Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (112.38 KB, 7 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>ĐỀ CƯƠNG ÔN TỐT NGHIỆP LỊCH SỬ VIỆT NAM</b>
<b>CỔ TRUNG ĐẠI</b>
<i><b>Câu 1: Kể tên và tóm tắt những truyền thuyết tiêu biểu</b></i>
<i><b>thời văn lang âu lạc.</b></i>
<i><b>1. Lạc long Quân và Âu cơ:</b></i>
Vua đầu nước ta là Kinh Dương Vương cháu bốn đời Viêm
Đế Dương cháu bốn đời Viêm Đế Thần Nông (vị thần coi về
nông nghiệp của Trời). Kinh Dương Vương lấy thần Long
nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc long quân đi tuần thú gặp Âu
Cơ ở động Lăng Xương kết làm vợ chồng, đưa về núi Nghĩa
Lĩnh. Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành trăm con
trai. Khi các con lớn khôn, Lạc Long Qn nói: "Ta giống
Rồng, nàng giống Tiên khơng thể ở lâu với nhau được” bèn
chia 50 con cho Âu Cơ lên núi, Lạc Long Quân dẫn 49
người con xuống biển, phong cho con trưởng làm Hùng
Vương nối ngôi.
Hùng Vương lên ngôi Vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng
đơ ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ).
Các đời Vua sau đều gọi là Hùng Vương, có 18 đời vua
Hùng Vương(*) . Đặt các tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng
võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái
Vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.
Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng là nhà nước phơi
thai đầu tiên của Việt Nam, cịn rất đơn giản, mặc dù mới
hình thành nhưng đã cố kết được lịng người. Từ tình cảm
Thời đại Hùng Vương có hai truyền thuyết được loan truyền
mãi trong dân gian thể hiện rõ tinh thần đoàn kết của cộng
đồng các dân tộc Việt.
(Ngôi Hùng Vương cha truyền con nối 18 đời, kéo dài hơn 2000 năm làm
cho nhiều người hoài nghi và có nhiều cách giải thích khác nhau. Trong
truyền thuyết con số 9 và bội số của 9 (18,36...99...) thường mang tính chất
biểu tượng (số thiêng) chứ khơng có ý nghĩa tốn học. Phải chăng 18 đời vua
cũng có ý nghĩa là nhiều đời, truyền nối lâu dài?)
<i><b>2. Truyền thuyết Thánh Gióng</b></i>:
Về thời Hùng Vương thứ 6, nước Văn Lang bị giặc Ân xâm
lược. Vua cho sứ giả đi rao người tài giỏi ra giúp nước. Ở
làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh có một cậu bé 3 tuổi, nghe tiếng
sứ giả bèn vươn thành người cao lớn, xin vua rèn ngựa sắt,
nón sắt, roi sắt để đánh giặc. Đuổi xong giặc Ân chàng cưỡi
ngựa bay lên trời. Vua Hùng phong là Phù Đổng Thiên
Vương, lập miếu thờ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh.
<i><b>3. Sơn Tinh – Thuỷ Tinh:</b></i>
Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đều đến cầu hôn công chúa Ngọc
Hoa con Vua Hùng 18. Nhà Vua hẹn ai đem lễ vật đến trước
<i><b>4. Bánh trưng, bánh dày:</b></i>
chưng. Vua thấy Lang Liêu hiếu thảo siêng năng, sáng chế
ra hai loại bánh q bèn truyền ngơi cho làm Vua Hùng thứ
7.
<i><b>Câu 2: Nêu các sự kiện quan trọng trong thời Lý (1010 –</b></i>
<i><b>1225)</b></i>
- Năm 1010 sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) dời
kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La(Hà Nội) và đổi
tên Đại La thành Thăng Long.
Trong Đại việt sử kí tồn thư có viết: “Vua tự tay viết
chiếu truyền rằng “Thành Đại La đô cũ của Cao Vương, ở
giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính
giữa nam bắc đơng tây, tiện nghi núi sơng sau trước. Vùng
này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa,
dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi
tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa,
thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi
- Năm 1042 Ban hành bộ luật hình thư, đây là bộ luật thành
văn đầu tiên của lịch sử Việt Nam. Theo sử cũ ghi, luật pháp
thời Lý quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà vua và cung điện,
xem trọng việc bảo vệ của công và tài sản của nhân dân,
nghiêm cấn việc mổ trâu bị, bảo vệ sản xuất nơng nghiệp.
Những người phạm tội bị xử phật rất nghiêm khắc.
- 1054 Vua Lý Thánh Tông đặt tên nước là Đại Việt.
- Năm 1075 Tổ chức kì thi tuyển quan lại đầu tiên.
- Năm 1076 Nhà Lý lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu
tiên của nước ta.
- Năm 1075 – 1077 nhà Lý tổ chức kháng chiến đánh bại
quân tống xâm lược.
Cuộc kháng chiến chống Tống được chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu (1075). Do sớm phát hiện được âm mưu
xâm lược của nhà Tống, vua tôi nhà Lý đã chủ động tiến
hành các biện pháp chuẩn bị đối phó. Thái Úy Lý Thường
Kiệt được cử làm người chỉ huy, tổ chức cuộc kháng chiến
với chủ trương độc đáo, sáng tạo “tiến công trước để tự vệ”
ơng thường nói: “Ngồi n đợi giặc, khơng bằng đem quân
đánh trước để chặn thế mạnh của giặc”. Sau khi tiêu diệt các
điểm trọng yếu của giặc ở Châu Ung, Châu Khâm, Châu
Liêm, Ung châu thì rút quân về lập phòng tuyến chặn địch ở
trong nước.
+ Giai đoạn thứ 2 (1076-1077) Tại phòng tuyến Như Nguyệt
quân dân nhà Lý đã tổ chức kháng chiến chống lại các cuộc
tấn công của nhà Tống làm cho quân địch “mười phần chết
đến năm, sáu” lâm vào tình thế hết sức khó, khăn, tuyệt
vọng. giữa lục ấy Lý Thường Kiệt chủ động kết thúc chiến
tranh bằng biện pháp mềm dẻo, thương lượng, đề nghị
“giảng hoà” quân Tống chấp nhận và nhanh chóng rút về
nước, cuộc kháng chiến chống Tống hoàn toàn thắng lợi.
- Kinh tế dưới thời Lý khá phát triển
+ Về nông nghiệp nhà Lý quân tâm tới việc sản xuất của
nhân dân, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, tiến hành
đào kênh mương, khai ngòi, đồng thời cho đắp đê phòng lũ
ngập lụt. cho ban hành luật lệnh cấm giết trâu bò để bảo vệ
sức kéo cho nông nghiệp- Vào thời Lý GD và khoa cử bước
đầu phát triển, văn học nghệ thuật có nhiều nét đặc sắc,
mang nhiều ảnh hưởng Phật giáo, có nhiều nhân vật lịch sử:
Lý Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Sư vạn Hạnh
…
Sau các cuộc phát kiến địa lý thế kỉ XV - XVI, chủ
nghĩa tư bản phương tây ráo riết chạy đua sang phương
Đơng, tìm cách xâm lược thị trường thuộc địa. Đến giữa thế
kỉ XIX, một loạt các nước Châu Á và Đông Nam Á ( trừ NB
và Thái Lan) lần lượt bị bọn thực dân xâm chiếm biến thành
thuộc địa hoặc nửa thuộc địa. Việt Nam là một nước có vị trí
chiếm lược về vị trí địa lý ( của ngõ thông thương giữa 2 đại
dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương), ở việt nam
đang tồn tại chế độ phong kiến, nơi đây có tài ngun
Trong cuộc chạy đua sang phương Đông tư bản Pháp
đã để ý đến Việt Nam từ rất sớm, từ TK XVII - XVIII thông
qua hội truyền giáo Ki tơ ở nước ngồi của Pháp. Đặc biệt
sau cuộc chiến 7 năm với tư sản Anh (1756 - 1763) Pháp bị
bại trận, nhiều thuộc địa bị Anh chiếm mất như Ấn Độ,
Ca-na-da,...nên Pháp càng muốn có thêm nhiều thuộc địa ở Viễn
Đông.
Nhân cơ hội các vua Nguyễn cấm đạo, giết những người
giáo sĩ ( trong đó có những giáo sĩ người Pháp), bế quan toả
cảng, không chấp nhận quốc thư, làm nhục quốc thể nước
Pháp. Chính quyền Pháp đã tạo cớ để gây chiến với Việt
Nam, Pháp kêu gọi triều đình Tây Ban Nha kết hợp hành
động tấn công nước ta bằng vũ lực.
chiều 31/8/1858 liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo
quân dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng
Sáng 1/9/1858, 3000 quân Pháp và Tây Ban Nha nổ
súng đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà => chính thức xâm lược
Việt Nam.
<i><b>Câu 4: Ý nghĩa của mốc 1884:</b></i>
Sự kiện ngày 6/6/1884 Triều đình Huế và Pháp ký Hiệp ước
Hiệp ước gồm 19 điều khoản. Nội dung bao trùm là: Nước
An Nam thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của nước Pháp.
Nước Pháp sẽ thay mặt nước An Nam trong mọi quan hệ đối
ngoại. Người An Nam sống ở nước ngoài sẽ đặt dưới sự bảo
hộ của nước Pháp .
năm 1884 này mang ý nghĩa như một bản khai tử đối với
chủ quyền đối ngoại của vua nước Nam.
<i><b>Câu 5; Một số điều kiện tiền đề của nền văn minh Đại</b></i>
<i><b>Việt:</b></i>
Nguồn gốc của nền văn minh Đviệt là nền văn minh Văn
lang – Âu lạc trong thời Bắc thuộc một bộ máy chính trị
theo mơ hình hán – đường được áp đạt lên đất nước ta từ
TW – địa phương. Hình thành những thiết chế chính trị mới
chưa từng có ở thời Vlang – Âu lạc, hình thành một quan
niệm thống trị mới.
Các triều đại Tquốc du nhập chữ hán, và một số lễ nghi vào
đời sống sinh hoạt của người dân Việt.
Đến thời kì chính quyền đơ hộ nhà Đường phát triển hơn
nữa việc GD nho học, nhiều người việt đỗ đạt làm quan (Lý
Tiến, Lý Cầm, Khương Công Phụ, Khương Công Phục …)
Đạo phật được du nhập và được truyền bá ngày càng rộng,
Lão giáo theo di dân hán du nhập dần dần hồ vào các tín
ngưỡng dân gian cổ truyền của người Việt.
Nhân dân ta vừa gìn giừ những di sản văn hoá, kinh tế của tổ
tiên; vừa tiếp thu, tiếp biến các giá trị văn hoá ngoại lai cần
thiết cho việc xây dựng đất nước. Phát triển nông nghiệp
dùng cày với lưỡi cày sắt làm thuỷ lợi, trồng nhiều giống
lúa, chăn nuôi gia súc gia cầm, dùng phân bón ruộng… phát
triển các nghề thủ cơng luyện sắt, đúc đồng, làm gốm tráng
men, dệt vải, dệt lụa, làm giấy, làm đồ trang sức, làm gạch
gói… phát triển ngành xây dựng dưới ảnh hưởng sâu sắc của
nghệ thuật kiến trúc ấn độ và trung quốc.
Điều kiện tiền đề qua trọng nhất đó là nhân dân ta đã giành
được độc lập ở thế kỉ X và bắt đầu bước vào xây dựng đất
ước giàu mạnh noi theo mơ hình trung hoa.
<i><b>Câu 6: Biểu hiện của trình độ văn minh Đviệt về mặt tổ</b></i>
<i><b>chức bộ máy nhà nước.</b></i>
Công cuộc xây dựng nhà nước một tiêu chí của Vminh,
được bắt đầu từ thế kỉ X khi nhân dân ta giành độc lập, đạt
trình độ tương dối hồn thiện, ổn định ở cuối thế kỉ XV.
Nhà nước Đviệt là nhà nước quân chủ chuyên chế và phong
kiến quan liêu, phù hợp với nền kinh tế nơng nghiệp làng
xóm đương thời.
Nhiều vị vua Đviệt biết gắn liền các triều đại của mình với
sự tồn vong của tổ quốc, phần lớn các vua đều có học thức.
Việc tổ chức các đơn vị hành chính đạt trình độ tập quyền
ngày càng cao. Việc phân chia các đơn vị hành chính từ TW
– địa phương thể hiện sự thống nhất của quốc gia Đviệt và
tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đất nước.
Chính quyền địa phương dần dần được hồn thiện gồm 3 bộ
phận chuyên trách: quân sự, hành chính, tư pháp (binh,
chính, hình).
Quan lại các cấp từ TW – địa phương đều có học thức, đỗ
đạt (cử nhân, tiến sĩ) việc tuyển chọn quan chức nhà nước
chủ yếu được thực hiện qua thi cử.
<i><b>Câu 7; Biểu hiện của trình độ Vminh Đviệt trong lĩnh vực</b></i>
<i><b>GD.</b></i>
Khi nhà nước Đviệt tự chủ được thành lập thì chữ hán trở
thành chữ viết chính thức, được sử dụng trong ghi chép văn
bản hành chính, chép kinh phật, trong học tập, sáng tác văn
thơ, bình luận chính trị.
Cữ Nơm ra đời trên cơ sở chữ hán, được sử dụng chủ yếu để
ghi tên hoặc sáng tác văn học.
Từ thời Lý, Trần, Lê GD nho học được nhà nước xác lập và
phát triển, xây dựng văn miếu đặt quan lại, trông coi việc
GD, đặt lệ Tam khôi, lệ “vinh quy bái tổ” dựng bia tiến sĩ, tổ
Trường cơng được mở đến các phủ, huyện. mọi người dân
(trừ một số trường hợp như kẻ phạm tội, ả đào …) đều được
đi học, đi thi, hình thành truyền thống hiếu học “tôn sư trọng
đạo của nhân dân ta”.
Việc luyện tập võ nghệ trở thành một nội dung của GD. Nhà
nước mở các khoa thi võ, chọn người tài giỏi làm chỉ huy
quân sự.
Chế độ koa cử ngày càng được tổ chức chặt chẽ và quy củ
hơn.
Nội dung GD dựa chủ yếu vào “tứ thư, ngũ kinh”, nặng về
thơ phú Bắc sử nên có nhiều hạn chế. Tuy nhiên với ý thức
dân tộc cao đã có hàng loạt nhà nho đỗ đạt hay không đỗ
đạt, làm quan hay làm thầy, biết tiếp nhận những giá trị của
nho giáo kết hợp với truyền thống và khả năng của dân tộc,
làm rạng danh đất nước bằng thơ văn, triết học, bằng nhưng
đóng góp vào sự nghiệp ngoại giao, quân sự, xây dựng chính
quyền …
Dù xuất phát từ nho học, dù mục tiêu của giáo dục là đoà tạo
quan lại. sự phát triển của GD Đviệt đã góp phần nâng cao
dân trí, nâng cao ý thức về đạo lí làm người, góp phần quan
trọng vào sự nghiệp GD lịng u nước thương nòi của nhân
dân ta.
<i><b>Câu 8; Ảnh hưởng của phật giáo đối với đời sống tinh</b></i>
Trong bước đường phát triển, phật giáo đã được truyền bá
tới Vnam. Trải qua quá trình lịch sử, phật giáo đã có sự ảnh
hưởng khơng nhỏ tới đời sống tinh thần của người Vnam.
Ngay từ thế kỉ II đầu công nguyên những nhà sư Ấn Độ đi
theo các thuyền bn đã xó mặt tại Giao Châu. Họ vừa
nghiên cứu kinh phật vừa truyền đạo và đã được đông đảo
nhân dân tin theo. Trong đó có cả một sĩ phu Trung Quốc
đến Giao Châu lánh nạn, nhiều chùa tháp được dựng lên và
Luy Lâu mau chóng trở thành trung tâm phật giáo rất phồn
thịnh.
Đạo phật chủ trương pháp tính bình đẳng (lời phật tổ “con
người có khác nhau là ở nơi tên gọi, là dáng hình, chứ
xương thịt thì ai cũng giống ai. Khơng thể có đẳng cấp trong
dịng máu cùng đỏ như nhau, khơng thể có đẳng cấp trong
giọt nước mắt có chung vị mặn”). phật khuyên mọi người
tiết chế dục vọng, có tinh thần vô ngã vị tha, làm điều lành,
tránh sự ác, phật là biểu tượng của sáng suốt và từ bi.
Thuyết luân hồi cũng phù hợp với quan niệm linh hồn tồn tại
sau khi xác thân tiêu hoại, phù hợp với sự nhận xét về tuần
hoàn của cỏ cây, của cư dân nông nghiệp.
Thuyết thập nhị nhân duyên chủ yếu dùng để cắt nghĩa vì
sao kiếp người lại khổ, vì sao mỗi người lại có một thân
phận khác nhau. Và những yếu tố này đã góp phần vào có ý
nghĩa vào việc dạy đức người.
Phật giáo được nhân dân ta nhiệt thành đón nhận phù hợp
với bản chất và truyền thống nhân ái, ưa chuộng hồ bình,
lịng khao khát sống bình đẳng. Bốn ngơi chùa lớn đầu tiên
thờ phật lại đồng thời thờ 4 nữ thần nông nghiệp (chùa Pháp
Vân – Mây thờ Bà Dâu, Chùa Pháp Vũ – mưa thờ Bà Đậu,
chùa Phấp Lôi – Sét thờ bà Đàn, Bà Nành, chùa Pháp điện –
chớp thờ Bà Tướng) đó là kết quả của Phật giáo hồ nhập
với tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân ta.
Đức phật trong chuyện cổ Vnam là ông Bụt, hiện thân của
sự hiền lành đức độ, luôn cứu giúp con người trong đau khổ,
khó khăn hoạ nạn (từ Buddha- giác ngộ, được người Việt
gọi là Bụt, phật đà, phật) các ngôi chùa không chỉ là nơi lễ
bái mà còn là nhà trường, nơi tổ chức hội hè.
Các nhà sư vừa là người dạy chữ, dạy học, vừa là người thầy
thuốc được dân chúng nể trọng. Thiện cảm đầu tiên của
nhân dân ta đối với Phật giáo trước hết là từ những hình ảnh
cụ thể của các nhà sư. Sư có nếp sống rất gần giũ với đông
đảo nhân dân, sự cạo trọc đầu trần nắng gió, khơng mũ mão
ơ lọng, sự mạc áo Cà sa (Kasaya – gồm nhiều mảnh ghép
lại) bằng vải thơ bạc, nấu sịng, giống tấm áo vá trăm mảnh
của dân nghèo, không áo gấm lụa là như quan lại, mỗi ngày
sư chỉ ăn một bữa vào giờ ngọ, quanh năm râu dưa đạm bạc
như bữa cơm của người nghèo. Sự không uống rượu, không
sàm sỡ, sự đi đến mọi nơi, vượt đường xa bằng chân trần lội
bộ , lam lũ như người dân khác hẳn bọn quan lại đô hộ bắt
dân làm phu khiêng, phu canh …
Nhà sư lo lỗi lo của dân, cầu nguyện cho sự an bình, đến với
người dân chân thành và nghiêm trang, gần giũ và đứng đắn,
quá trình truyền đạo cũng là quá trình nhập thế rất tích cực.
Từ thế kỉ X khi nước ta giành độc lập, phật giáo đã trở thành
công cụ trị nước của tầng lớp quý tộc cầm quyền. Phật giáo
được coi là quốc giáo để làm thế đối trọng với nho giáo
trong các thế kỉ X – XV điều này phù hợp với ý nguyện của
nhân dân. Vì trước đó trong suốt thời Bắc thuộc nho giáo
được truyền bá vào nước ta dưới sức ép của thế lực xâm
lược.
Giáo lí nhà phật có nhiều điểm tương đồng với đạo lí sống
cổ truyền của nhân dân ta.
Nhà phật gần gũi với tập tục thờ tổ tiên của nhà dân, khích lệ
lịng hiếu thảo (lễ vu lan – báo hiếu), nhà chùa thỏ phật nhà
dân thờ tổ tiên , bàn thờ khác nhau nhưng có thể đặt cạnh
nhau, thậm chí hợp thành một, bệ cao nhất thờ phật, bệ thấp
hơn thờ ơng bà. Trong nhà dân có bàn thờ phật, trong chùa
có thể đặt bài vị thờ người thân, dâng nhang đèn cúng phật
cũng giành vành hương thưởng nhớ người thân. Nhaf phật
khuyên con người phải biết yêu thương cha mẹ (bất hiếu là
muôn lần ác/ báo hiếu là muôn lần thiện)
Tinh thần bác ái của đạo phật gần gũi với truyền thống vị tha
nhân ái của nhân dân “thương người như thể thương thân”,
“lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”.
dân gian, chùa là nơi cầu an khi sống, cầu siêu khi chết,
người dân lúc gặp hoạn nạn luôn cầu mong “nghiêng vai,
Phật dạy làm người bằng những triết lí thâm trầm “sai lầm
lớn nhất của đời người là đánh mất mình/ phá sản lớn nhất
của đời người là tuyệt vọng” “đáng khâm phục nhất của đời
người là đứng lên sau khi ngã/ món nợ lớn nhất của đời
người là tình cảm”.
Tác dụng đoàn kết của phật giáo thể hiện trước tiên ở tinh
thần bình đẳng, đạo phật phủ nhận………
………
……….
………
………
Trong triều đình (Đỗ Thuận, Mãn Giác, khuông Việtđại sư
Ngô trung Lưu …) vì bấy giờ các nhà sư là người có học,
thơng hiểu sử sách và những bài học trị nước, vì phật giáo
hàm chứa tư tưởng gắn bó được mọi người. sử sách cũng đã
ghi nhận lại những câu chuyện cảm động về vua Lý Thánh
Tông hành động từ bi bác ái như (phát thêm chăn chiếu,
quần áo cho tù nhân, khoan giảm hình luật, xố thuế, giảm
thuế, chẩn cấp khi dân đói, mất mùa …) và khi đánh giặc
thắng trận cho dựng chùa đúc chuông, tô tượng, ban ruộng
đất cho nhà chùa…
Tư tưởng siêu thế của đạo phật được tầng lớp quí tộc thời
Lý, Trần tiếp thu như là một sự siêu việt “không bị danh lợi
tầm thường của thế gian quyến rũ” Vua trần Thái Tông làm
vua mà có tư ưởng siêu thế nên mới có câu nói “Ta xem ngai
Như vậy người có tư tưởng siêu thế dù có làm quan hay làm
vua cũng sẽ khơng cậy quyền cậy thế ức hiêp nhân dân.
Nhiều vị vua thời Lý, Trần sau khi truyền ngôi đã xuất gia tu
hành, thập chí lập ra những phái thiền tơng mới như (Lý
Thánh Tông – phái Thảo Đường, Trần Thánh Tông – phái
Trúc Lâm Yên Tử) điều đó cho thấy ảnh hưởng của Phật
giáo trong đời sống tinh thần của tầng lớp nhân dân Việt rất
sâu rộng. Trong cấc phái hệ phật giáo ở nước ta phái thiền
tơng phát triển mạnh và có nhiều nét đặc sắc.
Một biểu tượng của những ảnh hưởng đó là sự hưng khởi
của một nền văn học nghệ thuật phật giáo trong các thế kỉ X
– XV đậm đà tinh thần dân tộc. Con người Vnam tiếp thu ở
phật giáo trí tuệ và từ bi, tình thương và tinh thần khuyến
thiện, ước mong giải thoát tâm hồn, khát vọng hồ bình,
bình đẳng và hạnh phúc. Chính lý tưởng đạo đức mà tinh
thần Vnam tiếp thu từ phật giáo đã tạo nên chất nhân văn
sâu sắc trong tác phẩm thơ văn Lý – Trần.