Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

Tư tưởng hồ chí minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (960.17 KB, 120 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------

NGUYỄN TRẦN HỒNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN
HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. LÊ TRỌNG ÂN

TP. HỒ CHÍ MINH - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Lê Trọng Ân.
Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày20 tháng 03 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Trần Hồng


MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU ...........................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ VĂN HÓA..................................................... 10

1.1. Đặc điểm về kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
sau Cách Mạng Tháng Tám (1945) với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa ..........................................10
1.1.1. Đặc điểm về kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
thời kỳ 1945 – 1954 với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan
hệ giữa kinh tế và văn hóa.............................................................................10
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam thời
kỳ 1954 – 1969 với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa................................................................................ 13
1.2. Tiền đề lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh
tế và văn hóa ............................................................................................... 16
1.2.1. Những quan điểm, nhận thức của người Việt Nam về vai trị của kinh
tế và văn hóa trong đời sống xã hội .............................................................. 16
1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại – tiền đề lý luận quan trọng của sự hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa ..........19
1.2.3. Quan điểm duy vật về lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền đề
lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế
và văn hóa ............................................................................................ 27
1.2.4. Phẩm chất đặc biệt và hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh
là tiền đề chủ quan hình thành tư tưởng về mối quan hệ giữa kinh tế và văn
hóa của Người .............................................................................................. 31


Kết luận chương 1 ...................................................................................... 35
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ VĂN HÓA VÀ SỰ VẬN DỤNG

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở
VIỆT NAM ....................................................................................................... 37
2.1. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa ..............................................................................37
2.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế....................................................... 37
2.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa ..................................................... 45
2.1.3. Mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh ...... 52
2.2. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế
và văn hóa của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ở
nước ta hiện nay ...................................................................................... 68
2.2.1. Những thành tựu cơ bản của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa sau gần 30 năm đổi mới ở Việt Nam và
nguyên nhân đạt được .................................................................................. 72
2.2.2. Một số hạn chế của sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa kinh tế và văn hóa sau gần 30 năm đổi mới ở Việt Nam và
nguyên nhân của nó ..........................................................................84
2.2.3. Những giải pháp mang tính định hướng nhằm vận dụng có hiệu
quả tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa ở
Việt Nam hiện nay ............................................................................91
Kết luận chương 2 ................................................................................... 104
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................. 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 110


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bất cứ một xã hội, một quốc gia, một dân tộc nào muốn tồn tại và phát

triển bền vững thì phải đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa tất cả các lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong đó, kinh tế và văn hóa là hai lĩnh
vực cơ bản nhất của đời sống xã hội, chiếm một vị trí quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội. Bởi lẽ, kinh tế tạo nên nền tảng vật chất của
đời sống xã hội, cịn văn hóa tạo nên nền tảng tinh thần của đời sống xã hội.
Hai lĩnh vực này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó, phát
triển kinh tế là cơ sở, là điều kiện vật chất quyết định sự phát triển văn hóa;
cịn văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của phát triển kinh tế. Sự tác động qua lại giữa kinh tế và văn hóa như
một cơ thể sống, như một quy luật phát triển, mang tính thống nhất và làm
cho xã hội không ngừng vận động và phát triển.
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa nói riêng là tài sản tinh thần vơ cùng q giá của
Đảng, dân tộc Việt Nam, là sự kết tinh những giá trị truyền thống của văn
hóa dân tộc với trí tuệ thời đại. Các giá trị tư tưởng đó khơng chỉ đúng với
q khứ, hiện tại mà cịn có ý nghĩa sâu sắc đối với tương lai và lan toả, chỉ
hướng đi lên cho sự phát triển của dân tộc. Với ý nghĩa đó, Đại hội Đại biểu
tồn quốc lần thứ VII (6/1991) đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ
của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Vì vậy, việc nghiên cứu,
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói riêng trong giai đoạn hiện nay luôn là
chủ trương lớn trong công tác lý luận của Đảng và Nhà nước ta. Tư tưởng


2

này của Người đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng triệt để trong hoạt
động lãnh đạo, quản lý, trong việc đề ra những chủ trương, chính sách phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011), Đảng cộng
sản Việt Nam đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh
tế và văn hóa và đi đến khẳng định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải
quyết tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
với phát triển văn hóa [36, 73].
Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và
văn hóa của Đảng cộng sản Việt Nam gần 30 năm qua đã đạt được những
thành tựu to lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được còn khiêm tốn, chưa tương xứng với
tiềm năng và vẫn còn những hạn chế, điều này đã được khẳng định trong
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Kinh tế phát triển chưa
bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của
nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, cung ứng hiện
chưa đáp ứng yêu cầu… Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu
kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối
sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp”[36, 93-94]. Vì vậy, vấn đề đặt ra
là làm sao để kinh tế với văn hóa phát triển hài hòa, để thúc đẩy nhanh sự
phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. Bởi vậy, việc tiếp tục nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa nói riêng, nhằm tìm ra ngun nhân của những hạn
chế. Từ đó, đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho sự phát
triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo là vấn đề hết sức quan trọng và cần
thiết đối với đất nước ta hiện nay, điều này vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý
nghĩa thực tiễn.


3

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa” cho đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa là một
bộ phận quan trọng, gắn bó hữu cơ với tất cả các bộ phận, các lĩnh vực, các
thành tố cấu thành hệ thống lý luận toàn diện và sâu sắc của Người về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa đã, đang thu hút sự
quan tâm của đông đảo các nhà khoa học với nhiều tác phẩm và cơng trình
nghiên cứu. Khái qt lại, chúng tơi nhận thấy, các cơng trình nghiên cứu
liên quan đến chủ đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và
văn hóa được tập trung theo hai hướng: Những cơng trình nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, về văn hóa và mối quan hệ giữa kinh tế và
văn hóa; Những cơng trình nghiên cứu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về kinh tế, về văn hóa và mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong
thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Hướng thứ nhất, những cơng trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
kinh tế, về văn hóa và mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa. Đây là hướng
nghiên cứu cịn mới nhưng đã có những cơng trình tiêu biểu như: “Bước đầu
tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” của Phạm Ngọc Anh (chủ biên)
(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). Cơng trình này gồm ba chương:
Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm bản chất của tư tưởng
kinh tế Hồ Chí Minh; Chương 2: Những nội dung chủ yếu của tư tưởng kinh
tế Hồ Chí Minh; Chương 3: Vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong
cơng cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Qua những nội dung trên cho thấy, tác
giả đã phân tích, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và vai trị quyết định


4

của kinh tế đối với đời sống xã hội nói chung và đối với văn hóa nói riêng;

cơng trình “Hồ Chí Minh – Tư duy kinh tế” của Cao Ngọc Thắng (Chủ biên)
(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009). Cơng trình này tập trung phân tích và
làm rõ những luận điểm cơ bản trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền
kinh tế độc lập - tự chủ và phát triển, về một nền kinh tế tự chủ; Độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện đời
sống mới; Xây dựng một nền kinh tế mở; Chiến lược con người, vì con người.
Bên cạnh đó, cơng trình này cịn thể hiện rõ tư duy kinh tế của Hồ Chí Minh,
bao gồm tư tưởng của Người về tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; về xác
định điểm xuất phát để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; về tổ chức và
quản lí sản xuất; sử dụng các địn bẩy kinh tế - Thực hiện cơng bằng xã hội...).
Thông qua những nội dung trên, cho thấy trong tư duy kinh tế của Hồ Chí
Minh khơng chỉ chứa đựng yếu tố kinh tế thuần túy, khẳng định vai trò kinh tế
đối với đời sống con người nói chung, văn hóa nói riêng, mà ngược lại, Người
cịn thấy được vai trị tác động trở lại của văn hóa đối với kinh tế thông qua
yếu tố con người và chỉ rõ thực hiện cơng bằng xã hội là địn bẩy thúc đẩy
phát triển kinh tế; cơng trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” của Ngô
Văn Lương (Chủ biên) (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010). Từ sự phân
tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, tác giả tập trung phân
tích tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn; về sở hữu và
các thành phần kinh tế ở Việt Nam; về quản lý kinh tế; về mục tiêu, động lực
và nhân tố con người trong xây dựng và phát triển kinh tế; về phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống nhân dân; về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết
kiệm; về kinh tế đối ngoại, thu hút ngoại lực để phát huy nội lực…
Cùng với hướng nghiên cứu này cịn có các cơng trình nghiên cứu như:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề văn hóa trong phát triển” của Đỗ Thị
Minh Thuý (chủ biên) (Nxb. Văn hóa - Thơng tin và Viện văn hóa, Hà Nội,


5


2006). Đây là cơng trình nghiên cứu khá tồn diện, tập hợp các bài viết về
vấn đề văn hóa, giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh, gồm 3 phần. Trong
đó, phần 2 tổng hợp các bài viết liên quan trực tiếp đến vấn đề về mối quan
hệ giữa kinh tế và văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung chủ yếu
của các bài viết trên nhằm phân tích và làm rõ khái niệm văn hóa và phạm vi
của văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phân tích mối quan hệ giữa
văn hóa với các lĩnh vực kinh tế, chính trị và sự vận dụng những tư tưởng đó
của Người vào điều kiện nước ta thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, cơng trình này
chủ yếu phân tích vai trị của văn hóa đối với kinh tế và chính trị, chưa có sự
phân tích cụ thể, chi tiết vai trò quyết định của kinh tế đối với văn hóa.
Cơng trình “Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí
Minh” của tác giả Đinh Xn Lâm, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) (Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007). Tác phẩm bao gồm nhiều nội dung phong
phú như: Văn hóa văn nghệ; văn hóa lãnh đạo quản lý; văn hóa dùng người;
xây dựng văn hóa Việt Nam,… những nội dung này được tập trung phân
tích, lý giải trong 35 bài viết và chủ yếu đi sâu vào các loại hình văn hóa,
thơng qua đó cho thấy văn hóa là sức mạnh nội sinh để phát triển đất nước
nói chung, phát triển kinh tế nói riêng.
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu theo hướng này đã trình bày
những nội dung cơ bản tư tưởng của Hồ Chí Minh về kinh tế, về văn hóa; từ
đó xác định rõ vai trò quan trọng của kinh tế đối với vấn đề phát triển văn
hóa, và vai trị tác động trở lại của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế. Đây
là nguồn tài liệu khá phong phú và hữu ích, thuận lợi cho chúng tơi trong
việc nghiên cứu và trình bày phần tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, về văn
hóa, về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
Hướng thứ hai, những cơng trình nghiên cứu về việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về kinh tế, về văn hóa và mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa


6


trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam. Có thể kể đến những cơng trình của các tác
giả tiêu biểu sau: cơng trình “Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của Hồng Chí
Bảo (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006). Trên cơ sở phân tích những đặc
điểm của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa với yêu cầu phát triển văn hóa và xây
dựng con người, tác giả đã đưa ra những nguyên tắc chỉ đạo việc vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người vào chiến lược phát triển văn
hóa và con người Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, cơng trình này mới chỉ đề
cập đến khía cạnh văn hóa và vai trị của văn hóa đối với chiến lược phát triển
văn hóa và con người Việt Nam hiện nay mà chưa đề cập tư tưởng Hồ Chí
Minh về kinh tế và vai trò của kinh tế đối với đời sống xã hội nói chung và đối
với văn hóa nói riêng và sự vận dụng tư tưởng đó vào chiến lược phát triển
kinh tế đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Công trình “Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây
dựng nền văn hóa Việt Nam” của Lê Quý Đức (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001). Trên cơ sở phân tích tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về văn hóa
chính trị, văn hóa nghệ thuật, tác giả đã vận dụng tư tưởng nhân văn của Hồ
Chí Minh vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, thể
hiện ở những nội dung: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện đại và nhân văn; xu thế thời đại và vấn đề
xây dựng nền giáo dục – đào tạo; xây dựng văn hóa đạo đức và lối sống là
lĩnh vực then chốt của văn hóa; gia đình là hạt nhân xã hội và vấn đề xây
dựng văn hóa gia đình; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân; xây dựng
mơi trường văn hóa nhân văn ở nước ta.
Cũng theo hướng nghiên cứu này, cịn có các cơng trình nghiên cứu
như: Luận văn Thạc sĩ Triết học: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa với việc
xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay, mã số: 60.22.80 của tác giả Thái



7

Công Quận, năm 2010; Luận văn Thạc sĩ Triết học: Tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa với việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng
người Chăm ở Bình Thuận hiện nay, mã số: 60.22.80 của Huỳnh Thị Phương
Thúy, năm 2013. Phần lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong các
luận văn này là nguồn tài liệu rất quan trọng để chúng tơi kế thừa cho phần
lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.
Ngồi các cơng trình nghiên cứu nêu trên, cịn có các bài báo, bài viết
đã được đăng trên các báo và tạp chí như: “Một số nội dung lý luận văn hóa
trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Lương Quỳnh Khuê, (Tạp chí khoa học Lý
luận chính trị, số 2, 2001); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn
hóa với kinh tế và chính trị” của ThS.Vũ Đức Khiển, (Tạp chí khoa học xã
hội, số 2, năm 2003). Nội dung chủ yếu của các bài viết trên nhằm nêu khái
niệm văn hóa và phạm vi của văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó
phân tích mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế, chính trị và sự vận dụng vào
điều kiện nước ta.
Nhìn tổng thể, tất cả các cơng trình, tác phẩm nêu trên, dù tiếp cận theo
hướng nào cũng đều là những tài liệu q. Nó khơng chỉ giúp ích cho việc
tham khảo, kế thừa mà còn gợi mở cho chúng tôi nhiều vấn đề mới liên quan
đến đề tài luận văn này. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một cơng trình,
tác phẩm nào nghiên cứu chun sâu, tồn diện và mang tính hệ thống tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, sự vận dụng tư
tưởng đó của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện
nay. Đây chính là nội dung chúng tơi sẽ cố gắng thể hiện trong luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn, trình bày, phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, sự vận dụng của



8

Đảng cộng sản Việt Nam vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong
thời kỳ đổi mới ở nước ta.
Nhiệm vụ của luận văn, để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung
thực hiện hai nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, trình bày, phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của
tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
Thứ hai, trình bày, phân tích, làm rõ thực trạng của sự vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm vận dụng có
hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa
trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối
quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa và sự vận dụng của Đảng
cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới thơng qua các văn kiện Đại hội
Đảng tồn quốc từ năm 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp
luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về kinh tế và văn hóa; quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong tư tưởng
Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận chung đó, luận văn đã kết
hợp sử dụng các biện pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích,


9


tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp; phương pháp logic – lịch sử,
phương pháp so sánh, đối chiếu theo nguyên tắc lý luận gắn liền với thực tiễn.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Về ý nghĩa khoa học của luận văn, luận văn góp phần phân tích và làm
rõ những vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, văn hóa và
mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa; đồng thời, khẳng định tư
tưởng của Người là cơ sở lý luận cho Đảng ta vận dụng để phát triển kinh tế
và văn hóa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
Về ý nghĩa thực tiễn của luận văn, kết quả của luận văn có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trong việc
nghiên cứu, học tập mơn tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và văn hóa. Hoặc
có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu chuyên sâu
hơn chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, về văn hóa và mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết.


10

Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ VĂN HÓA

1.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ, VĂN HÓA VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁCH
MẠNG VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1945) VỚI VIỆC HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ
VĂN HĨA


Q trình hình thành và phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa kinh tế
và văn hóa của Hồ Chí Minh khơng phải xuất phát từ ngẫu nhiên hay từ ý
muốn chủ quan của Người, mà được hình thành xuyên suốt trong quá trình
hoạt động cách mạng của Người. Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm về kinh tế,
văn hóa và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau mà tư tưởng của
Người về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa được thể hiện một cách khác
nhau. Theo đó, giai đoạn lịch sử ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa có thể chia thành
hai thời kỳ: Đặc điểm, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa của cách mạng
Việt Nam thời kỳ 1945 – 1954; đặc điểm, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn
hóa của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954 – 1969.
1.1.1. Đặc điểm về kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam thời kỳ 1945 – 1954 với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa
Đây là giai đoạn vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Sau Cách mạng Tháng
Tám (1945) thành cơng, hồn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, chúng ta chuyển sang nhiệm vụ mới đó là tiến lên chủ nghĩa xã
hội, Hồ Chí Minh khẳng định: Sau khi giành được độc lập, “cách mạng giải


11

phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới
giành được thắng lợi hồn tồn” [59, 305]. Bởi lẽ, theo Người “vì có tiến lên
chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới ngày càng ấm no thêm, Tổ quốc mỗi ngày
một giàu mạnh thêm” [56, 173]. Vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ xây dựng và
củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo
Chính phủ bắt tay vào việc chấn hưng đất nước giàu mạnh trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự, v.v... nhằm

chuẩn bị tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt
chú ý đến vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa cũng như thấy được mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tư tưởng
của Người về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa được hình thành rõ nét
xuất phát từ những đặc điểm về kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của cách mạng
Việt Nam giai đoạn này.
Đặc điểm về kinh tế và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, với chính
sách xâm lược của thực dân Pháp, phát xít Nhật đã để lại hậu quả nặng nề
cho nước ta: hơn 2 triệu người chết đói, một con số lớn nhất trong lịch sử.
Bên cạnh nạn đói là thiên tai lũ lụt ập tới, chiếm 350 ngàn hécta trong tổng
số 830 ngàn hécta diện tích lúa mùa đã cấy xong ở đồng bằng Bắc Bộ bị mất
trắng làm cho nạn đói ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Về tài chính tiền tệ,
khi cách mạng thành cơng, kho bạc hồn tồn trống rỗng (chỉ cịn một triệu
đồng bạc rách). Do đó, nền kinh tế nước ta sau khi giành được chính quyền
(1945), là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Điều này được thể hiện cụ thể:
Trong nơng nghiệp thì sản xuất nhỏ chiếm đại bộ phận, đất đai phân tán,
manh mún, một bộ phận nông dân khơng có ruộng cày cấy, sản xuất tự cung,
tự cấp, kỹ thuật vô cùng lạc hậu, năng suất thấp. Cơng nghiệp thì nhỏ bé, lẻ
tẻ, nhất là cơng nghiệp cơ khí, chế tạo máy móc. Cơng nghiệp và nơng
nghiệp lại bị tàn phá nặng nề trong nhiều năm chiến tranh.


12

Không lâu sau, thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, ở
trong nước bọn phản động nổi lên như nấm. Trước tình hình đó, Hồ Chí
Minh chủ trương nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng giai đoạn
này là chống “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Như vậy, theo Hồ Chí
Minh thì nhiệm vụ kinh tế được đặt lên hàng đầu, rồi đến nhiệm vụ văn hóa,
chính trị.

Để chống “giặc đói” Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất đi
đôi với thực hành tiết kiệm, vấn đề phát triển kinh tế được Người quan tâm
trước hết, Người chỉ rõ “tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất,
thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nơng thôn, phát
triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến” [54, 180].
Đặc điểm về văn hóa, giáo dục và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam,
với nền tảng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu như trên đã quy định một nền văn
hóa trì trệ, kém phát triển. Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), “số người
Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95 phần trăm, nghĩa là hầu
hết người Việt Nam mù chữ… Một trong những công việc phải thực hiện
cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[51, 36]. Sự dốt nát dẫn tới ý thức
dân tộc bị mai một: tinh thần yêu nước ở một bộ phận nhân dân bị sa sút,
những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đều bị lai căng, những hủ tục
ma chay, cưới xin vừa tốn kém, vừa vô ích cho đời sống, nạn đồng bóng, mê
tín, dị đoan và bao nhiêu tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu vẫn còn phổ biến.
Để chống “giặc dốt”, Người chỉ rõ: “Nạn dốt là một trong những
phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta…Một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tơi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn
mù chữ” [51, 8]. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra
một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt nam; Sắc lệnh số 19 lập cho nơng
dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối; Sắc lệnh số 20 định rằng


13

việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và khơng mất tiền. Để phục vụ chiến
dịch xố mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9 năm
1945. Khố huấn luyện cán bộ bình dân học vụ đầu tiên mang tên Hồ Chí
Minh mở tại Hà Nội. Ngày 4 tháng 10 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
có lời kêu gọi “Chống nạn thất học” gửi tới toàn thể quốc dân đồng bào:

“…Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi
người Việt nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải
có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước
hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy
cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những
người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi” [51, 36]. Sáng ngày 39-1945, tại Bắc Bộ phủ, chủ toạ phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu vấn đề
cấp bách để cứu nguy dân tộc, trong đó, vấn đề thứ tư là xoá bỏ hủ tục, xây
dựng đời sống văn hoá mới, đạo đức mới, đạo đức cách mạng.
Như vậy, đặc điểm, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa của cách mạng
Việt Nam thời kỳ mới giành được chính quyền và kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945 – 1954) nêu trên cho thấy, nhiều nội dung, tư tưởng của Hồ
Chí Minh về vai trị của kinh tế và văn hóa được hình thành rõ nét trong giai
đoạn này. Đây cũng là cơ sở để hình thành tư tưởng của Người về mối quan
hệ giữa kinh tế và văn hóa.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam thời kỳ 1954 – 1969 với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa
Đặc điểm về kinh tế và văn hóa, đặc điểm lớn nhất của nước ta giai
đoạn này là cách mạng nước ta phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ nhằm giải


14

phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cả hai nhiệm vụ ấy đều nhằm mục
tiêu chung là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc
lập và dân chủ, thiết thực tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ
hồ bình ở Đơng Nam châu Á và thế giới.
Một đặc điểm nữa, theo Hồ Chí Minh, phương thức quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ở Việt Nam là phương thức gián tiếp, nghĩa là không phải
chúng ta trực tiếp cải biến xã hội tư bản chủ nghĩa đã phát triển thành xã hội
chủ nghĩa; cũng không phải chỉ chuyển những quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa sang quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là xong; mà đối tượng của cải
biến cách mạng lại là xã hội với trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, với cơ
cấu kinh tế - xã hội rất phức tạp, với những con người do lịch sử để lại, vừa
có những truyền thống tốt đẹp, vừa có nhiều phong tục tập quán lạc hậu, để
từ “một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống vui
tươi hạnh phúc” [55, 493-494].
Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, muốn đạt được mục tiêu đó, Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng
nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên
chủ nghĩa xã hội, có cơng nghiệp và nơng nghiệp hiện đại, có văn hóa và
khoa học tiên tiến” [57, 13]. Qua đó, Người thường xuyên chỉ rõ: cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta phải tiến hành đồng thời việc cải tạo và
xây dựng trên tất cả các mặt: chính trị và kinh tế, kiến trúc thượng tầng và cơ
sở hạ tầng, văn hóa và xã hội. Từ đó, Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ
cụ thể cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội ở thời kỳ quá độ.
Nhiệm vụ về kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong quan niệm Hồ
Chí Minh là một sự nghiệp mang tính kinh tế, Người chỉ rõ: “Hiện nay miền
Bắc đang tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, trước hết mọi người phải
ra sức xây dựng kinh tế cho vững mạnh” [56,137]. Nhiệm vụ cải tạo và xây


15

dựng kinh tế của thời kỳ quá độ được Hồ Chí Minh đề cập đến rất rộng: lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế.
Người thường nhấn mạnh đến việc tăng gia sản xuất, gắn liền với tiết kiệm,
không ngừng nâng cao năng suất lao động để âng cao đời sống vật chất và

tinh thần cho nhân dân.
Nhiệm vụ về văn hóa – xã hội của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh hết sức
nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng con người mới, đạo đức mới, lối sống xã hội
chủ nghĩa. Người nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã
hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bật những tư tưởng
công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho chủ nghĩa tập thể
thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo
vệ của công, chống tham ô, lãng phí” [57, 159]. Đặc biệt, Người đề cao vai trị
của văn hóa giáo dục và khoa học kỹ thuật trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Người cho rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải có học thức,
cần phải học cả văn hóa, chính trị, kỹ thuật,...bởi lẽ, “chủ nghĩa xã hội cộng
với khoa học chắc chắn đưa lồi người đến hạnh phúc vơ tận”. Đồng thời, Hồ
Chí Minh cũng rất coi trọng nâng cao dân trí, đào tạo và sử dụng nhân tài,
Người có tầm nhìn xa trơng rộng về văn hóa và thấy được vai trị của nó trong
đời sống xã hội, từ đó đề ra các nguyên tắc, phương châm để xóa bỏ những
tàn dư tư tưởng và hủ tục của xã hội cũ, thực hiện cách mạng văn hóa tư
tưởng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, giữ vững và phát huy truyền
thống văn hóa dân tộc, biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thế giới.
Thơng qua những nhiệm vụ cụ thể đó, đặc biệt là nhiệm vụ kinh tế và nhiệm
vụ văn hóa, xã hội, những nội dung, tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa
kinh tế và văn hóa đã được hình thành và phát triển rõ nét.
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm về kinh tế, văn hóa và nhiệm vụ của
từng giai đoạn lịch sử nước ta, đặc biệt là thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội.


16

Người đã nhận thấy, đây là thời kỳ đấu tranh gay go giữa cái cũ đang suy tàn
với cái mới đang nảy nở, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư
bản chủ nghĩa trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng và khoa

học – kỹ thuật. Trong đó, có hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội là kinh
tế và văn hóa. Đây chính là những tiền đề thực tiễn của sự hình thành, phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
1.2. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ VĂN HÓA
1.2.1. Những quan điểm, nhận thức của người Việt Nam về vai trò
của kinh tế và văn hóa trong đời sống xã hội
Bất kỳ dân tộc nào cũng có nền kinh tế và văn hóa mang bản sắc riêng,
độc đáo làm cơ sở hình thành và là nền tảng cho các giá trị của dân tộc đó.
Với dân tộc Việt Nam, những quan điểm, nhận thức về vai trò của kinh tế và
văn hóa trong đời sống xã hội được hình thành, phát triển gắn liền với lịch sử
của dân tộc, gắn liền với những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Đây chính là tiền
đề lý luận, khởi nguồn cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan
hệ giữa kinh tế và văn hóa.
Từ thực tiễn cuộc sống lao động sản xuất, dân tộc Việt Nam đã hình
thành nên một hệ thống những quan điểm, nhận thức về: vai trò của kinh tế
đối với đời sống của con người (trong đó có văn hóa); vai trị của văn hóa
đối với sự phát triển kinh tế. Hệ thống những quan điểm, nhận thức đó của
người Việt Nam đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
Những quan điểm, nhận thức của người Việt Nam về vai trò của kinh
tế đối với đời sống của con người (trong đó có yếu tố văn hóa)


17

Người Việt Nam ngay từ rất sớm đã nhận thức được vai trò quyết định
của kinh tế đối với đời sống xã hội nói chung, đối với văn hóa nói riêng.
Trước hết, đó là những nhu cầu cơ bản về cái ăn, cái mặc hàng ngày của đời
sống con người. Vì vậy nhân dân ta mới có câu: “Có thực mới vực được

đạo”. “Thực” ở đây hiểu theo nghĩa hẹp là ăn, hiểu theo nghĩa rộng là kinh
tế, còn “đạo” hiểu theo nghĩa hẹp là đạo lý, hiểu theo nghĩa rộng là văn hóa;
tương tự như vậy, người Việt cũng khẳng định: “có bột mới gột nên hồ”,
“ăn chắc mặc bền”; “cấy nhiều thì khỏi đói”, “có cấy có trơng, có trồng có
ăn”, “ni dân lấy ăn làm đầu”... Sở dĩ người Việt Nam coi trọng vấn đề cái
ăn, cái mặc, chỗ ở,... là bởi vì, đây là những nhu cầu cơ bản nhất để con
người và xã hội loài người tồn tại và phát triển được. Muốn đảm bảo nhu cầu
cơ bản đó thì phải lao động sản xuất, mà đối với Việt Nam, sản xuất nông
nghiệp được chú trọng phát triển hàng đầu. Bởi xuất phát từ điều kiện nước
ta: khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ,...phù hợp cho sản xuất nơng
nghiệp. Vì vậy, Người Việt rất coi trọng nghề nông, coi nghề nông là nghề
sản xuất chính, điều này được thể hiện trong các quan điểm, nhận thức như:
“dĩ nông vi bản”(lấy nông làm gốc), “trọng nơng hơn trọng cơng thương”,
“nhất nơng, nhì sĩ”, “tịch điền”, “ngụ binh ư nơng”,.... Có thể nói, chính nhận
thức và phương thức sống của con người Việt Nam như trên đã vừa làm cho
nhân dân ta an cư lạc nghiệp, vừa làm nảy sinh, bồi đắp cho các yếu tố văn
hóa và sinh hoạt văn hóa như: tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần đại
đoàn kết, tương thân, tương ái lẫn nhau,...hay những câu hò, tiếng hát, những
điệu múa đặc trưng cho mỗi vùng miền giúp cho người dân xua tan đi những
vất vả, nhọc nhằn của một ngày lao động cần cù. Bên cạnh đó, thơng qua sản
xuất nơng nghiệp cịn hình thành những phong tục tập quán, những thói quen
được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác như: Phong tục thờ cúng tổ
tiên, gói bánh trưng, bánh dày ngày tết, phong tục cưới hỏi, ma chay, ....


18

Như vậy, với đức tính cần cù trong lao động sản xuất, biết tính tốn
cách thức làm ăn, vận dụng kinh nghiệm, lợi dụng điều kiện tự nhiên, ứng
phó thiên tai dịch họa, nông gia - nông nghiệp không chỉ tạo ra nguồn của

cải vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của toàn bộ xã hội mà cịn làm
nảy sinh, hình thành và phát triển các loại hình văn hóa của người Việt Nam.
Những quan điểm, nhận thức của người Việt Nam về vai trị của văn
hóa đối với sự phát triển kinh tế.
Cùng với lao động sản xuất, người Việt Nam đặc biệt coi trọng văn
hóa đối với việc phát triển kinh tế. Trong đó, yếu tố trí tuệ, học vấn, nhận
thức được coi là những yếu tố quan trọng nhất của văn hóa. Mọi nguồn lực
trí tuệ, tri thức, nhận thức, lý trí, tình cảm được vận dụng vào các hoạt động
thuộc đời sống xã hội nhằm đạt được lợi ích phù hợp với yêu cầu duy trì,
phát triển đời sống nhân dân được nhân dân ta rất coi trọng, đặc biệt là
những người có tri thức nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, hiểu biết sâu rộng, kẻ sĩ,
hiền tài, minh quân - toan tính cách làm ăn, mưu lược kinh bang tế thế, tạo
dựng văn hóa, khoa học, giáo dục, văn chương, nghệ thuật, triết lý, tư
tưởng, học vấn, dân trí, chủ thuyết, quan điểm... được nhân dân ta thể hiện
trong những quan niệm: “cái khơn đi trước, cái giàu theo sau”, “người sống
nhờ trí, vật sống nhờ thân”, “một người hay lo bằng một kho người hay
làm”, “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”... Những con người được giáo dục,
có vốn tri thức sâu rộng có khả năng tạo ra tri thức mới, nhận thức mới về
quan hệ nhân sinh, cung cách ứng xử xã hội theo lý - tình; về ý thức tác
động, lợi dụng, sống hòa hợp với tự nhiên; về năng lực suy tính cách thức
tích hợp kinh nghiệm và sáng tạo trong sản xuất vật chất; về đường lối trị
nước, an dân; và về sách lược bang giao, xây dựng tiềm lực, bảo vệ đất
nước. Họ đem học vấn, trí lực vào thực hành trong cuộc sống, cũng như
người hiền tài là người biết đem hết tài năng, đức độ ra giúp dân, giúp


19

nước, làm cho đất nước cường thịnh, rạng danh con rồng cháu tiên. Bên
cạnh đó, dân tộc ta rất trọng tình nghĩa, “tình sâu nghĩa nặng”, quan hệ giữa

con người với con người được thể hiện cụ thể trong các triết lý sống về:
tình cha con “cơng cha nghĩa mẹ”; tình vợ chồng “đầu gối tay ấp”; tình anh
em “như thể tay chân”, “máu chảy ruột mềm”; tình bầu bạn thủy chung
“dầu đượm bấc dài”; tình xóm giềng “tối lửa tắt đèn có nhau”; tình thầy trị
“khơng thầy đố mày làm nên”; tình đồng hương “người trong làng như
vàng trong chum”; tình đồng bào “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người
trong một nước phải thương nhau cùng”; tình dân tộc chung nhau một ngày
“giỗ Tổ mùng mười tháng ba”; tình người “thương người như thể thương
thân”, “cùng hội cùng thuyền”, “thấy ai đói rách thì thương”,... Vì tình mà
sinh nghĩa, tình trước nghĩa sau, “tình làng nghĩa xóm”, “bầu ơi thương lấy
bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”;... Sống có tình có
nghĩa ở người Việt Nam từ xưa đến nay vẫn là một giá trị nhân văn sâu sắc,
tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của người Việt Nam.
Như vậy, những quan điểm và nhận thức về vai trị của kinh tế, văn hóa
đã được nhân dân lao động nước ta giữ gìn, trao truyền qua các thời đại, và đã
góp phần hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế
với văn hóa, được Hồ Chí Minh tiếp thu trong tư tưởng làm cho “văn hóa
thấm sâu vào tâm lý quốc dân”, biến những giá trị văn hóa này thành sức
mạnh để phát triển kinh tế. Đây là một tiền đề quan trọng với việc hình thành
tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa.
1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại – tiền đề lý luận quan trọng của
sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế và
văn hóa
Bên cạnh việc tiếp thu triết lý nhân sinh và những giá trị truyền thống
của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh ln coi trọng việc tìm tịi, nghiên cứu,


20

chắt lọc những yếu tố tinh túy, tích cực của văn hóa phương Đơng và

phương Tây để làm giàu vốn trí tuệ của mình, làm giàu nền văn hóa của dân
tộc Việt Nam. Người từng nhắc nhở: “Tây phương hay Đơng phương có cái
gì tốt ta học lấy”.
Ở phương Đơng thời kỳ cổ, trung đại xã hội còn hoang sơ, kém phát
triển, trình độ của lực lượng sản xuất thấp, lạc hậu, kinh tế chủ yếu dựa vào
săn bắt, trồng trọt, chăn nuôi, thương mại và nghề thủ công mỹ nghệ đơn
giản. Do đó, của cải xã hội làm ra ít, cùng với chế độ phân biệt đẳng cấp hà
khắc của giai cấp chủ nô, quý tộc, vua chúa và quan lại phong kiến, dẫn đến
cuộc sống của người dân thấp kém cả về đời sống vật chất, lẫn đời sống tinh
thần, xã hội chậm phát triển. Ở thời kỳ này, giai cấp thống trị và các nhà triết
học, các nhà tư tưởng chủ yếu quan tâm đến chính trị, văn hóa xã hội, đạo
đức và luật pháp để củng cố quyền lực và lợi ích của giai cấp mình, nên ít
quan tâm chăm lo đến kinh tế và phát triển kinh tế. Tư tưởng chủ yếu thời kỳ
này là việc giáo hóa con người về đạo đức, pháp luật. Đó là, những tơn ti,
trật tự, luật lệ, lễ nghi của con người với con người trong xã hội để phục vụ
cho việc cai trị xã hội của giai cấp chủ nô, quý tộc phong kiến. Những quan
điểm về văn hóa, phát triển văn hóa ở thời kỳ này tập trung khá nhiều vào
giai cấp thống trị (tầng lớp trên của xã hội).
Ở Trung Quốc, Khổng Tử (551 - 479 trước CN), ln đề cao việc giáo
hóa con người để xây dựng cho họ một thói quen, một nhân cách sống, một
luật lệ bất thành văn. Trong quan niệm về mối quan hệ giữa kinh tế và văn
hóa, Nho giáo khơng dùng khái niệm kinh tế và văn hóa, mà dùng khái niệm
“Văn” và “chất”. Trong đó, khái niệm “văn” rất tương đồng với khái niệm
văn hóa - là cái gì tốt đẹp được nảy sinh từ chất liệu nguyên sơ ở tự nhiên, ở
con người và vạn vật; còn “Chất” được hiểu như giới tự nhiên (vật chất) mà
chúng ta dùng ngày nay, cũng có thể hiểu “chất” bao hàm cả lĩnh vực kinh


21


tế. Văn hóa xuất phát từ tự nhiên (vật chất), tự nhiên vận động biến đổi và
trở thành văn hóa. Văn hóa là cái gì đã vượt lên trên tự nhiên. Văn hóa
(culture) có nghĩa là vun trồng, là sự tác động vào tự nhiên khiến tự nhiên
phát triển hơn, tốt đẹp hơn, trở thành một tự nhiên được vun trồng, nghĩa là
được trở thành văn hóa.
Khổng Tử ln đề cao việc giáo hóa con người để xây dựng cho họ một
thói quen, một nhân cách sống tốt hơn cho con người. Những yếu tố đó nay
gọi là văn hóa của nhà cầm quyền. Đặc biệt ông quan tâm đến tầng lớp trên,
tầng lớp vua quan, quý tộc và luôn bảo vệ và xây dựng tư tưởng thống trị cho
họ. Khi ông Quý Khương Tử (đại phu của nước Lỗ) hỏi: “Muốn cho dân cung
kính mình, trung thành với mình và khuyên nhau làm lành, nhà cầm quyền
phải làm thế nào?” Khổng Tử đáp rằng: “Nhà cầm quyền khi đến với dân nên
giữ cốt cách cho nghiêm trang, thì dân cung kính. Đối với cha mẹ, nên hiếu
thuận, đối với con em và mọi người nên từ ái thì dân sẽ trung thành với mình,
nên cứ dùng những người tốt lành, tài cán. Cịn những kẻ yếu sức nên giáo
hóa họ, thì dân khuyên nhau làm lành, vui theo điều lành”(Luận ngữ, Vi
chỉnh). Khổng Tử với tư tưởng muốn giáo hóa và xây dựng cho những người
đại diện chính quyền một hình mẫu tiêu biểu, một tính cách và nhân cách sống
tiêu biểu làm gương cho mn dân. Đó là những người vừa có đức, vừa có tài
trí, vừa đảm trách được cương vị của mình, vừa gần gũi với dân để chăn dân.
Ngay cả trong gia đình ln ln hiếu thảo cung kính cha mẹ, gần gũi, chan
hịa với anh em và mọi người. Những người như vậy, trong cương vị của mình
sẽ thuận hịa trên dưới, trong ngồi, sẽ được mọi người yêu mến, cung kính và
làm được nhiều điều tốt để giúp dân, giúp nước.
Cũng giống như Khổng Tử, Mạnh Tử là người đề cao vai trò của giáo
hóa để xây dựng phép tắc, lễ nghi, tơn ti, trật tự xã hội. Dựa trên thuyết “tính
thiện” và tiếp tục tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử kịch liệt phê phán



×