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi. Khác với những vật thể thơng thường,
những mục tiêu địa lý có hai loại tên: tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái
niệm nào đó (núi, sơng, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [21,
tr.13].
Tác giả G. M. Kert [cf.12] thì cho rằng địa danh là tên gọi được đặt cho các đối
tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng
đồng dân cư hay một tộc người. Vì địa danh gắn liền với quá trình tồn tại và phát
23
triển của một cộng đồng người hay một tộc người nào đó, nên chúng là một phần
khơng thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị - xã hội
ở nơi đó.
Vì đi sâu vào bàn luận vấn đề lý luận trong địa danh học nên khái niệm về địa
danh của A. V. Superanskaja và G. M. Kert vẫn mang tính khái quát và nhấn mạnh
rằng địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý. Khi đi vào các nghiên cứu cụ thể,
các nhà nghiên cứu và địa danh học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về địa
danh khác mang tính cụ thể và có lợi trong cơng việc nghiên cứu địa danh hơn, đặc
biệt là trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam.
Lê Trung Hoa, người đặt nền móng cho địa danh học Việt Nam, đã định nghĩa
địa danh như sau: “Địa danh là những từ ngữ được dùng làm tên riêng của các địa
hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (khơng có ranh giới rõ
ràng) và các cơng trình xây dựng thiên về khơng gian hai chiều” [11, tr.18]. Trên
quan điểm địa lý - văn hóa, Nguyễn Văn Âu [13, tr.5] quan niệm: “Địa danh là tên
đất, gồm tên sông, núi, làng mạc… hay là tên các địa phương, các dân tộc”. Tuy
nhiên, theo quan điểm này, tác giả chỉ quan tâm đến các đối tượng tự nhiên mà bỏ
qua các đối tượng nhân tạo trong khi những đối tượng này chiếm một tỷ lệ khá lớn
trong địa danh. Bổ sung thiếu sót này, Bùi Đức Tịnh [2, tr.10] định nghĩa địa danh
là “một danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được
phân biệt về phương diện địa lý, các vị trí cần phân biệt trong sinh hoạt xã hội và
các đơn vị được xác định trong tổ chức hành chính hay qn sự”.
Ngồi các cách hiểu về địa danh kể trên, chúng ta cũng có thể tham khảo một số
định nghĩa về địa danh khác được các nhà nghiên cứu đề cập trong các nghiên cứu
và bài viết trong lĩnh vực địa danh học. Sau đây là một số định nghĩa về địa danh
được trích từ các tác phẩm tiêu biểu:
Trong luận án Phó Tiến sĩ khoa học của ông, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiên
Trường [17, tr.16] đã định nghĩa địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự
nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”. Hồng Thị Châu [45]
trong một bài viết của mình đã định nghĩa địa danh hay là tên địa lý, là tên vùng, tên
24
sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành
chính,… được con người đặt ra”. Theo cách tiếp cận này, cách giải thích của tác giả
lại quá thiên về chức năng định danh ngơn ngữ. Bên cạnh đó, Trần Văn Dũng [26]
thì cho rằng địa danh là tên gọi những đối tượng địa lý tự nhiên và địa lý do con
người kiến tạo (bao gồm địa lý nơi cư trú, địa lý chỉ các cơng trình xây dựng).
Trong bài “Địa danh học và việc nghiên cứu địa danh các tỉnh Trung Trung Bộ”,
Phạm Tất Thắng [46] quan niệm địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các
cơng trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó.
Nói chung, các khái niệm được các nhà nghiên cứu và các học giả đưa ra rất đa
dạng, phong phú và dựa trên nhiều quan điểm khác nhau. Thật khơng dễ để xác
định một khái niệm có ý nghĩa về mặt nghiên cứu hơn khái niệm còn lại và tất nhiên
tất cả các khái niệm được đề cập trên đây đều có ý nghĩa trong những nghiên cứu cụ
thể. Tuy nhiên, trong nghiên cứu về địa danh Gia Lai này, do tính phức hợp về dân
tộc và q trình phát triển lâu dài của Gia Lai nên chúng tôi thiên về việc sử dụng
định nghĩa theo tiêu chí loại hình của tác giả Lê Trung Hoa và xem nó như một kim
chỉ nam trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này vì định nghĩa của ơng có khả
năng xác định được đối tượng của địa danh một cách cụ thể và rõ ràng.
1.1.2. Những vấn đề của địa danh học
Thuật ngữ ‘địa danh học’ (toponymy) có nguồn gốc từ Tiếng Hy Lạp tópos
(τόπος) (“nơi”) and ónoma ( νομα) (“tên”). Bản thân địa danh học là một nhánh
của nhóm ngành khoa học nghiên cứu các loại tên (onomastics). Soạn giả Nguyễn
Văn Âu [14, tr.5] cho rằng địa danh học là “một môn khoa học chuyên nghiên cứu
về tên địa lý các địa phương”. Thực chất, địa danh học là một bộ phận của ngôn ngữ
học, mà cụ thể là từ vựng học, và nó bao gồm những vấn đề nghiên cứu cơ bản sau
đây:
1.1.2.1. Vấn đề chức năng của địa danh
Các nghiên cứu chuyên sâu về địa danh và tài liệu học thuật địa danh học xác
định các địa danh có nhiều chức năng khác nhau và một trong những chức năng cơ
bản của chúng là định danh. Về cơ bản, các địa danh là tên gọi đối tượng địa lý (tự