ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ QUANG TRINH
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG
NGỮ NGHĨA NGÔN NGỮ THIẾU NIÊN
(KHẢO SÁT TRÊN BÁO MỰC TÍM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chun ngành: NGƠN NGỮ HỌC
Mã số: 60.22.01
Cán bộ hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN CƠNG ĐỨC
TP. HỒ CHÍ MINH - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi chân thành cám ơn sâu sắc đối với PGS.TS. Nguyễn Công
Đức và TS. Đinh Lư Giang cùng với Quý Thầy, Cô Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn – Đại học Quốc Gia TP.HCM trong những năm qua đã tận tình
giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức sâu sắc; đã chỉ dẫn, giúp đỡ cho tơi
có được nền tảng kiến thức và nguồn tư liệu cần thiết trong quá trình học tập cũng
như q trình thực hiện luận văn này.
Ngồi ra, tôi cũng xin được gửi lời cám ơn đến các anh, chị đồng nghiệp, các
bạn Nghiên cứu sinh, các bạn học lớp Cao học đã chân tình giúp đỡ tơi trong suốt
q trình học.
Xin chân thành cảm ơn phịng tư liệu Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Thư viện
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tơi trong q trình thực hiện đề tài.
Dù đã cố gắng trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu một cách nghiêm
túc, tuy nhiên trong q trình phân tích và khảo sát có thể trong nội dung của luận
văn sẽ còn nhiều vấn đề chưa được chúng tơi đưa vào hoặc chúng tơi trình bày chưa
rõ, hi vọng những góp ý, hướng dẫn của Quý Thầy, Cô sẽ là cơ sở khoa học để giúp
chúng tơi hồn thiện kiến thức của mình hơn cũng như việc phát triển đề tài về sau.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 3 năm 2015
Người viết
Hồ Quang Trinh
MỤC LỤC
Trang
DẪN NHẬP ..................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn ........................................................... 2
4. Phạm vi và giới hạn của đề tài ..................................................................... 3
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu ................................................ 5
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ ............................... 8
1.1. Đặc điểm từ vựng tiếng Việt ..................................................................... 8
1.1.1 Nguồn gốc ........................................................................................ 9
1.1.2 Khái niệm về từ vựng ...................................................................... 10
1.1.3 Khái niệm về từ và cụm từ .............................................................. 10
1.1.4 Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt .......................................... 13
1.1.4.1 Đơn vị cấu tạo ........................................................................... 13
1.1.4.2 Phương thức cấu tạo ................................................................. 13
1.1.4.3 Biến thể của từ ......................................................................... 17
1.1.5 Đặc điểm của từ tiếng Việt ............................................................. 18
1.1.6 Nghĩa của từ và cơ cấu ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt ................ 20
1.1.6.1 Nghĩa của từ ........................................................................... 20
1.1.6.2 Cơ cấu ngữ nghĩa của từ vựng tiếng Việt ................................ 20
1.1.6.3 Phương thức chuyển nghĩa ..................................................... 21
1.1.6.4 Hiện tượng đa nghĩa ................................................................ 21
1.1.6.5 Hiện tượng đồng nghĩa ............................................................ 22
1.1.6.6 Hiện tượng trái nghĩa............................................................... 22
1.1.7 Biến đổi trong từ vựng ................................................................... 24
1.1.7.1 Những biến đổi ở bề mặt từ vựng ............................................ 24
1.1.7.2 Những biến đổi trong chiều sâu của từ vựng............................ 28
1.2. Các nhóm từ vựng tiếng Việt phân theo mục đích sử dụng ...................... 29
1.2.1 Phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng ....................... 29
1.2.1.1 Từ vựng toàn dân .................................................................... 29
1.2.1.2 Từ địa phương ........................................................................ 29
1.2.1.3 Tiếng lóng .............................................................................. 31
1.2.1.4 Từ ngữ nghề nghiệp ................................................................ 32
1.2.1.5 Thuật ngữ ............................................................................... 32
1.2.2 Phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt mức độ sử dụng ....................... 33
1.2.2.1 Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực....................................... 33
1.2.2.2 Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử .................................................... 34
1.2.2.3 Từ ngữ mới và ý nghĩa mới ..................................................... 35
1.3. Các lý thuyết về sự phát triển từ vựng tiếng Việt của một ngơn ngữ ....... 35
1.3.1 . Sự hình thành, phát triển và toàn thắng của những từ ngữ cách mạng
tiến bộ ............................................................................................. 35
1.3.2. Sự thâm nhập mạnh mẽ của các từ ngữ dân gian vào ngơn ngữ văn hóa......... 36
1.3.3 . Sự thâm nhập lẫn nhau của từ vựng khẩu ngữ và từ vựng sách vở.... 37
1.3.4 . Sự thâm nhập của các từ địa phương vào ngôn ngữ văn học tồn dân
và sự phổ biến rộng rãi của ngơn ngữ văn hóa tồn dân ................... 37
1.4. Một số chính sách về sự phát triển từ vựng tiếng Việt hiện nay ............... 38
1.5. Giới thiệu vài nét về tờ báo Mực Tím ...................................................... 45
1.6. Tiểu kết ................................................................................................... 46
CHƯƠNG 2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT KIỂU LOẠI TỪ VỰNG TRÊN BÁO
MỰC TÍM ................................................................................... 47
2.1. Phân loại theo hình thức cấu tạo .............................................................. 47
2.1.1 Từ đơn .............................................................................................. 47
2.1.2 Từ ghép ............................................................................................ 53
2.1.3 Từ láy .............................................................................................. 58
2.1.4 Từ ngẫu hợp ..................................................................................... 60
2.1.5 Cụm từ .............................................................................................. 60
2.2. Phân loại theo nguồn gốc ......................................................................... 62
2.2.1 Từ thuần Việt .................................................................................... 62
2.2.1.1 Từ cũ, văn chương .................................................................... 63
2.2.1.2 Khẩu ngữ .................................................................................. 64
2.2.1.3 Từ địa phương .......................................................................... 67
2.2.1.4 Tiếng lóng ................................................................................ 69
2.2.1.5 Uyển ngữ .................................................................................. 72
2.2.2 Từ vay mượn .................................................................................... 73
2.2.2.1 Vay mượn Hán Việt .................................................................. 74
2.2.2.2 Vay mượn tiếng Anh ................................................................ 75
2.2.2.3 Vay mượn tiếng Pháp ............................................................... 77
2.2.2.4 Vay mượn tiếng Nhật................................................................ 78
2.2.2.5 Vay mượn tiếng Hàn................................................................. 78
2.2.2.6 Vay mượn tiếng Ý .................................................................... 79
2.2.2.7 Vay mượn tiếng Séc ................................................................. 79
2.2.2.8 Vay mượn tiếng Ả Rập ............................................................. 80
2.2.2.9 . Vay mượn tiếng Khơme .......................................................... 80
2.3. Phân loại theo ngữ nghĩa.......................................................................... 80
2.3.1 Đa nghĩa ........................................................................................... 80
2.3.2 Đồng nghĩa ....................................................................................... 81
2.4. Các loại ký hiệu phi ngôn ngữ.................................................................. 82
2.5. Tiểu kết.................................................................................................... 85
CHƯƠNG 3. NHỮNG BIẾN ĐỔI VỀ CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ
TRONG NGƠN NGỮ THIẾU NIÊN QUA KHẢO SÁT BÁO
MỰC TÍM ................................................................................... 85
3.1. Sự biến đổi về cấu tạo .............................................................................. 85
3.1.1 Về mặt ngữ âm của từ ........................................................................ 85
3.1.2 Về mặt kết hợp từ .............................................................................. 88
3.1.3 Sáng tạo từ mới.................................................................................. 91
3.1.3.1 Đơn vị từ vựng mới được cấu tạo dựa trên chất liệu và quy tắc có
sẵn của tiếng Việt ................................................................... 91
a. Phương thức loại suy .............................................................. 91
b. Phương thức rút gọn ............................................................... 96
c. Phương thức ghép hợp nghĩa .................................................. 96
3.1.3.2 Đơn vị từ vựng mới được hình thành bằng cách vay mượn ..... 97
a. Phương thức giữ nguyên ngôn ngữ gốc ................................... 98
b. Phương thức ngoại lai ............................................................100
c. Phương thức sao phỏng .........................................................102
d. Phương thức ghép lai .............................................................103
3.2. Sự biến đổi về ngữ nghĩa ........................................................................104
3.2.1 . Phương thức chuyển nghĩa ..............................................................104
3.2.1.1 Ẩn dụ......................................................................................104
3.2.1.2 Hoán dụ ..................................................................................107
3.2.1.3 Liên tưởng ..............................................................................108
3.2.2 . Sáng tạo nghĩa mới ..........................................................................109
3.2.3 . Từ mới ............................................................................................111
3.3. Những biến đổi lệch chuẩn .....................................................................112
3.3.1. Biến đổi ngữ âm .............................................................................112
3.3.2. Biến đổi cấu tạo ..............................................................................113
3.3.3. Cách viết tắt và viết kí hiệu ............................................................116
3.3.4. Trộn ngơn ngữ ................................................................................118
3.4. Tiểu kết...................................................................................................118
KẾT LUẬN .......................................................................................................120
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................123
PHỤ LỤC (đính kèm)
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Ngơn ngữ thiếu niên (cịn gọi là ngơn ngữ tuổi teen) được hiểu là một bộ
phận ngôn ngữ mới xuất hiện trong giới trẻ ngày nay trước sự phát triển mạnh mẽ
của internet, di động, truyền thơng… Đây là một hình thức ngơn ngữ hết sức mới lạ
và thú vị. Bước đầu, nó được sử dụng trong ngôn ngữ chat, rồi tới các diễn đàn, dần
dần sang blog và bây giờ đang áp dụng vào đời sống hàng ngày một cách hết sức đa
dạng và tự nhiên. Xã hội cởi mở, dịng thơng tin, lối sống phong cách phương Tây
hiện đại ồ ạt tràn vào Việt Nam. Giới trẻ là những người thích thú nhất, họ học tập,
sáng tạo, áp dụng và làm ra cái mới của riêng họ với mục đích là để thể hiện mình.
Tuy nhiên, trong 3 yếu tố cấu thành hệ thống ngơn ngữ thì mặt từ vựng (ý
nghĩa, hình dạng chữ viết...) mang tính bền vững hơn vì có thể được ghi chép cố
định trong sách vở; còn mặt ngữ âm (âm thanh của ngơn ngữ) vì đặc tính “lời nói
gió bay”, phụ thuộc vào đặc trưng tuổi tác, vùng miền, sức khỏe của người sử dụng,
thậm chí phụ thuộc cả những biến cố xã hội, nên rất dễ biến đổi, từ đó về lâu dài
kéo theo sự biến đổi của ngữ pháp, từ vựng. Đó là nguyên tắc vận động có tính quy
luật của ngơn ngữ. Cịn sự xuất hiện của ngôn ngữ tuổi thanh thiếu niên hiện nay thì
ngược lại, bắt đầu từ sự thay đổi từ vựng (chủ yếu về mặt hình dạng chữ viết, kí tự,
cịn mặt ý nghĩa hầu như khơng thay đổi), từ đó dẫn đến sự thay đổi về mặt ngữ âm.
Sự thay đổi của ngôn ngữ trước đây luôn diễn ra chậm chạp trong một thời gian dài,
có khi kéo dài hàng mấy trăm năm. Trong khi ngôn ngữ tuổi teen ra đời và lan rộng
trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ khoảng hơn chục năm trở lại đây. Nguyên nhân
rõ ràng là do có sự hỗ trợ đắc lực của cơng cụ máy tính và mạng lưới internet.
Trong khi đó, giới trẻ lại rất nhanh nhạy và tỏ ra hứng thú với việc tiếp thu học hỏi
những vấn đề này. Khoảng cách giữa các thế hệ, dưới sự tác động của cơng cụ máy
tính, sẽ càng nới rộng hơn và tốc độ của mọi biến đổi tỉ lệ thuận với tốc độ đường
truyền internet. Sự bất đồng về quan điểm, cách nhìn nhận của các thế hệ, vấn đề
1
này là chuyện khó tránh khỏi. Các tranh cãi, cả sự lo lắng của nhà trường, phụ
huynh, giáo viên về biến thể ngơn ngữ cũng cần có những giải đáp cụ thể.
Thực hiện đề tài này, chúng tơi tìm hiểu một số đặc điểm về từ vựng ngữ
nghĩa của ngôn ngữ thiếu niên hiện nay qua khảo sát một số số báo Mực Tím, đây là tờ
báo có phong cách trẻ trung, sinh động, hấp dẫn, phù hợp với tâm lý học sinh – thiếu
niên. Cụ thể là chúng tôi sẽ có những khảo sát để chỉ ra một cách khái quát diện mạo
các thành phần từ vựng. Từ việc thu thập từ ngữ mà lứa tuổi thanh thiếu niên đang
dùng để giao tiếp, trao đổi... chúng tôi thực hiện đề tài “Một số đặc điểm từ vựng ngữ
nghĩa ngôn ngữ thiếu niên (khảo sát trên báo Mực Tím)” .Trên cơ sở đó, luận văn sẽ
miêu tả, phân loại về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và nhóm người sử dụng,
so sánh với lối nói trong tiếng Việt toàn dân để rút ra một số cơ chế tạo từ ngữ của lứa
tuổi thiếu niên.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề từ vựng ngữ nghĩa của ngôn ngữ thiếu niên qua khảo sát
một số số báo Mực Tím, mục đích của chúng tơi là:
- Mơ tả và phân loại các đặc điểm từ việc thu thập từ ngữ mà lứa tuổi thiếu niên
đang dùng để giao tiếp, trao đổi... trên cơ sở đó, luận văn sẽ miêu tả, phân loại về
nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và nhóm người sử dụng, so sánh với lối nói
trong tiếng Việt toàn dân để rút ra một số cơ chế tạo từ ngữ của lứa tuổi thiếu niên.
- Góp phần vào việc chỉ ra những hình thức ngơn ngữ mới nhằm bổ sung và
phát triển từ vựng tiếng Việt cũng như phân tích những dấu hiệu lệch chuẩn của
biến thể ngôn ngữ này.
- Chỉ ra xu hướng phát triển của nhóm từ vựng tiếng Việt.
3. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn
Việc nghiên cứu vấn đề từ vựng của ngôn ngữ thiếu niên thông qua các đặc
trưng như cấu tạo, từ loại, ngữ nghĩa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Về ý nghĩa khoa học, luận văn sẽ vận dụng và làm sáng tỏ thêm một số lý
thuyết ngôn ngữ học liên quan đến sự phát triển, biến đổi, sự tạo lập vốn từ vựng
2
của một ngôn ngữ, các xu hướng vay mượn, mô phỏng cũng như sẽ cung cấp ngữ
liệu khoa học cho các đề tài nghiên cứu về sau.
Về thực tiễn, luận văn sẽ tìm hiểu và lí giải những thay đổi trong hình thức
cấu tạo từ, hình thành một số kiểu kết hợp từ mới. Từ kết quả trên, luận văn góp
phần: Nghiên cứu các đặc trưng về cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa của một số từ ngữ
mới của giới trẻ; Tìm hiểu và đánh giá sự cần thiết cũng như tính bền vững của biến
thể ngơn ngữ thiếu niên.
4. Phạm vi và giới hạn của đề tài
Do khả năng và thời gian khơng cho phép tìm hiểu mọi thành phần từ vựng
mà lứa tuổi thiếu niên sử dụng, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số đặc điểm
từ vựng ngữ nghĩa của ngôn ngữ thiếu niên qua khảo sát và thống kê 36 số báo Mực
Tím (từ số 978 đến số 998; từ số 1004 đến số 1009; từ số 1095 đến số 1104) theo
đặc trưng về cấu tạo, từ loại và ngữ nghĩa theo nguồn gốc và phạm vi sử dụng.
Ngồi ra, cịn có một số ngữ liệu minh họa khác được sử dụng từ các nguồn tài liệu
tham khảo khác.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xã hội càng phát triển, xu thế hòa nhập và tồn cầu hóa càng cao, nên con
người giao tiếp được với nhau bằng ngôn ngữ nhất định là một trong những yêu cầu
căn bản đáp ứng cho xu thế đó. Ngồi việc nghiên cứu ngơn ngữ như một cấu trúc
nội tại, việc nghiên cứu các yếu tố ngồi ngơn ngữ là một hướng đi mới đem lại
nhiều điều mới mẻ, lý thú cũng như nhiều triển vọng cho ngôn ngữ học lý thuyết và
ngôn ngữ học ứng dụng với những hiệu dụng của nó.
Khái niệm “ngơn ngữ” cũng mang nhiều tầng bậc ý nghĩa khác nhau. Nếu
xét trên nghĩa rộng thì ngơn ngữ là một hệ thống bao gồm ba yếu tố từ vựng, ngữ
âm và ngữ pháp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành hệ thống ngôn ngữ của
một quốc gia hay một dân tộc. Lúc này nó đồng nhất với từ “tiếng” như trong
những cách nói: ngơn ngữ Việt – tiếng Việt, ngơn ngữ mẹ đẻ – tiếng mẹ đẻ, ngoại
ngữ – tiếng nước ngoài... Cịn xét theo nghĩa hẹp thì “ngơn ngữ” gần nghĩa với ngơn
từ, lời nói, thường được tạo nên bởi một thiểu số người dùng trong một thời gian sử
3
dụng ngắn, như những cách nói: ngơn ngữ mộc mạc, ngôn ngữ điêu ngoa, ngôn ngữ
viết, ngôn ngữ giới trẻ... Phân tích điều này để thấy rằng, ngơn ngữ thiếu niên (ngôn
ngữ tuổi teen) mà chúng ta đang nhắc đến không đồng nhất với ngôn ngữ Việt mà
cơ bản chỉ là một nhánh nhỏ trong cây đại thụ ngôn ngữ Việt. Ngôn ngữ luôn luôn
vận động và biến đổi, đây là một đặc tính quan trọng và cố hữu của ngôn ngữ. Nếu
so sánh tiếng Việt cổ trong những sáng tác chữ Nôm trước đây của Nguyễn Trãi,
của Nguyễn Bỉnh Khiêm với tiếng Việt ngày nay thì ta thấy rõ sự khác biệt lớn về
các mặt ngữ âm, từ vựng và một phần ngữ pháp. Như vậy, bản thân tiếng Việt đã có
sự vận động và biến đổi theo quy luật phát triển của nó và nhu cầu của người sử
dụng, dĩ nhiên hiện tượng này không chỉ xảy ra ở tiếng Việt mà hầu như ở tất cả các
ngôn ngữ. Tiếng Anh thời W. Shakespeare viết Hamlet khác nhiều so với tiếng Anh
ngày nay, tiếng Trung được sử dụng trong các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng
khác với tiếng Trung ngày nay. Nhấn mạnh điều này để thấy rằng, sự vận động và
biến đổi của mọi ngôn ngữ cần được xem như là một hiện tượng bình thường.
Thời gian gần đây, nhiều học giả có tên tuổi đã gióng hồi chng cảnh báo
về vấn đề xuống dốc trong việc sử dụng ngơn ngữ của giới trẻ, thậm chí cả những
người có bằng cấp khoa bảng hẳn hoi. Cụ thể là ngơn ngữ được sử dụng chưa có
chiều sâu, từ ngữ tiếng Việt bị hiểu sai, câu chữ ngữ pháp kì quặc, giới trẻ có vẻ lạ
lẫm và khơng hiểu nổi nghĩa của nhiều từ vựng tiếng Việt vốn rất quen thuộc trước
đây... Vấn đề đào tạo nặng tính thực dụng kiểu, học toán chỉ biết toán, học thể dục
chỉ biết thao tác vận động... mà chưa tạo điều kiện để người học mở rộng vốn hiểu
biết nhiều phương diện, đặc biệt phương diện xã hội và nhân văn vốn được xem là
nền tảng hiểu biết để tồn tại suốt đời trong xã hội. Ở các nước, sách vở triết học, sử
học, cũng như tác phẩm văn học chính là tài sản của cả xã hội và người đi học nào
cũng cần phải đọc để hiểu biết về chúng.
Nghiên cứu về ngôn ngữ thanh thiếu niên hiện nay khá mới mẻ, nói về đề tài
này tác giả Nguyễn Văn Khang, trong bài Các nhà ngôn ngữ bàn về “tuổi teen sử
dụng ngôn ngữ hỗn tạp” đã đưa ra nhận định: “Cần bình tĩnh để nhìn nhận vấn đề.
Ngơn ngữ âu cũng là tấm gương phản chiếu xã hội hay là chiếc nhiệt kế đặc biệt
4
của xã hội Việt Nam và đang phản ánh sự đổi thay của xã hội Việt Nam và theo đó,
tiếng Việt cũng đang có những thay đổi dưới tác động của xã hội Việt Nam”.
Bên cạnh đó cịn có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu khác về ngôn ngữ thiếu
niên hiện nay như tác giả Nguyễn Đức Dân, Đinh Văn Đức và một số bài báo trên
các báo Tuổi trẻ, báo Thanh niên, báo Dân trí… đề cập đến vấn đề ngôn ngữ của
thiếu niên.
Như vậy, đến nay có ít cơng trình nghiên cứu đặc điểm ngơn ngữ thiếu niên,
nhất là việc khảo sát trên báo chí viết. Ngồi một vài bài viết trên các báo nói về
vấn đề này, cịn có một số bài viết, bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành
của các tác giả, như sau:
-
Phạm Văn Tình (2008), Đời sống giới trẻ: Blog và ngôn ngữ Blog, Bản
tin ĐHQG Hà Nội, số 205;
-
Nguyễn Văn Khang (2010), “Sự tác động của xã hội đối với ngôn ngữ, và
những vấn đề đặt ra đối với chính sách ngơn ngữ ở Việt Nam hiện nay”, Ngơn ngữ, số 8;
-
Nguyễn Công Đức – Đinh Lư Giang (2009), “Một vài suy nghĩ về tiếng
Việt trên mạng hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo quốc gia về Ngôn ngữ học – Hà Nội;
-
Nguyễn Đức Dân; Đặng Ngọc Ly (2011), “Ngôn ngữ tuổi teen”, Ngôn
ngữ và đời sống, số 188;...
-
Một vài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đại học KHXH&NV –
ĐHQG Hà Nội và luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Khánh Dương (2009), Ngôn
ngữ chat: Tiếng Việt và tiếng Anh, Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh do GS.TS.
Nguyễn Đức Dân hướng dẫn.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Về phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp nghiên cứu tư liệu: nghiên cứu bài viết, chuyên khảo về vấn
đề liên quan.
-
Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học: xây dựng thiết kế nghiên cứu,
lựa chọn và xây dựng công cụ thu thập thơng tin, xử lí và phân tích thơng tin định
tính và định lượng, kiểm tra và giải thích các kết quả và viết báo cáo.
5
-
Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê từ vựng
trên các số báo Mực Tím và tiến hành phân loại.
-
Phương pháp miêu tả: Miêu tả cấu tạo, sự thay đổi ngữ nghĩa của từ ngữ
thiếu niên trên báo Mực Tím.
Về ngữ liệu
-
Chúng tơi khảo sát 36 số báo Mực Tím, bao gồm:
o Số báo từ 978 đến 998 (năm 2011)
o Số báo từ 1004 đến 1009 (năm 2012)
o Số báo từ 1095 đến 1104 (năm 2013)
-
Chúng tôi chọn khảo sát và thống kê từ vựng các từ ngữ trên báo Mực Tím
có cách sử dụng khác với cách sử dụng thơng thường, sau đó phân loại theo các loại.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Dẫn luận, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 113 trang được
chia thành 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý thuyết (39 trang)
1.1 Đặc điểm từ vựng tiếng Việt
1.2 Các nhóm từ vựng tiếng Việt phân theo mục đích sử dụng
1.3 Các lý thuyết về sự phát triển từ vựng tiếng Việt
1.4 Một số chính sách về sự phát triển từ vựng tiếng Việt hiện nay
1.5 Giới thiệu vài nét về tờ báo Mực Tím
1.6 Tiểu kết
Chương 2. Kết quả khảo sát kiểu loại từ vựng trên báo Mực Tím (38 trang)
2.1 Phân loại theo hình thức cấu tạo
2.2 Phân loại theo nguồn gốc
2.3 Phân loại theo ngữ nghĩa
2.4 Các loại ký hiệu phi ngôn ngữ
2.5 Tiểu kết
Chương 3. Những biến đổi về cấu tạo và ngữ nghĩa của từ trong ngôn ngữ
thiếu niên qua khảo sát báo Mực Tím (36 trang)
6
3.1 Sự biến đổi về cấu tạo
3.2 Sự biến đổi về ngữ nghĩa
3.3 Những biến đổi lệch chuẩn
3.4 Tiểu kết
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo.
Với kết cấu như trên, theo chúng tơi, chương 1 là chương nền, trình bày
những vấn đề chung về lý thuyết để làm cơ sở triển khai đề tài, chương 2 và chương
3 là hai chương chính giải quyết những yêu cầu mà đề tài đã đặt ra để nghiên cứu.
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ
1.1 Đặc điểm từ vựng tiếng Việt
Trong tiếng Việt, mỗi tiếng, nói chung, là một yếu tố có nghĩa. Tiếng là đơn
vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt. Từ tiếng, người ta tạo ra
các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng,… chủ yếu nhờ phương
thức ghép và phương thức láy.
Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của
quy luật kết hợp ngữ nghĩa, ví dụ: đất nước, máy bay, nhà lầu xe hơi, nhà tan cửa
nát,… Hiện nay, đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng.
Theo phương thức này, tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt
hay vay mượn từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ, ngữ mới, ví dụ: tiếp thị,
karaoke, thư điện tử (e-mail), thư thoại (voice mail), phiên bản (version), xa lộ
thông tin, siêu liên kết văn bản, truy cập ngẫu nhiên, v.v…
Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ
âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng, chẳng hạn: chôm chỉa, chỏng
chơ, đỏng đa đỏng đảnh, thơ thẩn, lúng lá lúng liếng, v.v…
Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết,
một tiếng). Sự linh hoạt trong sử dụng, việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng
đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ, vừa phong phú về số lượng, vừa
đa dạng trong hoạt động. Cùng một sự vật, hiện tượng, một hoạt động hay một đặc
trưng, có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị. Tiềm năng của vốn từ ngữ tiếng
Việt được phát huy cao độ trong các phong cách chức năng ngôn ngữ, đặc biệt là
trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của
khoa học – kĩ thuật, đặc biệt là cơng nghệ thơng tin, thì tiềm năng đó cịn được phát
huy mạnh mẽ hơn.
8
1.1.1 Nguồn gốc
Từ vựng tiếng Việt là đối tượng nghiên cứu cơ bản của chuyên ngành Từ
vựng học tiếng Việt, đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu gián tiếp của các
chuyên ngành Ngữ pháp học tiếng Việt, Ngữ âm học tiếng Việt, Phong cách học
tiếng Việt, Từ điển học tiếng Việt,... Ngành Từ vựng học tiếng Việt nghiên cứu về
các khía cạnh của từ vựng tiếng Việt cũng chỉ phát triển mạnh trong giai đoạn gần đây.
Ngày nay, ngoài các từ tiếng Việt mượn của tiếng Hán hoặc các tiếng Ấn –
Âu thì tất cả các từ cịn lại được coi là các từ thuần Việt. Những từ được gọi là
thuần Việt này thường là bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu thị các sự vật,
hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất và tồn tại từ rất lâu. Nếu so sánh các từ trong bộ
phận thuần Việt này với các từ tương ứng trong tiếng Mường, các tiếng Tày – Thái,
Môn – Khơme, người ta thấy chúng có sự giống nhau nhất định về ngữ âm và ngữ
nghĩa. Từ đó, các nhà ngơn ngữ học đã đưa ra ba giả thuyết chủ yếu sau về nguồn
gốc của tiếng Việt:
Các nhà ngôn ngữ học như J.R. Logan, Wilhelm Schmidt, André – Georges
Haudricourt, cho rằng tiếng Việt cổ bắt nguồn từ ngôn ngữ Môn – Khơme thông
qua luận cứ chủ yếu là: tiến trình chuyển biến từ tiếng Việt cổ khơng có thanh điệu
(như phần lớn các ngơn ngữ Nam Á) sang tiếng Việt hiện đại có thanh điệu. Nền
tảng Nam Á trong vốn từ vựng cơ bản của tiếng Việt chiếm tỉ lệ rất lớn.
Các nhà ngôn ngữ học như Henri Maspero cho rằng tiếng Việt có nguồn gốc
từ các tiếng Tày – Thái, qua việc căn cứ vào sự giống nhau của các từ cơ bản cũng
như cơ cấu cấu tạo từ và thanh điệu giữa chúng. Maspero cho rằng tiếng Việt cổ
sinh ra do sự hòa trộn giữa một phương ngôn Môn – Khơme và một phương ngôn
Thái. Theo luận cứ của Maspero, tiếng Việt không có phụ tố giống như các tiếng
Thái, trong khi các tiếng Mơn – Khơme có nhiều phụ tố, nhất là tiền tố và trung tố;
và tiếng Việt có hệ thống thanh điệu giống tiếng Thái cổ, trong khi các tiếng MơnKhơme khơng có thanh điệu.
Giả thuyết thứ ba cho rằng tiếng Việt sinh ra do sự kết hợp các ngôn ngữ
Nam Á và Tày – Thái. Giả thuyết này do George Coedès đưa ra năm 1949. Sau đó,
9
Hà Văn Tấn và Phạm Đức Dương đã căn cứ trên tiến trình biến đổi hình thái học
của từ cũng đi đến kết luận này.
1.1.2 Khái niệm về từ vựng
Từ vựng là chất liệu cần thiết để cấu tạo ngôn ngữ.
Bất cứ ngôn ngữ nào cũng gồm ba mặt được phân giới rành mạch với nhau,
đó là thành phần cấu tạo âm thanh, các phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ
pháp. Các phương tiện từ vựng được hệ thống hóa trước hết trong các từ điển và
được gọi là thành phần cấu tạo từ điển. Cách phân giới các phương tiện ngôn ngữ
theo các mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp bắt nguồn từ ngôn ngữ học truyền thống
cổ điển và thực chất đã dựa vào hai cơ sở: tính chất của thành phần cấu tạo các đơn
vị và kiểu loại nội dung ý nghĩa của các yếu tố trong ngôn ngữ.
Trong kết cấu ngôn ngữ, ngữ âm và từ vựng chiếm vị trí ngoại biên: từ vựng
thuộc vào ngoại biên về nghĩa, còn ngữ âm thuộc vào ngoại biên về chất liệu. Ngữ
pháp chiếm vị trí trung tâm.
Đơn vị cơ bản của từ vựng là từ. Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng
của mỗi ngơn ngữ cịn tồn tại rất nhiều các cụm từ cố định, thường được gọi là các
thành ngữ, quán ngữ. Từ và cụm từ cố định được gọi là những đơn vị định danh cơ
bản của ngôn ngữ, thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng… của thực tế.
Tuy nhiên, cụm từ cố định không phải là đơn vị từ vựng cơ bản, bởi vì chúng do các
từ cấu tạo nên: muốn có các cụm từ cố định trước hết phải có các từ. Từ chẳng
những là đơn vị cơ bản của từ vựng mà còn là đơn vị cơ bản của ngơn ngữ nói
chung [52; tr.15 – 17].
1.1.3 Khái niệm về từ và cụm từ
1.1.3.1 Từ là đơn vị cơ bản của ngơn ngữ. Đó là đơn vị tồn tại khách quan
trong ngôn ngữ, nhưng để nhận thức được nó thì hồn tồn khơng đơn giản. Đối với
người Việt, những đơn vị như nhà, cửa, xinh, đẹp, ăn, ở, đi, và … tồn tại hết sức
hiển nhiên, và dù nhìn ở góc độ nào thì cũng có thể gọi là từ. Cũng như vậy, những
đơn vị như dom (nhà), stol (cái bàn), milyj (dễ thương), krasivyj (đẹp)… trong tiếng
Nga; (la) table (cái bàn), (le) livre (quyển sách)… trong tiếng Pháp; (a) book (quyển
10
sách), (a) ship (chiếc tàu thủy)… trong tiếng Anh là những đơn vị tồn tại hiển nhiên
trong cảm thức của người bản ngữ Nga, Pháp, Anh dù đó là từ trừu tượng hay từ
hình. Như phát biểu của Ferdinand de Saussure, từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên của
người bản ngữ, là đơn vị trung tâm của một hệ thống ngơn ngữ, việc nhận diện từ
hết sức khó khăn [27; tr.5 – 6].
Từ là một trong những đơn vị có hai mặt: mặt hình thức và mặt ý nghĩa. Vì
vậy, khi nói sự khác nhau giữa các từ của những ngơn ngữ khác nhau khơng chỉ nói
đến mặt hình thức mà cịn nói đến mặt nội dung (mặt nghĩa), vì hai mặt này quan hệ
biện chứng với nhau. Sự khác nhau về hình thức tổ chức đồng thời là sự khác nhau
về tổ chức ngữ nghĩa. Rõ ràng, tổ chức ngữ nghĩa của từ kniga (quyển sách) trong
tiếng Nga chẳng hạn không thể đồng nhất với tổ chức ngữ nghĩa của từ sách trong
tiếng Việt [27; tr.8].
Nghĩa của từ là một phức thể, bao gồm nghĩa ngữ pháp và nghĩa từ vựng.
Đặc điểm cấu trúc và chức năng của từ như vậy khiến cho việc nhận diện từ hết sức
khó khăn [27; tr.8].
Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa. Trong các ngơn ngữ Ấn – Âu, từ
có thể đơn tiết, có thể đa tiết. Trong Việt ngữ, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích
từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa.
Như vậy, từ của tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa chỉ một hình vị. Đây là đặc
điểm của từ tiếng Việt khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn – Âu, những ngơn ngữ mà từ
có thể gồm nhiều hình vị.
Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (lời và nhời, trăng và giăng), biến
thể từ vựng – ngữ nghĩa (các ý nghĩa khác nhau của từ ăn) nhưng không có biến thể
hình thái học.
Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ
tiếng Việt. Vì vậy ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái
qt, chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa.
Như vậy, từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo
câu nói, nó là hình thức của một âm tiết, một khối viết liền [29; tr. 67 – 68].
11
1.1.3.2 Trong từ vựng tiếng Việt, ngồi từ cịn có các đơn vị khác được dùng
làm cơ sở để tạo ra câu, đó là ngữ và cụm từ cố định. Nguyễn Thiện Giáp đã định
nghĩa về ngữ định danh như sau: “ngữ định danh là những cụm từ biểu thị các sự
vật, hiện tượng hay khái niệm nào đó của thực tế” [52; tr. 70 – 76]. Tác giả đã chia
ngữ định danh thành hai loại: ngữ định danh hợp kết và ngữ định danh hòa kết, cụ
thể như sau:
a. Ngữ định danh hợp kết là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng cũng chính
là những yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của từng bộ phận tạo thành và nó trực
tiếp phản ánh những thuộc tính của đối tượng trong cấu trúc ý nghĩa của mình. Ví
dụ: làm duyên, mát tay,…
b. Ngữ định danh hoà kết là những cụm từ mà ý nghĩa của chúng không thể
phân tích thành các yếu tố nghĩa tương ứng với ý nghĩa của các bộ phận tạo thành.
Ví dụ: đầu ruồi, mắt cá, mực thước,… [29; tr.70 – 76].
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hồng Trọng Phiến thì cho rằng
“cụm từ cố định là đơn vị do một số từ hợp lại; tồn tại với tư cách một đơn vị có
sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa cũng ổn định như từ” [20; tr. 153 –
165]. Nếu chúng ta so sánh từ ghép và cụm từ cố định, chúng sẽ có những điểm
giống và khác nhau như sau:
a. Điểm giống nhau: Cả từ ghép và cụm từ cố định đều có:
- Hình thức chặt chẽ, cấu trúc cố định.
- Tính thành ngữ.
- Những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ.
b. Điểm khác nhau:
- Thành tố cấu tạo của từ ghép là hình vị và thành tố cấu tạo của cụm từ cố
định là từ.
- Nghĩa của cụm từ cố định được tổ chức theo lối tổ chức nghĩa của cụm từ
và nói chung là mang tính hình tượng. Do đó, nếu căn cứ vào nghĩa của từng thành
tố cấu tạo thì khơng thể hiểu được nghĩa đích thực của tồn cụm từ. Đối với từ ghép
12
thì nghĩa định danh, dù trực tiếp hay gián tiếp đều theo kiểu tổ chức nghĩa của từ, là
điểm cốt lõi của từ.
Nếu so sánh với cụm từ tự do, thì cụm từ cố định là một đơn vị của hệ thống
ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dạng làm sẵn. Và vì dưới dạng làm sẵn nên thành
tố cấu tạo cụm từ cố định có số lượng ổn định. Trong khi đó cụm từ tự do được tạo
ra trong lời nói và thành tố cấu tạo có thể thay đổi tùy ý.
1.1.4 Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt
1.1.4.1 Đơn vị cấu tạo
Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, ngữ âm học gọi là các âm tiết.
Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng
hình vị trong các ngơn ngữ khác nhau có thể khơng như nhau.
Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngơn ngữ
khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết (morphemesyllable) – âm tiết có
giá trị hình thái học.
- Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là âm tiết
(syllable).
- Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện. Chí ít nó
cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ). Sự có mặt hay khơng có mặt của một tiếng
trong một “chuỗi lời nói ra” nào đó, bao giờ cũng đem đến tác động nhất định về
mặt này hay mặt khác. Ví dụ: đỏ – đo đỏ – đỏ đắn – đỏ rực – đỏ khé – đỏ sẫm... vịt
– chân vịt – chân con vịt... [20; tr.142 – 152].
1.1.4.2 Phương thức cấu tạo
Theo truyền thống, một số nhà nghiên cứu dùng tên gọi khác để gọi khái
niệm hình vị do Bloomfield đưa ra. Nguyễn Kim Thản gọi đó là từ tố và định nghĩa
“từ tố là yếu tố có nghĩa (từ vựng) nhỏ nhất của ngơn ngữ”. Hồ Lê (2003) thì gọi đó
là ngun vị và chia ra thành nguyên vị chính và nguyên vị trung gian.
13
Theo Hồ Lê, nguyên vị chính gồm sáu loại:
a. Nguyên vị thực: là nguyên vị có ý nghĩa thực. Xét về mặt ngữ âm, nguyên
vị thực trong tiếng Việt thường là một âm tiết, ví dụ như nhà, đường, đẹp... nhưng
cũng có khi là nhiều âm tiết như: ba ba, ô tô, măng cụt,…Đây là loại nguyên vị
nòng cốt trong tiếng Việt và nó có khả năng phản ánh các loại đối tượng khác nhau
trong hiện thực.
b. Nguyên vị ngữ pháp: Đây là loại nguyên vị có ý nghĩa ngữ pháp. Nếu xét
về mặt ngữ âm, loại nguyên vị này do một âm tiết tạo thành, ví dụ như: cũng, đang,
sẽ, nhưng, tuy,…
c. Nguyên vị hệ thống: là nguyên vị chỉ có ý nghĩa hệ thống. Về ngữ âm, loại
nguyên vị cũng chỉ do một âm tiết tạo thành. Dựa vào khả năng kết hợp, nguyên vị
này được chia ra thành hai tiểu loại là nguyên vị hệ thống tự do và nguyên vị hệ
thống phụ thuộc.
d. Nguyên vị tiềm tàng: là những yếu tố gốc Hán có ý nghĩa tiềm tàng.
e. Nguyên vị tình cảm: Trong tiếng Việt gồm khoảng hai chục đơn vị như: a,
ái chà, vâng, ừ, … Đó là những nguyên vị dùng để biểu đạt những sắc thái tình cảm.
f. Ngun vị mục đích: là ngun vị có ý nghĩa mục đích.
Cũng theo Hồ Lê, nguyên vị trung gian gồm có bốn loại: nguyên vị thực –
ngữ pháp, nguyên vị thực – hệ thống, nguyên vị ngữ pháp – hệ thống, và nguyên vị
hệ thực – tiềm tàng.
Cịn theo Đỗ Hữu Châu (1981), ơng đã đưa ra ba phương thức tạo từ trong
tiếng Việt là từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị như sau:
a. Từ đơn là những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành
những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung.
b. Từ láy – một trong hai tiểu loại của từ phức – là những từ được cấu tạo
theo phương thức lập lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay
đơn vị có nghĩa.
14
c. Từ ghép – một trong hai tiểu loại của từ phức - được tạo ra do sự kết hợp
hai hoặc một số hình vị hay đơn vị cấu tạo tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau.
Từ ghép được chia thành ba tiểu loại nhỏ:
- Từ ghép phân nghĩa: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị hay đơn
vị theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn và một hình vị có tác
dụng phân hóa loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng loại. Loại từ ghép này có
tính hệ thống rất cao thể hiện ở tác dụng phân chia các loại lớn thành những loại
nhỏ độc lập. Ví dụ như: xe đạp, xe hơi, vui lịng, vui tính, khó tính, khó chịu…
- Từ ghép hợp nghĩa: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị và chúng
biểu thị những loại rộng hơn, bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách riêng.
Mối quan hệ giữa hai hình vị đó tương đương với quan hệ đẳng lập hay song song
trong cú pháp. Loại từ ghép này cũng có tính hệ thống rất cao và tác dụng hợp nghĩa
của chúng khá thuần nhất, ví dụ như: bạn hữu, đêm ngày, trên dưới,…Ngoài ra, loại
từ ghép hợp nghĩa được chia làm ba tiểu loại nhỏ như: từ ghép hợp nghĩa tổng loại,
từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại và từ ghép hợp nghĩa bao gộp.
- Từ ghép biệt lập: là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị và mỗi từ là
một trường hợp riêng rẽ. Đặc trưng ngữ nghĩa của một từ không lặp lại ở những từ
khác, chúng là những sự kiện biệt lập. Ví dụ như: (con) thiêu thân, (tính) ba phải,
(cái) thắt lưng…
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hồng Trọng Phiến (2000) thì
phân định từ trong tiếng Việt gồm có bốn loại: từ đơn, từ ghép, từ láy và từ ngẫu
hợp. Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp
các tiếng lại theo lối nào đó [20; tr.142 – 152].
a. Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ
đơn tiết). Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng. Ví dụ:
tơi, bác, người, nhà, cây, trâu, ngựa, đi, chạy, cười, vui, buồn, hay, đẹp, vì, nếu, đã,
đang, à, ư, nhỉ, nhé…
b. Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu
tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép. Dựa vào
15
tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ
ghép tiếng Việt như sau:
- Từ ghép đẳng lập: Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình
đẳng với nhau về nghĩa. Ví dụ: chợ búa, bếp núc, đường sá, tre pheo, cỏ rả, sầu
muộn, chó má, gà qué, cá mú, xe cộ, áo xống....
- Từ ghép chính phụ: Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc
vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai trị
phân loại, chun biệt hố và sắc thái hố cho thành tố chính. Ví dụ: tàu hoả, đường
sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà... xấu bụng,
tốt mã, lão hoá... xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thằng tắp, sưng vù...
c. Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy
(còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm). Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo
nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (cịn gọi là điệp)
vừa có biến đổi (cịn gọi là đối). Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần. Vì
thế, nếu chỉ có điệp mà khơng có đối, chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành
ngành... thì ta có dạng láy của từ chứ khơng phải là từ láy.
- Láy hồn tồn. Ví dụ: rề rề, lăm lăm, khăng khăng, kìn kìn, lù lù, lâng lâng,
đùng đùng, hây hây, gườm gườm, đăm đăm...
- Láy bộ phận. Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở phần vần thì được gọi là láy bộ phận. Ví dụ như: bập bềnh, cò kè, ho he, thơ thẩn,
đẹp đẽ, làm lụng, ngơ ngác, say sưa, xoắn xuýt, vồ vập, hấp háy...
- Từ láy ba và bốn tiếng. Được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai
tiếng. Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa
trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu. Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng
dưng, trơ trờ trờ,...; đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội
vội vàng vàng...
d. Từ ngẫu hợp: Đây là lớp từ mà hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu
tạo của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa. Vì vậy, từ góc độ phân loại,
16
chúng được tách ra và gọi là từ ngẫu hợp với ngụ ý các tiếng tổ hợp với nhau một
cách ngẫu nhiên. Ví dụ như:
- Những từ gốc thuần Việt: bồ câu, bồ hịn, bồ nơng, mồ hóng, mồ hơi, kì
nhơng, cà nhắc, mặc cả...
- Những từ vay mượn gốc Hán: mâu thuẫn, hi sinh, trường hợp, kinh tế, kinh
tế, câu lạc bộ, mì chính, tài xế, vằn thắn, lục tàu xá...
- Những từ vay mượn gốc Ấn – Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ như:
a-xít, mit tinh, sơ mi, tùng bê, mùi xoa, xà phòng, cao su, ca cao, hắc ín, sơ-cơ-la...
Bộ phận từ này trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng do các mối
quan hệ quốc tế mở rộng, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ
ngữ, nhất là trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kĩ thuật.
1.1.4.3 Biến thể của từ
Theo các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hồng Trọng Phiến thì
một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu trúc như sau:
a. Biến một từ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn sang cấu trúc nhỏ, đơn giản hơn.
Thực chất đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn. Ví dụ:
ki-lơ-gam
→ ki lơ/ kí lơ
(ơng) cử nhân → (ông) cử
(ông) tú tài
→ (ông) tú
Xu hướng biến đổi này khơng có tính bắt buộc, khơng đều đặn ở mọi từ, và
nhiều khi chỉ vì lí do tiết kiệm trong ngôn ngữ. Không phải ngày nay tiếng Việt mới
có hiện tượng rút gọn như vậy, mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên là
từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu.
Chẳng hạn:
→ ve
ve ve
bươm bướm → bướm
đom đóm
→ đóm
17
Rất nhiều tên gọi các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, các danh nhân, địa
danh... trong tiếng Việt ngày nay đã được rút gọn lại như vậy
Đảng Cộng sản Việt Nam → Đảng
Xu hướng biến đổi một từ đơn giản thành một từ có cấu trúc phức tạp hơn,
trong tiếng Việt hiện nay khơng thấy có. Rất có thể vì nó trái với ngun tắc tiết
kiệm mà người sử dụng ngơn ngữ thường xun phải tính đến.
b. Lâm thời phá vỡ cấu trúc của từ, phân bố lại yếu tố tạo từ với những yếu
tố khác ngoài từ chen vào. Ví dụ:
khổ sở
→ lo khổ lo sở
ngặt nghẽo → cười ngặt cười nghẽo
Sự biến đổi theo kiểu này rất đa dạng, nhằm nhiều mục đích. Cũng có khi
người nói, với dụng ý ít nhiều mang tính chơi chữ, đã phá vỡ cấu trúc từ để dùng
yếu tố tạo từ với tư cách như một từ. Ví dụ:
tìm hiểu → tìm mà khơng hiểu
đánh đổ → đánh mãi mà không đổ...
1.1.5 Đặc điểm của từ tiếng Việt
Trong tiếng Việt hiện đại, những từ Hán – Việt có một số lượng đáng kể.
Các từ Hán – Việt này trải qua một quá trình tồn tại khá lâu dài trong tiếng Việt, đa
số chúng vốn được du nhập vào thời nhà Đường khoảng thế kỷ thứ VII đến đầu thế
kỷ thứ X, sự tiếp xúc và du nhập các từ Hán – Việt vào giai đoạn này.
Ngồi ra, cịn phải kể đến các từ vay mượn từ các ngôn ngữ khác, như ngôn
ngữ Ấn – Âu chẳng hạn.
Khảo sát tiếng Việt, có thể thấy từ tiếng Việt có những đặc điểm sau đây:
- Từ tiếng Việt có thể đơn tiết hoặc đa tiết. Những tiếng như quốc, gia, sơn,
thủy…dàng, dãi …, xà, phê, xít…dầu có những đơn vị có một nghĩa nào đó (nghĩa
từ vựng hoặc nghĩa bổ sung) nhưng khơng có khả năng tồn tại độc lập trong câu mà
phải kết hợp với một yếu tố khác, chẳng hạn như gia, hà, triều, dễ, phòng, cà,
a,…trong những từ quốc gia, sơn hà, dễ dàng, dễ dãi, xà phòng, cà phê, a xít,… Dù
18
trong nguyên ngữ, sơn, thủy, quốc, gia,… được sử dụng như từ, với sự sáng tạo của
người Việt, chúng chỉ được sử dụng như đơn vị cấu tạo từ. Dù là sự lặp lại của dễ,
nhưng dàng, dãi đã bị biến dạng, mất nghĩa và trở thành một yếu tố bổ sung, do đó
dàng, dãi cũng khơng thể được sử dụng độc lập như từ. Còn những yếu tố phê trong
cà phê, xít trong a xít, ngay trong nguyên ngữ chúng cũng không phải là từ huống
chi là trong tiếng Việt. Như vậy, bên cạnh những từ nhà, xe, tập, nói…, trong tiếng
Việt cịn có những từ dễ dãi, dễ dàng, quốc gia, tổ quốc, a xít, xà phịng, cà phê,…
tức những từ đơn âm tiết hoặc đa âm tiết.
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng khơng có
biến thể hình thái học. Trong các ngơn ngữ Ấn – Âu, từ có biến thể về mặt hình
thái. Thí dụ: to go có thể có các biến thể goes, going, gone, went theo các quan hệ
ngữ pháp khác nhau trong câu. Nhưng trong tiếng Việt khơng có biến thể hình thái
học. Ði, học, nói…bất biến trong mọi quan hệ quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ
pháp trong câu. Người miền Nam có thể nói trăng, trời uốn lưỡi, trong khi người
miền Bắc nói giăng, giời, nhưng đấy khơng phải là biến thể hình thái học mà chỉ là
sự biến âm do thói quen phát âm của địa phương.
- Ý nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ, mà được
biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngơn ngữ biến hình, nhìn
vào hình thái của từ, người ta có thể xác định được ý nghĩa ngữ pháp của chúng (Ví
dụ: trong tiếng Anh danh từ, dựa vào các hậu tố như -ion, -er, -or, -ment…; tính từ
dựa vào -ive,- ful, -al,…).Trong tiếng Việt, từ khơng có những dấu hiệu hình thức
giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dựa vào các loại từ hay phó từ như con,
cái, chiếc (đối với danh từ), đã, đang, sẽ, rất, hơi, khá…(đối với động từ và tính từ).
- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ. Vì vậy chúng ta
phải dựa vào chức năng ngữ pháp cụ thể ta mới xác định được ý nghĩa từ vựng của
từng trường hợp.
19