BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---oOo---
HUỲNH THỊ HỒNG THU
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG
Ở NGƢỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƢỠNG
TP. HỒ CHÍ MINH – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---oOo---
HUỲNH THỊ HỒNG THU
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG
Ở NGƢỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
Chuyên ngành: Điều dƣỡng
Mã số: 60. 72. 05. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƢỠNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. BS NGUYỄN HỒNG ĐỊNH
TS. KATHLEEN A. FITZSOMMIONS
TP. HỒ CHÍ MINH - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Hồng Thu
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ..................................................................................... 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................4
1.1. TĂNG HUYẾT ÁP ............................................................................................. 4
1.3. Áp dụng học thuyết điều dƣỡng vào trong nghiên cứu ................................ 20
1.4. Đạo đức trong nghiên cứu ...............................................................................24
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 25
2.1. Thiết kế nghiên cứu .......................................................................................... 25
2.2. Địa điểm nghiên cứu ........................................................................................ 25
2.3. Thời gian nghiên cứu ....................................................................................... 25
2.4. Dân số nghiên cứu ............................................................................................ 25
2.5. Cỡ mẫu ..............................................................................................................25
2.6. Kỹ thuật chọn mẫu ........................................................................................... 26
2.7. Tiêu chí chọn mẫu ............................................................................................ 26
2.8. Thu thập số liệu ................................................................................................ 26
2.9. Định nghĩa biến số và phân loại biến số ......................................................... 30
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................35
3.1. Mô tả đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu.....................................................35
3.2 Điểm số CLCS của ngƣời bệnh THA .............................................................. 39
3.3. So sánh trung vị giữa các đặc điểm dân số xã hội và điểm số CLCS ở 2
thành phần SKTC và SKTT của ngƣời bệnh THA .............................................40
4.1. Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu ............................................................... 47
4.1.1 Đặc điểm dân số - xã hội ................................................................................47
4.1.2. Đặc điểm các yếu tố liên quan THA ............................................................ 52
4.2. Điểm số chất lƣợng cuộc sống ở ngƣời bệnh THA ........................................57
4.3. Mối liên quan giữa điểm số CLCS và các đặc điểm của đối tƣợng nghiên
cứu ............................................................................................................................ 58
4.4. Điểm mạnh và hạn chế của đề tài ...................................................................62
KẾT LUẬN ..............................................................................................................64
KIẾN NGHỊ .............................................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 66
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT ....................................................... 75
PHỤ LỤC 2 ..............................................................................................................84
BẢN ĐỒNG THUẬN .............................................................................................. 84
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH NGƢỜI BỆNH KHÁM BỆNH
PHỤ LỤC 4: GIẤY PHÉP SỬ DỤNG PHẦN MỀM TÍNH ĐIỂM SF-36
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
CLCS
:
chất lượng cuộc sống
CLCS-SK
:
chất lượng cuộc sống – sức khỏe
CNĐĐ
:
cảm nhận đau đớn
CNSS
:
cảm nhận sức sống
cs
:
cộng sự
ĐGSK
:
đánh giá sức khỏe
ĐTĐ
:
đái tháo đường
HA
:
huyết áp
HATT
:
huyết áp tâm thu
HATTr
:
huyết áp tâm trương
HĐCN
:
hoạt động chức năng
HĐXH
:
hoạt động xã hội
GHCN
:
giới hạn chức năng
GHTL
:
giới hạn tâm lý
GTLN
:
giá trị lớn nhất
GTNN
:
giá trị nhỏ nhất
RLLPM
:
rối loạn lipid máu
SKTC
:
sức khỏe thể chất
SKTT
:
sức khỏe tinh thần
TBMMN
:
tai biến mạch máu não
TCYTTG
:
Tổ chức Y tế Thế giới
THA
:
tăng huyết áp
TTTQ
:
tinh thần tổng quát
UCMC
:
ức chế men chuyển
UCTT
:
ức chế thụ thể
Tiếng Anh
CDC
:
Centers for Disease Control and Prevention
ESC
:
European Society of Cardiology
ESH
:
European Society of Hypertension
HRQOL
:
Health Related Quality of Life
NHANES
:
National Health and Nutrition Examination Survey
SF 36
:
Short Form - 36
WHO
:
World Health Organization
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp ...................................................................................6
Sơ đồ 1.1. Mối tương quan giữa 8 lĩnh vực và 2 thành phần sức khỏe thể chất và
tinh thần trong SF – 36.........................................................................................15
Bảng 3.1. Đặc điểm dân số - xã hội của người bệnh THA (n=220) ....................35
Bảng 3.2. Các yếu tố liên quan đến THA (n = 220).............................................37
Bảng 3.3. Điểm số CLCS của người bệnh THA (n=220) ....................................39
Bảng 3.4. So sánh trung vị giữa các đặc điểm dân số xã hội và điểm số SKTC
(n=220) .................................................................................................................40
Bảng 3.5. So sánh trung vị giữa các đặc điểm dân số xã hội và điểm số SKTT ..41
Bảng 3.6. So sánh trung vị giữa các yếu tố liên quan đến THA và điểm số SKTC
của người bệnh (n=220) .......................................................................................43
Bảng 3.7. So sánh trung vị giữa các yếu tố liên quan đến THA và điểm số SKTT
của người bệnh (n=220) .......................................................................................44
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của các đặc điểm dân số xã hội và các yếu tố liên quan
đến THA và điểm số SKTC và SKTT của người bệnh (n=220)............................45
Bảng 4.1. Tuổi trung bình trong các nghiên cứu .................................................48
Bảng 4.2. Tỷ lệ giới tính trong các nghiên cứu ....................................................49
Bảng 4.3. So sánh trình độ học vấn với các nghiên cứu khác .............................50
Bảng 4.4. So sánh với các nghiên cứu khác trong và ngoài nước ..........................55
Bảng 4.5. So sánh điểm số CLCS SF – 36 ở người bệnh THA các nghiên cứu
trong nước và ngoài nước ....................................................................................57
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Mối tương quan giữa 8 lĩnh vực và 2 thành phần sức khỏe thể chất và
tinh thần trong SF – 36 .........................................................................................15
Sơ đồ 1.2. Mơ hình lý thuyết CLCS đã được bổ sung dựa trên mơ hình đã được
đặt ra bởi Wilson và Cleary (1995) ......................................................................22
Sơ đồ 1.3. Mơ hình nghiên cứu ............................................................................23
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một thách thức y tế công cộng quan trọng ở Việt
Nam. Theo khảo sát của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người lớn (≥ 25 tuổi)
tại 8 tỉnh và thành phố cho thấy tỷ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% nghĩa là cứ 4
người lớn thì có 1 người bị THA [72]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm
2008, trên toàn thế giới, khoảng 40% người từ 25 tuổi trở lên được chẩn đoán THA.
Số lượng những người có tình trạng THA từ 600 triệu năm 1980 lên 1 tỷ vào năm
2008. Tỷ lệ này ước tính sẽ gia tăng 1,56 tỷ vào năm 2025 [89]. Theo WHO, THA
là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%),
cao hơn các nguyên nhân khác như sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu
(5,8%) [72]. Tăng huyết áp ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn
thế giới và là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng nhất liên quan đến bệnh mạch
vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính. Nó chiếm 9,4 triệu ca tử
vong trên toàn thế giới mỗi năm và liên quan ít nhất 45% các ca tử vong do bệnh
tim, và 51% các ca tử vong do đột quỵ (WHO, 2013).
Tại Việt Nam, tần suất THA ở người lớn ngày càng gia tăng. Trong những
năm 1960 tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm
2005 là 18,3%. Với dân số hiện nay của Việt Nam là khoảng 88 triệu dân thì ước
tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA. Trong số những người bị THA thì có tới
52% (khoảng 5,7 triệu người) là khơng biết mình có bị THA; 30% (khoảng 1,6 triệu
người) của những người đã biết bị THA nhưng vẫn khơng có một biện pháp điều trị
nào; và 64% những người đó (khoảng 2,4 triệu người) THA đã được điều trị nhưng
vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu. Như vậy hiện nay Việt Nam
có khoảng 9,7 triệu người dân hoặc là khơng biết bị THA, hoặc là THA nhưng
không được điều trị hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được số huyết áp về mức bình
thường [72]. THA khơng chỉ gây nhiều biến chứng nguy hiểm, đe dọa đến tính
mạng con người mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống (CLCS)
của người bệnh.
2
Trà Vinh là một tỉnh duyên hải thuộc Đồng bằng sơng Cửu Long. Diện tích
tồn tỉnh 2.341,2 km² với chiều dài 65 km bờ biển, dân số khoảng 1,1 triệu người,
87% sống ở khu vực nông thôn; trên địa bàn Trà Vinh có 3 dân tộc Kinh, Khơ me,
Hoa trong đó người Khơ me chiếm 30% (khoảng 27,6% số người Khơ me của cả
nước). Đặc điểm là vùng sâu, gần biển, phong tục tập quán đa dạng với nền văn hóa
giao thoa Kinh, Chăm, Khơ me. Tất cả các yếu tố trên đã tạo nên sự khác biệt về
đặc điểm dân số - xã hội, văn hóa, tơn giáo, lối sống, tập quán và thói quen sinh
hoạt của Trà Vinh.
Theo nghiên cứu của tác giả Cao Mỹ Phượng và cs về tỷ lệ THA ở người từ
40 tuổi trở lên tại tỉnh Trà Vinh năm 2012 cho thấy tỷ lệ THA là 31,7%; và trong
cộng đồng dân cư này, có mối liên quan rõ rệt giữa THA với yếu tố nguy cơ về tuổi,
vịng bụng to, thừa cân/béo phì, bệnh đái tháo đường, và gia đình có người mắc
bệnh tim mạch sớm [19]. Hiện tại, các nhà cung cấp dịch vụ y tế thường chỉ quan
tâm đến các triệu chứng, các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng cần thiết cho điều trị,
trong khi những thông tin về khả năng sinh hoạt, khả năng lao động, trạng thái tâm
lý và cảm xúc của người bệnh THA ít được quan tâm. Việc quan tâm đến CLCS của
người bệnh THA có tác động rất lớn đến việc tuân thủ điều trị và kiểm soát huyết áp
của người bệnh.
Cho đến nay chưa có nghiên cứu liên quan đến CLCS của người bệnh THA
được thực hiện tại tỉnh Trà Vinh. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát CLCS và các yếu tố liên quan đến
CLCS của người bệnh THA tại bệnh viện đa khoa Trà Vinh bằng thang đo SF-36
Health Version 2.0; qua đó cung cấp thơng tin hữu ích làm cơ sở trong việc đưa ra
khuyến nghị, đề xuất cũng như các giải pháp, chính sách chăm sóc sức khỏe phù
hợp nhằm nâng cao CLCS của người bệnh THA. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu
này với câu hỏi nghiên cứu như sau:
Điểm số CLCS của người bệnh THA từ 40 tuổi trở lên đang điều trị ngoại trú
tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017 là bao
nhiêu? Có mối liên quan giữa điểm số CLCS với đặc điểm dân số xã hội và
3
các yếu tố liên quan đến THA của người bệnh từ 40 tuổi trở lên được chẩn
đoán THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát:
Xác định điểm số CLCS và các yếu tố liên quan đến điểm số CLCS của
người bệnh THA.
Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định điểm số của 8 lĩnh vực sức khỏe và 2 thành phần sức khỏe thể chất
và sức khỏe tinh thần dựa trên bảng câu hỏi đo lường CLCS SF-36 của người
bệnh THA từ 40 tuổi trở lên đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa
Trà Vinh từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2017.
2. Xác định mối liên quan giữa điểm số CLCS với đặc điểm dân số xã hội và
các yếu tố liên quan đến THA của người bệnh từ 40 tuổi trở lên được chẩn
đoán THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh từ tháng
12/2016 đến tháng 4/2017.
4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TĂNG HUYẾT ÁP
1.1.1. Dịch tễ học
Tại Hoa Kỳ, theo kết quả của các cuộc khảo sát sức khỏe và dinh dưỡng
quốc gia (NHANES) từ năm 1999 đến 2010, tỷ lệ hiện mắc của THA vẫn ổn định ở
mức cao. Trong năm 2009 – 2010, tỷ lệ hiện mắc THA là 30,5% ở nam và 28,5% ở
nữ, tập trung ở người bệnh ĐTĐ, béo phì và lớn tuổi [40]. Theo Phân Hội Tăng
Huyết Áp Châu Âu và Hội Tim Mạch Châu Âu (ESH/ESC) năm 2013, tỷ lệ hiện
mắc của THA ở các quốc gia châu Âu nhìn chung là khoảng 30 – 45% dân số chung
với tần suất tăng dần theo tuổi [57]. Ở Châu Á, tỷ lệ THA ở Hàn Quốc là 32%,
Trung Quốc là 27% và Nhật gần 33,37% [9]. Riêng tại Việt Nam, theo thống kê
năm 1992 cho thấy tỷ lệ THA trên toàn quốc là 11,8%, tỷ lệ này vào năm 2002 ở
các tỉnh phía Bắc là 16,3%, và Hà Nội là 23% [9]. Đến năm 2012, một nghiên cứu
cắt ngang được công bố của Phạm Thái Sơn và cs thực hiện ở 8 tỉnh và thành phố
bao gồm 9.832 người từ 25 tuổi trở lên, cho thấy tần suất THA là 25,1% (28,3% ở
nam và 23,1% ở nữ) [72].
Tần suất THA ngày càng tăng gây ra nhiều gánh nặng kinh tế y tế cho xã hội.
Đối với người bệnh, THA dẫn đến nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe và
CLCS của họ. THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong 7,1 triệu người trẻ tuổi và
chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế)
[16].
Ước tính huyết áp tâm thu trong dân số giảm 5 mmHg sẽ làm giảm 14% tỷ lệ
tử vong do đột quỵ, 9% tỷ lệ tử vong do tim mạch và 7% tử vong do những nguyên
nhân khác [74, 85]. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy tình trạng kiểm sốt
huyết áp sẽ nâng cao CLCS của người bệnh ở các lĩnh vực sức khỏe thể chất và tinh
thần một cách có ý nghĩa thống kê [54, 59, 68].
Với sự tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị của y học, sự phát triển của các
chương trình sức khỏe cộng đồng và sự nhận thức của người dân thì tỷ lệ kiểm sốt
5
huyết áp ở các nước trên thế giới ngày càng cải thiện nhưng vẫn chưa cao. Tại Hoa
Kỳ, theo thống kê vào năm 2009 – 2010, tỷ lệ người bệnh THA nhận biết, điều trị
và kiểm soát huyết áp đã tăng lên đáng kể (74% nhận biết, 71,6% điều trị, 64,4%
kiểm soát) [40]. Theo nghiên cứu PURE của Chow CK và cs thực hiện ở 17 quốc
gia từ tháng 1/2003 đến tháng 12/2009, tỷ lệ kiểm soát huyết áp chung là 32,5%;
trong đó tần suất theo từng quốc gia và khu vực là 40,6% (Nam Á), 23,8% (Trung
Quốc), 30,5% (Malaysia), 20,7% (châu Phi), 38,5% (Bắc Mỹ và châu Âu), 33,6%
(Trung Đông) và 35,5% (Nam Mỹ) [34].
Ở nước ta, theo nghiên cứu của Phạm Thái Sơn và cs thì tỷ lệ nhận biết và
điều trị là 48,4% và 29,6%; trong số những người được điều trị, 36,3% người bệnh
được kiểm soát huyết áp [72]. Một nghiên cứu khác của Hà Đức Anh và cs trên
2.368 người từ 25 tuổi trở lên tại tỉnh Thái Nguyên năm 2011 cho thấy tỷ lệ tổng thể
của THA trong dân số tỉnh Thái Nguyên là 23%. Người cao tuổi, giới tính nam, và
thừa cân có liên quan chặt chẽ với một tỷ lệ cao hơn có THA, trong khi trình độ học
vấn cao hơn có liên quan với một tỷ lệ thấp hơn của việc có THA. Trong số những
người có THA, chỉ có 34% biết về tình trạng THA của họ, 43% những người được
biết THA có được điều trị, và trong số này, 39% người THA được kiểm soát [36].
Theo thời gian, sự thất bại trong kiểm sốt THA tồn cầu đã dẫn đến quan
niệm điều trị huyết áp một cách toàn diện bởi vì huyết áp khơng chỉ đơn thuần là
một con số mà là sự tương tác của nhiều yếu tố sinh học, tâm lý, mơi trường và xã
hội. Đó là một chiến lược điều trị huyết áp từ việc kiểm soát huyết áp, giảm các yếu
tố nguy cơ tim mạch và làm giảm các tổn thương cơ quan đích đến việc mang lại
một cuộc sống với chất lượng gần như người khỏe mạnh bình thường cho người
bệnh THA.
1.1.2. Định nghĩa tăng huyết áp
Theo Tổ chức Y tế thế giới, một người lớn được gọi là THA khi huyết áp
tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg
hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hằng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn
đoán THA [1, 88].
6
Bảng 1.1 Phân loại huyết áp
Phân loại
HATT (mmHg)
Tối ưu
HATTr (mmHg)
< 120
và
< 80
Bình thường
120 - 129
và/hoặc
80 - 84
Bình thường cao
130 – 139
và/hoặc
85 – 89
THA độ 1
140 – 159
và/hoặc
90 – 99
THA độ 2
160 - 179
và/hoặc
100 - 109
THA độ 3
≥ 180
và/hoặc
≥ 110
THA tâm thu đơn độc
≥ 140
và
< 90
Phân loại THA theo WHO-ISH, khuyến cáo của Hội Tim Mạch Việt Nam năm 2010
và hướng dẫn của Bộ Y tế
1.1.3. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp
THA thứ phát chiếm tỷ lệ tuy nhỏ khoảng 5% các trường hợp THA nhưng
có ảnh hưởng quan trọng đối với những người THA [47] thường gặp ở người trẻ
tuổi [2] nguyên nhân có thể do:
* Bệnh thận: Viêm cầu thận cấp hoặc mạn tính, viêm thận mạn mắc phải
hoặc bẩm sinh, thận đa nang, viêm đài bể thận do ứ nước, u thận làm tiết renin, hẹp
động mạch thận, suy thận [2, 15].
* Bệnh nội tiết: Cường Aldosterol tiên phát (hội chứng Conn), hội chứng
Cushing, phì đại tuyến thượng thận bẩm sinh, u tủy thượng thận (hội chứng
pheochromocytome), tăng calci máu, cường tuyến giáp, bệnh to đầu chi [2, 23].
* Bệnh tim mạch: hẹp eo động mạch chủ (THA chi trên, giảm HA chi dưới),
hở van động mạch chủ (THA tâm thu, giảm HA tâm trương), viêm hẹp động mạch
chủ bụng chỗ xuất phát động mạch thận [2, 23].
* Do thuốc: các hormone ngừa thai, corticoid, ACTH, chất gây chán ăn, chất
chống trầm cảm [23].
* Một số nguyên nhân khác: ngộ độc thai nghén hội chứng albumin niệu,
bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu, hội chứng carcinoid, toan hô hấp, tăng áp lực
nội sọ [2].
7
THA nguyên phát: Chiếm 95% trường hợp THA gặp ở người trung niên và
tuổi già. THA nguyên phát tuy không tìm thấy ngun nhân nhưng có một số yếu tố
nguy cơ.
1.1.4. Biến chứng tăng huyết áp [12]
Tăng huyết áp gây ra mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe của con người, là
nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu đối với những người lớn tuổi. Những
tổn thương cơ quan đích như sau:
* Các biến chứng về tim: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim.
* Các biến chứng về não: xuất huyết não, nhũn não, bệnh não do THA.
* Các biến chứng về thận: Đái ra protein, phù, suy thận.
* Các biến chứng về mắt: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị.
* Các biến chứng về mạch máu: Phình hoặc phình tách động mạch, các bệnh
động mạch ngoại vi.
1.1.5. Điều trị tăng huyết áp
1.1.5.1. Nguyên tắc chung
- Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi liên tục, điều trị đúng và
đủ hàng ngày, điều trị lâu dài.
- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim
mạch”.
- “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người
bệnh vẫn dung nạp được. Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục
tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg. Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục
duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh
kịp thời.
- Điều trị cần hết sức tích cực ở người bệnh đã có tổn thương cơ quan đích.
Khơng nên hạ huyết áp q nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan
đích, trừ tình huống cấp cứu.
8
1.1.5.2. Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống
Áp dụng cho mọi người bệnh để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp,
giảm số thuốc cần dùng …
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:
+ Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày).
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi.
+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no.
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối
cơ thể (BMI) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2
- Cố gắng duy trì vịng bụng < 90cm ở nam và < 80 cm ở nữ.
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2
cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc
chuẩn/tuần (nữ). 1 cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương với 330ml bia hoặc
120ml rượu vang, hoặc 30ml rượu mạnh.
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào.
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận
động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày.
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp
lý.
- Tránh bị lạnh đột ngột.
* Điều trị THA hoặc nguy cơ THA tập trung vào phòng ngừa hoặc làm chậm
lại THA, thông qua việc thay đổi lối sống trừ khi người bệnh có tổn thương cơ quan
đích, trong đó điều trị các trường hợp với các thuốc chống THA nên được bắt đầu
ngay lập tức. Nếu người bệnh có THA rõ ràng, việc điều trị trực tiếp hướng đến
phòng ngừa bệnh tim mạch và bệnh thận [5, 46].
1.2. CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG
1.2.1 Định nghĩa chất lƣợng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống không phải là một khái niệm mới. Nhiều khoa học như
xã hội học, tâm lý học và kinh tế học đã sử dụng nó. Trong nghiên cứu và thực hành
9
chăm sóc sức khỏe, chất lượng cuộc sống ngày càng trở nên quan trọng hơn kể từ
khi Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa về sức khỏe. Năm 1948, theo Tổ chức Y tế
Thế giới đã định nghĩa: “Sức khỏe là tình trạng hồn tồn thoải mái về thể chất, tinh
thần và các mối quan hệ xã hội chứ khơng chỉ đơn thuần là tình trạng khơng có
bệnh tật hay ốm yếu” [70]. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh
Hoa Kỳ (CDC): “CLCS là tác động của một bệnh mạn tính và sự điều trị của nó
trên nhận thức của người bệnh về chức năng thể chất và tinh thần của họ” [77].
Thuật ngữ “Chất lượng cuộc sống” và cụ thể hơn là “chất lượng cuộc sống
liên quan đến sức khỏe” (CLCS-SK). CLCS-SK đề cập đến các lĩnh vực thể chất,
tâm lý và xã hội của sức khỏe, được xem như phạm vi riêng biệt chịu ảnh hưởng bởi
sự nhận thức, sự kỳ vọng, niềm tin và kinh nghiệm của một con người [76].
Vào năm 1994, Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa CLCS là “sự nhận thức của
mỗi cá nhân về tình trạng hiện tại của cá nhân đó theo những chuẩn mực về văn hóa
và sự thẩm định về giá trị của xã hội mà cá nhân đó đang sống; những chuẩn mực
này gắn liền với mục tiêu, kì vọng và mối quan tâm của cá nhân đó” [83] do định
nghĩa này quá rộng, Mozes, Maor và Shmueli đề xuất một khái niệm mới được thu
hẹp hơn, đó là “CLCS liên quan đến sức khỏe” (health – related quality of life)
nhằm quan tâm vài lĩnh vực đặc biệt của CLCS liên quan đến sức khỏe [42].
Sau đó, Tổ chức Y tế Thế giới đã định nghĩa lại CLCS liên quan sức khỏe là
“sự đo lường các mối quan hệ kết hợp về thể chất, tinh thần; sự tự hài lòng và mức
độ hoạt động độc lập của cá nhân cũng như sự tác động của các mối quan hệ này
với các đặc tính nổi bật trong hồn cảnh sống của người đó” [42].
Vì CLCS bao gồm cả hai yếu tố chủ quan và khách quan nên việc đo lường
CLCS đòi hỏi liên quan nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ thuộc vào người nghiên cứu
muốn đánh giá khía cạnh nào. Sức khỏe chỉ là một yếu tố quan trọng của CLCS
nhưng không phải là duy nhất. Những yếu tố khác như văn hóa, tơn giáo, môi
trường, giáo dục và kinh tế cũng ảnh hưởng đến CLCS. Để thuận tiện cho việc trình
bày, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng cụm từ “CLCS” để thay thế cho
cụm từ “CLCS - liên quan sức khỏe” khi muốn đề cập đến vấn đề này.
10
Lịch sử phát triển của CLCS bắt đầu từ thập niên 70, vì vào năm 1975,
nghiên cứu về CLCS đã được ghi nhận trong các cơ sở dữ liệu Medline. Những
cơng trình y khoa về chủ đề này xuất hiện đều đặn trong y văn. Bắt đầu từ đây,
nghiên cứu về CLCS phát triển mạnh mẽ. Theo tổng kết của Bardelli và Saracci
năm 1978, trong khoảng 20 năm từ 1956 đến 1976, có khoảng 6 bài báo chuyên đề
ung thư nói về CLCS. Nhưng chỉ khoảng thời gia ngắn trong 2 năm 1978-1980,
theo tổng kết của Fayers và Jone năm 1983, có trên 200 bài báo nói về CLCS. Và
bằng chứng cho thấy đề tài CLCS đã được quan tâm thật sự là theo tổng kết của
Aaronson và cs năm 1988, thì từ năm 1972 đến năm 1987 đã có 3045 tài liệu đề cập
đến CLCS [28].
1.2.2. Lý do phải đo lƣờng CLCS [30, 86]
Thế giới ngày nay đang chứng kiến sự chuyển biến của mơ hình bệnh tật
trong dân số với sự dịch chuyển từ bệnh lây truyền sang bệnh mạn tính khơng lây
[78]. CLCS đóng vai trị quan trọng trong việc đánh giá tác động của các bệnh mạn
tính lên tình trạng sức khỏe của người bệnh. Trong những trường hợp này, các
thông số lâm sàng và cận lâm sàng khách quan như trị số huyết áp, các chỉ số sinh
hóa (đường huyết, Bilan lipid máu, creatinine huyết thanh…) cung cấp những thơng
tin rất hữu ích cho việc điều trị của các nhà lâm sàng nhưng lại tương quan kém với
tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của người bệnh [41]. Mặt khác, đối với người
bệnh điều mong muốn nhất là họ có cảm giác khỏe mạnh, có khả năng lao động
hoặc sinh hoạt không phụ thuộc vào những người xung quanh dù họ đang có bệnh.
Bởi vì người bệnh thường quan tâm đến tình trạng sức khỏe nói chung và khả năng
thích nghi đối với cuộc sống khi có những khiếm khuyết hay mất chức năng do
bệnh tật gây ra nói riêng, nên hai đối tượng có cùng tình trạng sức khỏe nhưng
CLCS cũng có thể rất khác nhau [76].
Trong nghiên cứu, đo lường CLCS giúp đánh giá và hiểu rõ hơn tác động của
bệnh tật, của điều trị và chăm sóc đến trạng thái sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm
thần của người bệnh. Đo lường CLCS còn được sử dụng để đánh giá hiệu quả của
11
các phương thức điều trị mới, hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự quan
tâm của người bệnh đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Bên cạnh việc đo lường hiệu quả điều trị, gánh nặng cũng như sự tác động
của bệnh tật lên một cá thể hoặc một nhóm người, đánh giá CLCS cũng góp phần
giúp cho điều tra nghiên cứu, giúp định hướng xây dựng hoạch định chính sách y tế,
giúp đánh giá việc thực hiện chính sách và chính sách tác động như thế nào đến
CLCS người bệnh [24].
1.2.3. Phân loại công cụ đo lƣờng CLCS
Có nhiều cơng cụ được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống. Tuy
nhiên, có hai cách tiếp cận đo lường CLCS căn bản là công cụ CLCS tổng quát và
công cụ CLCS chuyên biệt [41, 42]. Cả hai cách tiếp cận này không loại trừ nhau,
mỗi cách tiếp cận có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì thế, tùy theo hồn
cảnh mà chọn lựa cách tiếp cận phù hợp [41].
Công cụ tổng quát (Generic Instruments)
Công cụ tổng quát được sử dụng trong dân số chung để đánh giá có phổ thay
đổi rất rộng của các lĩnh vực sức khỏe và bệnh tật. Công cụ này khơng chun biệt
cho bất cứ tình trạng bệnh lý hay một dân số đặc biệt nào. Vì vậy cơng cụ này rất
phù hợp cho các nghiên cứu thăm dò sức khỏe tổng quát cũng như các nghiên cứu
so sánh CLCS của các tình trạng bệnh lý khác nhau [76]. Cơng cụ tổng qt bao
gồm hai thang đo chính là thang đo sức khỏe và thang đo tiện ích.
Thang đo sức khỏe: là bộ công cụ được thiết kế để cố gắng đo lường tất cả
mọi khía cạnh của CLCS.
Thang đo tiện ích: phản ánh mối quan tâm của người bệnh đối với quá trình
điều trị và kết quả điều trị. Theo đó, kết quả thang đo tiện ích là một dãy số liên tục
bắt đầu từ tử vong (0.0) đến sức khỏe tồn diện (1.0) mà điểm số tính được phản
ánh cả tình trạng sức khỏe và những tác động của tình trạng sức khỏe đó đối với
cuộc sống của người bệnh [15, 41].
12
Có nhiều thang đo tổng quát để đánh giá CLCS như: Short-Form 36 (SF-36),
Quality of life index (QLI) – Chỉ số CLCS, Sickness impact Profile (SIP) – Thang
điểm bệnh tật, WHOQOL – BREF.
Công cụ chuyên biệt (Specific Instruments)
Công cụ chuyên biệt tập trung vào những lĩnh vực phù hợp nhất với tình
trạng bệnh tật đang được nghiên cứu cũng như những đặc tính chun biệt của
nhóm dân số đang được khảo sát hay thậm chí chỉ đánh giá một vùng chức năng. Vì
vậy, cơng cụ này thường được sử dụng trong những thử nghiệm lâm sàng nhằm
đánh giá các phương pháp can thiệp điều trị chuyên biệt [41, 76]. Lý do sử dụng
cơng cụ chun biệt là vì các nhà nghiên cứu muốn tăng khả năng phát hiện thay
đổi CLCS về lâm sàng (dù đôi khi rất nhỏ) [15]. Một số thang đo chuyên biệt như:
QOL-HF (Bảng câu hỏi CLCS trên người bệnh suy tim, QOLMI – CLCS sau nhồi
máu cơ tim.
1.2.4. Các hình thức thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi CLCS
Việc thu thập số liệu dựa trên bộ câu hỏi CLCS có thể thực hiện bằng nhiều
cách, tùy theo những hoàn cảnh cụ thể mà nhà nghiên cứu sẽ chọn những cách thức
khác nhau. Mỗi cách đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng (Bảng 1.2)
Bảng 1.2. Các hình thức thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi CLCS
Ƣu điểm
Hình thức
Tăng tối đa tỉ lệ các câu
trả lời
Phỏng vấn trực tiếp
Giảm bỏ sót các câu hỏi
Giảm sai lệch do hiểu lầm
câu chữ
Phỏng vấn qua điện
thoại
Giảm bỏ sót các câu hỏi
Giảm sai lệch do hiểu lầm
câu chữ
Nhƣợc điểm
Cần nhiều nhân lực, người
phỏng vấn phải được huấn
luyện
Đối tượng khơng sẵn lịng nói
về các vấn đề sức khỏe của
mình
Giới hạn định dạng của bộ câu
hỏi
13
Ít tốn nhân lực hơn so với
phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn tự điền
Khơng cần nhiều nhân lực
Dễ bỏ sót câu trả lời, câu hỏi
và hiểu lầm câu chữ
Giảm stress cho nhóm
Phỏng
vấn
người đại diện
qua
mục tiêu – những người Nhận định của người đại diện
đáng lý được phỏng vấn có thể khác so với nhóm mục
(người lớn tuổi, đang bị tiêu
bệnh)
“Nguồn Gordon H. Guyatt và cs 1993”[41]
1.2.5. Cách lựa chọn công cụ đo lƣờng CLCS phù hợp
Việc lựa chọn công cụ đo lường CLCS thay đổi tùy theo đối tượng nghiên
cứu (bác sĩ lâm sàng, người bệnh, thân nhân,…), nơi nghiên cứu được thực hiện,
hình thức thu thập số liệu (phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn tự điền, phỏng vấn gián
tiếp…) và cách tiếp cận đánh giá tổng quát [15, 76]. Để có được một thang đo hữu
ích thì thang đo này khơng những phải có giá trị, phù hợp, đáng tin cậy, dễ giải
thích mà cịn phải đơn giản, hồn thành một cách nhanh chóng, dễ tính điểm và
cung cấp những dữ liệu hữu ích cho lâm sàng [11].
Đánh giá CLCS bằng bộ câu hỏi SF – 36 (Short – Form)
Trong số các công cụ đánh giá CLCS, chúng tôi chọn công cụ SF – 36 sử
dụng trong nghiên cứu của chúng tơi vì nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng
minh đây là công cụ khái quát nhất, tiêu chuẩn, dễ sử dụng, hiệu quả để khảo sát,
đánh giá CLCS [51, 55] được thế giới công nhận và dịch sang nhiều ngơn ngữ khác
nhau trong đó có Việt Nam.
Bảng đánh giá SF – 36 là một trong những bảng được sử dụng rộng rãi nhất
trên thế giới [84], lúc đầu SF – 36 có đến 250 câu hỏi đã được sử dụng trong nghiên
cứu RAND corporations Health Insurance Experiment (HIE) năm 1970 tại Mỹ, do
bảng câu hỏi quá dài, năm 1992 Ware và cs đã tóm gọn bảng câu hỏi thành bảng chỉ
có 36 câu hỏi bao gồm 8 yếu tố được biết với tên Medical Outcome Study Short
14
Form – 36, và ngày nay được rút gọn SF – 36 [35]. SF – 36 đã được sử dụng đánh
giá gánh nặng bệnh tật của hơn 130 bệnh khác nhau, trong số đó những bệnh lý
thường được dùng để đánh giá là bệnh viêm khớp, đau lưng, trầm cảm, ĐTĐ, bệnh
tim mạch, THA, bệnh thận.
Bảng câu hỏi khảo sát sức khỏe tổng quát SF – 36 của tác giả John E. Ware
đã được Quality Metric của Mỹ dịch ra 120 phiên bản ngơn ngữ khác nhau trong đó
có phiên bản ngơn ngữ Việt Nam.
Mơ hình cấu trúc của SF – 36
SF – 36 là bảng đánh giá gồm nhiều câu hỏi đo lường 8 lĩnh vực sức khỏe
được trình bày như sau:
- Lĩnh vực 1: Sức khỏe liên quan hoạt động chức năng (HĐCN)
- Lĩnh vực 2: Giới hạn hoạt động do khiếm khuyết chức năng (GHCN)
- Lĩnh vực 3: Sức khỏe liên quan cảm nhận sự đau đớn (CNĐĐ)
- Lĩnh vực 4: Tự đánh giá sức khỏe tổng quát (ĐGSK)
- Lĩnh vực 5: Sức khỏe liên quan hoạt động xã hội (HĐXH)
- Lĩnh vực 6: Giới hạn hoạt động do khiếm khuyết tâm lý (GHTL)
- Lĩnh vực 7: Sức khỏe liên quan cảm nhận sức sống (CNSS)
- Lĩnh vực 8: Sức khỏe tâm thần tổng quát (TTTQ)
SF - 36 gồm 36 câu hỏi nhưng chỉ có 35 câu hỏi tham gia xác định điểm số 8
lĩnh vực và hai thành phần sức khỏe, riêng câu thứ hai trong bộ câu hỏi SF – 36 nói
về việc tự đánh giá sự thay đổi sức khỏe cá nhân không được đưa vào phương pháp
tính điểm của lĩnh vực hay của thành phần sức khỏe mà chỉ có ý nghĩa lượng giá sự
thay đổi trung bình của tình trạng sức khỏe trong vòng một năm. Các nhà nghiên
cứu khẳng định rằng các yếu tố sức khỏe thể chất (SKTC) và sức khỏe tinh thần
(SKTT) tác động trên 80 – 85% sự thay đổi điểm số của 8 lĩnh vực sức khỏe này.
Tám lĩnh vực sức khỏe được chia thành 2 thành phần sức khỏe:
+ SKTC bao gồm: Hoạt động chức năng, giới hạn chức năng, cảm nhận đau
đớn và sức khỏe tổng quát.
15
+ SKTT bao gồm: Cảm nhận sức sống, hoạt động xã hội, giới hạn tâm lý và
tâm thần tổng quát.
Đánh giá CLCS bằng thang điểm SF-36: gồm 36 mục với tổng điểm 100.
+ 0 – 25 điểm: CLCS kém
+ 26 – 50 điểm: CLCS trung bình kém
+ 51 – 75 điểm: CLCS trung bình khá
+ 76 – 100 điểm: CLCS khá, tốt.
Sơ đồ 1.1. Mối tương quan giữa 8 lĩnh vực và 2 thành phần sức khỏe thể
chất và tinh thần trong SF – 36
Chữ viết tắt:
HĐCN: Hoạt động chức năng
HĐXH: Hoạt động xã hội
GHCN: Giới hạn chức năng
GHTL: Giới hạn tâm lý
CNĐĐ: Cảm nhận đau đớn
CNSS: Cảm nhận sức sống
ĐGSK: Đánh giá sức khỏe
TTTQ: Tinh thần tổng quát
1.2.6. Tăng huyết áp và CLCS
Lý do đo lường chất lượng cuộc sống ở người bệnh tăng huyết áp
Tăng huyết áp còn được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”. Người bệnh THA
nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ gây ra nhiều biến chứng nặng nề, thậm
chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao
động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình cũng như xã hội.
16
Bên cạnh đó, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới: sức khỏe là trạng
thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, không phải chỉ bao gồm
tình trạng khơng có bệnh hay thương tật. Tuy nhiên, thơng thường khi nói đến sức
khỏe mọi người thường quan tâm đến bệnh tật và ảnh hưởng của bệnh tật với các
triệu chứng thực thể, ít ai quan tâm tới các khía cạnh khác của cuộc sống như tinh
thần, quan hệ xã hội, và các yếu tố môi trường xung quanh cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến CLCS của người bệnh.
THA làm suy yếu đáng kể CLCS của người bệnh cả về sức khỏe thể chất lẫn
tinh thần [82]. Đồng thời, nhiều nghiên cứu trên thế giới phát hiện CLCS của người
bệnh THA bị ảnh hưởng đáng kể khi người bệnh mắc kèm theo bệnh mạn tính như
bệnh tim mạch [52, 58], suy tim [58, 62], béo phì [33, 58, 62], đái tháo đường [52,
62], đột quỵ, bệnh mạch vành, động kinh, bệnh tắc nghẽn đường hô hấp [62]. Ngồi
ra, các đặc điểm về tiền sử gia đình THA [52, 58], giới tính [33, 52, 62], trình độ
học vấn [52, 62] cũng là những yếu tố được tìm thấy liên quan đến CLCS của người
bệnh THA.
Vì những ảnh hưởng của THA đối với cuộc sống của người bệnh là rất nặng
nề, nên việc nâng cao CLCS của người bệnh THA, giúp người bệnh tự kiểm soát
HA và thay đổi lối sống của bản thân họ là vấn đề rất cần thiết. Việc dùng các công
cụ đo lường CLCS của người bệnh THA giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ y tế,
các nhà quản lý có cái nhìn tồn diện tình trạng SKTC cũng như SKTT của người
bệnh THA. Từ đó, đưa ra các chương trình can thiệp và kiểm soát HA hiệu quả hơn
trong tương lai ở một nước đang phát triển như Việt Nam.
Các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh THA:
CLCS của người bệnh THA có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố sau:
- Các yếu tố liên quan trực tiếp đến bệnh THA như thời gian mắc bệnh, tiền
sử gia đình, các yếu tố nguy cơ tim mạch, triệu chứng lâm sàng, tác dụng phụ của
thuốc, tuân thủ điều trị.