Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.22 MB, 8 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<i><b>Phạm V in Tinh’</b></i>
1. Đ ặt v ấn đề
<i>1.1.</i> Giáo dục giao tiếp ngôn ngữ đang là m ột trong những vấn đề cần chú
rọng trong môi trường học đường, đặc biệt là các thế hệ học sinh phổ thông (từ 6
. ;8 tuổi) ở V iệt N am hiện nay, Với độ tuổi này, các em đến trường để tiếp thụ
mẠt khối lượng kiến thức vừa đủ (theo quy định) để cỏ thể học tiếp các chương
.rình tiếp theo (cao đẳng, đại học, học nghề...). Tuy nhiên, m uốn tiếp thu được tri
thíc nói chung, người ta không thể bỏ qua m ột công cụ giao tiếp quan trọng số
tnẶt là ngôn ngữ. H ọc sinh thụ đắc tiếng mẹ đẻ không chi là trang bị cho m ình một
vcn từ vựng nhất định, các cấu trúc cú pháp nhất định, m à còn phải học cách giao
tiếp ứng xử ngôn ngữ sao cho hợp lẽ. ứ n g xử ngôn ngữ là m ột nét ứng xử văn hố
mì các em phải chú ý làm quen, học hỏi và trau dồi. Đó là m ột k ĩ năng quan ứ ọng,
mì rèn luyện kĩ năng nhất thiết phải trải qua một quá trình tổng hợp giữa tri thức
vè kinh nghiệm.
<i>1.2.</i> Trong hệ thống phân cấp hiện nay ở trường phổ thông (m ẫu giáo, tiểu
học, trung học cơ sờ, trung học phổ thông) thì bậc học cuối (trung học phổ thông)
CC nhiều điều đáng lưu ý về các mặt. Đây là lứa tuổi các em bắt đầu trường thành
trí thành người lớn. Có nhiều sự xáo trộn về mặt tình cảm, tâm lí, thể chất..., vì vậy
cíC em dễ tiếp thu (và cũng dễ lây nhiễm) mọi điều mới lạ, trong đó có thói hư tật
xíu. Ngơn ngữ, cách nói năng là một mặt các em hấp thụ và thể hiện rõ nhất. Chính
vì vậy, chúng tơi thử xem xét những mặt biểu hiện của vấn đề này của các nhóm
híC sinh lớp lớn trong những năm gần đây. Địa bàn khảo sát chủ yếu là học sinh
p TH ở Hà Nội.
2. M ột vài th ự c trạ n g
<i>2.1. </i> Hiện nay (2012), bậc học THPT ở Hà Nội có 194 trường cơng lập và 66
trrịng ngồi cơng lập, số đăng kí thi vào lớp 10 là 75.000 thí sinh [Nguồn: Sở GD
* PGS.TS. Ngữ văn, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.
VỀ CÁCH XƯNG HỒ VÀ GIAO TIẾP NGÔN N G Ữ ..
& ĐT Hà Nội]. Như vậy, sổ học sinh THPT toàn thành phổ được tuyển (cả 2 hệ
công lập và dân lập) sẽ vào khoảng 70 nghìn. So với số lượng học sinh còn lại (từ
lớp 9 trở xuống) thì con số này khơng lớn lắm. Nhưng đội ngũ này lại là lực lượng
thanh thiếu niên chủ chổt. Họ đã lớn, đã tự chủ trong nhiều mặt. Đa số là đã tự di
học bằng các phương tiện khác nhau (xe đạp, xe buýt, xe máy). Cách thức sinh hoiỉt
cùng đã khác. Nhiều gia đình có điều kiện đã trang bị cho con cái nhiều tiện ích:
quần áo, giày dép, đồng hồ, xe máy, điện thoại di động, thậm chí cả laptop, iP a d ..
So với học sinh cấp 3 ngày xưa, học sinh trung học bây giờ có sức vóc cao lớn hơĩi
các điều kiện vật chất tốt hơn. Cũng vì vậy mà họ tỏ ra năng động, tự tin hơn. Xà
hội ngày càng lưu ý tới các đối tượng dòng 8X hay 9X. Họ đang giữ vai trò chủ đại
trong việc tiếp cận tri thức, công nghệ mới và từng bước chiếm lĩnh các hoạt độnfc
các diễn đàn xã hội.
<i>2.2. Trong cung cách xưng hô.</i> Xưng hô là nghi thửc đầu tiên, nhằm thiết lập
một cuộc trao đổi. Xưng hô trong học đường khá thuần nhất về độ tuổi, tâm sini
lí, sở thích... Vì là đối tượng đồng trang lứa, các học sinh trong cùng khối hầu het
là "đồng tuế" (cùng tuổi) nên khơng có sự phân chia thứ bậc, không bị các nhân tẠ
quyền uy <i>(power)</i> chi phối trong việc xưng hô. Từ trước đến nay, việc xưng g^i
trong học đường không phức tạp lắm. Khi nói năng, các em thường xưng <i>tớ</i> gũ
<i>bạn</i> (hoặc tên của bạn). Cũng có em xưng <i>tơi</i> gọi <i>bạn.</i> N hưng cũng có em xưnị
<i>tao</i> gọi <i>mày.</i> Trong bộ phim dài kì <i>Nhật kí Vàng Anh</i> p h át trên VTV3 mấy năn
trước đây (2006 - 2007), người viết kịch bản đã để cho các em xưng <i>tôi</i> và gọi cá;
bạn là "ông" (náu là hạn trai) và "bà" (nếu là bạn gái). N h ư vậy, ta thấy có nhiềỉ
càp xưng gọi đang tồn tại: <i>tớ - cậu, tở - bạn, tớ - tên bạn, tao - mày, tôi - ông/</i>
<i>bà,...</i> D ĩ nhicn, các cặp xưng gọi này cỏ thể thay đổi tuỳ nơi, tuỳ hồn cảnh. Thận
chí, việc thay đổi này có thể diễn ra trong một nhóm học sinh <i>{lúc này xưng tac</i>
<i>lúc sau xirng (ớ).</i> Nếu ở trong lórp, trưởc thầy cơ thì các em lại nói khác. Ra khci
lớp, đi chơi, các em nói khác.
<i>2.3.</i> Vấn đề chính là ở chỗ, cách nói năng của các em trong khung cảnh ngoà
h ọ c đ ư ờ n g . T h o á t k h ỏ i lớp h ọ c , sân trư ờ n g , n g o à i s ự g iá m s á t c ủ a th ầ y c ô , cf
n h iê n c á c em sẽ có trạ n g th ái tâ m lí v u i vỏ th o ả i m ái h ơ n . C á c e m đ ư ợ c h o à <i>\ầ)</i>
k h ô n g g ia n x ã hội v à th ể h iệ n m ọ i h à n h vi m ộ t c á c h tự n h iè n h ơ n . N h ư n g c h ín h s t
tự n h iê n n à y có lúc đ ã dẫn đ ế n s ự tự d o q u á trớ n , v ư ợ t ra n g o à i c á c k h u ô n kh*
c h u ẩ n m ự c . Đ iề u d á n g tiế c là n h iề u em lại c h o rà n g đ ỏ là c á i " q u y ề n " c h ín h đtn>
c ù a m ìn h v à v ơ h ìn h tru n g đ iề u đ ó c ổ x u ý c h o n h ữ n g c á c h n ó i n ă n g lệ c h chuẩ)
n g ô n n g ừ v à v ăn h ó a.
<b>VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẰN THỨ TƯ</b>
lớp hay một nhóm người nào đó, nhằm chi để trong nội bộ hiểu được với nhau" <i>{Từ</i>
<i>điển tiếng Việt,</i> H oàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Năng, 2006). Lóng là một hành vi
được coi là lệch chuẩn thường đo những đổi tượng có hành cung che giấu hoặc trốn
tránh pháp luật (buôn lậu, băng nhóm xã hội đen) sử dụng. Học sinh không phải là
đổi tượng xấu, khơng có những hành vi hoạt động m ờ ám (trừ m ột số ít hư hỏng, ăn
chơi, nghiện hút) nên không thể coi ngôn ngữ m à học nói với nhau là tiếng lóng
được. Nhưng cách thể hiện của những lối nói này giống như m ột dạng lóng biến
- Hết veo <i>đạn</i> (tiền) rồi, nài phụ huynh mãi không được <i>viện trợ</i> (cho tiền).
Hôm nay đành <i>treo g ià y</i> (khơng đi chơi hoặc tham gia m ột trị gì đó) thơi...
- Bắt chước thằng Tuấn lị gạch ấy. Đem <i>con nghẽo</i> (xe đạp, xe máy) đi cắm là
có <i>máu khơ</i> (tiền dự trữ) ngay. Rồi <i>tiền bổi</i> (bố mẹ) xót con khơng để con cháu <i>hành</i>
<i>quân</i> (cuốc bộ) lâu đâu...
- Tao nghĩ ra kế Khổng M inh rồi. <i>Oanh tạc cơ</i> (lấy trộm) ngu ngơ <i>gà tóc nâu</i>
(bạn gái tóc vàng). <i>Sỉch-cờ-rít</i> (sercret, bí mật) nghe chưa!
- OK! Oong đơ toa ba ta nhất trí. Chiều nay, nhớ "phôn" cho tụi thằng Hùng
<i>ăn sung sung chát</i> (chat, trò chuyện trên mạng) bằng <i>cam vắt</i> (webcam, chat có
hình) ln đến <i>khoắt</i> (khuya) khơng thèm <i>ngơi</i> (nghỉ ngơi) nhé...
Có thể nói là thiên hình vạn trạng kiểu nói của các bạn trẻ, dòng 8X đã qua,
bây giờ là 9X. Họ ăn diện rất mốt, tóc hoe vàng, áo thụng, quần ngố, lúc nào cũng
kè kè điện thoại đời mới. Họ gọi bạn gái là <i>g à tóc nâu,</i> bạn trai là <i>xe trâu,</i> gọi bố mẹ
là <i>tiền bổi,</i> gọi đôla là <i>tờ âm phù,</i> gọi các trò chơi gam e là <i>hàng độc, hàng hiệu,</i> làm
kiểm điểm thì gọi là <i>đi chào cờ,</i> bị bắt ra ngồi lớp thì gọi là <i>ăn thẻ đỏ bỏ sân chơi,</i>
trốn học chơi cờ ngoài công viên là <i>đi thăm Đe Thích,</i> bị bố mẹ m ắng là <i>nghe ca</i>
<i>nhạc cải lương,</i> v.v...
<i>2.5. </i> Cịn một lối nói nữa, rất được các sĩ tử ưa chuộng là lấy tên các nhân vật
VỀ CÁCH XƯNG HÔ VÀ GIAO TIẾP NGÔN NGỮ...
hơn. Nhưng ra khỏi lớp là khác hẳn. Họ vui vẻ cười đùa và trcu chọc nhau không
b iết mệt.
<i>2.6.</i> Công nghệ thông tin phát triển cũng là một nhân tố tác động tới cách nói
và cách viết của học sinh hiện nay. Cái khác biệt của nhịp sống hôm nay là tốc độ
nhịp sóng nhanh chóng mặt. Có khi chỉ nhỡ một cái nháy chuột thôi là lỡ một cơ
hội. Và cơ hội này rất có thể làm cho sự nghiệp của ai đó rẽ qua ngả khác cũng nên.
<i>C ơng nghệ tân kì, nói chi cho phải?</i> Vậy nên, việc nói năng của lớp trẻ bây giờ cũng
đậm chất "công nghệ":
- Thế nào? <i>file</i> về mấy "công-tơ-ra" (hợp đồng) ở FPT bọn mày chạy đến
đ â u rồi?
- <i>N ổi mạng</i> rồi. Nhưng mãi vẫn chưa <i>hot</i> (nóng) lên được. Chưa đúng hợp
đồng...
- Thì mày cứ <i>cóp</i> (copy)" rồi <i>meo</i> (mail) ngay <i>phai</i> (file) giống hợp đồng vừa
k í với hãng Vinacafe ấy?
- "Meo, meo, a chú mèo" chán rồi. Họ không chịu. Phải qua thủ tục "thờ âu
thâu huyền thầu" mới ổn!
- Rách việc quá ta! Thôi tới "choa" giải quyết ngay việc gấp này đã. <i>Đelit</i>
(delete) chuyện kia đi! Đừng có "ngõi" tới nó nữa...
Tng teeng với chiếc túi trên vai, họ vừa đi, vừa dốc chai <i>La Vie</i> ừng ực vừa
nút mô-bai ra đàm đạo (mà họ hay nói là "bn dưa lê, bán dưa bở"). Không alô,
k-hông xưng hô, khơng mào đầu gì sất, họ hổi hả bàn công chuyện. Tính cấp bách
ctủa cơng việc làm cho ngôn từ giới trẻ kia "tỉnh lược" ngôn từ tới mức tối đa và bỏ
qiua hầu hết mọi nghi thức xã giao.
<b>VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư</b>
wa, quá = wá, chết rồi = chít rùi, tiếng Việt là gì? = tiếg Vịt là j?, hết giờ = hit h, Dù
sao ngôn ngữ cũng không phản ánh được cảm xúc của con người = D sao ngun ng.
kũg ko fan á đợc kảm xúc kủa c. ngừi...
Cách viết tuỳ tiện như vậy, có thể chỉ là một thú chơi riêng, m ột cách thể hiện
riêng trong từng nhóm. Và rất nhiều người cho rằng thú chơi này là bình thường, vô
hại. Họ nghĩ lớp trẻ quá nhiều stress trong học hành, cần phải giải toả bằng cách bày
trị tiêu khiển. Lớp trẻ thích thế và không áp dụng cho những nơi khác hoặc những
nơi khác cần nghiêm túc. Cũng có thể, nhưng cái gì dùng lâu cũng sẽ thành quen. B.
Spock nói rằng: "Trẻ em không hư nếu hành vi chỉ gặp m ột lần. Đ ứa trẻ chỉ hư khi
những sai lầm về giáo dục được lặp lại trong một thời gian dài". Lối viết, lối nói tuỳ
tiện của các em đã "nhập tâm" lúc nào không hay và đôi khi "bột phát" thể hiện
ngay trên bài viết "giấy trắng mực đen" của họ.
Trên báo Khoa học & Đời sống gần đây, trong bài <i>"Những cả i lỗi nằm ngoài</i>
<i>kiến thức"!</i> chúng tơi đã có ý kiến khơng đồng tình về việc học sinh hiện nay sử
dụng khá nhiều các kí hiệu tắt trong bài thi (Chẳng hạn, viết <i>ìr ,k g , k =</i> không, <i>ng. X</i>
= nguyên nhân, ~ = những, <i>o f=</i> của, <i>&, and</i> = và...). Nhiều giáo viên có trao đổi với
chúng tôi rằng, các chữ tát tuỳ tiện khác thì đúng là khơng nên. N hung riêng kí hiệu
<i><b>&</b></i> (= và) thì đã quá thông dụng trên toàn thế giới. Chả cứ gì thế giới, sách báo ta
cũng viết như vậy khá nhiều đấy thôi. Viết <i><b>&</b></i> không sai nghĩa m à lại tiện nữa. Vậy,
bắt lỗi các em như vậy có khắt khe và máy móc q khơng?
Kí hiệu & nằm trong hệ thống một loạt các kí hiệu ước lệ biểu trưng đang rất
thông dụng trên văn tự nói chung (như <i><b>% -</b></i> phần trăm; <i><b>%0</b></i> = phần nghìn; = dấu
bằng; ~ dấu gần bằng, xấp xỉ...). Kí tự & = <i>and = am persand = và</i> (tiếng Việt). N ó
ra đời rất lâu rồi, gần như sau khi có bảng chữ cái Latinh và người ta nghiễm nhiên
"ưu tiên" để đặc cách xếp nó đứng ngay sau chữ [z] là chữ cuối cùng của hệ chữ
này. <i>Ampersand</i> được giải thích là tổ hợp hoà kết (đã bị đọc trại âm ) của ngữ đoạn
"[zed] and per se and". Đó là lời người Anh giải thích hai kí tự cuối cùng đứng liền
nhau: [z, &] -» "zed (chữ z) và chữ tự nó có nghĩa là và (&)" (xem thêm <i>K iển thức</i>
<i>Ngày nay,</i> số 488, tháng 3-2003).
Kí hiệu & có mặt khắp mọi loại hình văn bản ở mọi ngôn ngữ khác nhau.
Người ta còn sáng tạo ra nhiều tự dạng mang tính đồ hình đủ loại từ kí tự này đổ
trang trí, nom rất lạ mắt. Ở Việt Nam, ta cũng gặp & nhan nhản trên các tít báo, tít
sách, tên khách sạn nhà hàng, ban nhạc,...: <i>Khoa học & P hát triển, M ốt & Cuộc</i>
<i>sổng, Gia đình & X ã hội, Tiếp thị & Gia đình,...</i> (báo) <i>Nhóm A C & M</i> (ban nhạc),
<i>Cafe & Internet, M & Tôi</i> (phòng trà)... Nếu quan sát, ta thấy đa sổ kí hiệu <i>&</i> này
thường nằm trong cấu trúc ngữ đoạn ngắn, có vai trò nối kết hai vế đổi tượng tương
đương, mang tính định danh cao. Điều này cũng giúp cho việc thể hiện măng-sét
VỀ CÁCH XƯNG HỒ VÀ GIAO TIẾP NGỒN NGỮ...
báo hay làm ma-kct bài vở thoáng nhẹ và đẹp hơn. Còn trong văn bản chính văn, ít
ai dem kí hiệu đó ra dùng (chì có thể lặp lại nguyên văn tên đã định hình trên tít
báo). Đơi lần, ta cũng bắt gặp một tài liệu nào đó "nhỡ tay" viết lẫn chữ này vào
mạch diễn giải, làm cho văn bản vừa thiếu nhất quán trong trình bày vừa gây ấn
tượng không nghiêm chỉnh. Do đỏ, việc một học sinh nào đấy cũng "tiện tay" sử
dụng mọi kí hiệu tắt như thế trong bài thi của mình rõ ràng là không nghiêm túc,
càn phải sửa (trừ trường hợp được phép hoặc bắt buộc sử dụng khi diễn đạt các bài
giải mơn lơgích, tốn học,...). Ở các bài thi khác (như văn, sử, chính trị, đạo đức,...),
dĩ nhiên viết thế người đọc vẫn nhận ra và hiểu "ngon lành". Nó hầu như khơng ảnh
hưởng gì tới ngữ nghĩa giao tiếp. Nhưng đổi chiếu với một văn bản địi hỏi mơ
phạm, chuẩn, thể hiện tuỳ tiện như vậy là sai quy cách. Chi riêng m ột kí hiệu đó
thơi cũng đủ để chúng ta dừng lại bàn khá nhiều về quy cách viết tắt sao cho phải.
Trong nhiều bài kiểm tra, bài thi của học sinh mà chúng tôi tiếp cận, rất nhiều chỗ
viết tắt vô tội vạ: các tổ hợp từ khơng quen thuộc, rất khó suy luận (ví dụ bài giữa kì
= bgk, ngày trước = nt, thực tế = tt...), tên của chính học sinh trong giấy thi (Nguyễn
Thị Thu Hường = Ng. T. T. Hường), thậm chí tên nhân vật lịch sử, lãnh tụ cần viết
đầy đủ cho trang trọng vẫn bị viết tắt (Hồng Hịa Thám = HHT, Chủ tịch Hồ Chí
Minh = CT HCM...), V.V...
<b>3. P h â n tích nguyên nhân và kiến n gh ị</b>
<i>3.1.</i> Rất nhiều học sinh hiện nay sinh hoạt, nói năng, viết lách bất chấp mọi
điều đang diễn ra xung quanh. Ai nghe, ai không nghe mặc kệ. M iễn là hả dạ, vì gây
được ấn tượng, là lạ kì, là sành điệu... Hiện nay, đang có xu hướng giới trẻ vào
mạng viết blog như một thú vui thời thượng. Công bằng mà nói, vào đấy, chúng ta
cũng bắt gặp nhiều trang viết hay, cảm động. Đó là một nơi để các em bộc bạch, thể
hiện nỗi lòng. Nhưng khơng ít blog được thể hiện vơ cùng lộn xộn (về chủ đề, ngôn
từ, chính tả...). Thói quen tuỳ hứng này rõ ràng phản ánh một mặt trong cách thức
<b>VIỆT NAM HỌC - KỲ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẰN THỨ TƯ</b>
tinh, ư ò chơi game, chát trên mạng,...). Khi nghe con em mình nói năng, có phụ
huynh mới biết, "giật mình" thì đã muộn. <i>Bẻ không vin cả g ã y cành</i> là thế.
<i>3.3. </i> v ề phía nhà trường, rõ ràng cũng có sự buông lỏng, không đưa các em
vào những nề nếp, kỉ cương cần thiết. Nhiều nơi, các thầy cô chỉ có nhiệm vụ lên
lớp giảng bài cho hết giờ, ít quan tâm theo dổi xem các học sinh trong lớp như thế
nào (hoàn cảnh, sở thích, tâm tư, nguyện vọng, những biểu hiện bất thường,...).
Nhưng điều quan trọng nhất là thiếu hẳn một chương trình giáo dục giao tiếp ngôn
ngữ văn hoá cho các em. Các em không chỉ học các môn Văn, Tiếng Việt là xong
mà còn phải biết vận dụng tri thức ngôn ngữ trong các tình huống nói năng trong
các bối cảnh khác nhau. Các em tiếp nhận tri thức mới là tốt (tin học, công nghệ
mới) nhưng không thể ỷ lại, lạm dụng công nghệ mới để thể hiện những cái tơi lệch
lạc của mình. Hầu hết các giáo viên chấm bài cũng không lưu ý nhiều đến kĩ năng
trình bày (chính tả, viết hoa...) m à hơi lệch về kĩ năng viết văn hoặc trả lời kiến thức
chuyên môn (đáp số, công thức đúng là được). Việc bắt lỗi, sửa lỗi, trừ điểm ở các
kĩ năng này hầu như không cỏ. Không được nhắc nhở nên các em tự cho rằng điều
này không quan trọng và cứ thế tiếp tục mắc lỗi và mắc trầm trọng hom. Theo tơi,
khung chương trình hiện nay nên bổ sung thêm phân m ôn <i>Giáo dục giao tiếp ngơn</i>
<i>ngữ - văn hoả</i> cho học sinh, ít nhất là cho các học sinh lớp lớn (PTTH).
<b>T ài liệu th a m k h ả o</b>
1. Phan Kế Bính, 1990, <i>Việt Nam phong tục,</i> Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hồng Thị Châu, 1995, "Cần chuẩn hố cách xưng hơ trong xã giao", Tạp chí <i>Ngơn</i>
<i>ngừ & Đời sống,</i> số 2.
3. Nguyễn Văn Chiến 1998, "Các lớp yếu tố chi người trong hệ thống đại tị nhân xưng
Đơng Nam Á" trong <i>Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Ả),</i> Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Khang (chủ biên), 1996, <i>ứng xừ ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình</i>
<i>người Việt,</i> Nxb Văn hố Thơng tin, Hà Nội.
5. Nhiều tác giả, 1995, <i>Việt Nam: những vấn đề ngôn ngữ và văn hoả,</i> Hội Ngôn ngữ
học Việt Nam, Hà Nội.
6. Nhiều tác giả, 2002, <i>Tiếng Hà Nội trong mối quan hệ với tiếng Việt và văn hoá Việt</i>
<i>Nam,</i> Hội N gôn ngữ học H à N ội, N x b Văn hoá T hô ng tin.
7. Stankevich N. V., 1993, "Cần tìm hiểu về cách xưng hô trong tiếng Việt" trong <i>Việt</i>
<i>Nam: những vấn đề ngơn ngữ vù văn hố,</i> Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội.
VỀ CÁCH XƯNG HÔ VÀ GIAO TIẾP NGÔN NGỮ..
8. Phạm Văn Tình, 1999, "Bàn thêm về cách xưng hô trong nhà trường" trong <i>Tiếng</i>
<i>Việt và chữ Việt trong đời song văn hoá hiện thời,</i> Đề tài Khoa học của Hội Ngôn
ngữ học Việt Nam.
9. Trần Ngọc Thêm, 2001, <i>Tìm về bàn sắc văn hoá Việt Nam,</i> Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh.