Ấn Độ một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, nơi sản sinh ra những nền
tôn giáo lớn vào bậc nhất trên thế giới. Trong đó, Hindu giáo và Phật giáo thể hiện rất rõ
nhân sinh quan và thế giời quan của người dân Ấn Độ. Bài viết này tập trung tìm hiểu về
quan niệm về “luân hồi” của hai tơn giáo này, từ đó, rút ra được những suy nghĩ, tâm tư,
tình cảm của người dân nơi đây về kiếp sống, luân lý, lẽ thường.
Luân hồi (zh. 輪 輪 , sa., pi. saṃsāra, bo. `khor ba 輪輪輪
輪輪輪輪), nguyên nghĩa Phạn ngữ là
“lang thang, trôi nổi”, thuật ngữ này chỉ những lần đầu thai tiếp nối nhau, trạng thái bị
luân chuyển của một linh hồn khi chưa đạt giải thốt. Hay nói cách khác, ln hồi là sự
chuyển hóa sự sống của một sinh vật qua nhiều kiếp theo sự tái sinh.
Người Tây phương hiểu luân hồi qua từ Metempsychosis (thuyết luân hồi), Tranmission
(truyền kiếp) hay Reincarnation (tái sinh). Theo Webster’s New World Encylopedia
(1992) thì thuyết luân hồi bao hàm ý nghĩa rằng sau khi chết, linh hồn của loài người
cũng như loài vật và ngay cả loài cây cỏ cũng sẽ chuyển sinh từ cơ thể này qua cơ thể
khác từ dạng này qua dạng khác tùy theo những gì đã gây ra lúc cịn sống.
Thuyết này được phát triển cách đây đến mấy nghìn năm và phổ biến khắp nơi trên thế
giới, từ Ai Cập, Hy Lạp cổ đại, đến các quốc gia Châu. Nhà triết học cổ đại nổi danh
Platon đã nhiều lần đề xướng trong các tác phẩm bất hủ của mình như tác phẩm Phaedo:
linh hồn hiện hữu trước khi nhập vào thể xác; linh hồn biệt lập với thể xác; và linh hồn sở
đắc năng lực nhận thức. Linh hồn bất tử, khi con người chết đi chỉ có thể xác phân hủy,
linh hồn cịn lại, vì linh hồn là cái tinh khiết, vơ hình, cao cả khơng phải hợp chất, theo lẽ
tự nhiên cái là hợp tố và hợp chất thế nào cũng tan vỡ thành phần cấu thành. Linh hồn
con người tuân theo kiếp luân hồi.
Vì xuất phát từ những truyền thống tương quan mật thiết với nhau, ảnh hưởng liên tục lẫn
nhau và phát triển lâu dài trong một mơi trường, dưới những điều kiện chính trị, xã hội và
kinh tế gần như giống nhau nên suốt tiến trình lịch sử của Hindu giáo và Phật giáo đều
mang những điểm tương đồng rất rõ. Và một trong những điểm tương đồng đó chính là
quan điểm ln hồi.
1. Khái quát chung về Hindu giáo và Phật giáo
1.1 HINDU GIÁO
Đạo Hindu là tổ chức tôn giáo lâu đời nhất thế giới qua các thời kỳ lịch sử: Vệ-Đà giáo
(Vedism), Bà-La-Môn giáo (Brahmanism), Hindu giáo (Hinduism). Khác với Kito giáo
và các tôn giáo khác ở phương Tây, Hindu giáo khơng có người duy nhất sáng lập, hệ
thống giáo lý, tổ chức trung ương tập quyền. Tôn giáo này bao gồm hàng nghìn nhóm tơn
giáo khác nhau được hình thành ở Ấn Độ từ 1500 năm TCN. Các tín đồ Hindu thờ nhiều
thần, trong đó, đối tượng thờ tự phân hoá theo ba hệ thống cơ bản: (1) hệ thống
Shaivisme sung tín thần Shiva, (2) hệ thống Shaktisme thờ phụng ngun lý nữ tính của
Shiva trong hình tượng vợ của thần được gọi theo nhiều tên khác nhau, (3) hệ thống
Vaishanavisme hướng đến thần Vishnu và các hoá thân cơ bản của thần.
Ngày nay Hindu là tôn giáo lớn thứ ba trên thế giới, sau Thiên chúa giáo và Hồi giáo,
Hindu có khoảng 840 triệu tín đồ – chiếm 80% dân số Ấn Độ và 13% dân số thế giới, và
là tơn giáo chính yếu nhất tại Ấn Độ, Nepal, và bộ tộc Tamil tại Srilanka.
1.2 PHẬT GIÁO
Phật giáo là một tơn giáo vĩ đại có độ phủ rộng vô cùng lớn trên thế giới. Khởi nguồn từ
Ấn Độ, Phật giáo lan toả hầu như khắp các nước ở bốn bề Đông, Bắc, Tây, Nam. Trải qua
hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển, đạo Phật du nhập vào trên 100 nước trên thế giới, ở
hầu khắp các châu lục nhưng ln với trạng thái ơn hồ, chưa bao giờ đi liền với chiến
tranh xâm lược hay xảy ra các cuộc thánh chiến. Tính đến năm 2008, đạo Phật có khoảng
350 triệu tín đồ và hàng trăm triệu người có tình cảm, tín ngưỡng và có ảnh hưởng bởi
văn hoá, đạo đức Phật giáo.
Người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa sinh năm 624 trước cơng ngun thuộc
dịng họ Thích Ca. Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau
khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm
tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử
luân hồi. Cuối cùng, Thái tử đến ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ đề và sau 49 ngày đêm
thiền định, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu
là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tư tưởng chủ đạo của đạo Phật là dạy con người hướng thiện, có tri thức để xây dựng
cuộc sống tốt đẹp yên vui trong hiện tại. Đạo Phật không cơng nhận có một đấng tối cao
chi phối đời sống của con người, không ban phúc hay giáng hoạ cho ai mà trong cuộc
sống mỗi người đều phải tuân theo luật Nhân – Quả, làm việc thiện thì được hưởng phúc
và làm việc ác thì phải chịu báo ứng. Ngồi ra, đạo Phật cũng thể hiện tinh thần đoàn kết
và khơng phân biệt giữa người tu hành và tín đồ, quan điểm của đạo Phật là “Tứ chúng
đồng tu”, đó là Tăng, Ni, Phật tử nam và Phật tử nữ đều cùng được tu và nếu ai có quyết
tâm đều có thể thành tựu như Đức Phật. Cùng với Hindu giáo, Phật giáo đã góp phần
quan trọng trong việc thiết lập những cách thức tư duy, phong cách sống cơ bản của Ấn
Độ.
2. Luân hồi trong giáo lý, kinh sách
2.1 QUAN ĐIỂM VỀ LUÂN HỒI
Ở Ấn Độ giáo, ý tưởng về sự luân hồi/đầu thai được giới thiệu lần đầu tiên trong Áo
nghĩa thư (Upanishad) (c. 800 TCN -), là những bản kinh về triết lý và tôn giáo được viết
bằng tiếng Phạn. Học thuyết về sự luân hồi là khơng có trong bộ kinh Vệ Đà – bộ kinh cổ
xưa nhất của Ấn Độ. Theo quan điểm của Ấn Độ giáo, đầu thai không thể giống như sự
xuất hiện trở lại của linh hồn hay một người ở trong một cơ thể vật chất, mà đúng hơn là
cảm nhận về thế giới chỉ tồn tại như một biểu thị xung quanh nhận thức, và điều này chỉ
được duy trì như là một hành động của tâm thức. Theo Adi Shankaracharya, thế giới như
chúng ta thường nhận biết nó chỉ là một giấc mơ: phù du và viển vông. Bị kẹt lại trong
Luân hồi là kết quả của sự thiếu hiểu biết về bản chất thực sự của sự sinh tồn. Con người
bị ràng buộc trong vịng vơ minh (ngu dốt) và huyễn ảo nhưng lại có khả năng thốt khỏi
chúng. Theo đó, đời người có 4 mục đích: dharma (hồn thành các nghĩa vụ ln lý, luật
pháp và tơn giáo); artha(mưu sinh và thành đạt trong xã hội); kama (thỏa mãn các ham
muốn nhưng biết tiết chế và điều độ); moksa (giải thốt khỏi vịng ln hồi) bằng cách
giải trừ hết các nghiệp (karma) vì khi chết mà vẫn cịn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào
kiếp sau ở thế gian, tức là luân hồi (samsara).
Luân hồi trong đạo Phật được cho là vòng quay của Thập Nhị Nhân Duyên. Bởi mười hai
nhân duyên ấy mà chúng sanh có sinh sinh hố hố mãi, khởi điểm và kết thúc của vòng
luân hồi. Luân hồi là từ dịch của từ Pàli “Samsàra” (hay Skt, Samsàra) có nghĩa là sự
chuyển sinh, sự tái sinh, sự đi đến. Thường, từ nói đủ là bánh xe sinh tử, hay bánh xe
chuyển sinh (Samsàracakka), diễn đạt đường sinh tử không có đầu, khơng có đi, quay
mãi như bánh xe quay trịn khơng tìm thấy điểm khởi đầu. Đây là ý nghĩa của từ luân hồi
(luân: bánh xe, hồi: quay tròn). Sách Atthasalĩnĩ định nghĩa danh từ Samsãra như sau:
“Luân hồi là sự tiếp diễn không ngừng của Ngũ uẩn, Tứ đại và Lục căn”. Giáo lý Thích
Ca cho rằng rằng chấp ngã là nguồn gốc sinh ra vô minh, và vô minh là đầu mối của luân
hồi sanh tử và đau khổ. Nói đến Luân hồi người ta thường quan niệm cái ta chuyển từ
kiếp này qua kiếp khác. Nhưng Phật giáo cho quan niệm về cái ta trường cửu là quan
niệm sai lầm và hoàn toàn giả tưởng. Luân hồi là để cầu giải thốt, nghĩa là dùng nó để
diệt cái Ta (ngã) hầu thoát khỏi luân hồi sinh tử.
2.2 LUÂN HỒI THEO LUẬT NHÂN QUẢ
Luật nhân quả trong đạo Hindu được thể hiện qua cặp nhị nguyên Nghiệp báo (karma) –
Luân hồi (Samsara). Ấn Độ giáo quan niệm rằng linh hồn (của bất kì thể sống nào – bao
gồm muôn thú, con người và cây cỏ) đầu thai có liên hệ một cách phức tạp với nghiệp
(karma). Nghiệp (nghĩa đen là hành động) là tổng của các hành động của một người, và là
lực sẽ quyết định sự đầu thai kế tiếp của người đó, vịng xoay của việc chết và tái sinh,
được điều khiển bởi nghiệp. Theo tư tưởng nghiệp báo và luân hồi, kinh Upanishad cho
rằng: “Người ta sẽ trở nên tốt vì hành động tốt và trở nên xấu với hành động xấu”[1] và
“Những người có hành vi tốt đẹp sẽ đầu thai vào kiếp tốt đẹp, hoặc thành Balamon, hoặc
thành người quý tộc hoặc thành thương nhân. Những kẻ có hành vi xấu xa sẽ phải đầu
thai vào những kiếp xấu xa như kiếp chó, kiếp lợn, hay những kẻ nơ lệ, tơi tớ”[2]. Bên
cạnh đó,quan điểm ln hồi cịn được thể hiện trong các thuyết Ashrama về 4 giai đoạn
mà con người phải trải qua, để cho đời sống trần thế nhập vào việc hành sự tôn giáo và để
đạt được sự giải thoát của linh hồn, tức là tránh khỏi luân hồi: (1) brahmacharga (học
tập); (2) grhastha (lập gia đình, tạo sự nghiệp); (3) vanaprastha (hướng về tâm linh); (4)
sanrgasu (thoát ly xã hội để tu hành). Và thể hiện qua tư tưởng Brahman (Đại Ngã) –
Atman (Tiểu Ngã), Brahman là nguồn gốc tối cao của vũ trụ, tức là Đại Ngã, là Đại Vũ
trụ, là Đại hồn, nay thường gọi là Thượng Đế; Atman là bản ngã của con người, là Tiểu
Ngã, là Tiểu hồn, Tiểu Vũ trụ. Nó chỉ là một phần rất nhỏ của Đại Ngã tách ra. Do đó,
Brahman và Atman đồng bản chất, nên thông đồng được với nhau. Tu luyện là để đạt
được sự giải thoát của linh hồn khỏi các khổ não ràng buộc nơi cõi trần để đem Atman trở
về hợp nhất với Brahman. Nhận thức được Chân lý này, khơng phải do trí tuệ, mà do sự
giác ngộ của tồn bộ bản thể. Nếu khơng giải thốt được thì không dứt khỏi Nghiệp
(Karma), tức là không dứt khỏi Luân hồi, phải đầu thai trở lại cõi trần, hết kiếp nọ tới
kiếp kia. Luật nhân quả chính là một phương thức để cho các thầy tu Bà-la-mơn giải thích
cho các tín đồ Hindu giáo về việc phân biệt đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ ngày nay.
Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là tam độc, gồm có tham ái (sa.
tṛṣṇā), sân (sa. dveśa) và si (sa. moha, hoặc vô minh, sa. avidyā). Luân hồi tuân theo
nguyên tắc của luật nhân quả qua sáu cõi, tùy vào nghiệp của chúng sinh đã tạo trong quá
khứ mà chúng sinh đó sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi: trời; thần; người; Atula; súc sinh;
quỷ đói (ngạ quỷ); địa ngục. Nghiệp (Karma), theo đúng định nghĩa của danh từ là hành
động hay việc làm.Theo Phật giáo, nghiệp được gây nên bởi hành, cụ thể là do thân,
miệng, ý tạo ra. Chúng ta sinh ra trong trạng thái mà chính hành động của ta trong quá
khứ đã tạo nên. Nếu trong kiếp hiện tại mặc dầu sống đời sống trong sạch mà ta gặp phải
những điều bất hạnh thì ta nên biết rằng đó là do nghiệp xấu của ta trong quá khứ. Trái
lại, nếu sống đời nhơ bẩn tôi lỗi mà ta vẫn được an vui hạnh phúc, giàu sang, may mắn,
thì đó cũng do nghiệp tốt của ta đã tạo trong quá khứ .
Đạo Phật quan niệm rằng, kiếp sau của chúng ta như thế nào là tùy thuộc vào 4 loại
nghiệp sau (1) Nghiệp cận tử: Đây là nghiệp quan trọng nhất. Khi chúng ta sắp chết
chúng ta sẽ tiếc nuối, vòng đời chúng ta sẽ được tua lại trong đó có những việc ta tiếc là
mình đã làm và cũng có những việc ta tiếc là đã khơng làm; (2) Tích lũy nghiệp: là
nghiệp sinh ra trong quá trình chúng ta sống. Nghiệp được sinh ra bởi Tâm, Thân, Miệng.
Mỗi một lời nói, suy nghĩ, hành động của ta đều gieo hạt và hạt đó sẽ nảy thành quả tốt
hay xấu tương ứng; (3) Tập quán nghiệp: là thói quen của ta sinh ra nghiệp; (4) Cực
nghiệp: Nghiệp tạo ra gây ra hậu quả nghiêm trọng, trái luân thường đạo lý như giết
người.
Luật nhân quả trong Phật giáo cũng khá tương đồng với Hindu giáo trong quan điểm về
nghiệp báo – luân hồi, thế nhưng, Phật giáo hướng tới xây dựng một xã hội cơng bằng,
bình đẳng, khơng phân biệt cao thấp, điều này hoàn toàn trái ngược với xã hội phân biệt
đẳng cấp mà Hindu giáo muốn tạo dựng.
2.3 CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
Đi từ trong bản thể luận đến hiện tượng luận, cả Phật giáo lẫn Hindu giáo đều thống nhất
rằng, cuộc đời này là sự giả tạm, là đau khổ. Bởi thế cho nên, sự giải thốt khỏi lĩnh vực
đó chính là yêu cầu cấp thiết nhất mà tất cả các thế hệ tư tưởng Ấn Độ đều nỗ lực tìm
kiếm. Tuy nhiên, đi vào trong triết lý, tư tưởng thì hai tơn giáo này đều có những chí
hướng khác nhau.
Đối với Hindu giáo, sự giải thốt chính là sự trở về với bản thể Phạm Thiên. Nhưng tại
sao phải trở về? Bởi vì tiểu ngã Atman đã ngày càng đi ra khỏi những quy luật của Đấng
sáng tạo. Nguyên nhân là do linh hồn đã bị vô minh, dục vọng làm ô nhiễm để rồi bị trôi
lăn trong sinh tử luân hồi không bao giờ trở về được nữa. Muốn diệt được dục vọng, vơ
minh thì khơng gì khác hơn là dùng Yoga để đạt được những trạng thái thiền định. Chính
trạng thái thiền định này giúp cho người Bà-la-mơn hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh
hưởng của Ý thức, cái mà họ cho rằng chính nó là ngun nhân của sự phân biệt đối đãi,
vô minh, ham muốn. Bởi thế, Hindu giáo chủ trương dùng trí tuệ đạt được bằng cách thể
nhập các loại định Yoga để loại bỏ sự kiềm tỏa của Ý thức, lúc đó sự giải thốt mới có thể
được xảy ra và bản ngã hoàn toàn được thể nhập vào đại ngã Brahman. Một ví dụ thường
được các tín đồ Hindu giáo dùng để ám chỉ điều này là sự không mộng mị của một giấc
ngủ. Câu chuyện giữa Indra và Prajàpati trong Upanisads kể lại trong một lần đối đáp,
Prajàpati đã trả lời câu hỏi của Indra rằng, người được hưởng giấc ngủ say khơng mộng
mị là bản ngã.
Cịn đối với Phật giáo, phạm trù giải thoát bao gồm: đối tượng để giải thoát, phương pháp
và kết quả:
Về đối tượng giải thoát, Phật giáo đồng ý với Hindu giáo khi cho rằng cuộc đời của con
người là đau khổ. Và nỗi khổ này khơng có ngun nhân nào khác ngồi vơ minh, ái dục.
Muốn hết khổ thì phải loại bỏ những nguyên nhân ấy. Tuy nhiên, quan điểm về vô minh
của Phật giáo khác với Ấn Độ giáo ở chỗ, nếu Ấn Độ giáo cho rằng vô minh là do mối
quan hệ giữa Ý thức và cảm giác hiện tượng quá sâu đậm dẫn đến sự mê đắm mà đánh
mất tính chất thanh cao của Bản ngã nên bị luân hồi sanh tử, thì Phật giáo lại cho rằng
“Bất tri Đệ nhất nghĩa đế vị chi vô minh” (không liễu tri được Đệ nhất nghĩa đế là vô
minh). Theo Phật giáo Nam truyền giải thích, vơ minh là khơng liễu tri được Tứ Đế, cịn
Bắc truyền Phật giáo thì cho rằng không giác ngộ được bản chất như thật của các pháp
gọi là vô minh. Bản chất như thật ở đây tức là bản chất khơng thật tính của các pháp và
Phật tính viên dung của chúng sinh. Và Phật giáo cho rằng muốn giải thốt thì trước hết
phải liễu tri được Đệ nhất nghĩa đế ấy. Cho nên, đối tượng giải thoát tất nhiên là con
người, nhưng đi sâu vào nội dung thì Hindu giáo chú trọng ở vấn đề đưa bản ngã con
người ra khỏi tầm ảnh hưởng của Ý thức, cịn Phật giáo thì lại phát triển Ý thức lên đỉnh
điểm của nhận thức, tức là Diệu Quan Sát Trí để chuyển hóa tâm thức và giác ngộ thật
tính các pháp.
Về phương pháp giải thốt, do hướng đến sự thể nhập của bản ngã vào Đại ngã làm đối
tượng nên các phương pháp của Hindu giáo để tiếp cận bao gồm thực hành các lễ nghi,
nghiên cứu Veda và thực hành Yoga với mục đích hạn chế Ý thức để đạt được giải thốt.
Trong khi đó, Phật giáo lại cho rằng giác ngộ được các pháp như thật “nó đang là” mới
được gọi là giải thốt. Điều này đã được đức Phật dạy rằng: “Yah pratìtysamutpàdam
paysyati so dharmam pasyati, yo dharmam pasyati so buddham pasyati” (Ai thấy lý
Duyên khởi, người ấy thấy Pháp. Ai thấy Pháp, người ấy thấy Phật”). Bởi vậy, trong Phật
giáo, các pháp môn, dù là lễ bái, dù là niệm Phật, hay tọa thiền, đả thất,… tất cả đều lấy
việc việc nâng cao sự nhận thức của tâm thức lên đến tột đỉnh của sự giác ngộ. Nói khác
hơn, tất cả chỉ vì hồn thiện tính năng tự hoạt của tâm, mà một trong các đại diện của cái
tâm ấy là Ý thức.
Về kết quả, để nói về kết quả của sự giải thoát, Hindu giáo và Phật giáo đều rất ít nói về
kết quả. Bởi đấy là chuyện bản thân mỗi người tự giác ngộ cho nên thật khó để có thể
trình bày những gì mà cả hai trào lưu tư tưởng đã đạt đến.
Trong Hindu giáo, Chàndogya Upanisads đã dùng đến câu chuyện giữa Prajapati và
Indra, đề cập đến 4 giai đoạn thể nghiệm Atman của Indra. Bốn giai đoạn đó là: (1)
Thức(Vishva); (2) Mộng(Taijasa); (3) Ngủ say không mộng(Pràjna); (4) Ý thức tâm
linh(Turiya). Với sự hồn tất cả bốn giai đoạn trên, người Hindu có thể được đồng nhất
Atman với Brahman đồng thời tận hưởng hạnh phúc của sự vĩnh hằng. Đây là thực tại mà
theo Hindu giáo, nó khơng thuộc về phạm vi của ngôn từ. Cho nên, mọi sự cố gắng để
diễn tả về nó đều vơ ích.
Trong Phật giáo, sự giải thốt tuy là rất khó nói nhưng khơng phải mang màu sắc của
huyền thoại như trong Veda. Nó đã được đức Phật và chư vị Đại đệ tử Phật chứng ngộ
một cách rõ ràng. Trong kinh Trung Bộ, đức Phật đã mơ tả lại những gì Ngài đã thành tựu
được sau 49 ngày nhập định quán sát. Nó có thể được tóm tắt vào những giai đoạn: (1)
Giai đoạn Sơ thiền: diệt trừ dục và các bất thiện pháp, đi kèm với tầm và tứ, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh; (2) Giai đoạn Nhị thiền: diệt tầm và tứ, phát triển nội tĩnh và
nhất tâm, một trạng thái hỷ lạc do định sanh; (3) Giai đoạn Tam thiền: diệt hỷ, chánh
niệm tỉnh giác với một lạc thọ về thân; (4) Giai đoạn Tứ thiền: diệt trừ các cảm thọ lạc và
khổ, ly hỷ và ưu, phát triển xả và niệm thanh tịnh. Sau khi đã thanh tịnh tâm, Ngài phát
triển tâm về các phạm trù mà nó đã đem đến cho những thành tựu mà sau này được gọi là
sự chứng ngộ của bậc Thánh. Như vậy, sự chứng ngộ trạng thái giải thoát trong Phật giáo
là một sự thật rất rõ ràng như là một kinh nghiệm đã được từng trải. Nhưng Phật giáo rất
ít khi nói về điều đó, hay nói khác hơn, đạo Phật ít quan trọng đến việc trình bày trạng
thái ấy như là một cái gì. Sở dĩ như vậy là vì, thứ nhất là kinh nghiệm giác ngộ trong Phật
giáo có nhiều tầng bậc khác nhau tùy thuộc vào nỗ lực dụng cơng thanh lọc tâm của hành
giả nên nó khơng có một tiêu chuẩn nhất định, vì vậy, nếu trình bày những kinh nghiệm
chứng ngộ ấy tất sẽ có hại cho những người chưa có sự trải nghiệm và dẫn đến sự phỉ
báng hay cố chấp; Thứ hai là nó thuộc về lĩnh vực của thực nghiệm, nên sự nói về sẽ có
thể trở ngại cho người học. Bởi thế nên trong Phật giáo rất thận trọng khi nói về những
kinh nghiệm này.
3. Luân hồi trong thực tiễn cuộc sống
3.1 LUÂN HỒI TRONG KHOA HỌC CHIÊM TINH
Trong Hành trình về Phương Đơng do Nguyên Phong phóng tác từ tác phẩm của Baird T.
Spalding cho rằng chiêm tinh học là một khoa học thực tiễn và tiến bộ và khơng thể có
vấn đề mê tín. Khi sinh ra đời, mỗi cá nhân đều mang sẵn một tài sản khác nhau, đó là
nghiệp báo. Các nghiệp báo này dù xấu hay tốt đều ẩn chứa trong tàng thức và trở thành
động lực chi phối cuộc đời của mỗi con người. Động lực này luôn bị các mãnh lực trong
vũ trụ tác động một cách phức tạp tạo thành một thứ gọi là tia vũ trụ (cosmic rays). Các
tia vũ trụ này không tác động ồ ạt đến con người mà tùy thuộc vào sự thay đổi của tinh tú
để phản chiếu xuống cuộc sống thực tại. Chiêm tinh học nghiên cứu sự xê dịch, vận hành
của tinh tú mà đoán biết được các ảnh hưởng đến con người trong kiếp sống hiện tại. Khi
nghiên cứu chiêm tinh con người làm sáng tỏ rằng không có một đấng thần linh nào
thưởng phạt hay kiểm sốt các hành động của chúng ta mà tất cả chỉ là hậu quả do những
việc làm mà chúng ta đã gây ra. Tinh tú chỉ là biểu tượng, nó khơng liên quan đến chúng
ta mà chính dĩ vãng của ta ảnh hưởng đến đời sống hiện tại. Tinh tú chỉ phản chiếu lại các
ảnh hưởng này và chúng ta sẽ không hiểu được khoa chiêm tinh nếu không tin vào quan
niệm luân hồi. Tinh tú chỉ là những khí cụ trung gian biểu lộ một cách trung thực các tác
động bình quân của nghiệp quả gây nên trong quá khứ. Mỗi người được sinh ra đời vào
một ngày giờ mà ảnh hưởng của tinh tú hòa hợp với nghiệp quả cá nhân của người đó.
Định mệnh sẽ đồng hành và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người theo luật nhân quả.
Lá số tử vi của con người qua chiêm tinh học khơng có nghĩa con người là nơ lệ của q
khứ mà nó thể hiện sự tuần hồn của vũ trụ, trong đó con người có thể thay đổi số mạng
của mình. Mặc dù con người khơng hể thay thể thay đổi những việc xảy ra trong quá khứ,
nhưng nhờ ý chí tự do họ có thể vượt ra khỏi tầm ảnh hưởng này và chiến thắng ảnh
hưởng của tinh tú.
3.2 LUÂN HỒI TRONG ĐỊNH HƯỚNG HÀNH VI
Hoài nghi về cuộc sống của con người sau cái chết vẫn là vấn đề mà tồn thể nhân loại
muốn tìm hiểu. Ln hồi chỉ ngừng khi bản thân chúng ta khơng cịn tạo nghiệp. Chắc
chắn con người ln tin 12 vịng nhân duyên xoay vần như bánh xe từ vô thủy cho đến vơ
chung. Có người phủ nhận cũng như có người bác bỏ nhưng dù là như thế nào đi chăng
nữa thì với vịng ln hồi ấy vẫn khun con người ta nên sống có ích có trách nhiệm
cũng như tránh làm hại người khác.
Khơng ai có thể biết được có cịn gì sau cái chết. Nhưng bởi có lịng tin về luân hồi nên
biết cố gắng hết mình dùng quãng thời gian được sống để theo đuổi đam mê hay sống với
tất cả tình u thương cũng như hồi bão trong tâm hồn mình đừng để bản thân phải hối
hận vì khơng thể làm điều mình muốn khi cịn sống.
Con người tin chết đi sẽ trải qua vòng luân hồi, kỳ thực bản thân con người chết đi không
phải giống như đèn tắt, cũng không nhất định là được đầu thai làm người mà chắc chắn sẽ
thuận theo nhân duyên nghiệp báo mà chuyển sinh. Theo đó thì người làm việc tốt sẽ
được lên thiên đàng còn người làm việc ác sẽ bị đọa xuống địa ngục chịu tội. Không thể
một người ln làm điều ác mà lại có kết cục giống như người cả đời chỉ biết làm việc
thiện giúp người, đó là thiên lý. Sở dĩ con người ta cho rằng khơng có kiếp sau là bởi vì
chính họ khơng tận mắt nhìn nó cho nên khơng tin. Nhưng có thể thấy trong cuộc sống
thường ngày của chúng ta chẳng phải cũng có rất nhiều điều mà bản thân ta khơng nhìn
thấy nhưng nó vẫn ln tồn tại. Luân hồi giúp con người tự thân cố gắng tự vươn lên
trong cuộc sống mà khơng ốn trách một ai. Đời sống không được xem như bắt đầu với
việc sinh hay chấm dứt với sự chết, nhưng nó như là một sự hiện hữu tương tục trong
hiện tại và mở rộng vượt xa hơn nữa với quá khứ cũng như tương lai. Bản chất của những
hành động xảy ra trong phạm vi một kiếp sống tốt hay xấu quyết định số phận tương lai
của mỗi con người. Luân hồi chắc chắn được liên kết gần gũi với ý tưởng tái sinh, nhưng
chủ yếu liên hệ đến điều kiện của đời sống con người hay những kinh nghiệm về sự sống.
Kết luận
Nhìn chung, tơn giáo ln hướng đến lý giải về thế giới vũ trụ và con người. Tuỳ vào tâm
thức của cộng đồng, dân tộc phù hợp mà mỗi tôn giáo phát triển thế giới quan, nhân sinh
quan khác nhau. Với việc lý giải quan niệm Luân hồi và đặt hai tôn giáo này trong mối
tương quan so sánh ta thấy được nhiều điểm tương đồng và dị biệt. Hindu và Phật giáo
vốn xuất phát từ những truyền thống tương quan mật thiết với nhau, ảnh hưởng liên tục
lẫn nhau và phát triển lâu dài dưới những điều kiện chính trị, xã hội và kinh tế gần như
giống nhau nên suốt tiến trình lịch sử quan niệm Luân hồi của Hindu giáo và Phật giáo
mang những điểm tương đồng rất rõ. Luân hồi là một trong những yếu tố cốt lõi xuyên
suốt trong hai tôn giáo (Hindu giáo, Phật giáo) mà tất cả mọi phương pháp tu tập, thờ
cúng đều nhằm thoát khỏi kiếp luân hồi, đạt được Niết bàn. Hơn thế nửa, Luân hồi đến
nay không nằm trong khuôn khổ của một tơn giáo nào mà cịn len lỏi trong suốt đời sống
con người, ứng dụng trong điều chỉnh hành vi con người hướng thiện, trở thành một
trong những đối tượng nghiên cứu và ứng dụng của các nghành khoa học xã hội và tự
nhiên khác. Nhìn một cách khách quan, con người khơng cố tìm gặp ln hồi, vì đơi khi
ln hồi đang trơi chảy ngay trên thân của mỗi con người giống như dòng máu luân lưu.
Cái khổ đau nhất của người đời chính là tham muốn và nắm giữ những thứ thuộc về
người khác. Bản thân mỗi người hãy cố gắng tập buông bỏ từ từ, cái tâm lý tham muốn
hay nắm giữ để một mai khi vơ thường bất chợt đến và thần chết tìm đến ta thì lúc đó ta
có thể lập tức sự từ bỏ tất cả những thứ ở trần thế và khơng có chút tham luyến gì và
chính bản thân ta cảm nhận được sự thanh tịnh cũng như bình an trong chính tâm hồn
mình. Đó chắc chắn là điều kiện tối thiểu và cần thiết cho sự tái sinh vào một đời sống tốt
đẹp và cao cả hơn.
Tài liệu tham khảo
TÀI LIỆU SÁCH
1.
Dỗn Chính (chủ biên) 2011, Veda – Upanishad Những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ
Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật.
2.
Deepak Chopra 2009, Sự sống sau cái chết, Nhã Nam – Nhà xuất bản Văn Hóa
Sài Gịn.
Thích Nữ Giới Hương, 2008, Vịng Ln Hồi, Nhà sách Phương Đông: Tủ Sách
3.
Bảo Anh Lạc.
Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2015, Tư tưởng triết học giáo dục của Plato, Tạp chí
4.
Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2.
Ngun Phong, 2017, Hành trình về Phương Đơng, phóng tác từ tác phẩm của
5.
Baird T. Spalding, NXB Thế Giới.
Lương Duy Thứ (CB), 2000, Đại cương Văn Hóa Phương Đơng, NXB
6.
ĐHQG Tp.HCM.
TÀI LIỆU INTERNET
Tâm Diệu, Quan niệm giải thốt trong Phật Giáo và Bà La Môn Giáo –
7.
/>Thánh Hiền Đường, 1979, Ebook Địa ngục du ký, dịch giả Đào Mộng Nam,
8.
Lương Sĩ Hằng, />Đặng Thị Lan, Về vai trò của đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội, Tạp chí Triết
9.
học, số 2 (189), tháng 2 – 2007,
/>Martin Willson, 2006, Ebook Thuyết Luân Hồi và Phật Giáo Tây Phương(Rebirth
10.
and
the
Western
Buddhist),
dịch
giả
Đại
đức
Thích
Ngun
Tạng, />11.
Minh
Nga, Đơi
nét
về
đạo
Phật
và
Giáo
hội
Phật
giáo
Việt
Nam, />iao_hoi_Phat_giao_Viet_Nam
12.
Thích Lệ Thọ, 2011, Triết học Bà La Môn – />[1] The Upanishad, Vol 3, “Brihadranyaka Upanishad” III, 2, 13, Bonanza Books,New
York, 1956, p.208 [dẫn theo Dỗn Chính (chủ biên) 2011, Veda – Upanishad Những bộ
kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật].
[2] The Upanishad, Vol 4, “Chhandogya Upanishad” V 10, 7, Bonanza Books,New York,
1956, p.270 [dẫn theo Dỗn Chính (chủ biên) 2011, Veda – Upanishad Những bộ kinh
triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật].