Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (690.19 KB, 75 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
<b>Văn học trung đại</b>
“Chun ngêi con g¸i Nam Xơng Nguyễn Dữ
* <i>Vấn đề nghị luận: Nhân vật Vũ Nơng là ngời phụ nữ đẹp ngời, đẹp nết(đảm đang, hiếu nghĩa, thuỷ</i>
<i>chung, trong trắng nhân hậu), nhng cuộc đời bất hạnh.</i>
<b>Dµn ý chi tiÕt:</b>
<b>1) Mở bài: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đợc mệnh danh là một “áng thiên cổ kì bút”. Chuyện</b>
NCGNX là truyện thứ 16/20 truyện của tác phẩm đó. Truyện viết về VN – một ngời phụ nữ đẹp ngời đẹp
nết nhng bất hnh.
<b>2) Thân bài: </b>
<b>a) Khỏi quỏt: Nhõn vt trung tõm của truyện là VN. Nàng hiện lên với những phẩm chất đáng khâm phục</b>
tự hào. Đó là đảm đang, tháo vát, thuỷ chung, trong trắng, nhân hậu nhng phải chịu một cảnh đời bất hạnh
trái ngang và cái chết đầy oan khuất.
<b>b) Ph©n tÝch:</b>
<b>* Đặc điểm 1: VN là ngời phụ nữ đẹp ngời đẹp nết:</b>
<b>+ Đẹp ngời:</b>
- Mở đầu câu chuyện tác giả đã giới thiệu VN là ngời con gái “Thuỳ mị, nết na, lại thêm t dung tốt đẹp”.
Chỉ bằng một lời giới thiệu ngắn gọn đó thơi cũng đủ làm cho ngời đọc hình dung đợc một nàng Vũ Nơng
có một vẻ đẹp trọn vẹn cả về hình thức lẫn phẩm chất.
- Nàng đẹp đến mức khiến Trơng Sinh con nhà giàu phải say đắm, cảm mến và xin với mẹ trăm lạng vàng
để cới nàng về làm vợ.
<b>+ §Đp nÕt:</b>
-> VN khơng những là ngời phụ nữ xinh đẹp mà nàng còn là ngời phụ nữ đảm đang, hiếu nghĩa, thuỷ
chung.
- Tác giả đã đặt VN vào nhiều h/cảnh khác nhau nhng ở hoàn cảnh nào nàng cũng đều bộc lộ những p/c
tốt đẹp của mỡnh.
<b>+ Đảm đang:</b>
<b>- L ngi ph n yu ui, trong thời buổi loạn lạc, chồng phảI chinh chiến nơI xa. Mọi việc lớn nhỏ đều</b>
dồn lên vai nàng nhng VN đều đảm đơng vẹn toàn chu tất. Nàng phụng dỡng mẹ già, nuôi dạy con thơ.
Đạo dâu con, nghĩa vợ chồng, tình mẹ con nàng đều trọn nghĩa vẹn tình.
<b>+ HiÕu th¶o:</b>
Với mẹ chồng, nàng là ngời con dâu hiếu thảo, hiền thục. Trong lúc TS đi vắng, VN thay chồng chăm sóc
cho mẹ thật chu đáo. Khi bà ốm, nàng “hết sức thuốc thang”, và “cịn tìm đờng lễ bái thần phật” mong
muốn đấng linh thiêng vơ hình sẽ phù hộ cho mẹ chồng khỏi bệnh. Nàng còn “lấy lời ngọt ngào khơn
khéo khun lơn”. Nhng vì sức yếu, mẹ già qua đời, lại một mình nàng lo ma chay, tế lễ chu đáo nh đối
với cha mẹ đẻ của mình. Ngịi bút của Nguyễn Dữ tỏ ra già dặn, nhà văn đã để cho chính bà mẹ chồng
nhận xét về tấm lòng hiếu thảo của nàng trớc khi bà qua đời. Lời trăng trối của bà mẹ chồng trớc khi mất
chính là một sự ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của ngời con dâu đối với gia đình nhà chồng.
Trong con mắt của bà mẹ chồng, nàng là ngời “lành”. Nàng làm tất cả những việc đó khơng phải vì trách
nhiệm mà là tình yêu thơng thực sự đối với mẹ chồng.
<b>+ VN là ngời mẹ hết mực yêu con:</b>
- Tỡnh yờu thng chồng nàng dồn cả cho con, chăm sóc con thơ chu đáo. chính tình u thơng con vơ hạn
nên nàng đã nghĩ ra chuyện “cáI bóng” để muốn cho con đợc hởng trọn niềm hạnh phúc có đủ cả cha ln
m.
<b>+ Với chồng nàng là ngời vợ thuỷ chung, trong trắng yêu chồng tha thiết:</b>
- H/ảnh cái bóng còn thể hiện nỗi nhớ chồng tha thiết của nàng mình víi ta nh h×nh víi bãng.
- Khi mới về nhà chồng, biết chồng có tính đa nghi hay ghen nên nàng ln giữ “khn phép” để vợ
chồng ln ln hồ thuận hạnh phúc.
- Cuộc sống vợ chồng sum vầy chẳng đợc bao lâu thì TS phải đi lính. Khi tiễn chồng ra trận, VN ân cần
chu đáo rót chén rợu đầy và nói những lời mà ai nấy đều ứa hai hàng lệ “chàng đI chuyến này thiếp chẳng
dám mong đợc đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm, chỉ mong ngày về mang hai chữ bình yên thế là đủ rồi”.
Ước mong của nàng thật bình dị, khơng màng đến công danh, võng lọng mà chỉ khát khao cuộc sống bình
yên, vợ chồng, con cáI đợc xum họp bên nhau.
- Tình u thơng chồng của VN cịn đợc thể hiện trong nỗi lo lắng, trong sự cảm thông với những gian lao
vất vả mà chồng phảI chịu đựng nơI chiến trờng. Nàng ln dõi theo hình bóng của chồng. Tác giả đã
miêu tả thật xúc động nỗi buồn nhớ thơng chồng khắc khoải, triền miên của nàng. Thời gian cứ trôi, cảnh
vật cứ thay đổi, mùa xuân vui tơI bớm lợn đầy vờn, mùa đơng ảm đạm mây che kín núi cịn lịng ngời thì
dằng dặc một “nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn đợc”.
sự mất nết h thân nh lời chàng nói.”, Nàng nói về tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lịng trong trắng
chung thuỷ của mình. Trong những lời nói ấy, VN đã cố gắng tìm mọi cách để hàn gắn tình cảm gia đình
đang có nguy cơ tan vỡ, nhng mọi cố gắng của VN đều vơ ích, nàng vơ cùng đau khổ vì khơng thể nào
minh oan đợc cho mình. Có lẽ chỉ có cái chết mới có thể giúp nàng khẳng định đợc tấm lòng thuỷ
chung,trong trắng. Hành động tự vẫn của nàng chính là một hành động quyết liệt để bảo toàn danh dự.
- Sống dới thuỷ cung, đợc Linh Phi cứu sống, đợc hởng cuộc sống đầy đủ, sung sớng nhng nàng vẫn
không nguôi nhớ thơng chồng con, vẫn không chút hờn giận chồng, vẫn mong đợc chồng hiểu và giải oan
cho mình. Nàng đúng là một ngời phụ nữ thuỷ chung, nhân hậu, giàu lòng vị tha, thật đáng khâm phục.
<b>=> Vũ Nơng có tất cả những vẻ đẹp của ngời phụ nữ Việt Nam. Công dung ngôn hạnh, lẽ ra nàng đợc </b>
h-ởng một cuộc sống hạnh phúc, ấm êm. Nhng trớ trêu thay, xã hôI phong kiến ấy giễu cợt số phận của
nàng, cuộc i VN li vụ cựng bt hnh.
<b>* Đặc điểm 2: Sè phËn bÊt h¹nh cđa VN</b>
- VN đẹp ngời đẹp nết nh vậy lẽ ra nàng phải đợc sống hạnh phúc. Nhng trong cuộc hơn nhân khơng bình
đẳng, xã hội coi trọng ngời giàu, nàng trở thành một món hàng trị giá 100 lạng vàng để bán cho TS.
- Nỗi bất hạnh của Vn là lấy phải một ngời chồng khơng có học, lại có tính đa nghi, độc đốn và chuyên
quyền.
- Tởng rằng ngời con gái đi lấy chồng, đợc dựa nhà chồng, đợc chồng giúp đỡ chở che? Nhng ngợc lại VN
lấy chồng chẳng đợc bao lâu, TS phải đi lính . Mọi cơng việc gia đình đổ lên đôi vai yếu ớt của nàng: Sinh
con, nuôi con, phụng dỡng mẹ chồng…
- Gia đình mà nàng vun thu xây đắp khơng ngồi khát vọng chờ chồng về để h ởng hạnh phúc ngọt ngào
êm ấm. Nhng thật phũ phàng. Trơng Sinh về, hạnh phúc đâu có mỉm cời mà ngợc lại, nàng bị chính ngời
chồng của mình nghi cho nàng là thất tiết chỉ vì một lời nói ngây thơ của bé Đản.
- Ngời chồng mà nàng hết mực yêu thơng, thuỷ chung chờ đợi bấy nay giờ trở nên vũ phu độc ác. Nàng bị
<b>=> Cái chết oan khuất bi thảm của VN, nói nên số phận khổ đau, bế tắc của ngời phụ nữ trong XHPK . Sự</b>
ra đi vĩnh viễn của VN không chỉ làm sáng tỏ tấm lòng trong trắng, thuỷ chung của nàng mà cịn có sức tố
cáo mạnh mẽ XHPK hà khắc, chế độ nam quyền bất công. Thật đau đớn xót thơng cho ngời phụ nữ nh
VN. Khổ đau oan trái khơn lờng. Thật ốn ghét ngời chồng nh TS: khơng có học ghen tng đến mù
qng…Cái chết của nàng Nơng đã để lại cho nhân gian bao m c, gin hn, cm ghột xó hụ phong
kin.
<b>* Đánh giá nhân vật:</b>
- Vi cm hng nhõn o Nguyn D đã xây dựng thành cơng hình tợng nhân vật VN với những phẩm
chất tốt đẹp của ngời phụ nữ hoàn hảo, nhng lại chịu số phận đầy bất hạnh bi thơng. Phải chăng Vn là số
phận tiêu biểu cho kiếp ngời phụ nữ trong xã hội PK xa: XH mà chế độ nam quyền ngự trị, một XH
không có cơng bằng, một XH chỉ có tranh giành quyền lực gây chiến tranh gây nên cảnh hạnh phúc gia
đình tan vỡ. Từ cuộc đời của VN với những nỗi bất hạnh khổ đau mà nàng phải gánh chịu, ta liên tởng tới
cuộc đời nàng Kiều, cuộc đời của ngời phụ nữ trong bài Bánh trôi nớc của HXH, Thị Kính trong “ Quan
âm Thị Kính” họ đều là những ngời phụ nữ đẹp, đáng trọng, nhng cuộc đời lại ln gặp oan trái. có lẽ
trong XHPK khơng có chỗ dung thân cho những ngời phụ nữ đẹp, đức hạnh. Sự ra đi vĩnh viễn của VN
không chỉ gián tiếp tố cáo chế độ PK, mà cịn nói lên khát vọng của ngời phụ nữ muốn đợc tôn trọng và
đ-ợc hởng c/s hạnh phúc.
<b>3) KÕt bµi:</b>
- Chuyện NCGNX của ND đã trải qua hàng bao thế kỉ nhng nỗi đau nhân gian vẫn còn âm ỉ...khắc
khoải...giận hờn. VN đã trở thành hình tợng nhân vật phụ nữ đẹp trong văn học Việt Nam thế kỉ 16,
Dờng nh Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của ngời phụ nữ VN vào hình tợng VN. Thời
đại VN sống đã cách quá xa chúng ta nhng mỗi khi đọc lại câu chuyện tình đầy oan khuất này, mỗi chúng
<b>---Chun ngời con gái nam xơng </b><b> Nguyễn dữ</b>
<b> bi: Phõn tích giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực của Chuyện ng</b>“ <b>ời con gái Nam </b>
<b>X-ơng .</b>”
<b> 1.Më bµi:</b>
ng-ời con gái Nam Xơng” đạt đợc những thành công xuất sắc về giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Những
điều đó đã tạo nên giá trị lâu dài của tác phẩm.
2.Th©n bµi:
<b> Nói đến nội dung của truyện ta phải nói đến giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Đây là những giá</b>
trị đặc sắc của truyện, giá trị này đã xuyên suốt tạo nên sự thành công của tác phẩm. Truyện đã phản ánh
về số phận đau thơng của nàng Vũ Nơng- ngời con gái quê ở Nam Xơng- một cô gái đẹp ngời, đẹp nết :
Thuỳ mị nết na là lại thêm t dung tốt đẹp. Cũng vì mến mộ đức hạnh của nàng mà Trơng Sinh đã xin mẹ
100 lạng vàng cới nàng về làm vợ.
Vũ Nơng là một ngời phụ nữ đức hạnh , thuỷ chung, hiếu thảo, tiết nghĩa, yêu thơng chồng con hết
mực. Nàng là hình ảnh tiêu biểu của ngời phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất đáng quý, đáng trọng.
Phẩm chất tốt đẹp ấy của nàng đợc nhà văn ca ngợi ngay từ những ngày đầu chung sống, biết tính
chồng hay ghen, đa nghi Vũ Nơng ln giữ gìn khn phép không để vợ chồng phải dẫn đến những điều
tiếng thất hoà.
Nhng cuộc đời nàng là những trang buồn đầy nớc mắt. Trơng Sinh tuy con nhà hào phú nhng ít học
Trong cuộc chia ly đầy cảm động đã cho ta hiểu thêm phẩm chất và tính cách của ngời phụ nữ Nam
X-ơng. Lời dặn dị đầy tình nghĩa, thuỷ chung, sự chia sẻ, cảm thông với những nỗi vẫn vả của chồng nơi
chiến trận khiến ta càng yêu quý Vũ Nơng. Nàng không phải là ngời phụ nữ ham danh vọng nh bao nhiêu
ngời phụ nữ khác, không mong đợc vinh hoa phú quý võng anh đi trớc, võng nàng theo sau. Tiễn chồng đi
nàng chỉ mong chàng trở về đợc hai chữ bình yên thế là đủ rồi. Ngời phụ nữ ấy có tính cách dịu hiền, có
phần yếu đuối, phải chăng cái ớc mơ về một gia đình trọn vẹn, hạnh phúc ln ẩn náu trong trái tim nàng
đợc nàng giữ gìn vun đắp và xây dựng với những mong chờ và hi vọng sẽ có ngày gặt quả.
Trong những ngày sống cách xa chồng là những ngày khó khăn nhất đối với nàng bởi vì gánh nặng
cuộc sống gia đình đã đặt lên đơi vai mỏng manh, yếu đuối của ngời phụ nữ đức hạnh. Nhng trong hoàn
cảnh gian nan ấy Vũ Nơng vẫn giữ trọn đạo làm vợ, làm tròn chữ hiếu của một ngời con, nàng thay chồng
chăm sóc mẹ, nàng cũng làm trịn trách nhiệm của một ngời mẹ. Dân gian ta có câu: đàn ơng vợt bể cịn
có bạn, đàn bà vợt cạn chỉ một mình, nhng Vũ Nơng sinh và ni con, đặt tên con chỉ có một mình. Chiến
tranh loạn lạc đã khiến Trơng Sinh khơng đợc nghe tiếng khóc của con trẻ, khơng thể chăm sóc con hàng
ngày làm cho bé Đản không chịu nhận cha. Phải chăng giá trị hiện thực của câu chuyện chính là lời tố cáo
chiến tranh làm cho cha –con xa cách, vợ chồng li biệt.
Bên cạnh giá trị hiện thực, tác giả cũng muốn đề cập đến giá trị nhân đạo của tác phẩm qua những
phẩm chất cao đẹp trung hậu của Vũ Nơng với tấm lòng hiếu thảo dành cho mẹ chồng. Vì chồng vắng nhà
nàng phải thay chồng chăm sóc mẹ già ốm yếu. Vì xa con mẹ Trơng Sinh nhớ con mà sinh bệnh. Vũ Nơng
đã tìm mọi lời lẽ ngon ngọt dỗ dành và chạy chữa thuốc thang, cúng bái thần phật khắp nơi mong mẹ lành
bệnh đợi ngày chồng về. Nhng vì bệnh trọng mẹ chồng qua đời, nàng đã hết lời thơng tiếc, ma chay chu
đáo nh với cha mẹ đẻ của mình. Cái phẩm chất sáng ngời ấy đã làm hoá giải mối quan hệ và định kiến hà
khắc, đầy xung đột giữa nàng dâu và mẹ chồng dới xã hội phong kiến bởi nàng rất đợc mẹ chồng thơng
yêu và bà con lối xóm cũng rất mến mộ đức hạnh của nàng. Lời dặn dò đầy yêu thơng và biết ơn của ngời
Theo cái lẽ cơng bằng của cuộc sống thì Vũ Nơng xứng đáng đợc chồng thơng yêu, xứng đáng đợc
h-ởng hạnh phúc. Nhng bất hạnh thay, khi chồng nàng trở về thì những chuỗi ngày đen tối của cuộc đời
nàng ập đến chỉ vì sự hiểu lầm mà nguyên nhân của nó lại là cái bóng vơ hình và cái tính đa nghi hay
ghen, gia trởng, độc quyền của ngời đàn ông mà xã hội phong kiến nam quyền đã dung túng khiến cho
Trơng Sinh tự tung, tự tác nghi ngờ vợ h và tự cho mình cái quyền đánh đập và đuổi vợ đi chỉ vì cái lời nói
ngây thơ và dại dột của con trẻ. Chàng chẳng cần nghe lời thanh minh, phân trần của vợ, cũng chẳng nghe
lời bênh vực của bà con lối xóm, giấu biệt lời nói của bé Đản , khăng khăng tin t ởng vợ là ngời h hỏng mà
đổ tiếng ác cho nàng, bôi nhọ danh dự của nàng, khép nàng vào cái tội thất tiết- một tội lớn của ngời làm
vợ lúc bấy giờ.
Mặc dù trong hoàn cảnh trớ trêu ấy, Vũ Nơng vẫn thể hiện đợc phẩm giá sáng ngời của mình. Nàng cố
thanh minh, phân trần cho chồng hiểu, ba lời độc thoại của nàng thể hiện rõ phẩm chất đức hạnh của nàng,
nàng cố thanh minh, phân trần cho chồng hiểu tấm lịng trinh bạch của mình, nhng đến khi lời thanh minh
của nàng khơng có giá trị , bị dồn đến bớc đờng cùng, khơng cịn lối thốt, bế tắc đến tuyệt vọng, đau đớn
đến ê chề nàng tìm đến dịng dơng Hồng Giang, mợn dịng nớc để rửa nỗi oan nhục, để bảo toàn danh
dự. Lời thể độc đầy oan khuất của nàng khiến lòng ngời đọc dâng lên một nỗi xót xa, thơng cảm.
hội đối xử bất công với ngời phụ nữ, cái xã hội cớp đi quyền sống của họ, chà đạp lên nhân phẩm của họ,
mà cịn có đại thi hào dân tộc Nguyễn Du cũng thể hiện nỗi xót xa ấy qua cuộc đời của ngời con giá đẹp
ngời, đẹp nết đa tài trong kiệt tác Truyện Kiều của ơng đó là Th Kiều, hay trong ca dao số phận của ng
-ời phụ nữ cũng là những tiếng than đau thơng và đầy nớc mắt.
Để thể hiện nỗi đau xót của mình và tấm lịng nhân văn cao cả, Nguyễn Dữ đã xây dựng những chi tiết
li kì ở cuối truyện để cho câu chuyện bớt phần thơng tâm. Vũ Nơng đợc Linh phi cứu. Nhng ngay cả khi
sống dới thuỷ cung Vũ Nơng vẫn thể hiện đợc phẩm chất trong sáng của mình với tấm lịng ln hớng về
<b>3. KÕt bµi:</b>
Đọc “Chuyện ngời con gái Nam Xơng” giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo để lại ấn tợng sâu sắc
trong lòng bạn đọc. Những giá trị ấy đã tạo nên sự thành công của tác phẩm. Đọc câu chuyện này tự nhiên
lịng tơi ao ớc một điều: giá nh Trơng Sinh biết suy nghĩ, biết soi xét trớc sau; giá nh Vũ Nơng đợc sống
d-ới một xã hội tốt đẹp, chắc chắn rằng nàng sẽ đợc hạnh phúc vì đây là một xã hội bình đẳng, cơng bằng.
Nguyễn Dữ ơi! ơng đừng buồn, đừng xót xa nữa vì cái xã hội bất cơng ấy đã qua rồi, những ngời phụ nữ
nh Vũ Nơng khơng cịn bất hạnh, oan trái nữa. Nhng tôi cảm ơn ông bởi “Chuyện Ngời con gái Nam
X-ơng” đã cho thế hệ trẻ chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về một thời kì lịch sử đen tối của đất n ớc mình mà sống
có ích, có nghĩa hơn xứng đáng hơn với những gì mà cha ơng đã xây dựng cho chúng tụi nh ngy hụm
nay.
truyện kiều Nguyễn Du
<b>1.Më bµi:</b>
Nguyễn Du - Đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Truyện Kiều của ông đợc đánh
giá là kiệt tác văn chơng. Truyện không chỉ thành công về nội dung mà cịn có giá trị về mặt nghệ thuật,
đặc biệt là nghệ thuật tả ngời. Đoạn trích Chị Em Thuý Kiều là một trong những đoạn trích hay nhất của
kiệt tác lừng danh ấy. ở đó, ngời đọc đã cảm nhận đợc ngòi bút bậc thầy của Nguyễn Du qua bức chân
dung tuyệt mĩ của hai chị em Kiu.
<b>2.thân bài:</b>
* Vị trí đoạn trích:
Đoạn trích “<i>Chị em Thuý Kiều</i>” nằm ở phần đầu của truyện Kiều trong phần “<i>Gặp gỡ và đính ớc .</i>”
Đoạn trích gồm có hai mơi t câu thơ lục bát miêu tả tài sắc và đức hạnh của hai chị em Kiều, hai tuyệt thế
giai nhân, với tất cả tấm lòng quý mến và trân trọng của nhà thơ thiên tài dân tộc.
<b>* Luận điểm 1( Bốn câu thơ đầu): Khái quát chân dung của Chị em Thuý Kiều. </b>
Mở đầu là bốn câu thơ miêu tả vẻ đẹp chung của hai ch em:
Đầu lòng hai ả tố nga
Thuý Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời.
Trong cõu th đầu tác giả viết “<i>Đầu lòng hai ả tố nga</i>”, qua lời giới thiệu của tác giả tuy cha biết ai là chị,
ai là em nhng thông qua cách sử dụng điển cố “ <i>ảtố nga </i>” ta có thể hình dung đó là hai cơ gái có vẻ đẹp
thanh thoát, sáng trong nh hai vầng trăng rằm. Họ cha xuất hiện nhng vẻ đẹp đã lộ ra trớc mắt mọi ngời.
Câu thơ tiếp theo giới thiệu vị trí thứ bậc của hai nàng Kiều trong gia đình ơng bà V ơng viên ngoại “Thúy
Kiều là chị, em là Thúy Vân”. Nh vậy, ông bà họ Vơng có hai ngời con gái cả hai đều trẻ trung, xinh p:
Mai cốt cách tuyết tinh thần
* Luận điểm 2(Bốn câu thơ tiếp theo): miêu tả chân dung của Thuý Vân.
Sau khi miờu tả vẻ đẹp chung của hai chị em Kiều, Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp riêng của từng ngời.
Trớc hết ông tả Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy n, nột ngi n nang
Hoa cời ngọc thốt đoan trang
Mây thua níc tãc tut nhêng mµu da.
ở chân dung Th Vân, Nguyễn Du miêu tả khái quát vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp “<i>trang trọng khác</i>
<i>vời</i>”. Vẻ đẹp “<i>trang trọng </i>” là vẻ đẹp đài các, quí phái, kiêu sa nhng vẫn nghiêm trang, đứng đắn khác với
ngời thờng. Để tả cụ thể vẻ đẹp của Vân về nhan sắc, nhà thơ miêu tả nhan sắc của Vân qua sáu nét trên
g-ơng mặt nàng. Khuôn mặt Vân tròn đầy, phúc hậu sáng đẹp tựa nh vầng trăng rằm. Lông mày của nàng
cong cong, mềm mại nh ngài con bớm tằm. Miệng Vân cời tơi đẹp nh hoa.Tiếng nàng nói trong nh ngọc.
Mái tóc Vân mềm mại hơn mây. Làn da trắng mịn màng hơn tuyết. Để miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân,
Nguyễn Du vẫn dùng thủ pháp ớc lệ. Trên gơng mặt Vân hội tụ tất cả các vẻ đẹp của thiên nhiên, đó là
trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Trong thiên nhiên có bao nhiêu cái đẹp Nguyễn Du chọn những cái đẹp nhất
để tả Vân. Nhà thơ dùng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá, liệt kê, từ Hán Việt, từ ngữ mĩ lệ.
Nhà thơ đặt Vân trong một gam màu dịu dàng, tơi tắn làm cho vẻ đẹp của Vân càng thêm kiều diễm, đài
các, kiêu sa. Ta cảm nhận đợc đây là một vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang, thuỳ mị, dịu dàng. Đức hạnh của
Thuý Vân làm tơi tắn cho nhan sắc, và nhan sắc làm cho đức hạnh thêm thuỳ mị, nết na. Vân đẹp hơn
những gì mĩ lệ nhất của thiên nhiên nhng vẫn tạo đợc sự êm đềm hòa hợp với xung quanh “<i>mây thua,</i>
<i>tuyết nhờng</i>”, đã thua đã nhờng thì khơng ghen tng đố kị Vân sẽ có một cuộc đời may mắn, êm đềm,
hạnh phỳc.
<b> * Luận điểm 3 (12 câu thơ tiếp theo): Đặc tả tài sắc của Thuý Kiều:</b>
Nhng câu thơ trớc nhà thơ đã cực tả Thuý Vân, tởng rằng sẽ khơng cịn vẻ đẹp nào hơn thế nữa
nhng khi Thuý Kiều xuất hiện thì Thuý Vân đã trở thành cái bóng để tơn lên vẻ đẹp của Kiều. Bức chân
dung của Thuý Vân đã trở thành điểm tựa để chân dung của Thuý Kiều nổi trội hơn, hồn hảo hơn và trở
thành cái đẹp tuyệt đỉnh. Đó cũng chính là lí do vì sao tác giả lại tả Thuý Vân trớc Thuý Kiều sau. Nhà thơ
chỉ dùng bốn câu thơ để tả Thuý Vân, nhng lại có tới mời hai câu thơ tả Thuý Kiều. Đó là dụng ý nghệ
thuật của Nguyễn Du, với thủ pháp nghệ thuật địn bẩy đợc sử dụng rất thành cơng:
<i>KiỊu cµng sắc sảo mặn mà</i>
<i>So bề tài sắc lại là phần h¬n.</i>
Câu thơ đầu đã khái quát vẻ đẹp của Kiều “<i>Kiều sắc sảo mặn mà</i>” tức là nàng sắc sảo về trí tuệ,
mặn mà về tình cảm tâm hồn. Câu thơ thứ hai làm phép so sánh giữa Thuý Kiều và Thuý Vân “<i>So bề tài</i>
<i>sắc lại là phần hơn</i>”. Từ “<i>càng , hơn</i>” “ ” khẳng định ý vợt trội, hơn hẳn. Tuy “<i>mỗi ngời một vẻ</i>” nhng Th
Kiều đẹp hơn và có tài hơn Th Vân. Ngịi bút của Nguyễn Du vẫn tiếp tục sử dụng những hình tợng
nghệ thuật ớc lệ, biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh để gợi tả nhan sắc của Thuý Kiu:
<i>Làn thu thuỷ, nét xuân sơn</i>
<i>Hoa ghen thua thắm, liƠu hên kÐm xanh.</i>
Tả Kiều nhà thơ khơng liệt kê nhiều chi tiết nh tả Vân, mà chỉ tập trung miêu tả theo lối “<i>điểm nhãn</i>”,vẽ
hồn cho nhân vật. Ngòi bút của thiên tài chỉ tập trung đặc tả đôi mắt – cửa sổ của tâm hồn- phải là đôi
mắt vì đó là nơi thể hiện sự tinh anh của trí tuệ và thánh thiện của tâm hồn. Kiều có đôi mắt trong xanh
nh nớc hồ thu, đôi lông mày tơi non mơn mởn nh dáng núi mùa xuân. Không phải tự nhiên mà Nguyễn Du
tập trung miêu tả vẻ đẹp trong đôi mắt của Kiều bởi Kiều thông minh sắc sảo. Sự thông minh sắc sảo ấy
tập trung hết ở đơi mắt biết nói của nàng. Chỉ với hai nét là mắt và lông mày của Kiều, qua nghệ thuật tả
tài tình của Nguyễn Du, ngời đọc cảm nhận đợc vẻ đẹp của Kiều là vẻ đẹp của một trang tuyệt thế giai
nhân. Vẻ đẹp ấy từ dung nhan đến tâm hồn đều đang ở độ trong veo dạt dào sức sống thanh xuân. Khi
miêu tả Thuý Vân, dung nhan của Vân mới chỉ đợc so sánh với <i>trăng, hoa, mây, tuyết</i>, là những hình ảnh
Tả Thuý Vân nhà thơ chỉ gợi tả nhan sắc, tả Kiều tác giả dành ba câu thơ để tả sắc đẹp, còn sáu
câu thơ để tả tài năng của nàng, quả là “ <i>sắc đành đòi một, tài đành họa hai</i>”. Kiều rất mực thông minh và
đa tài. Theo quan niệm thẩm mĩ của xã hội phong kiến, một con ngời có tài năng phải giỏi cầm, kỳ, thi,
hoạ (đánh đàn, chơi cờ, làm thơ, vẽ tranh). Tài của Kiều đã đạt tới mức lí tởng cầm, kì, thi, hoạ tài nào
cũng toàn diện đến mức siêu tuyệt. Đặc biệt sở trờng hơn ngời của nàng là đánh đàn. Cây đàn mà nàng
chơi là cây đàn Hồ Cầm, tiếng đàn của nàng thật hay, hay đến mức “<i>ăn đứt </i>” bất cứ nghệ sĩ nào. Nàng giỏi
nhạc và tự soạn riêng cho mình một khúc nhạc<i> một thiên bạc mệnh . </i>“ ” Khúc nhạc ấy do chính tay nàng thể
hiện làm xúc động lịng ngời. Cung đàn ấy chính là tiếng lịng của một trái tim đa sầu, đa cảm.
<i>Một vừa hai phải ai ơi,</i>
<i>Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.</i>
Có thể nói, Nguyễn Du tài năng hơn ngời ở chỗ qua việc miêu tả nhan sắc, tài hoa của hai chị em Kiều đã
dự báo số phận khác biệt của họ.
<b> * Ln ®iĨm 4 (bốn câu thơ cuối):Đức hạnh của hai chị em KiÒu.</b>
Sau khi miêu tả vẻ đẹp riêng của từng ngời, nhà thơ miêu tả phong thái và đức hạnh của hai chị em:
<i>Phong lu rất mực hồng quần,</i>
<i>Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.</i>
<i>ấm m trng r mn che,</i>
<i>Tng ụng ong bớm đi về mặc ai.</i>
Hai chị em là những cơ gái sống trong một gia đình có nề nếp gia phong, đợc giáo dục chu đáo. Vì vậy,
tuy đã đến tuổi “tới tuần cập kê” nhng hai chị em Kiều vẫn sống phong lu trong cảnh “êm đềm trớng rủ
mà che”, mặc cho “tờng đông ong bớm đi về mặc ai”.
3<b>.kÕt bµi:</b>
Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” đã giúp ta cảm nhận đợc vẻ đẹp hoàn mĩ của hai chị em Kiều. Để
miêu tả vẻ đẹp của hai chị em Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng tài tình thủ pháp ớc lệ và các nghệ thuật ẩn
dụ, nhân hoá, so sánh, cờng điệu, liệt kê, điển cố, điển tích, từ ngữ mĩ lệ...Các biện pháp nghệ thuật trên
đã góp phần tơn vinh vẻ đẹp cả nhan sắc và tài hoa của Thuý Vân và Thuý Kiều. Hai chị em là những mẫu
phụ nữ lí tởng hiến có trên đời. Khi miêu tả hai bức chân dung này, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ mến
yêu, trân trọng nên ông hết lời ngợi ca. Thuý Kiều đẹp và tài nh thế nhng cuộc đời nàng sau này bị đoạ
đầy đau khổ, đó là do tội ác của xã hội phong kiến xa. Ta cảm mến nhan sắc tài hoa của Kiều, của Vân và
cũng cảm thông cho những bất hạnh mà Kiều phi chu ng sau ny.
<b>*Nội dung nghị luận:</b> Bức tranh mùa xuân thiên nhiên tơi đẹp, cảnh lễ hội tng bừng náo nhiệt, tâm trạng
của chị em Kiều khi trở v.
<b>* Phân tích:</b>
<b>1. Mở Bài:</b>
Truyn Kiu l kit tỏc của đại thi hào Nguyễn Du. Trong tác phẩm, nhà thơ không chỉ miêu tả
thành công những bức chân dung xinh đẹp của Th Vân, Th Kiều mà ơng cịn miêu tả tài tình cảnh
đẹp của thiên nhiên. Đoạn trích “ Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn trích hay nhất miêu tả cảnh
thiên nhiên trong Truyện Kiều. Qua đoạn trích, ta thấy đợc bức tranh thiên nhiên mùa xuân sáng tơi xinh
<b>2.Thân bài:</b>
<b> * Bốn câu thơ đầu: Cảnh mùa xuân</b>
on trớch Cnh ngày xuân” nằm ở phần đầu của Truyện Kiều. Bố cục của đoạn thơ đợc chia làm
ba phần rất chặt chẽ: bốn câu đầu miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa xuân; tám câu giữa miêu tả cảnh lễ
hội mùa xuân; sáu câu cuối miêu tả tâm trạng của chi em Kiều khi du xuân trở về.
Trong bốn câu mở đầu, Nguyễn Du đã miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa xuân sáng tơi, xinh đẹp:
Ngày xuân con én đa thoi
Thiều quang chín chục đã ngồi sáu mơi.
Cỏ non xanh tân chân trời,
Cµnh lê trắng điểm một vài bông hoa
sc hài hồ với đờng nét mềm mại, hình ảnh nhẹ nhàng, thanh khiết, tinh khôi đã làm cho bức tranh xn
có hồn làm đắm say, ngất ngây lịng ngời. Cảnh vật mùa xuân thật mới mẻ, mênh mông, trẻ trung, tơi
sáng. Trong bức tranh mùa xuân này, nhà thơ không miêu tả tâm trạng của con ngời nhng ta vẫn cảm nhận
đợc tâm trạng náo nức, ngây ngất của ngời trong cnh.
*Tám câu thơ tiếp: Cảnh lễ hội:
Sau khi miêu tả bức tranh thiên nhiên mùa xuân, nhà thơ đi vào miêu tả cảnh lễ hội mùa xuân t ng bõng,
n¸o nhiƯt:
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là to m, hi l p thanh.
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe nh nớc, áo quần nh nêm.
Ngn ngang gị đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc cho tiền gió bay.
Trong ngày hội xn có hai hoạt động chính diễn ra là “<i> lễ</i>” và “ <i>hội</i>”. Đối với những ngời trẻ tuổi,
lễ chỉ là cái cớ còn hội mới là mục đích chính của họ. Nguyễn Du dùng điệp ngữ “<i> lễ là, hội là</i>” để diễn tả
cảnh lễ hội liên tiếp diễn ra từ bao đời nay, năm nào cũng có những ngày hội xuân. Từ gần đến xa, từng
đoàn ngời nhộn nhịp đi chơi xuân, họ ríu rít nh chim oanh, chim yến. Cha đến hội mà hai chị em Kiều đã
nh mở hội trong lòng.Họ vui, náo nức, tíu tít, rộn ràng chuẩn bị, sắm sửa cho ngày hội. Tâm hồn họ nh
đang cất tiếng hát ca. Cũng nh các nam thanh nữ tú khác, hai chị em Kiều cũng chuẩn bị lễ vật cho ngày
tảo mộ và chuẩn bị quần áo đẹp để đi chơi hội. Trong ngày hội xuân ấy, nhà thơ không tả rõ mặt ai nhng ai
cũng cảm thấy nh có mình trong đó. Từng làn sóng ngời dập dìu, ngựa xe của họ nh nớc, áơ quần đẹp,
sang trọng, đủ màu nh nêm. Tác giả sử dụng các nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, dùng nhiều từ ghép, từ láy là
động từ, danh từ, tính từ. Các danh từ nhằm diễn tả sự đông vui, đông ngời, nhiều hoạt động, các động từ
diễn tả sự náo nhiệt của ngày hội, các tính từ diễn tả tâm trạng náo nức của ngời đi hội. Tất cả các bút
pháp trên đã làm sống lại khơng khí tng bừng đơng vui tấp nập, rộn ràng, nhộn nhịp của ngày hội. Có lẽ
đây là lần đi chơi hội đầu tiên của chị em Kiều nên cả hai chị em đều có tâm trạng rộn ràng, náo nức trong
ngày hội xn đó. Khơng chỉ miêu tả khơng khí tng bừng náo nhiệt của ngày hội, Nguyễn Du cịn làm
sống lại những nét đẹp văn hố tâm linh qua khơng khí lễ hội mùa xn. Ng ời đi hội sửa sang phần mộ,
đốt tiền vàng cho ngời đã khuất. Đây là nét đẹp văn hố có từ nghìn đời của ngời á đơng nhất là của ngời
Việt Nam ta. Đó cũng là cách ngời cịn sống bày tỏ lòng biết ơn tởng nhớ đến ngời đã khuất. Có thể nói
mùa xuân là mùa của những lễ hôi tng bừng. ở Việt Nam ta, cứ đến mùa xuân lễ hội đợc mở ra liên tiếp.
Những lễ hội lớn nh hội Đền Hùng, Hội Chùa Hơng, Yên Tử đã thu hút hàng vạn ngời đến hội du xuân.
Có đi chơi hội ta mới thấy rõ tài miêu tả khung cảnh lễ hội của đại thi hồ tài tình đến điêu luyện.
* Sáu câu cuối: Cảnh hội tan
Sáu câu còn lại của đoạn thơ, tác giả miêu tả cảnh hội tan, hai chị em Kiều du xuân trở về:
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bớc dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nớc uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh b¾c ngang.
Trong sáu câu thơ, Nguyễn Du đã miêu tả thời gian, không gian, cảnh, ngời và tâm trạng của con ngời
sau khi tan hội. Từ láy “<i>tà tà</i>” cho ta thấy chị em Kiều du xuân trở về vào thời gian trời đã về chiều. Các từ
<i>tiĨu khª</i>
“ ”, cây cầu, dịng nớc diễn tả khơng gian của buổi chiều. Có thể nói so với lúc vào hội thì lúc tan
hội cảnh và ngời đều ít, tha, vắng. Cảnh vẫn đẹp nhng mang nét thanh, dịu, nhẹ hơn. Các hình ảnh tơng
phản với buổi sáng, khơng cịn cái bát ngát, trong sáng, ấm áp, rộn ràng, đông vui, náo nhiệt. Hệ thống từ
láy đợc sử dụng trong sáu câu thơ “<i> tà tà , thơ thẩn , thanh thanh , nao nao , nho nhỏ</i>” “ ” “ ” “ ” “ ” đã miêu tả
tâm trạng của chị em Kiều khi trở về. Đó là tâm trạng bâng khuâng, man mác, luyến tiếc, buồn khi hội đã
tan. Từ cử chỉ đến hành động và ánh mắt nhìn phong cảnh của họ đều cho thấy tâm trạng luyến tiếc ngày
hội đơng vui của chị em Kiều. Có lẽ trong lòng chị em Kiều, lúc trở về ai cũng có nỗi xúc động rng rng.
Cảnh đã bộc lộ tâm trạng con ngời. Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật mợn cảnh ngụ tình thật kiệt xuất.
Cảnh buồn, lịng ngời cũng cũng buồn. Chỉ có thấu hiểu với niềm vui, nỗi buồn của những ngời trẻ tuổi, và
có một tâm hồn nhạy cảm tha thiết với niềm vui của cuộc sống thì Nguyễn Du mới tả đợc tâm trạng con
ngời qua miêu tả cảnh tài tình đến thế. Khung cảnh chiều xuân êm đềm, vắng lặng, báo trớc sự xuất hiện
của nấm mộ Đạm Tiên. Điều đó có liên quan đến cuộc đời của Thuý Kiều sau này. Cảnh đã chứa đựng
<b>3.KÕt bµi:</b>
Trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du vừa tả khái quát vừa tả cụ thể cảnh lễ hội và con
ngời. Ngôn ngữ thơ giàu chất tạo hình, cả cảnh và con ngời đều vận động. Sử dụng nghệ thuật nhân hoá,
ẩn dụ, so sánh, ớc lệ tợng trng và hệ thống từ láy gợi hình đặc sắc. Tác giả đã làm cho cảnh hiện lên thật
sống động gần gũi, thân quen. Đó là sắc màu của đồng quê, của quê hơng, đất nớc. Nguyễn Du không
những là nhà thơ lỗi lạc, mà còn là một họa sĩ tài tình. Bức tranh xuân đậm đà hơng sắc thật sống động
nh-ng cũnh-ng đầy tâm trạnh-ng đã để lại tronh-ng lịnh-ng nh-ngời đọc nhiều ấn tợnh-ng khó phai.
Trong “ Truyện Kiều”, Nguyễn Du không chỉ thành cơng khi xây dựng nhân vật chính diện
mà ơng cịn rất thành công khi xây dựng nhân vật phản diện. Một trong những nhân vật phản diện bị
Nguyễn Du căm ghét nhất trong “ Truyện Kiều” là Mã Giám Sinh. Bộ mặt xấu xa, đê tiện, bỉ ổi của kẻ
buôn thịt bán ngời này bị Nguyễn Du vạch trần qua đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”.
<b> 2. Thân bài:</b>
Đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều ” nằm ở phần hai của tác phẩm, là đoạn mở đầu trong
cuộc đời mời lăm năm lu lạc đau khổ của nàng Kiều. Đoạn thơ đã làm sống lại một cảnh mua bán ngời
thời trung cổ.
Gia đình Kiều gặp cơn tai biến, Kiều là ngời con có hiếu quyết bán mình chuộc cha thốt khỏi vịng
Hạt ma sá nghĩ phận hèn,
Liều đem tấc cỏ, quyết đền ba xuân.
Kẻ đến mua Kiều là Mã Giám Sinh. Cảnh mua bán đợc ngụy trang dới một màn kịch là lễ vấn danh
do chính Mã sắm vai chú rể. Nhng dù sắm vai gì đi nữa thì bản chất thực của Mã Giám Sinh vẫn đợc bóc
trần. Trong đoạn trích, Nguyễn Du đã phơi bày bộ mặt xấu xa, đê tiện, bỉ ổi của tên buôn thịt bán ngời này
khi hắn đến mua Kiều. Trớc hết, nhà thơ tố cáo Mã Giám Sinh là kẻ giả dối, thô lỗ, vô học, không lơng
thiện, một kẻ trơ trẽn, ăn chơi phóng đãng. Mã Giám Sinh xuất hiện trớc nhà Kiều qua lời giới thiệu của
mụ mối. Mụ mối có lai lịch không rõ ràng, ngời đọc chỉ biết “ <i>gần miền có một mụ nào</i>”. Mụ cũng khơng
biết rõ lai lịch của Mã Giám Sinh chỉ biết đấy là ngời viễn khách đi mua tỳ thiếp về làm vợ lẽ. Vào nhà
Kiều, ta thấy cách nói năng của Mã rất cộc lốc qua việc hắn giới thiệu tên họ, quờ quỏn:
Hỏi tên, rằng:MÃ Giám Sinh,
Hỏi quê, rằng huyện Lâm Thanh cịng gÇn
Cách giới thiệu tên, quê của Mã thật giả dối. Mã giới thiệu hắn là học sinh trờng Quốc Tử Giám.
Song cách giới thiệu tên này, ngời đọc chỉ biết hắn họ Mã, cịn “ Giám Sinh” có thể là học sinh học ở
Quốc Tử Giám hoặc có khi chỉ là chức giám sinh mua của triều đình. Dù hiểu theo cách nào thì cách giới
thiệu tên này cũng rất mập mờ. Quê Mã ở Lâm Tri cách thành Bắc Kinh rất xa vậy mà Mã bảo hắn ở Lâm
Thanh – một địa điểm ở gần thành Bắc Kinh nhà Kiều. Ngay từ ban đầu xuất hiện, ta đã thấy Mã là một
kẻ ăn nói thơ lỗ, vơ học, dối trá bởi hắn nói cộc lốc khơng tha gửi, khơng khiêm nhờng khi đi hỏi vợ. Mã
nói rất ít, có lẽ hắn sợ lộ chân tớng nên khơng dám nói nhiều.
Ngoại hình của MÃ bị Nguyễn Du tố cáo:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Tui Mó Giỏm Sinh ngoi tứ tuần” nghĩa là Mã đã ngoài bốn mơi tuổi. Cách giới thiệu tuổi này là cách
phỏng đoán để ngời đọc không xác định cụ thể tuổi Mã Giám sinh là bao nhiêu. Ngày xa, cái tuổi ngoại tứ
tuần đã đa con ngời lên hàng ông, hàng bác, hàng chú. ở tuổi ấy cần phải ăn mặc, đi đứng cho chững
chạc, đàng hoàng nhng ở đây Mã đã ngoài bốn mơi mà “mày râu” cạo “nhẵn nhụi’, “áo quần” mặc rất
“bảnh bao”. Qua cách miêu tả tuổi tác, cách ăn mặc, trang điểm của Mã, ta nhận thấy đây là một kẻ ăn
chơi phóng đãng, cố chải chuốt đỏm dáng, tạo vẻ trẻ trung, trai lơ để che giấu sự già nua. Một con ngời có
ngoại hình nh thế thật không lơng thiện, không đáng tin cậy. Bằng từ láy “nhẵn nhụi, bảnh bao”, Nguyễn
Du đã châm biếm, đả kích vẻ trơ trẽn, trâng tráo, kệch cỡm của Mã Giám Sinh. Với ngoại hình nh thế, Mã
Giám Sinh cùng đồn tùy tùng vào nhà Kiều:
Tríc thÇy sau tớ lao xao,
Nhà băng đa mối rớc vào lầu trang.
Nguyễn Du khơng chỉ tố cáo Mã ở ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động mà ơng cịn tố cáo thủ
đoạn mua bán của Mã đối với món hàng ngời là Kiều. Vào đến nhà Kiều, Mã Giám Sinh không núi khụng
rng, hn ó lao vo cuc mua bỏn ngay:
Đắn đo cân sắc cân tài,
ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.
Mó Giỏm Sinh không hề rung động trớc một nhan sắc chim sa cá lặn của Kiều. Hắn đang đắn đo,
cân nhắc, tính tốn trong đầu sắc, tài của Kiều. Hắn ép nàng đánh đàn, thử tài làm thơ. Đối với Mã, nhan
sắc, tài hoa của Kiều chỉ là một món hàng không hơn, không kém. Các động từ “ đắn đo, cân, ép, thử” đã
tố cáo bộ mặt lạnh lùng, thủ đoạn mua bán thận trọng,tỉ mỉ có tính tốn của Mã. Phải là một kẻ đã quá
quen với việc mua ngời nh thế này thì Mã mới lạnh lùng, vơ cảm, tỉ mỉ, tính tốn, cân nhắc kĩ l ỡng khi
mua ngời nh thế. Sau một hồi cân nhắc, tính tốn giá trị của món hàng, Mã Giám Sinh đã bng lũng:
Mặn nồng một vẻ một a,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rng: Mua ngc n Lam Kiu,
Sớnh nghi xin dạy bao nhiêu cho tờng?”.
Từ lúc vào đến bây giờ, Mã Giám Sinh mới mở mồm. Nếu lúc đầu vừa xuất hiện, tr ớc nhà Kiều, Mã
nói năng cộc lốc, thơ lỗ, hắn nói rất ít thì lúc này, Mã nói thật văn vẻ bằng những lời mĩ miều, ra vẻ là
ng-ời có học. Mã cũng dùng điển tích, “ sính nghi”, “xin dạy” nhng thực chất ẩn sau vẻ mĩ miều đó là Mã
Giám Sinh muốn hỏi giá Kiều là bao nhiêu. Hắn biết đây là món hàng sẽ có lãi lớn nên cố che giấu thái độ
sốt ruột bằng những lời nói văn hoa. Nhng khi mụ mối nói Kiều đáng giá nghìn vàng thì lập tức vẻ mĩ
miều của hắn đã biến mất. Mã Giám Sinh đã lộ rõ chõn tng:
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngà giá vâng ngoài bốn trăm.
i với bọn con buôn, tiền nong là vấn đề sinh tử. Cho nên sau những lời nói văn vẻ mĩ miều, nghe
mụ mối thông báo giá Kiều, Mã Giám Sinh đã hiện ngun hình là một con bn có hạng. Hắn “cị
kè”thêm, bớt giá cả của món hàng. Từ “ cò kè” cho thấy hắn mặc cả riết ráng, và cũng cho thấy Mã là kẻ
bủn xỉn, ti tiện, keo kiệt. Trong suốt giờ lâu mặc cả để bớt món hàng, Mã Giám Sinh đã mua đợc Kiều với
giá rẻ ngoài bốn trăm lạng. Nh vậy, cuộc mua bán quyết liệt, gay go, bên treo giá, bên mặc cả để hạ giá,
cuối cùng, ngời có lợi là Mã Giám Sinh, bên thua chịu thiệt là Kiều.Qua cuộc mua bán, ta thấy Mã Giám
Sinh là kẻ buôn ngời lọc lõi, tinh ranh, xảo quyệt, lạnh lùng, bất nhân, tàn nhẫn. Nguyễn Du đã tố cáo sức
đè nén của thế lực đồng tiền lên cuộc đời con ngời, nhất là ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến. Nhà thơ
thể hiện thái độ căm ghét, ghê tởm Mã Giám Sinh nên ông đã dành cho hắn những từ ngữ mỉa mai, châm
biếm sâu cay nhất. Chính Mã Giám Sinh đã đẩy Kiều vào quãng đời mời lăm năm lu lạc. Mã Giám Sinh là
tiêu biểu cho bộ mặt xấu xa, vô nhân đạo của giai cấp phong kiến. Thế lực đồng tiền cùng với c ờng quyền
đã làm hại cuộc đời bao ngời con gái xinh đẹp nh Thúy Kiều.
“Mã Giám Sinh mua Kiều” là đoạn thơ có giá trị tố cáo đanh thép và sâu sắc nhất trong truyện Kiều.
Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh tả thực sắc sảo giúp chúng ta thấy rõ đợc bộ mặt tàn ác, ghê tởm
của bọn buôn thịt bán ngời trong xã hội cũ. Nhà thơ đã lên án mặt trái của đồng tiền hôi tanh “Tiền lng đã
Ngày nay, chế độ bn ngời vẫn cịn tồn tại ở một số nơi trên thế giới và có ở đất nớc ta. Càng căm
giận những kẻ buôn ngời nh Mã Giám Sinh, chúng ta hãy lên tiếng đấu tranh để bảo vệ quyền sống cho
ngời phụ nữ. Trong đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”, Nguyễn Du không chỉ tố cáo bộ mặt xấu xa
của bọn bn ngời mà ơng cịn xót đau trớc sắc tài của ngời con gái bị vùi dập. Đó là thái độ nhân đạo của
nhà thơ đợc thể hiện sâu sắc trong đoạn trích.
<b>3. KÕt bµi: </b>
<b> </b> Trong đoạn trích “ Mã Giám Sinh mua Kiều”, qua nhân vật Mã Giám Sinh, ta càng thấy rõ bút
pháp hiện thực trong nghệ thuật tả ngời của Nguyễn Du. Nét vẽ nào của ông cũng sắc sảo bóc trần tính
cách xấu xa, đồi bại của nhân vật Mã Giám Sinh. Đằng sau nét vẽ là thái độ khinh bỉ của nhà thơ đối với
loại ngời bạc ác tinh ma này! Bức chân dung phản diện về Mã Giám Sinh có giá trị tố cáo hiện thực mạnh
mẽ, lên án bọn buôn thịt bán ngời vô nhân o trong xó hi phong kin suy tn.
<b>1.Më bµi:</b>
“ Truyện Kiều” là kiệt tác của thiên tài Nguyễn Du. Trong “ Truyện Kiều” , đại thi hào không chỉ
thành cơng ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình mà ông còn rất thành công trong việc miêu tả tâm trạng nhân
vật. Tâm trạng của Thúy Kiều đã đợc Nguyễn Du miêu tả rõ nét trong đoạn trích “ Mã Giỏm Sinh mua
Kiu.
<b>2. Thân Bài:</b>
hng cho kẻ bn ngời định đoạt, Kiều đã phần nào hình dung đợc nỗi đau đớn, nhục nhã, ê chề của mình
khi trở thành món hàng nhng Kiều thật khơng ngờ khi phải trình diện trớc kẻ bn ngời, nỗi đau n,
nhc nhó ca Kiu li ờ ch n th:
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bớc lệ hoa mấy hàng!
Ngại ngùng dợn gió e sơng,
Ngừng hoa bóng thẹn trông gơng mặt dày.
Mối cành vén tóc bắt tay,
Nét buồn nh cúc điệu gầy nh mai.
Ch vi sỏu cõu th ngn, Nguyễn Du đã khái quát đợc tâm trạng vừa đau vừa tức, vừa tủi nhục của Kiều.
Trong cảnh mua bán, Kiều đau bởi nàng phải vứt bỏ mối tình đầu đẹp nhất, vừa chớm nở với Kim Trọng. “
Nỗi mình” ở đây là tình riêng của Kiều với Kim Trọng. Nàng đau vì đã làm cho mối tình đầu bị tan vỡ, dở
dang. Điều đó làm Kiều vơ cùng khổ tâm. Khơng chỉ đau với nỗi đau riêng của mình, Kiều còn tức cho
“nỗi nhà”. Tai họa bất ngờ của gia đình do thằng bán tơ vu oan đã làm cha và em trai bị đánh đập, gia sản
bị đập phá cớp bóc hết sạch sành sanh. Tai họa đó đã làm cho Kiều phải dở dang mối tình với chàng Kim.
Những bất hạnh chồng chất của bản thân và gia đình đã làm cho Kiều đau đớn đến tột cùng. Trong cảnh
mua bán ngời này, Thúy Kiều là hiện thân của con ngời lơng thiện bị chà đạp, hiện thân của tài sắc bị vùi
dập. Cái đẹp của Kiều bị bêu riếu, nhân phẩm của nàng bị làm nhục nên Kiều bớc ra trình diện trớc mặt
bọn bn ngời với tâm trạng bất đắc dĩ. Từng bớc chân của nàng chậm chạp bị động. Kiều đang run rẩy lo
cho số phận của nàng sắp bị định đoạt. Mỗi bớc Kiều bớc ra là bao hàng lệ lã chã tuôn rơi. Ngời con gái
đẹp mới đây thơi cịn sống trong cảnh “ Êm đềm trớng rủ màn che” không biết đến chuyện trăng hoa là gì,
thế mà giờ đây sắp phải làm vợ lẽ ngời ta. Càng ý thức đợc nhân phẩm của mình, Kiều càng đau đớn, tủi
Chỉ với sáu câu thơ ngắn Nguyễn Du đã miêu tả đợc tâm trạng đớn đau, tủi nhục của Kiều. Trong
cảnh mua bán, nhà thơ xót đau trớc sắc tài của Kiều bị vùi dập thảm thơng. Ngời đọc cũng thơng xót, đau
với nỗi đau của Kiều. Thơng Kiều bao nhiêu. Không chỉ Nguyễn Du căm ghét mà cả chúng ta cũng căm
ghét xã hội phong kiến đã vùi dập sắc tài của Kiều. Ngày nay, trong xã hội ta vẫn cịn đây đó tình trạng
bạo hành đối với ngời phụ nữ, nhiều ngời phụ nữ vẫn phải làm vật mua đi bán lại cho bọn tham tiền.
Chúng ta phải đấu tranh đòi quyền bình đẳng, quyền hạnh phúc cho ngời phụ nữ.
<b>3.KÕt bµi: </b>
<b> </b>Trong sáu câu thơ của đoạn trích, bằng bút pháp ớc lệ và các bút pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, từ
ngữ giàu sức biểu cảm, nghệ thuật miêu tả tâm trạng đạt tới mức điêu luyện, Nguyễn Du đã miêu tả thành
công tâm trạng đau đớn, tủi nhục của Thúy Kiều trong cảnh mua bán .Càng cảm thơng cho số phận của
Thúy Kiều bao nhiêu, ta càng cảm thông với nỗi đau của nàng bấy nhiêu. Chúng ta mong muốn những
ng-ời con gái có tài sắc vẹn tồn nh Kiều sẽ đợc hạnh phúc trong xã hội ta ngày nay.
Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hố thế giới. Ơng để lại cho đời nhiều tác
phẩm nổi tiếng, trong số đó có Truyện Kiều. Đoạn trích “<i>Kiều ở lầu Ngng Bích</i>” là một trong những đoạn
thơ hay nhất tả tâm trạng của Kiều. Đó là nỗi nhớ thơng đau buồn của nàng khi bị giam lỏng ở lầu Ngng
Bích.
<b>2. Thân bài: </b>
* Kh¸i qu¸t:
Đoạn trích “<i>Kiều ở lầu Ngng Bích </i>” nằm ở phần “<i>gia biến và lu lạc</i>”. Sau khi bị Mã Giám Sinh đa
về lầu xanh ở Lâm tri, Tú Bà bắt Kiều tiếp khách. Kiều đã tự tử vì khơng chấp nhận đợc cuộc sống ê chề
nhục nhã đó. Tú Bà sợ mất cả vốn lẫn lời, đã dụ dỗ Kiều ra ở lầu Ngng Bích. Mụ nói dối Kiều sẽ chọn
ngày lành tháng tốt để gả chồng cho nàng. Nhng thực chất đây là âm mu thâm độc của Tú Bà. Mụ muốn
tách Kiều ra khỏi thế giới của con ngời để nàng có khao khát muốn đợc gần ngời, từ đó Kiều sẽ dễ dàng
mắc mu của mụ. Kiều ở lầu Ngng Bích thực chất là bị Tú Bà giam lỏng.
Trong sáu câu thơ mở đầu, Nguyễn Du đã miêu tả khung cảnh thiên nhiên trớc lầu Ngng Bích.
Đây chính là khung cảnh để nảy sinh tâm trạng của Kiều:
Tríc lÇu Ngng BÝch khoá xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nả cảnh nh chia tấm lịng.
ở lầu Ngng Bích chỉ là giai đoạn tạm yên sóng gió nhất trong cuộc đời Kiều. Ngồi một mình buồn ở lầu
Ngng Bích, nhìn ra xa Kiều thấy núi, ngớc lên bầu trời, nàng thấy trăng. Thực chất núi ở gần, trăng ở xa
nhng qua cái nhìn thấm đẫm tâm trạngcủa Kiều nên trăng ở xa Kiều thấy gần, núi ở gần nàng lại thấy xa.
Kiều nh muốn thu núi ở xa lại, trăng ở gần xuống làm bạn với Kiều cho nàng đỡ cơ quạnh. Nhìn ra bốn bề
bát ngát, Kiều chỉ thấy những cồn cát vàng, những bụi hồng trải dài mênh mơng tít tắp. Có thể nói bức
tranh thiên nhiên trớc lầu Ngng Bích có đẹp, thơ mộng nhng buồn, mênh mơng, hoang vắng khơng một
bóng ngời. Thiên nhiên càng mênh mơng, hoang vắng càng làm nổi bật nỗi cơ đơn trong lịng Kiều. Cái
vắng lặng của thiên nhiên, cái mênh mông của vũ trụ càng khắc sâu trong lòng Kiều nỗi trống vắng, lẻ loi.
Thiên nhiên ngổn ngang nh chính nỗi ngổn ngang trong lòng Kiều. Nguyễn Du đã sử dụng nghệ thuật ẩn
dụ tơng đồng, mợn cảnh thiên nhiên để miêu tả tâm trạng buồn, cô đơn, trống vắng, ngổn ngang, lẻ loi
trong lịng Kiều. Quả là ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Bức tranh thiên nhiên ấy không chỉ có khơng
gian mà cịn có thời gian. Làm bạn với Kiều chỉ có mây buổi sớm, ngọn đèn đêm khuya. Hình ảnh “ <i>mây</i>
<i>sớm đèn khuya</i> ” đã diễn tả vịng thời gian tuần hồn khép kín bao quanh Kiều. Thời gian vẫn khơng
ngừng trơi cịn cảnh ngộ của Kiều thì khơn hề thay đổi. Kiều cảm thấy bẽ bàng, xấu hổ, tủi nhục trớc thiên
nhiên vì nàng vừa trải qua những d vị cay đắng đầu đời. Hình ảnh của Kiều thật tội nghiệp trong bức tranh
thiên nhiên buồn. Lòng nàng lo lắng cho cha mẹ, ngời thân, khơng biết hiện tình hình họ ra sao khi nàng
đang ở nơi đất khách quê ngời. Tình này, cảnh ấy nh vị xé tâm can Kiều. Nguyễn Du nói: “ <i>Nửa tình nửa</i>
<i>cảnh nh chia tấm lịng</i>” nhng thực chất là tình đang vị xé tâm can nàng hơn là cảnh. Xung quanh Kiều
khơng một bóng ngời thân thích để nàng chia sẻ tâm tình nên nỗi cơ đơn càng tăng thêm gấp bội. Có thể
nói trong sáu câu mở đầu, bằng nghệ thuật tiểu đối, liệt kê, ẩn dụ, Nguyễn Du đã miêu tả thành công tâm
trạng của Kiều trong bức tranh thiên nhiên trớc lầu Ngng Bích.
<b>* T¸m câu thơ tiếp: Nỗi nhớ ngời yêu, nhớ cha mẹ cđa KiỊu:</b>
<b> Trong nỗi cơ đơn trống vắng, Kiều tìm về với những ngời thân của mình. Tám câu thơ tiếp theo đã</b>
miêu tả hai nỗi nhớ của Kiều. Trớc hết, Nguyễn Du để Kiều nhớ ngời yêu:
Tởng ngời dới nguyệt chén đồng,
Tin sơng lung nhng ry trụng mai ch.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm thân gột rửa bao giờ cho phai.
Kiều nhớ ngời yêu với nỗi nhớ xót xa đau đớn. Nhớ Kim Trọng là Kiều nhớ đến đêm hai ngời
uống rợu thề nguyền. Vầng trăng còn đây, chén rợu thề cịn đó mà nay hai ngời đã hai ngả chia phôi.
Không tự nhiên mà Nguyễn Du đa hình ảnh “<i>tấm trăng gần </i>” trong sáu câu thơ mở đầu bởi chính vầng
trăng ấy đã làm Kiều thổn thức nhớ đến ngời yêu. Kiều hình dung Kim Trọng lúc này đang ở Liêu Dơng
cha hay biết tin rằng nàng đã bán mình. Kim Trọng ngày đêm mong ngóng Kiều nên Kiều càng xót xa,
đau đớn thơng cho Kim Trọng. Kim Trọng là mối tình đầu đẹp nhất của Kiều. Kiều đã từng thề nguyền
thuỷ chung son sắt với chàng nhng gia đình gặp cơn tai biến, Kiều đành lỗi hẹn với ngời yêu. Trao duyên
lại cho em gái ruột, Kiều đau đớn đến ngất lịm đi. Vì vậy, càng nhớ tới Kim Trọng, Kiều càng xót xa, tiếc
nuối. Từ hớng về Kim Trọng độc thoại cùng chàng, Kiều quay lại độc thoại với chính lịng mình. Nàng tự
nhủ thầm, dù sau này nàng có phải lu lạc nơi chân trời góc bể thì tấm lịng son sắt của nàng với Kim
Trọng khơng bao giờ có thể thay đổi đợc. Càng nhớ thơng Kim Trọng, Kiều càng day dứt ân hận vì nàng
đã phụ tình chàng. Để miêu tả nỗi nhớ thơng Kim Trọng của Kiều, Nguyễn Du nh nhập thân vào Kiều để
nói hộ nàng nỗi nhớ thơng đó nên trong lời thơ miêu tả nỗi nhớ ngời yêu của Kiều nh có nhịp thổn thức
của một trái tim yêu thơng đang nhỏ máu. Nhà thơ đã sử dụng các thành ngữ chỉ thời gian, không gian,
nghệ thuật ẩn dụ, từ Hán Việt để diễn tả nỗi nhớ nên nỗi nhớ đó càng thêm tha thiết, chân thực và mãnh
liệt vơ cùng. Ta có thể thấy tấm lòng chung thủy với ngời yêu của Kiều qua ni nh ú.
Sau nỗi nhí ngêi yªu, KiỊu nhí cha mĐ:
Xót ngời tựa cửa hơm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng ma,
Có khi gốc tử đã vừa ngời ôm.
Kiều. Miêu tả nỗi nhớ cha mẹ của Kiều, Nguyễn Du vẫn sử dụng ngôn ngữ độc thoại, vẫn lấy khoảng cách
của không gian, chiều dài của thời gian để miêu tả nỗi nhớ nên nỗi nhớ cha mẹ thật chân thành, tha thiết.
Để Kiều nhớ ngời yêu trớc, nhớ cha mẹ sau là Nguyễn Du đã đi ngợc với đạo hiếu của giai cấp
phong kiến. Nhng ở đây ta có thể thấy đó là cái nhìn khách quan của nhà thơ khi miêu tả tâm trạng của
Kiều. Ông cảm thơng, bênh vực cho nỗi lịng của ngời con gái bởi với cha mẹ Kiều đã phần nào đáp đền
bằng cách bán mình chuộc cha cịn với ngời u, Kiều chỉ cảm thấy mình nh một kẻ phụ tình. Cho nên để
Kiều nhớ Kim Trọng trớc không trái với đạo lý mà cịn hồn tồn phù hợp với hồn cảnh tõm trng ca
nng lỳc ú.
<b>* Tám câu thơ cuối: Nỗi bn cđa KiỊu:</b>
Sau khi miêu tả hai nỗi nhớ, Nguyễn Du miêu tả nỗi bn cđa KiỊu:
Bn tr«ng cưa bĨ chiỊu h«m,
Thun ai thÊp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nơc mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Bun trụng ni c rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buån tr«ng gió cuốn mặt duềnh,
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngåi.
Tám câu thơ là một bức tranh thiên nhiên tồn cảnh có cửa bể, con thuyền, cánh buồm, ngọn nớc,
cánh hoa, nội cỏ, chân mây, mặt đất, sóng, gió. Gam màu chủ đạo của bức tranh thiên nhiên chủ yếu là
màu xanh, tất cả đã diễn tả nỗi buồn của Kiều khi ở lầu Ngng Bích trong buổi chiều hơm. Thời gian ở đây
là thời gian của tâm trạng nên lúc là đêm khuya, lúc là buổi chiều. Cũng giống nh các nhà thơ cổ khác, khi
miêu tả tâm trạng buồn của con ngời, Nguyễn Du cũng lấy hình ảnh buổi chiều làm nền để tả. Tám câu
Qua đoạn trích “<i> Kiều ở lầu Ngng Bích</i>”, ta nhận thấy điều đáng thơng trong cuộc đời Kiều đó là
nàng bị giam hãm vì những âm mu đen tối; tâm hồn Kiều bị dằn vặt bởi những lo lắng hãi hùng do cuộc
sống xung quanh gây ra; Kiều khơng cịn hi vọng nào về tuổi trẻ, hạnh phúc. Ngời đọc cũng cảm nhận đợc
vẻ đẹp trong tâm hồn Kiều đó là lịng vị tha, lòng chung thủy, hiếu thảo, cảm nhận đợc khát vọng tình yêu,
hạnh phúc của Kiều.
<b> 3.KÕt bµi:</b>
Đoạn trích tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du. Để miêu tả thành công
tâm trạng của Kiều khi ở lầu Ngng Bích, Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ độc thoại phù hợp với nội tâm
nhân vật, các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, điệp ngữ. Đoạn thơ mang âm hởng của ca dao, thể thơ lục bát
dân tộc. Đoạn trích Nguyễn Du đã dựng lên một hồn cảnh tha hơng cơ đơn, một tâm trạng chua xót vì
mối tình đầu tan vỡ, một nỗi đau buồn vì cách biệt cha mẹ và cuối cùng là dự cảm về một tơng lai bi thơng
đầy bão tố sắp ập xuống cuộc đời Kiều. Không chỉ Nguyễn Du xót xa với nỗi đau buồn của Kiều mà ng ời
đọc cũng xót xa thơng cảm với số phận bất hạnh của nàng. Càng cảm thông với nỗi đau buồn của Kiều, ta
càng căm ghét xã hội phong kiến đã đày đọa cuộc đời ngời con gái tài sắc nh Kiều.
“ Truyện Kiều” là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. Truyện không chỉ thành cơng về mặt nội dung mà
cịn đặc sắc về mặt nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. “Kiều ở lầu Ngng Bích” là đoạn thơ
tiêu biểu nhất cho sự thành công ấy. Đặc biệt là tám câu thơ cuối của đoạn trích miêu tả tâm trạng buồn
,cô đơn, lo sợ hãi hùng của Th Kiều nơi Lầu Ngng Bích:
Bn tr«ng cưa bĨ chiỊu hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nơc mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Bun trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
<b> 2.Thân bµi:</b>
Có thể nói đoạn thơ là một bức tranh tâm tình đầy xúc động và là sự thể hiện bút pháp tài hoa của
Tám câu thơ là một bức tranh thiên nhiên tồn cảnh có cửa bể, con thuyền, cánh buồm, ngọn nớc,
cánh hoa, nội cỏ, chân mây, mặt đất, sóng, gió. Gam màu chủ đạo của bức tranh thiên nhiên chủ yếu là
màu xanh, tất cả đã diễn tả nỗi buồn của Kiều khi ở lầu Ngng Bích trong buổi chiều hơm. Thời gian ở đây
là thời gian của tâm trạng nên lúc là đêm khuya, lúc là buổi chiều. Cũng giống nh các nhà thơ cổ khác, khi
miêu tả tâm trạng buồn của con ngời, Nguyễn Du cũng lấy hình ảnh buổi chiều làm nền để tả. Tám câu
thơ đợc chia làm bốn cảnh, bắt đầu mỗi câu lục là điệp ngữ “ <i>buồn trông</i>” đợc nhắc lại bốn lần vang lên
nh một khúc ca buồn thảm xoáy vào tâm trạng của Kiều.
Mét mình giữa một không gian mênh mông, Kiều cảm thấy bơ vơ. Một nỗi nhớ quê hơng bỗng
trào lên da diết:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng c¸nh buåm xa xa?
Câu thơ gợi tả cảnh biển mênh mang trong ánh chiều đang dần tắt lịm. Nhìn ra cửa bể chiều hơm,
Kiều thấy con thuyền thấp thống với cánh buồm phía xa xa. Hình ảnh “<i> cửa bể</i>” gợi cho ta thấy một
không gian mênh mông, rộng lớn trên đó chỉ có con thuyền trơi nổi bập bềnh. Biển càng rộng lớn, con
thuyền càng bé nhỏ. Nh vậy qua hình ảnh “ <i>cửa bể, con thuyền, cánh buồm</i>”, Nguyễn Du đã mợn cảnh để
nói về nỗi cơ đơn, buồn tỉu trong lịng Kiều. Hình ảnh con thuyền gợi nhớ quê hơng. Kiều nhớ cha mẹ,
nhớ các em, không biết đến bao giờ nàng mới đợc trở về thăm lại ngời thân. Nhìn cánh buồm lẻ loi trôi
nổi giữa biển khơi, Kiều nghĩ đến thân phận cơ đơn, bơ vơ nơi góc bể chân trời của mình. Trớc cảnh trời
nớc bao la, một mình Kiều ở lầu Ngng Bích nh một cánh chim nhỏ bị nhốt trong lồng. Câu thơ của
Nguyễn Du nh phảng phất một chút nghệ thuật diễn đạt của ca dao:
Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về quê mẹ mà khơng có đị.
Cịn Kiều đang đứng trớc biển nhìn về phơng trời xa đăm đắm khát khao nhng vô cùng mệt mỏi.
“Buồn trông” gợi âm điệu buồn mênh mang. Nỗi buồn ấy nh nhân lên khi Kiều nhìn đóa hoa trơi bập bềnh
vơ nh:
Buồn trông ngọn nơc mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Nhỡn ngọn nớc mới sa, giữa dịng có cánh hoa trơi man mác, Kiều chạnh lòng băn khoăn, lo lắng
cho số kiếp lênh đênh, lu lạc, bấp bênh, vô định của mình. Phải chăng Kiều cũng chỉ nh cánh hoa đang
trơi nổi, vật vờ giữa dịng đời. Hình ảnh hoa trơi man mác gợi nỗi đau xót cho một đóa hoa lìa cội, lìa cành
nổi trơi bị sóng nớc dập vùi. Hoa lìa cành sẽ bị héo tàn. Nhìn cánh hoa trơi , Kiều liên tởng đến thân phận
mình cũng đang nhắm mắt để mặc dịng đời xơ đẩy.
Đọc những câu thơ tiếp theo, ta cành thấy rõ hơn tâm trạng của Kiều:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chõn mõy mt t mt mu xanh xanh.
Đoạn thơ với nhiều vần bằng, âm điệu thơ buồn tạo cho nhân vật có một cảm giác mệt mỏi chán
chờng trớc cảnh vật mênh mơng. Hình ảnh nội cỏ rầu rầu gợi cảm giác héo hắt tàn lụi, cạn dần sức sống.
Màu “xanh xanh” làm cho cỏ cây khơng cịn nét tơi sáng, lại thêm vẻ rầu rầu, sự sống càng thêm cạn kiệt,
bức tranh cỏ cây càng thêm sầu héo.Nhìn nội cỏ rầu rầu trải dài từ chân mây đến mặt đất, Kiều chán ngán
vô vọng và lo lắng nghĩ đến một tơng lai mờ mịt đang trải dài trớc mặt nàng.
Giữa bốn bề phong cảnh buồn tẻ ấy, Kiều chợt nghe thấy, chợt nghe:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
ầm ầm tiÕng sãng kªu quanh ghÕ ngåi.
chìm, hồn toàn bất lực. Kiều chới với nh rơi vào vực thẳm. Những âm thanh ghê rợn nh dự báo đã mách
bảo với chúng ta chặng đờng đầy chông gai của Kiều ở phía trớc.
Cả tám câu thơ đều xốy trịn trong nỗi buồn sợ hãi của Kiều. Nhìn vào đâu Kiều cũng thấy buồn.
Bốn bức tranh thiên nhiên đã gợi bốn nỗi buồn khác nhau của Kiều. Đó là nỗi đơn cơi, băn khoăn, bi
th-ơng, hãi hùng khủng khiếp. Để miêu tả những nỗi buồn trùng điệp của Kiều, nhà thơ đã sử dụng thành
công ngôn ngữ độc thoại, hệ thống từ láy, thanh bằng, câu hỏi tu từ, điệp ngữ, ngôn ngữ ớc lệ, miêu tả
cảnh thiên nhiên chân thực nh ở ngoài cuộc đời làm cho cảnh dễ đi vào lòng ngời đọc và nhất là nghệ
thuật tả cảnh ngụ tình kiệt xuất thơng qua các hình ảnh ẩn dụ, nhà thơ đã diễn tả thành công tâm trạng lẻ
loi, đơn độc, trôi nổi, dập vùi, héo tàn, một tơng lai đầy bão tố của Kiều. Tình thấm vào cảnh, cảnh khắc
sâu tình. Nguyễn Du đã đồng cảm, buồn thơng, đau với nỗi buồn thơng đau của Kiều. Vì vậy, chỉ với tám
câu cuối của đoạn trích, nhà thơ đã diễn tả đợc thành công nỗi buồn da diết, sâu lắng của Kiều. Tiếng sóng
gào gió cuốn phải chăng là hình bóng của Sở Khanh chuẩn bị lẻn vào để làm hại cuộc đời Kiều.
<b>3.KÕt bµi:</b>
“Kiều ở lầu Ngng Bích” là một trong những đoạn thơ hay nhất, thành công nhất của tác giả Nguyễn Du
trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong thơ Nguyễn Du vô cùng điêu luyện.
Cảnh mang hồn ngời. Cảnh và tình hịa hợp. Thật đúng là “cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, ngời buồn cảnh
có vui đâu bao giờ”. Mỗi bức tranh thiên nhiên, cảnh vật là một nét đau, nỗi lo, nỗi buồn tê tái của nàng
Kiều. Khơng chỉ Nguyễn Du xót xa với nỗi đau buồn của Kiều mà ngời đọc cũng xót xa thơng cảm với số
phận bất hạnh của nàng. Càng cảm thông với nỗi đau buồn của Kiều, ta càng căm ghét xã hội phong kiến
đã đày đọa cuộc đời ngời con gái tài sắc nh Kiều.
---truyện lục vân – Nguyễn đình chiểu
1.Mở bài: Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ mù yêu nớc vĩ đại, là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn
học cổ Việt Nam . Ơng để lại nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu nhất là truyện “Lục Vân Tiên”. Đoạn
trích “ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của Lục Vân Tiên và
Kiều Nguyệt Nga. Họ là những ngời dũng cảm, tài ba, trọng nghĩa khinh tài, vị nghĩa thơng ngời, hiền
hậu, nết na, ân tình.
2. Thân bài:
Đoạn trích “ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” nằm ở phần đầu của tác phẩm. Đoạn trích kể
về việc Lục Vân Tiên cứu giúp Kiều Nguyệt Nga thốt khỏi tay bọn cớp đờng, qua đó ca ngợi những phẩm
chất đẹp đẽ của Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.
* Nhân vật Lục Vân Tiên:
<b> Lục Vân Tiên là một chàng trai con nhà dân thờng, đợc cha mẹ cho lên núi học cả văn lẫn võ. Khi </b>
thành tài, Vân Tiên từ biệt thầy dạy để lên kinh đô dự thi. Chàng muốn thi thố tài năng để cứu đời. Trên
đ-ờng lên kinh đô thi, gặp đảng cớp đang cớp bóc, làm hại dân lành, đây là thời cơ để Vân Tiên ra tay cứu
ngời bị nạn. Gặp bọn cớp, Vân Tiên ra tay đánh chúng. Tình huống làm bộc lộ những phẩm chất cao đẹp
của Vân Tiên. Sau lời hứa chân thành “ Tôi xin ra sức anh hào. Cứu ngời cho khỏi lao đao buổi này”. Vân
Tiên đã ghé lại bên đàng, bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô để đánh bọn cớp. Có thể nói động cơ, mục
đích đánh cớp của Vân Tiên là xuất phát từ lòng thơng dân. Thấy dân gặp nạn, Vân Tiên tự nguyện giúp
họ, không cần tơng khen, khơng tính tốn thiệt hơn. Với vũ khí thơ sơ, chỉ là một chiếc gậy bẻ bên đờng,
lực lợng chênh lệch so với bọn cớp, vậy mà Vân Tiên vẫn không nao núng, không chút sợ sệt. Điều đó cho
thấy Vân Tiên là chàng trai anh hùng, dũng cảm, tài ba, chàng có đủ sức mạnh, tài năng để bênh vực kẻ
yếu. Trớc khi đánh cớp, Vân Tiên còn lên án chúng và nêu quyết tâm tiêu diệt bọn này. Dù cho bọn cớp
bủa vây song Vân Tiên vẫn tự nguyện dấn thân vào vịng nguy hiểm. Chàng chiến đấu hết sức mình và
thắng lợi rực rỡ. Nguyễn Đình Chiểu khơng tả tỉ mỉ cuộc chiến đấu của Vân Tiên mà ông chỉ kể gọn trận
đánh:
Vân Tiên tả đột hữu xông
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đơng Giang
Lâu la bốn phía vỡ tan
Đều quăng gơm giáo tìm đàng chạy ngay
Phong Lai trở chẳng kịp tay
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
động anh hùng, dũng cảm, tài ba của Vân Tiên. Chỉ trong một đoạn thơ ngắn, nhà thơ mù đã hết lời ca
ngợi hành động đánh cớp anh hùng của Lục Vân Tiên.
Phẩm chất đẹp đẽ của Vân Tiên không chỉ đợc ngợi ca ở hành động đánh cớp mà còn đợc tác
giả hết lời ca ngợi ở cách c xử sau khi đánh cớp của Vân Tiên. Vốn là ngời giàu lòng nhân hậu, đánh cớp
xong, nghe tiếng than khóc ở trong xe, Vân Tiên đã ghé lại ân cần thăm hỏi ngời bị nạn. Chàng động lòng
thơng họ. Thái độ của Vân Tiên là đàng hoàng, lịch thiệp đúng mực, giữ lễ chứng tỏ chàng là ngời khiêm
nhờng, có giáo dục, tuy cịn có chút câu lệ của lễ giáo phong kiến. Vân Tiên hỏi thăm tên họ, gia cảnh,
quê quán của ngời bị nạn và nguyên nhân vì sao họ mắc nạn. Vì Vân Tiên là ngời chính trực nên chàng
muốn biết rõ mọi điều về hai cô gái. Kiều Nguyệt Nga – ngời con gái bị nạn đã nói những lời đẹp nhất
bày tỏ lịng cảm kích, lịng biết ơn chân thành với Vân Tiên. Nguyệt Nga băn khoăn vì đơng lúc giữa
đàng, của tiền chẳng có, bạc vàng cũng khơng để cảm ơn Vân Tiên thì Vân Tiên nghe nói liền cời “ Làm
ơn há dễ trông ngời trả ơn”. Nụ cời của Vân Tiên mới đáng u, đáng kính làm sao. Đó là nụ cời của ngời
anh hùng quân tử, của ngời con trai Nam Bộ hiền lành chất phác . Lời nói của Vân Tiên đã cho thấy chàng
làm việc nghĩa mà không cần nhận sự trả ơn. Vân Tiên coi việc cứu giúp Nguyệt Nga là một việc nghĩa
nên làm của ngời qn tử, chàng khơng coi đó là cơng trạng nên không cần nhận sự đền ơn. Nhất là khi
hiểu rõ về Nguyệt Nga thì Vân Tiên lại càng khơng tính thiệt so hơn làm gì. Đối với Vân Tiên, ngời quân
tử thấy việc nghĩa mà không làm, khơng cứu giúp thì khơng phải là ngời anh hùng. Có thể nói, từ hành
động đánh cớp đến cách c xử của Vân Tiên với ngời bị nạn đã chứng tỏ Vân Tiên là một trang anh hùng
nghĩa hiệp có tinh thần dũng cảm tài ba, có tấm lòng trọng nghĩa khinh tài. Chàng làm việc nghĩa vì thơng
ngời, chàng có khát vọng cứu dân. Hình ảnh Vân Tiên để lại ấn tợng đẹp trong lòng ngời đọc.
<b>* Nh©n vËt KiỊu Ngut Nga:</b>
Đoạn trích khơng chỉ ca ngợi vẻ đẹp trong hành động đánh cớp và trong cách c xử của Vân
Tiên mà còn ca ngợi vẻ đẹp của Kiều Nguyệt Nga. Kiều Nguyệt Nga là một cơ gái có nhan sắc “ vóc ngọc
mình ngà, má đào mày liễu, dung nhan lạnh lùng”. Nàng là con quan, sống trong khuê các, nhng vì đợc
sống gần dân nên Nguyệt Nga đợc ảnh hởng những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân. Là ngời con gái đợc
giáo dục chu đáo nên nàng hiếu thảo, ngoan ngoãn, vâng lời cha mẹ:
Làm con đâu dám cãi cha
Vì dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.
Khơng chỉ hiếu thảo, ngoan ngỗn, biết vâng lời cha mẹ mà Nguyệt Nga còn là ngời con gái hiền
hậu nết na, trọng ơn nghĩa. Vân Tiên đánh cớp là chàng không chỉ cứu mạng sống của Nguyệt Nga mà
chàng còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng. Vì vậy, nàng đã bày tỏ lịng biết ơn chân thành với Vân
Tiên qua những lời đối đáp dịu dàng. Cuộc trò chuyện giữa Nguyệt Nga và Vân Tiên cho thấy nàng là
ng-ời con gái có học nên nói năng khúc chiết, mực thớc, rõ ràng. Nàng đáp ứng đầy đủ những lng-ời hỏi thăm về
tên họ, gia cảnh, quê quán và nguyên nhân mắc nạn của nàng. Là cô gái con quan lá ngọc cành vàng nhng
Nguyệt Nga nói năng rất khiêm nhờng, lễ độ. Nàng nói những lời đẹp nhất để bày tỏ lịng cảm kích chân
thành với Vân Tiên:
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy
Tiết trăm năm cũng bỏ đi mét håi
Tríc xe qu©n tư t¹m ngåi
Xin cho tiƯn thiÕp l¹y råi sÏ tha.
Nguyệt Nga coi ơn cứu mạng của Vân Tiên là vô cùng to lớn nên nàng bày tỏ lòng biết ơn với
Vân Tiên bằng cách muốn lạy tạ chàng. Vân Tiên không nhận cái lạy tạ của Nguyệt Nga, nàng lại đề nghị
muốn đợc mời chàng về nhà để cha Nguyệt Nga trả ơn cho Vân Tiên.
Hà Khê qua đó cũng gần
Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng.
Những lời nói của Nguyệt Nga thật dịu dàng, thành tâm với Vân Tiên, chứng tỏ nàng là ngời con
gái thật hiền hậu, nết na, thùy mị. Trong những lời nói bày tỏ tấm lịng muốn đợc trả ơn Vân Tiên, Nguyệt
Nga băn khoăn vì đơng lúc giữa đờng, của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không để trả ơn chàng. Ngời con
gái ấy muốn đợc trả ơn ngời cứu mình bằng cả vật chất lẫn tinh thần. Khơng có vật chất để trả ơn, nàng
cảm thấy day dứt:
Gẫm câu báo đức thù công
LÊy chi cho phải tấm lòng cùng ngơi.
Qua những lời giãi bày của Nguyệt Nga với Vân Tiên ta thấy nàng là ngời con gái giàu lòng hiếu
thảo, hiền hậu, nết na, trọng nghĩa tình. Nguyệt Nga coi ân nghĩa là gốc rễ của đạo đức. Khơng chỉ có vậy,
sau khi từ biệt Vân Tiên, cảm kích trớc tấm lịng của chàng, Nguyệt Nga đã vẽ hình Vân Tiên và nguyện
sẽ chung thủy với chàng suốt đời. Có thể nói, Kiều Nguyệt Nga là ngời con gái mang những vẻ đẹp điển
hình của ngời phụ nữ Việt Nam. Cả Nguyệt Nga và Vân Tiên đều có những vẻ đẹp lí tởng của ngời anh
hùng, của ngời phụ nữ: anh hùng, dũng cảm, trọng nghĩa, thủy chung. Cả hai đều sống theo đạo đức cổ
truyền của dân tộc. Là những tấm gơng sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
3. KÕt bµi:
dạ, dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì việc nghĩa, trọng nghĩa khinh tài. Chàng đã sống đúng nh lí tởng cao đẹp
mà chàng đặt ra. Còn Kiều Nguyệt Nga là cơ gái nết na, chung thủy, trọng nghĩa vẹn tình.
<b>1.Më bµi:</b>
<b> Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ 19.Ông </b>
đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Tiêu biểu nhất là truyện “ Lục Vân Tiên”. Đoạn trích “ Lục
Vân Tiên gặp nạn” đã cho thấy bản chất xấu xa, đê hèn của Trịnh Hâm và ca ngợi những phẩm chất tốt
đẹp của ơng chài.
<b>2. Th©n bài: </b>
* Nhân vật Trịnh Hâm:
<b> on trớch “ Lục Vân Tiên gặp nạn ” nằm ở phần hai của tác phẩm. Trớc khi vào trờng thi, Vân Tiên</b>
đợc tin mẹ mất, chàng bỏ thi trở về chịu tang mẹ. Vì thơng khóc mẹ nhiều, lại bị bọn thầy phù thủy, lang
băm, thầy bói lừa gạt mất hết tiền, ốm đau bệnh tật làm mắt Vân Tiên bị mù. Trên đờng về, Vân Tiên gặp
Trịnh Hâm. Hai ngời từng là bạn của nhau trớc khi vào trờng thi, họ đã từng chén trà, chén rợu thi thơ với
nhau. Gặp Trịnh Hâm, Vân Tiên có lời nhờ “ tình trớc nghĩa sau, có thơng xin khá giúp nhau phen này”.
Trịnh Hâm giả nhân, giả nghĩa nhận lời
Đơng khi hoạn nạn gặp nhau.
Ngời lành nhỡ bỏ ngời đau sao đành.
Bên ngồi thì nói vậy nhng trong lòng Trịnh Hâm đã sắp đặt sẵn âm mu để hãm hại Vân Tiên. Động
cơ Trịnh Hâm hãm hại Vân Tiên là do hắn ghen ghét, đố kị vì thua tài Vân Tiên trớc đây. Nay Vân Tiên bỏ
thi ốm đau, thân tàn ma dại nhng Trịnh Hâm vẫn không tha. Để giết Vân Tiên, Trịnh Hâm đã lừa tiểu đồng
vào rừng hái thuốc rồi trói vào gốc cây cho hổ ăn thịt sau đó hắn cho Vân Tiên xuống thuyền rồi rắp tâm
<b> * Nhân vật ông Ng:</b>
<b> Đối lập với bản chất thấp hèn của Trịnh Hâm là những việc làm nhân nghĩa và nhân cách cao </b>
đẹp của ông Ng. Vân Tiên gặp nạn, ngay cả con Giao Long hung dữ còn thơng chàng, cứu giúp Vân Tiên,
vậy mà những kẻ làm ngời nh Trịnh Hâm lỡ tâm hãm hại bạn mình, hắn khơng bằng loài cầm thú. Vân
Tiên gặp nạn đã đợc ông ng cứu giúp. Cả đoạn thơ còn lại của đoạn trích đã ca ngợi những việc làm nhân
đức và phẩm chất tốt đẹp của ông Ng. Việc làm nhân đức đầu tiên là ông thấy ngời bị nạn, khơng cần biết
họ là ai, khơng đắn đo tính tốn, ơng đã “ vớt ngay lên bờ”. Sau khi vớt ngay ngời bị nạn lên bờ, ông giục
con đốt lửa để “ ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”. Có thể nói cả gia đình ơng đều làm việc nghĩa cứu
ng-ời. Ai cũng nhanh chóng, gấp gáp, khẩn trơng, hết mình vì sự sống của nạn nhân. Bằng phơng thức dân
gian, ơng và gia đình đã cứu sống đợc Vân Tiên. Ơng mừng vì đã giành lại đợc sự sống cho một ngời lơng
thiện. Khi biết đợc hoàn cảnh đáng thơng của Vân Tiên, ông đã mời chàng ở lại, sẵn sàng cu mang Vân
Tiên:
Ng r»ng: “ Ngêi ë cïng ta
H«m mai hÈm hót víi giµ cho vui”.
Gia cảnh của ông ng cũng chẳng giàu có gì vậy mà ơng vẫn sẵn sàng cu mang một con ngời ốm
đau bệnh tật nh Vân Tiên, mời chàng ở lại cùng chung cuộc sống rau cháo hẩm hút với ơng. Điều đó cho
thấy tấm lịng nhân nghĩa cao đẹp của ơng. Nhanh chóng giành lại sự sống cho Vân Tiên, đề nghị đợc giúp
đỡ chàng, điều đó chỉ có đợc ở những ngời lao động lơng thiện nghèo khổ. Những ngời lao động nghèo
th-ờng cảm thơng với hồn cảnh khó khăn của ngời cùng giai cấp với mình. Tấm lịng nhân nghĩa của ơng
ng là đại diện cho bản tính tốt đẹp của ngời lao động mà Nguyễn Đình Chiểu khơng mất lịng tin ở họ.
Vân Tiên nói lời báo đáp cơng ơn, nhng ông ng đã cho Vân Tiên thấy quan niệm sống của mình:
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Những lời của ông ng giãi bày cùng Vân Tiên đã giúp ta hiểu thêm về nhân cách cao đẹp của
ơng. Ơng khơng mơ tiền bạc của cải, không mơ địa vị giàu sang mà ơng chỉ mơ đợc dốc hết lịng, hết sức
làm việc nghĩa. Ơng làm việc nghĩa mà khơng chờ đợc trả ơn. Quan niệm này cũng giống nh Vân Tiên khi
cứu Kiều Nguyệt Nga “Làm ơn há dễ trông ngời trả ơn”, giống nh ông tiều khi cứu Vân Tiên: “Làm ơn mà
lại trong ngời hay sao”. Có thể nói những con ngời nhân nghĩa giống nhau ở nhân cách cao đẹp là sẵn
sàng làm việc nghĩa mà khơng chờ báo đáp trả ơn. Ơng là ngời trong nghĩa khinh tài. Nhân nghĩa đã trở
thành bản chất, thành lẽ sống của ơng. Ơng làm việc nghĩa một cách hào hiệp, vô t. Vân Tiên gặp nạn
nh-ng chành-ng đã gặp đợc một nhân cách tuyệt vời là ơnh-ng Ng. Ơnh-ng đã giúp cho Vân Tiên chiến thắnh-ng Trịnh
Hâm là giúp cho điều thiện thắng cái ác. Ngợi ca việc làm nhân đức và tấm lòng nhân nghĩa của ơng Ng là
Nguyễn Đình Chiểu đã hết lời ca ngợi những ngời lao động lơng thiện nghèo, hết lời đề cao đạo lí ở đời
mà ơng Ng tin tởng. Cái thiện của ơng Ng cịn đợc biểu hiện ở cuộc sống thanh bần của ông. Mời câu thơ
cuối đoạn đã miêu tả cuộc sống thanh bần đó của ơng Ng thật tuyệt vời:
Rµy doi mai vịnh vui vầy
Ngy kia hng giú, ờm ny chi trng.
Mt mình thong thả làm ăn,
Nghêu ngao nay chích mai đầm,
Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
Kinh luân đã sẵn trong tay,
Thung dung dới thế vui say trong trời.
Thuyền nan một chiếc ở đời,
Tắm ma chải gió trong vời Hàn Giang.
Đoạn thơ miêu tả cuộc sống thảnh thơi, bồng bềnh, phóng khống giữa sơng nớc gió trăng, đắm
mình trong thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên của ông chài. Cuộc sống của ông là cuộc sống tự do
về thời gian và khơng gian, tự mình làm chủ mình. Chăm chỉ cần cù lao động. Bằng các từ chỉ thời gian
nh “rày, mai, ngày kia, đêm này” các từ chỉ khơng gian “doi, vịnh, chích, đầm...” tất cả đã miêu tả một
cuộc sống ung dung thanh cao, tự tại của ông chài giữa thiên nhiên cao rộng. Ơng khơng phải là một nhà
hiền triết nhng chỉ qua các từ “hứng gió, chơi trăng” ta nhận thấy ông giống nh một nhà hiền triết sống ẩn
dật. Một ngời lao động bình thờng, suốt cuộc đời cần cù chăm chỉ làm ăn mà có vẻ đẹp tâm hồn tuyệt vời
nh thế thật đáng kính, đáng trọng. Vì yêu tự do, yêu thiên nhiên nên ông đã tách khỏi dòng đời bon chen
bụi bặm, ông lánh đục về trong. Đắm mình trong thiên nhiên. Ông tận hởng tất cả vẻ đẹp của sông nớc,
gió trăng. Thiên nhiên làm bầu bạn với ơng. Gió chải mợt mái tóc ơng, nớc ma tắm mát thân mình ơng.
Tâm hồn ơng ln rộng mở để thiên nhiên ùa vào. Có thể nói cả gia đình, cuộc sống, việc làm, những nỗi
buồn, niềm vui, tâm sự của ông chài đều thu lại trong chiếc thuyền bé nhỏ đơn sơ mà sao nhân cách của
ông lại thanh cao đến thế. Ơng Ng khơng phải là một nhân vật phò đời giúp nớc nh Vân Tiên, nhng nhân
cách cao đẹp của ông rất đáng để chúng ta học tập. Miêu tả cuộc sống thanh cao của ông Ng, nhà thơ mù
nh nhập vào hồn nhân vật để nói hộ nhân vật của mình khát vọng sống, lịng tin u cuộc đời. Có thể nói
trong ông Ng và Vân Tiên đều nh có mảnh hồn của Nguyễn Đình Chiểu. Ơng Ng là biểu hiện cho cái
thiện đáng kính, đáng trân trọng. Nhân cách của ông đáng để chúng ta học tập.
3. KÕt bµi:
Đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn có kết cấu giống truyện cổ dân gian, ngơn ngữ giàu cảm xúc,
khống đạt nhng bình dị, dân dã mang đậm chất Nam Bộ. Nghệ thuật đối lập giữa hai nhân cách càng làm
nổi bật phẩm chất cao đẹp của ơng Ng. Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi những phẩm chất cao đẹp của họ. Qua
đó nhằm ca ngợi đạo lý sống đẹp ở đời. Đạo lý đó đáng để chúng ta soi vào và học tập.
Bài đồng chí
<b>1. Mở bài:</b>
<b>Cách 1:</b> Chớnh Hu l nh th quõn i trng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Phần lớn thơ
ơng hướng về đề tài người lính với lời thơ đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ hàm súc, cơ đọng giàu
hình ảnh. Bài thơ “<i>Đồng chí”</i> là một trong những bài thơ hay viết về người lính của ông. Bài thơ đã diễn
tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh bộ đội thời kháng chiến.
<b>C¸ch 2:</b>Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, hình ảnh người lính mãi mãi là hình ảnh cao quý
và sâu lắng, bằng chính sự trải nghiệm của người trong cuộc, qua bài thơ <i>“Đồng chí”</i>, Chính Hữu đã diễn
tả thật sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng liêng của anh b i thi khỏng chin.
<b>2. Thân bài</b>:
<b>* Hoàn cảnh s¸ng t¸c:</b>
Chính Hữu viết bài thơ : “Đồng chí” vào đầu năm 1948, khi đó ơng là chính trị viên đại đội, đã từng
theo đơn vị tham gia chiến dịch Việt Bắc, và cũng là người đã từng sống trong tình đồng chí, đồng đội
keo sơn, gắn bó vượt qua những khó khăn gian khổ trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.
<b>* Cơ sở của tình đồng chí: (7 câu thơ đầu):</b>
Trong b¶y câu thơ đầu, nhà thơ lý giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của những
người lính cách mạng. <b>Cùng chung cảnh ngộ xuất thân</b>.Trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, những
chiến sĩ dũng cảm, kiên cường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc khơng ai khác chính là những người nơng dân
mặc áo lính. Từ giã quê hương, họ ra đi tình nguyện đứng trong đội ngũ những người chiến đấu cho một
lí tưởng chung cao đẹp, đó là độc lập tự do cho dân tộc. Mở đầu bài thơ là những tâm sự chân tình về con
người và cuộc sống rất bình dị và cũng rất quen thuộc:
<i>Quê hương anh nước mặn đồng chua.</i>
<i> Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá</i>
Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về
những ngày đầu tiên gặp gỡ. Họ đều là con em của những vùng q nghèo khó, là những nơng dân ở nơi
“nước mặn đồng chua” hoặc ở chốn “đất cày lên sỏi đá”.Hình ảnh “q hương anh” và “làng tơi” hiện lên
với biết bao nỗi gian lao vất vả, mặc dù nhà thơ khơng chú ý miêu tả. Nhưng chính điều đó lại làm cho
hình ảnh vốn chỉ là danh từ chung chung kia trở nên cụ thể đến mức có thể nhìn thấy được, nhất là dưới
con mắt của những người con làng quê Việt Nam. Thành ngữ dân gian được tác giả vận dụng rất tự nhiên,
nhuần nhuỵ khiến người đọc có thể dễ dàng hình dung được những miền quê nghèo khổ, nơi sinh ra
những người lính. Khi nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, họ sẵn sàng ra đi và nhanh chóng có mặt
trong đoàn quân chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.
Hai câu thơ đầu theo cấu trúc sóng đơi, đối ứng: “<i>Quê anh – làng tôi</i>” đã diễn tả sự tương đồng về
cảnh ngộ. Và chính sự tương đồng về cảnh ngộ ấy đã trở thành niềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở cho tình
<b>Cùng chung lí tưởng chiến đấu</b>: Trước ngày nhập ngũ, những con người này vốn “xa lạ”:
<i>“Anh với tôi đôi người xa lạ</i>
<i> Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”</i>
Những câu thơ mộc mạc, tự nhiên, mặn mà như một lời thăm hỏi. Họ hiểu nhau, thương nhau, tri
kỉ với nhau bằng tình tương thân tương ái vốn có từ lâu giữa những người nghèo, người lao động. Nhưng
“tự phương trời” họ về đây không phải do cái nghèo xô đẩy, mà họ về đây đứng trong cùng đội ngũ do họ
có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả: chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Hình ảnh : “<i>Anh – tơi</i>”
riêng biệt đã mờ nhồ, hình ảnh sóng đơi đã thể hiện sự gắn bó tương đồng của họ trong nhiệm vụ và lí
tưởng chiến đấu: “<i>Súng bên súng đầu sát bên đầu”</i>. “Súng” và “đầu” là hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa
tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. Điệp từ “súng” và “đầu” được nhắc lại hai lần
như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí.
Tình đồng chí nảy nở bền chặt trong<b> sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao </b>cũng như niềm vui, đó là
mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà
hết sức gợi cảm: “Đêm rét chung chăn thành đơi tri kỉ”. Đêm Việt Bắc thì q rét, chăn lại quá nhỏ, loay
hoay mãi không đủ ấm. Đắp được chăn thì hở đầu, đắp được bên này thì hở bên kia. Chính trong những
ngày thiếu thốn, khó khăn ấy từ “xa lạ” họ đã trở thành tri kỉ của nhau. “Tri kỉ” là người bạn thân thiết
hiểu rất rõ về ta. Vất vả nguy nan đã gắn kết những người đồng chí khiến họ trở thành người bạn tâm giao
gắn bó. Những câu thơ giản dị mà hết sức sâu sắc, như được chắt lọc từ cuộc sống, từ cuộc đời người
lính gian khổ. Bao nhiêu yêu thương được thể hiện qua những hình ảnh vừa gần gũi vừa tình cảm hàm
súc ấy. Chính Hữu đã từng là một người lính, đã trải qua cuộc đời người lính nên câu thơ bình dị mà có
sức nặng, sức nặng của tình cảm trìu mến, yêu thương với đồng đội. Hình ảnh thật giản dị nhưng rất cảm
động.
nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm kh¸c nhau, nhấn mạnh sự thiêng liêng cao cả trong tình
cảm mới mẻ này. Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục đích. Nhưng trong tình cảm ấy một khi có cái lõi
bên trong là « tình tri kỉ » lại được thử thách, được tôi rèn trong gian khổ thì mới thực sự vững bền.
Khơng cịn anh, cũng chẳng cịn tơi, họ đã trở thành một khối đồn kết, thống nhất gắn bó. Như vậy, trong
tình đồng chí có tình cảm giai cấp (xuất thân từ nơng dân), có tình bạn bè tri kỉ và có sự gắn bó giữa con
người cùng chung lí tưởng, chung mục đích chiến đấu. Và khi họ gọi nhau bằng tiếng “đồng chí” họ
khơng chỉ cịn là người nơng dân nghèo đói lam lũ, mà họ đã trở thành anh em trong cả một cộng đồng
với một lý tưởng cao cả vì đất nước quên thân để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương, cho dân tộc. Câu thơ
vẻn vẹn có hai chữ như chất chứa, dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ sáu câu thơ trước và khởi đầu cho
những suy nghĩ tiếp theo. Quả thật ngơn từ Chính Hữu thật là hàm súc.
<b>* Biểu hiện của tình đồng chí:</b>
Nhưng Chính Hữu đã khơng dừng lại ở việc biểu hiện những xúc cảm về q trình hình thành tình
đồng chí. Trong mười câu thơ tiếp theo nhà thơ nói về những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí.
Trước hết, đồng chí là sự <b>thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:</b>
<i>“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày</i>
<i>Gian nhà khơng mặc kệ gió lung lay</i>
<i>Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”</i>
Họ là những người lính gác tình riêng ra đi vì nghĩa lớn, để lại sau lưng mảnh trời quê hương với
những băn khoăn, trăn trở. Từ những câu thơ nói về gia cảnh, về cảnh ngộ, ta bắt gặp một sự thay đổi lớn
lao trong quan niệm của người chiến sĩ: “Ruộng nương” đã tạm gửi cho “bạn thân cày”, “gian nhà không”
giờ để “mặc kệ gió lung lay”. Lên đường đi chiến đấu, người lính chấp nhận sự hi sinh, tạm gạt sang một
bên những tính tốn riêng tư. Hai chữ “mặc kệ” đã nói lên được cái kiên quyết dứt khốt mạnh mẽ của
người ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, khi mục đích đã lựa chọn. Song dù dứt khoát, mạnh mẽ ra đi nhưng
những người lính nơng dân hiền lành chân thật ấy vẫn nặng lịng với q hương. Chính thái độ gồng mình
lên ấy lại cho ta hiểu rằng những người lính càng cố gắng kiềm chế tình cảm bao nhiêu thì tình cảm ấy
càng trở nên cháy báng tha thiÕt bấy nhiêu. Nếu không đã chẳng thể cảm nhận được nỗi nh nhung ca
hu phng: <i>ging nc gc đa nhớ người ra lính</i>”. Hình ảnh thơ hốn dụ mang tính nhân hố này
càng tơ đậm sự gắn bó u thương của người lính đối với q nhà, nó giúp người lính diễn tả một cách
hồn nhiên và tinh tế tâm hồn mình. “Giếng nước gốc đa” kia nhớ người ra lính hay chính tấm lịng người
ra lính khơng ngi nhớ q hương và đã tạo cho giếng nước gốc đa một tâm hồn? Quả thực giữa người
chiến sĩ và quê hương anh đã có một mối giao cảm vơ cùng sâu sắc đậm đà. Tác giả đã gợi nên hai tâm
tình như đang soi rọi vào nhau đến tận cùng. Ba câu thơ với hình ảnh: ruộng nương, gian nhà, giếng
nước, gốc đa, hình ảnh nào cũng thân thương, cũng ăm ắp một tình quê, một nỗi nhớ thương vơi đầy.
Nhắc tới nỗi nhớ da diết này, Chính Hữu đã nói đến sự hi sinh khơng mấy dễ dàng của người lính. Tâm tư
ấy, nỗi nhớ nhung ấy của “anh” và cũng là của “tơi”, là đồng chí họ thấu hiểu và chia sẻ cùng nhau. Tình
đồng chí đã được tiếp thêm sức mạnh bởi tình u q hương đất nước ấy.
Tình đồng chí cịn là sự <b>đồng cam cộng khổ, sự sẻ chia những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người </b>
<b>lính:</b>
<i>Anh với tơi biết từng cơn ớn lạnh</i>
<i> Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi</i>
<i> Áo anh rách vai</i>
<i> </i> <i> Quần tơi có vài mảnh vá</i>
quần áo rách bươm phải buộc túm lại nên người lính vệ quốc còn được gọi là “vệ túm”. Đọc những câu
thơ này, ta vừa khơng khỏi chạnh lịng khi thấu hiểu nhưng gian nan vất vả mà thế hệ cha ông đã từng trải
qua vừa trào dâng một niềm kính phục ý chí và bản lĩnh vững vàng của những người lính vệ quốc.
<b>Cùng hướng về một lí tưởng, cùng nếm trải sự khắc nghiệt của chiến tranh, người lính chia </b>
<b>sẻ cho nhau tình thương yêu</b> ở mức tột cùng. Chi tiết “miệng cười buốt giá” đã ấm lên, sáng lên tình
đồng đội và tinh thân lạc quan của người chiến sĩ. Rồi đến cái cử chỉ “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
đã thể hiện được tình thương yêu đồng đội sâu sắc. Cách biểu lộ tình thương u khơng ồn ào mà thấm
thía. Trong buốt giá gian lao, những bàn tay tìm đến để truyền cho nhau hơi ấm, truyền cho nhau niềm
<b> * Ba câu thơ cuối là bức tranh đẹp về tình đồng chí: </b>
<i>Đêm nay rừng hoang sương muối</i>
<i>Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới</i>
<i> Đầu súng trăng treo.</i>
Ba câu thơ tả một đêm phục kích giặc. Nền bức tranh là đêm – “rừng hoang sương muối”gợi ra
một cảnh tượng âm u, hoang vắng và lạnh lẽo. Không chỉ cái giá, cái rét cứ theo đuổi mà cịn bao nguy
hiểm đang rình rập người chiến sĩ.
Nổi bật trên nền hiện thực khắc nghiệt ấy là những người lính đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
trong cái nơi mà sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Từ “chờ” cũng đã nói rõ cái tư thế, cái tinh thần
chủ động đánh giặc của họ. Rõ ràng khi những người lính đứng cạnh bên nhau vững chãi, truyền cho
nhau hơi ấm thì tình đồng chí đã trở thành ngọn lửa sưởi ấm họ để họ có sức mạnh vượt qua cái cái gian
khổ, ác liệt, giá rét ấy… Tầm vóc của những người lính bỗng trở nên lớn lao anh hùng.
Câu thơ cuối là một hình ảnh đẹp được nhận ra từ những đêm hành quân phục kích giặc của chính
người lính. Đêm khuya, trăng trên vịm trời cao đã sà xuống thấp dần, ở vào một vị trí và tầm nhìn nào
đó, vầng trăng như treo trên đầu mũi súng của người chiến sĩ đang phục kích chờ giặc.Rõ ràng, tình cảm
đồng chí ấm áp, thiêng liêng đã mang đến cho người lính nét lãng mạn, cảm hứng thi sĩ trong hiện thực
đầy khắc nghiệt qua hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.Trong hồn cảnh hết sức gian khổ khốc liệt: đêm
đông giá lạnh, rừng hoang sương muối, cái chết cận kề, tâm hồn nh¹y cảm của người chiến sĩ vẫn tìm
thấy chất thơ bay bổng trong vẻ đẹp bất ngờ của trăng. Bốn chữ “Đầu súng trăng treo”chia làm hai vế
làm nhịp thơ đột ngột thay đổi, dồn nén, như nhp lc ca vầng trăng treo trên nòng súng. T “treo” đã tạo
nên một mối quan hệ bất ngờ độc đáo, nối hai sự vật ở cách xa nhau - mặt đất và bầu trời, gợi những liên
tưởng thú vị, bất ngờ. “Súng” là biểu tượng của chiến đấu, “trăng” là biểu tượng của cái đẹp, cho niềm
vui lạc quan, cho sự bình yên của cuộc sống. Súng và trăng là hư và thực, là chÊt chiến sĩ và chÊt thi sĩ, là
“một cặp đồng chí” tơ đậm vẻ đẹp của những cặp đồng chí đang đứng cạnh bên nhau. Chính tình đồng chí
đã làm cho người chiến sĩ cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp, vẫn thơ mộng, tạo cho họ sức mạnh chiến đấu và
chiến thắng.
Hiếm thấy một hình tượng thơ nào vừa đẹp vừa mang đầy ý nghĩa như “Đầu súng trăng treo”. Đây
là một sáng tạo đầy bất ngờ góp phần nâng cao giá trị bài thơ, tạo được những dư vang sâu lắng trong
lịng người đọc.
<b>* Suy nghĩ về tình đồng chí:</b>
mọi gian nguy để đi tới và làm nên thắng trận để viết lên những bản anh hùng ca, tô thắm thêm trang sử
chống Pháp hào hùng của dân tộc.
<b>3. KÕt bµi:</b>
Bài thơ “Đồng chí” vừa mang vẻ đẹp giản dị lại vừa mang vẻ đẹp cao cả thiêng liêng, thơ mộng. Cấu
trúc song hành và đối xứng xuyên suốt bài thơ làm hiện lên hai gương mặt người chiến sĩ rất trẻ như đang
thủ thỉ, tâm tình, làm nổi bật chủ đề tư tưởng: Tình đồng chí gắn bó keo sơn. Chân dung người lính vệ
quốc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp hiện lên thật đẹp đẽ qua những vần thơ mộc mạc,
chân tình mà gợi nhiều suy tưởng. Với những đặc điểm đó, bài thơ xứng đáng là một trong những tác
phẩm thi ca xuất sắc về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng của văn học Việt Nam.
<b>---Đề bài: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật.</b>“ ”
<b>1. Mở bài:</b>
<b>C¸ch 1:</b>
- Phạm Tiến Duật là một trong những tác giả tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống MÜ
cứu nước. Thơ Phạm Tiến Duật có giọng ngang tàng, tinh nghịch mà sôi nổi, trẻ trung.
-“Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” là một trong những bài thơ đặc sắc của Phạm Tiến Duật,
nằm trong chùm thơ được tặng giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1969 - 1970.
-Bài thơ đó ca ngợi t thế hiên ngang, bất khuất, tinh thần dũng cảm, lạc quan u đời, ý chí chiến
đấu giải phóng miền Nma của ngời chiến sĩ lái xe Trờng Sơn.
<b>C¸ch 2:</b>
“Cùng mắc võng trên rừng Trờng Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đờng ra trận mùa này đẹp lắm
Trờng Sơn đông nhớ Trờng Sơn tây...”.
Năm 1970, tập thơ “ Vầng trăng quầng lửa” của Phạm Tiến Duật ra đời. Tiếng thơ của ngời
chiến sĩ hoạt động trên tuyến đờng Trờng Sơn cất lên hào hùng, trẻ trung và hồn nhiên kì lạ. Thơ
Phạm Tiến Duật thể hiện tình cảm yêu nớc và chí khí anh hùng của thế hệ thanh niên trong cuộc
chiến tranh chống Mĩ qua những hình ảnh cơ thanh niên xung phong và anh bộ đội trên tuyến
đ-ờng Trđ-ờng Sơn. “<i> Lửa đèn , Tr</i>” “ <i>ờng Sơn đông, Trờng Sơn tây , Bài thơ về tiểu đội xe không </i>” “
<i>kính , Gửi em, cơ thanh niên xung phong</i>” “ ”... là những bài thơ rất nổi tiếng của chàng lính trẻ làm
<i> “ Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính” đợc nhà thơ viết vào năm 1969 – khi cuộc chống Mĩ đang </i>
diễn ra vô cùng ác liệt. Máy bay giặc Mĩ trút hàng ngàn, hàng vạn tấn bom đạn và chất độc hóa
học xuống con đờng chiến lợc mang tên Bác. Các trọng điểm mịt mù lửa khói suốt ngày đêm.
Những đoàn xe vận tải quân sự vẫn nối đi nhau đi lên phía trớc. Bài thơ đã ghi lại những nét
ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của ngời chiến sĩ lái xe Trờng Sơn thời đánh Mĩ.
<b>C¸ch 3:</b>
Người lớnh trở thành một đề tài lớn trong văn học chống Phỏp, chống Mĩ thời kỡ 1945 – 1975.
Những anh bộ đội cụ Hồ, những con người chịu bao hi sinh thử thỏch. Vỡ thế thật dễ hiểu tại sao
hỡnh ảnh của họ lại in đậm trong văn chương thời kỡ đú, như bài thơ: Đồng chớ, Khoảng trời hố
bom….. Và “bài thơ về tiểu đội xe khụng kớnh” của Phạm Tiến Duật là một trong những sỏng tỏc
ấy. Bài thơ đó khắc hoạ một cỏch độc đỏo vẻ đẹp của người lớnh lỏi xe Trường Sơn trong cuộc
chiến tranh chống quc M.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh:
Xe không kính không phải vì xe không có kÝnh
Bom giËt bom rung, kÝnh vì ®i råi.
Câu thơ làm hiện lên những chiếc xe khơng kính đang vợt qua bom đạn băng băng tiến ra chiến
tr-ờng. Một hình tợng thật độc đáo vì xa nay ít có, ít thấy loại xe khơng kính qua lại trên mọi nẻo đtr-ờng. Thế
mà trên con đờng chiến lợc Trờng Sơn vẫn có loại xe nh vậy, không phải đôi ba chiếc mà là hàng vạn
chiếc xe “ khơng kính” đang vợt qua mọi địa hình: đèo cao, dốc thẳm, khe suối, ngầm sơng, chạy trong
ma gió, đêm tối mịt mùng để chở hàng, tiếp viện cho chiến trờng miền Nam. Hình tợng độc đáo vì chiếc
xe mang sức mạnh thần kì của một dân tộc đang chiến đấu vì một quyết tâm sắt đá “ Xẻ dọc Trờng Sơn đi
cứu nớc”.Hai câu thơ đầu nói rõ vì sao xe “ <i>khơng có kính</i>”. Cấu trúc thơ dới hình thức hỏi -đáp. Câu thơ
đậm chất văn xuôi nhng đọc lên nghe rất thú vị. Bom đạn đã phá hủylàm cho kớnh vỡ. Ba chữ “<i>khụng</i>” đi
liền nhau với hai nốt nhấn “ <i>Bom giật, bom rung”</i>diÔn tả sự ác liệt của chiến tranh. Tỏc gi miờu tả
những chiếc xe khụng kớnh nhằm làm nổi rừ hỡnh ảnh những người chiến sĩ lỏi xe. Thiếu đi những điều
kiện phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội để người lỏi xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp của
họ. Những câu thơ tiếp theo khắc họa hình ảnh những ngời chiến sĩ lái xe trên tuyến đờng Trờng Sơn qua
một loạt hình ảnh hốn dụ: con mắt, mái tóc, mặt, tim, nụ cời... Một t thế ngồi lái “ ung dung” tuyệt đẹp. “
Ung dung” là t thế bình tĩnh, tự tin, ln làm chủ hồn cảnh. Những cái nhìn khống đạt, nhìn thấp, nhìn
thẳng, nhìn cao, nhìn xa dũng mãnh và hiên ngang:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Hai chữ “ ta ngồi” với điệp từ “ nhìn” láy lại ba lần, giọng thơ mạnh mẽ thể hiện sự tập trung cao
độ của ngời lính lái xe Trờng Sơn. Ngồi trong buồng lái các anh nhìn mặt đất để đi, nhìn bầu trời để phát
hiện máy bay địch, “nhìn thẳng” là nhìn trực tiếp vào khó khăn, nguy hiểm khơng run sợ, khơng né tránh.
<b>* Khổ 2:</b>
Phạm Tiến Duật đã dành trọn một khổ thơ nói lên những gì ngời chiến sĩ “ nhìn thấy”. Những câu
thơ nối tiếp xuất hiện với bao hình ảnh chẳng khác nào một đoạn phim quay nhanh:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đờng chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Nh sa, nh ùa vào buồng lái.
Ngồi trong buồng lái, khơng có kính chắn, ngời lính nh đợc giao hịa với thiên nhiên. Có gió thổi,
có cánh chim chiều và cả ánh sao đêm. Gió đợc nhân hóa và chuyển đổi cảm giác đầy ấn tợng nh một bàn
tay âu yếm dịu dàng “ <i>gió vào xoa mắt đắng</i>”. Xe chạy thâu đêm, xe lại khơng có kính nên mới có cảm
<b>* Khỉ 3:</b>
Nếu khổ thơ trên nói đến “ gió” thì khổ thơ tiếp theo nói đến “ bụi”. Gió bụi tợng trng cho gian
khổ, thử thách ở đời. Những tiếng “ừ thì” vang lên nh một thách thức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ
động của ngi chin s lỏi xe:
Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng nh ngời già
Cha cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha.
Bi Trờng Sơn mù mịt làm cho mái tóc xanh của những chàng lính trẻ qua mấy dặm trờng có sự
đổi thay đáng sợ: “ Bụi phun tóc trắng nh ngời già”. Một hình ảnh so sánh hóm hỉnh, độc đáo! Từ “ừ thì”
vang lên nh một sự thách thức ngang tàng, sẵn sàng chấp nhận khó khăn. Một kiểu hút thuốc rất lính. Một
nụ cời lạc quan yêu đời và hồn nhiên “ ha ha” cất lên từ một gơng “ mặt lấm” khi đồng đội gặp nhau: “
Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha!”.Có thể nói nụ cời ấy khác hẳn với “miệng cời buốt giá” trong thơ của
Chính Hữu. Nụ cời “ha ha” gợi lên sự sảng khối, nét vơ t hồn nhiên và cả khuôn mặt rạng rỡ, thánh thiện
của ngời lính.
Sau “ bụi” là nói đến “ ma”. Ma Trờng Sơn thật dữ dội “ Ma tuôn ma xối nh ngồi trời”. Thế là
ng-ời lính nếm trải đủ mùi gian khổ: gió, bụi, ma rừng. Ma đã “ tuôn” tất nhiên phải “ xối”. Bao nhiêu quần
áo ớt sạch vì phải ngồi trong buồng lái mà “ nh ngồi trời”. Thái độ của ngời lính trớc khó khăn ấy lại một
lần nữa chấp nhận nó vi s ch ng, thỏch thc:
Không có kính, ừ thì có bụi
Ma tuôn, ma xối nh ngoài trời
Cha cần thay lái trăm cây số nữa
Ma ngừng, gió lùa khô mau th«i!
Nhiệt tình cách mạng của ngời lính khơng cịn là trừu tợng nữa mà đợc tính bằng những cung đờng
“ lái trăm cây số nữa”. Cung đờng ấy trong bom đạn, ma tuôn phải trả giá bằng bao mồ hôi, xơng máu.
Câu thơ cuối đoạn bảy tiếng mà có tới sáu thanh bằng vừa gợi cảm giác nhẹ nhõm, ung dung, lạc quan,
vừa diễn tả niềm vui phơi phới, thênh thênh đầy nghị lực, bất chấp gian khổ “ Ma ngừng, gió lùa khơ mau
thơi”. Giọng điệu thơ đã tốt lên bản chất, tính khí ngang tàng của ngời lính. Dường như gian khổ hiểm
nguy của chiến tranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại họ xem đây là một dịp
để thử sức mình như người xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làm trai.
<b>* Khỉ 5+6:</b>
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đờng đi tới.
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Sau mỗi trận mưa bom bão đạn những chiếc xe bị tàn phá nặng nề hơn, nh÷ng ngêi lÝnh lại gặp nhau
trong những phút dừng chân ngắn ngủi. Hình tượng người chiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm
hồn và tình cảm. Đấy là tình cảm gắn bó, chia ngọt sỴ bùi của những chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời.
Cái bắt tay độc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lịng của tình đồng chí, đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm
thía : “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho li núi. Họ vui mừng khi gặp nhau, chúc nhau
hoàn thµnh nhiƯm vơ . Chỉ có những người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới có thể có những cái
bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưng mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng.
Từnglà ngời lính trong đoàn xe vận tải nên nhà thơ hiểu hiện thực cuộc sống của ngời lính lái xe. Đó
là cuộc sống sinh hoạt tạm bợ, thiếu thốn, gian khổ. Dù khó khăn thiếu thốn nhng tâm hồn ngời chiến sĩ
vẫn lạc quan, vui ph¬i phíi:
Bếp Hồng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đĩa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đờng xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Lúc nghØ gi÷a rõng, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơi thoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau
như anh em ruột thịt. Quan niệm về gia đình của ngời lính cũng thật giản dị cứ “ chung bát đĩa nghĩa là
gia đình đấy”. Những ngời lính từ những phơng trời xa lạ, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc họ
ra đi chiến đấu, họ gặp nhau và họp thành một gia đình, đó là gia đình chiến sĩ.. Gia đình ấy thiếu thốn
nh-ng mà vui bởi tâm hồn lạc quan của nh-ngời chiến sĩ. Có cái thơ mộnh-ng của cánh võnh-ng mắc chơnh-ng chênh trên
đờng đi, lại có cái hiên ngang của “bếp Hoàng Cầm” dựng giữa trời nh thách thức k thự. ri li tip
tc những bớc chân hnh quân hèi h¶ “Lại đi lại đi trời xanh thêm”. Trong tâm hồn họ, trời như xanh
thêm chứa chan hi vọng lạc quan dào dạt. Câu thơ bay bay, phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ. Điệp
từ “lại đi” được lặp lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà
khơng một sức mạnh đạn bom nào có thể ngăn cản nổi. Sự sống không chỉ tồn tại mà còn tồn tại trong
một tư thế kiêu hãnh, hiên ngang – tư thế của người chiến thắng.
Xe vẫn chạy vì miỊn Nam phÝa tríc.
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Khổ cuối bài thơ làm nổi bật cái dữ dội, khốc liệt của chiến tranh: Chiếc xe vận tải quân sự mang
“ có”: “ Khơng có kính rồi xe khơng có đèn.Khơng có mui xe thùng xe có xớc”. Hai cõu đầu dồn dập
những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đường trường gây ra: nhng chic xe b h hng
nhiu hn vàkhông chỉ là mất mát về vật chất, bit bao chin s đã dũng cảm hi sinh. Điệp ngữ “khơng
có” nhắc lại 3 lần như nhân lên 3 lần thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm 4 khúc như bốn chặng
gập ghềnh, khúc khuỷu đầy chông gai, bom đạn.... Ấy vậy mà những chiếc xe như những chiến sĩ kiên
cường vượt lên trên bom đạn, vÉn hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảm thiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước.
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Hai câu cuối âm điệu đối chọi mà trơi chảy, êm ru. Hình ảnh đậm nét. Vậy là đoàn xe đã chiến
thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn với một tình cảm thiêng liêng
“vì Miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi.
Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ, phẩm chất anh hùng của ngi cm lỏi tớch t,
ng kt li hình ảnh “trái tim” gan góc, kiên cường, giầu bản lĩnh và chan chứa tình u thương này.
Phải chăng chính trái tim con người đã cầm lái? Tình yêu Tổ Quốc, tình u thương đồng bào, đồng chí
cđa m×nh đã khích lệ, động viên người chiến sĩ vận tải vượt khó khăn gian khổ, ln lạc quan, bình tĩnh
nắm chắc tay lỏi, nhỡn thật đỳng hướng để đưa đoàn xe khẩn trương tới đớch. Có “trái tim” ấy là sẽ có tất
cả bởi nhà thơ Tố Hữu đã từng khẳng định:
Xe đi trong đêm tối
Dù đờng lạ đờng quen
Xe đi khơng lạc lối
Có mắt ta làm đèn.
Với Phạm Tiến Duật “trái tim” trong câu thơ là hình ảnh hốn dụ thể hiện sức mạnh chiến đấu, ý chí
hiên ngang bất khuất tất cả vì sự nghiệp giải phóng miền Nam của ngời chiến sĩ .
Ẩn sau ý nghĩa trái tim cầm lái, câu thơ cịn muốn hướng người đọc về một chân lí của thời đại
chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng khơng phải là vũ khí, là cơng cụ... mà là con người- con người
mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí kiên cường dũng cảm, niềm lạc quan và một niềm tin vững
chắc. Có thể nói, bài thơ hay nhất là câu thơ cuối cùng này. Nó là nhãn tự, là con mắt của bài thơ, bật
sáng chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong thơ.
Và chõn lớ của thời đại đã đợc khẳng định, bom đạn, chiến tranh cú thể làm mộo mú những chiếc xe, huỷ
hoại những giá trị vật chất nhưng không thể bẻ gẫy được những giá trị tinh thần cao đẹp, để rồi một nước
nhỏ như Việt Nam đã chiến thắng một cường quốc lớn.
<b>3.KÕt bµi:</b>
Bài thơ đậm chất hiện thực, giọng thơ ngang tàng, hóm hỉnh, dùng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc.Tác
giả đã gợi lại bao kỷ niệm hào hựng của người chiến sĩ lỏi xe Trường Sơn trong những năm chiến tranh ác
liệt. Đọc xong bài thơ, ta càng hiểu hơn về cỏc chiến sĩ lỏi xe, về lũng dũng cảm, tư thế hiờn ngang bất
khuất của họ. Ta cũng thấy được chất tinh nghịch hồn nhiờn của mỗi người lớnh trẻ. Họ là tiêu biểu cho
thế hệ trẻ Việt Nam thời đánh Mỹ.Chiến tranh đó qua đi từ lâu, thời gian có thể phủ bụi lên q khứ nhng
hình ảnh những ngời lính cịn sống mãi trong lòng mỗi ngời dân đất Việt. Chúng ta vô cùng biết ơn, khâm
phục và tự hào về thế hệ cha anh đi trớc đã hy sinh xơng máu vì độc lập tự do cho Tổ quốc. Là thế hệ sau,
chúng ta nguyện phấn đấu học tập thật tốt để xứng đáng là con cháu của một dân tộc anh hùng.
<b>bài thơ đoàn thuyền đánh cá</b>
<b>1. Më bµi:</b>
Huy Cận không những nổi tiếng trong phong trào thơ mới mà còn là một nhà thơ tiêu biểu
của thơ ca hiện đại Việt Nam. Năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng
Ninh, xúc động trớc cuộc sống mới, sự hăng say của ngời dân lao động và thiên nhiên tơi đẹp, nhà
thơ đã viết lên bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”. Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao
động làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời ca ngi ng dõn trờn vnh H Long.
<b>2.Thân bài:</b>
<b> * Kh¸i qu¸t:</b>
<b>* Phân tích:</b>
<b>a) Luận điểm 1: Cảnh ra khơi.</b>
<b>* Kh th 1: Cnh ra khi ỏnh cá của ngời ng dân trong buổi hồng hơn tuyệt đẹp.</b>
Mở đầu bài thơ là cảnh hồng hơn trên biển Hạ long đẹp rực rỡ và tráng lệ:
Mặt trời xuống biển nh hịn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa.
Khi hồng hơn bng xuống, biển khơng hề tối mà nó vẫn ánh lên vẻ đẹp kì vĩ. Mặt trời đợc so
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Ra khơi đánh cá khơng chỉ có một chiếc thuyền lẻ loi, cơ độc mà là cả “đồn thuyền”. Hình
ảnh “ đồn thuyền ” cho thấy ngời lao động ra khơi có tập thể, việc lao động có tổ chức quy củ, có
nề nếp. Từ “lại” trong ý thơ “lại ra khơi” khẳng định công việc đánh cá cứ diễn ra đều đặn từng
ngày. Ngời dân chài ra khơi đánh cá trong niềm vui phấn khởi nên câu hát của họ đã “căng buồm
cùng gió khơi”. Hình ảnh “ Câu hát căng buồm cùng gió khơi” là cách nói quá. Cách nói khoa
tr-ơng muốn diễn tả niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan, tâm trạng náo nức của ngời dân chài khi
họ ra khơi đánh cá trong cảnh biển trời sông nớc đã về tay họ. Câu hát căng buồm làm cánh buồm
no gió, đó chính là khí thế hăm hở đi lên của những ngời lao động trong công cuộc xây dựng đất
nớc những năm đầu miền Bắc mới giải phóng. ở khổ thơ này, con ngời và vũ trụ đối lập nhau về
hoạt động: khi vũ trụ nghỉ ngơi thì con ngời bắt tay vào lao động. Điều đó thể hiện khí thế lao
động khẩn trơng, nhộn nhịp, chủ động, sáng tạo của ngời dân chài. Ra khơi đánh cá, mặt biển
đêm không lạnh lẽo mà ấm áp hẳn lên bởi tiếng hát âm vang náo nức, tiếng hát hòa cùng gió thổi
căng cánh buồm đa đồn thuyền lớt sóng ra khơi. Rõ ràng qua tiếng hát ta thấy đợc vẻ đẹp khỏe
khoắn cả về thể chất và tinh thần của ngời dân lao động làng chài.
<b>* Khỉ th¬ 2: Câu hát của ngời ng dân:</b>
Trên đờng ra khơi đánh cá, ngời ng dõn ct cao ting hỏt:
Hát rằng:cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông nh đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luång s¸ng.
Âm thanh tiếng hát vang xa trên mặt biển. Tiếng hát cầu mong đi biển gặp nhiều may mắn,
mong cho trời yên biển lặng để đánh đợc nhiều cá. Tiếng hát cịn ca ngợi sự giàu có, hào
phóng v ànhõn hậu của biển cả cùng vẻ đẹp lung linh, kì diệu của nó trong đêm. Hình ảnh so
sánh “Cá thu nh đoàn thoi” và ẩn dụ, nhân hóa “đêm ngày dệt biển” tạo ra sự rối rít vui mắt
của nhiều sắc màu chuyển động. Đây là thế giới của hải sản trong lòng biển cả. Các lồi cá
hiện lên với những màu sắc, hình dáng nh những bức tranh sơn mài .Những luồng cá đi trong
lòng biển làm tác giả liên tởng nh cá đang dệt biển tạo thành muôn luồng sáng. Niềm vui của
tác giả nh hòa nhập với niềm vui của ngời dân chài nên nhà thơ cất tiếng gọi cá thật dịu dàng,
tha thiết. “ Đến dệt lới ta, đoàn cá ơi!”. Lời mời gọi tha thiết ấy vừa là niềm mong ớc đánh đợc
nhiều cá của ngời dân chài vừa thể hiện niềm lạc quan, tơi vui xen lẫn tự hào về sự giàu có của
biển quê hơng.
<b>* Khổ thơ 3,4,5,6: Cảnh đánh cá đêm trên biển Hạ Long:</b>
<b>* Khổ thơ 3:</b>
Bốn khổ thơ tiếp theo nói về cảnh đánh cá trong một đêm trăng trên vịnh Hạ Long. Mỗi
khổ thơ là một nét chấm phá về biển trời, sóng nớc, trăng sao. Trong đó con ngời lao động hiện
lên với dáng vẻ trẻ trung, khỏe khoắn, yêu đời. Hạ Long một thắng cảnh đẹp, nổi tiếng đã bớc
vào thơ Huy Cận nh một thế giới thần tiên. Bằng cảm hứng lãng mạn, khổ thơ thứ ba nh vút
lên cao với những hình ảnh đặc sc:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lớt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Nếu trong cảnh ra khơi, thiên nhiên vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi nhng trớc niềm vui
phấn khởi, trớc khí thế lao động nhiệt tình của ngời dân chài, cả thiên nhiên vũ trụ đã thức dậy
để lao động cùng ngời. Hình ảnh ẩn dụ “Thuyền ta lái gió” và “buồm trăng” cho thấy liên tởng
của Huy Cận thật độc đáo và thú vị. Đồn thuyền đánh cá có gió trời làm lái, có trăng trời làm
buồm làm cho con thuyền thênh thênh lớt đi giữa mây cao và biển lớn. Buồm thuyền giống nh
nửa vầng trăng vì vậy trăng và thuyền nh hịa nhập vào nhau. Lúc sóng dâng lên cao thuyền
nh lớt giữa mây; khi biển yên sóng lặng thuyền lại lớt giữa biển bằng. Con thuyền trở thành
thuyền tiên. Động từ “lớt” không chỉ gợi tả vận tốc nhanh mà còn cho thấy t thế chinh phục
làm chủ biển khơi của ngời cầm lái và sức mạnh tràn đầy, khí thế phơi phới của ngời lao động
thực sự làm chủ cuộc sống mới. Có thiên nhiên giúp sức, cảnh đánh cá trở nên thơ mộng, công
việc lao động nặng nhọc trở nên nhẹ nhàng vui tơi . Bút pháp lãng mạn đã biến con thuyền
đánh cá vốn nhỏ bé trớc biển cả bao la thành con thuyền kì vĩ khổng lồ hịa nhập kích thớc của
thiên nhiên vũ trụ, tầm vóc của ngời lao động cũng lớn ngang tầm vũ trụ. Ngời lao động lái
con thuyền kỳ vĩ đó khác nào thi nhân đang ngọa cảnh. Cái nhìn của Huy Cận về ngời lao
động thật đẹp và đậm chất thơ.
Không gian trên mặt biển về đêm tởng chỉ có màu tối, nhng bức tranh lao động trên biển
lại lung linh và chan hòa ánh sáng. ánh sáng của vầng trăng hình cánh buồm. Trớc thiên nhiên
mĩ lệ ấy, ngời ng dân bắt đầu công việc của mỡnh:
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lới vây giăng.
<b>* Khỉ th¬ 4:</b>
Khổ bốn đợc bắt đầu bằng biện pháp nghệ thuật liệt kê để kể tên các loài cá. Đây là những
câu thơ đặc sắc nhất khẳng định biển quê ta giàu và đẹp xứng đáng với từ “ biển bạc”. Những loài
cá ngon, nổi tiếng nh đã từng đợc nói: “ chim, thu , nhụ, đé” đợc nhà thơ vận dụng một cách sáng
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nớc Hạ Long.
Mi loi cỏ c miêu tả bằng những màu sắc khác nhau dới nét vẽ tài hoa của ngời nghệ sĩ.
Con cá song đã trở thành ngọn đuốc soi đờng với ánh sáng lấp lánh đen hồng trong đêm trăng
vàng chóe. Từng đàn cá song nh những đám hội rớc đuốc tng bừng trên mặt biển. Một cảnh tợng
thật lộng lẫy và kỳ thú. Nhà thơ cao hứng gọi cá bằng “em”, cả đàn cá hiện lên nh những nàng
tiên đang nhẩy múa trong đêm vũ hội. Cảnh biển đêm hiện lên đẹp rực rỡ bởi nghệ thuật phối sắc
tài tình của Huy Cận: màu đen hồng của cá, lấp lánh của nớc, vàng của trăng, vàng chóe của đi
cá và trăng, lung linh của sao trời. Tất cả đã kết thành một bức tranh sơn mài rực rỡ. Ng ời đọc nh
lạc vào chốn thuỷ cung trong cổ tích để ngắm nhìn các nàng tiên cá đang vũ hội. Lạc trong thế
giới đó, ta nh cảm nhận đợc hơi thở nhẹ nhàng của biển. “Đêm thở sao lùa nớc Hạ Long” là một
hình ảnh tởng tợng phong phú. Sao ở trên trời in xuống mặt nớc chi chít, sóng nhấp nhơ nh dồn
sao về một phía. Sóng nh lồng ngực của một con vật khổng lồ ở đại dơng đang thở phập phồng.
Nhịp thở của đêm chính là nhịp sóng dâng cao hạ thấp. Sao lấp lánh, mặt nớc lóng lánh, cả biển
trời nh lung linh dào dạt. Biển và trời nh hòa nhập vào nhau . Câu thơ cuối cùng của khổ thơ bỗng
trở nên lung linh huyền ảo nh đa ta trở về cõi mộng. Huy Cận phải yêu biển lắm mới viết đợc
những vần thơ tuyệt bút nh vy.
<b>* Khổ thơ 5:</b>
Khổ thơ mở đầu bằng tiếng hát:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Một lần nữa tiếng hát cuả ngời lao động lại cất lên giữa bao la trời nớc. Ngời dân chài tràn
đầy hạnh phúc trong sự giàu có của biển cả, họ đã cất cao tiếng hát gọi các loài cá vào lới. Tiếng
hát nh lời mời gọi những loài cá ngon, cá quý. Tiếng hát ấy còn thể hiện niềm vui của ng ời lao
động làm chủ cuộc đời, làm chủ thiên nhiên, và thể hiện lòng mong mỏi đánh đợc nhiều cá làm
giàu cho Tổ quốc.Tham gia cùng lao động là ánh trăng đêm trên biển Hạ Long . Vầng trăng in
bóng xuống mặt nớc, sóng xơ trăng gõ vào mạn thuyền. Trăng đợc nhân hóa trở nên thật gần gũi
thân thiết, trăng cũng tham gia cùng ngời gõ thuyền gọi cá vào lới, trăng gõ nhịp cho tiếng hát của
ngời dân chài thêm thi vị, thật là một sự hòa hợp tuyệt diệu giữa con ngời với thiên nhiên.
Cuộc đời ngời dân chài gắn bó với biển. Biển vừa đẹp vừa ấm áp, dịu dàng nh lòng mẹ. Nghệ
thuật so sánh “biển cho ta cá nh lịng mẹ” cho thấy biển hào phóng rộng rãi cho ta những tài sản
quý giá, nuôi lớn con ngời, ni lớn đất nớc. Vì vậy lịng biển là lòng mẹ hiền cho con dòng sữa
ngọt ngào, thơm mát, nuôi con khôn lớn, trởng thành. Ngời dân chài yêu biển nh những đứa con
yêu mẹ. Lời thơ đã thể hiện lịng biết ơn ân tình với biển cả, với thiên nhiên.
<b>* Khỉ th¬ 6:</b>
Một đêm trôi nhanh trong nhịp điệu lao động hào hứng, hăng say và khẩn trơng. Trên trời cao
ánh sao đã tha và mờ dần, cảnh kéo lới cũng đợc miêu tả đầy ấn tợng, công việc đánh cá của một
đêm cũng sắp kết thúc:
Bóng đêm dần tan, cảnh lao động càng khẩn trơng, hối hả hơn. Con ngời đang guồng sức
chạy đua với thời gian. Những cánh tay rắn chắc, khỏe khoắn của ngời ng dân đang xoăn tay kéo
lới, lới nặng cá trông nh một chùm trái cây lủng lẳng sai trĩu. Cả bài thơ chỉ có một chi tiết thực tả
cảnh kéo lới, song ngay cả chi tiết ấy cũng đợc viết theo bút pháp khoa trơng nên nó vẫn nằm
trong mạch cảm xúc lãng mạn. “Kéo xoăn tay” là kéo mạnh, kéo bằng tất cả sức lực khiến các cơ
bắp nổi lên cuồn cuộn. T thế đó tạo nên vẻ đẹp khỏe khoắn của ngời lao động. Chùm cá nặng, đó
<b> * Khỉ th¬ 7: Cảnh đoàn thuyền trở về:</b>
Khổ cuối của bài thơ miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong ánh bình minh rực rỡ.
Bốn câu thơ dựng lên một quang cảnh kỳ vĩ của đoàn thuyền đánh cá với mặt trời. Qua đó, thêm
một lần nữa Huy Cận khắc họa thật đậm nét vẻ đẹp khỏe khoắn của ngời ng dân và vẻ đẹp hùng vĩ
của biển trời:
Câu hát căng buồm với gió khơi.
Đồn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới.
Mắt cá huy hồng mn dặm phơi.
Mở đầu khổ thơ lại là âm thanh tiếng hát. Tiếng hát đợc lặp lại nhng khác với những khổ thơ
trên, ở đây không phải là tiếng hát ra khơi, không phải là tiếng hát gọi cá mà là tiếng hát trở về.
Tiếng hát mang niềm hân hoan, sung sớng và hạnh phúc bởi họ đã đạt đến thành quả lao động
xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra, cá đầy khoang. Dù ra khơi hay trở về đều vang tiếng hát.
Tiếng hát khi ra đi hăm hở, tràn đầy niềm tin hy vọng. Tiếng hát lúc trở về thật say sa sảng khối
vì niềm hi vọng đã thành hiện thực.Một đêm lao động vất vả và nặng nhọc trơi qua nhng ta khơng
tìm đợc những nét mệt mỏi trên khuôn mặt của những ng dân mà ta chỉ thấy niềm vui, phấn khởi,
tràn đầy hạnh phúc. Tiếng hát vẫn góp cùng với gió đẩy đồn thuyền băng băng rẽ sóng trở về.
Hình ảnh “Đồn thuyền chạy đua cùng mặt trời” là cách nói nhân hóa, khoa trơng diễn tả
một cách sống động cuộc chạy đua giữa con ngời với thiên nhiên. Câu thơ nâng cao tầm vóc của
<b> 3.KÕt bài:</b>
<b> </b>
<b>Bài thơ bếp lửa</b>
- Bằng Việt là nhà thơ trẻ nổi tiếng vào những năm sáu mươi. Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà thiên
về việc khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi thơ, mà bài thơ “bếp lửa” được coi là một trong
những thành công đáng kể nhất.
- Bài thơ viết năm 1963 – khi tác giả đang là sinh viên du học tại Liên Xơ. Qua dịng thơ hồi tưởng kết
hợp miêu tả, tự sự, bình luận, nhà thơ giúp ta cảm nhận được những tình cảm, cảm xúc chân thành của
nhân vật trữ tình - người cháu – và hình ảnh người bà giàu tình thương, giàu đức hi sinh.
<b>* Cách 2:</b>
Trong cuộc đời, ai cũng cú riờng cho mỡnh những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiờn, trong sỏng.
Những kỉ niệm ấy là những điều thiờng liờng, thõn thiết nhất, nú cú sức mạnh phi thường nõng đỡ con
người suốt hành trỡnh dài và rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng cú riờng ụng một kỉ niệm, đú chớnh là
những thỏng năm sống bờn bà, cựng bà nhúm lờn cỏi bếp lửa thõn thương. Khụng chỉ thế, điều in đậm
trong tõm trớ của Bằng Việt cũn là tỡnh cảm sõu đậm của hai bà chỏu.Tình cảm đó đợc thể hiện sâu sắc
trong bài thơ Bếp lửa.
<b>2.Thân bài:</b>
<i><b>a. Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu</b></i>.
<b>* Khổ 1 nói về bếp lửa và lòng cháu thương bà</b>.
Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn liền trong q khứ như dịng sơng,
bến đò, cây đa…. Đối với Bằng Việt, sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp
lửa:
<i>Một bếp lửa chờn vờn sương sớm</i>
<i>Một bếp lửa ấp iu nồng đượm</i>
- Ba tiếng “một bếp lửa” trở thành điệp khúc mở đầu bài thơ với giọng điêụ sâu lắng, hình ảnh quen thuộc
trong mọi gia đình. Hình ảnh bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh của “chờn vờn sương sớm”, thật thân
thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”. Từ “ấp iu” vừa diễn tả cơng việc nhóm bếp, vừa gợi ra bàn
tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng của người nhóm bếp.
“<i>Cháu thương bà biết mấy nắng mưa</i>”. Bếp lửa của bà là bếp lửa của một cuộc đời đã trải qua “<i>biết mấy </i>
<i>nắng mưa</i>”, nghèo khổ và vất vả. Nghĩ về bếp lửa, nhớ về bếp lửa mà trong lòng đứa cháu đi xa trào
dâng một cảm xúc thương bà mãnh liệt. Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, làm cho cảm
xúc lan toả, thấm sâu vào hồn người.
<b>* Từ đó, bài thơ gợi lại cả một thời thơ ấu bên người bà ( Khổ 2,3,4)</b>
-Kí ức đưa nhân vật trở về những năm “đói mịn đói mỏi” của nạn đói năm 1945: “cả dân tộc đói nghèo
trong rơm rạ” (Chế Lan Viên). Thành ngữ “đói mịn đói mỏi” – cái đói kéo dài làm mỏi mệt, kiệt sức, con
ngựa gầy rạc cùng với người bố đánh xe chắc cũng gầy khô…Giọng thơ trĩu xuống, nao nao lịng người
đọc. Tuy nhiên cái đói chỉ là cái cớ để nhà thơ nhớ về một <i><b>tuổi thơ cay cực, thiếu thốn trăm bề:</b></i>
“<i>Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói</i>
<i>Năm ấy là năm đói mịn đói mỏi</i>
<i>Bố đi đánh xe khơ rạc ngựa gầy</i>
- Ấn tượng nhất là <i><b>mùi khói bếp</b></i>: “<i>Khói hun nhèm mắt cháu. Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay</i>”. Hai câu
thơ có giá trị biểu cảm cao. HÌnh ảnh tả thực : khói nhiều cay, khét vì củi ướt vì sương nhiều và lạnh và
vừa là hình ảnh tượng trưng: sự xúc động- nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi
nhớ thương bà. Cảm xúc quá khứ hoà lẫn hiện tại và chắc hẳn cảm xúc quá khứ phải sâu sắc lắm mới có
thể trỗi dậy mạnh mẽ thế. Cho dù năm tháng trôi qua nhưng kí ức ấy trở thành một vết thương lịng đâu
dễ ngi ngoai. Qua đó, nhà thơ khẳng định, tuổi thơ dẫu thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ thiếu
thốn nghĩa tình.
- Từ mùi khói bếp, tác giả lại nhớ về <i><b>tiếng chim tu hú</b></i> trong suốt tám năm ròng của tuổi thơ - những kỉ
niệm đầy ắp âm thanh, ánh sáng và những tình cảm sâu sắc xung quanh cái bếp lửa quê hương được nhắc
tới trong đoạn thơ thứ ba.
“ <i>Tám năm rịng cháu cùng bà nhóm lửa</i>
<i>Tu hú kêu trên những cánh đồng xa</i>
<i>….</i>
+Thật là hồn nhiên, trong sáng và xúc động làm sao khi nhà thơ tâm tình với chim tu hú. Tiếng chim tu
hú là tiếng chim quen thuộc của đồng quê mỗi độ vào hè. Tiếng chim râm ran trong vườn lá, trên cánh
đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong hiện thực đã tha thiết, tiếng chim trong nỗi nhớ như giục giã,
khắc khoải một điều gì da diết lắm, khiến lịng người trỗi dậy những hồi niệm nhớ mong: “tiếng tu hú
sao mà tha thiết thế!”. Nhà thơ đang kể chuyện về bà mà như tách hẳn ra để trị chuyện trực tiếp với bà:
“<i>bà cịn nhớ khơng bà</i>…?”…. Cịn gì hơn với những chi tiết tự sự xúc động như thế?
+ Âm điệu tha thiết của câu thơ cịn gợi ra tình cảnh vắng vẻ, cơi cút, vời vợi nhớ thương của hai bà cháu:
<i>Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà</i>
<i>Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa</i>?
Câu thơ mới thấm thía làm sao, xót xa làm sao! Bà ln bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên,
nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu, vậy mà bây giờ cháu cũng đi xa.Tiếng chim tu hú giờ đây
trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ để gợi nhớ gợi thương. Cháu thương bà vất vả, lo toan, biết ngỏ
cùng ai, chỉ có thể tâm tình với chim tu hú mà thơi. Như vậy, bếp lửa đánh thức kỉ niệm tuổi thơ, ở đó
lung linh hình ảnh người bà và có cả hình ảnh quê hương.
“<i>Bố ở chiến khu bố còn việc bố</i>
<i>Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,</i>
<i>Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”</i>
Bà là hiện thân cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn. Trong nhiều gia đình Việt Nam, do
nhiều cảnh ngộ khác nhau, mà vai trò của người bàđã thay thế vai trò của người mẹ hiền. Sống trong
=> <i>Tóm lại, làm nên thành công của đoạn thơ nhớ về bà, qua dịng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình</i>
<i>chính là sự kết hợp, đan cài nhuần nhuyễn với nhau giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự. Đây cũng</i>
<i>là bút pháp quen thuộc của nhà thơ. Chính sự kết hợp nhuần nhị độc đáo đó khiến cho hình ảnh của bà</i>
<i>thật gần gũi, những mảng kí ức tuổi thơ lại hiện về sống động và chân thành, giản dị.</i>
<i><b>b. Những suy ngẫm về bà và hình ảnh bếp lửa</b></i>. (Khổ 5,6)
- <i>Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu trở về hiện tại để suy ngẫm về cuộc đời và lẽ</i>
<i>sống của bà</i> <i>và cũng là để thương bà nhiều hơn, nhớ bà nhiều hơn.</i> Hình ảnh bà ln gắn liền vời hình
ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Có thể nói bà là “người nhóm lửa”, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa ln ấm
nóng và toả sáng trong mỗi gia đình.
+ Từ “bếp lửa”, đứa cháu nghĩ về “ngọn lửa”- một hình ảnh ẩn dụ rất tráng lệ.
<i>“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen.</i>
<i>Một ngọn lửa lịng bà ln ủ sẵn</i>
<i>Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”</i>
“Bếp lửa bà nhen sớm sớm chiều chiều” khơng phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngồi mà đã sáng bừng lên
thành ngọn lửa bất diệt, ngọn lửa của tình u thương “ln ủ sẵn” trong lịng bà, ngọn lửa của niềm tin
vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt. Ngọn lửa là những kỉ niệm lịng, niêm tìn thiêng liêng kì diệu
nâng bước cháu trên suốt chặng đường dài. Ngọn lửa là sức sống, lòng yêu thương, niềm tin mà bà truyền
<b>+ Tám câu thơ tiếp theo là những suy nghĩ sâu sắc của nhà thơ, của đứa cháu về người bà kính u,</b>
<b>về bếp lửa trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. </b>
- Cuộc đời của bà nhiều “lận đận”, trải qua nhiều “nắng mưa” vất vả. Bà cần mẫn lo toan, chịu thương
chịu khó, thức khuya dậy sớm vì bát cơm, manh áo của con cháu trong gia đình. Cảnh nghèo nên bà suốt
đời vất vả. Từ “lận đận” thể hiện tấm lịng đơn hậu và đức hi sinh của bà:
Bà đã nhóm bếp lửa trong suốt cuộc đời bà, đã trải qua nắng mưa “mấy chục năm rồi”. Bà khơng chỉ
nhóm bếp lửa bằng đôi bàn tay già nua, gầy guộc, mà là bằng tất cả tấm lịng đơn hậu “ấp iu nồng đượm”
của bà đối với con cháu. Điệp từ “<i>nhóm</i>” được nhắc đi nhắc lại 4 lần trong 4 câu thơ đan kết với những
chi tiết rất thực… có điểm chung là cùng gắn với hành động nhóm bếp, nhóm lửa của bà nhưng lại khác
nhau ở những ý nghĩa cụ thể: khi thì nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm để sưởi ấm cho hai bà cháu qua cái
lạnh buốt của sương sớm; đến câu tiếp theo thì đã vừa nhóm bếp luộc khoai, luộc sắn cho cháu ăn đỡ đói
lịng mà như còn vừa đem đến cho đứa cháu nhỏ cái ngọt bùi của sắn khoai, của tình yêu thương vơ hạn
của bà. Đến câu tiếp theo thì lịng bà cịn mở rộng hơn cùng với nồi xơi gạo mới mùa gặt là tình cảm xóm
làng đồn kết, gắn bó, chia ngọt, sẻ bùi và đến câu thứ tư thì hồn tồn mang nghĩa trừu tượng: nhóm dậy
cả tâm tình tuổi nhỏ. Tình cảm của bà bao la giản dị như khoai sắn và cũng đậm đà như khoai sắn.Các từ
ngữ “ấp iu nồng đượm”, “yêu thương”, “ngọt bùi”, “chung vui” thể hiện sự tinh luyện của một ngòi bút
nghệ thuật, đã diễn tả thật hay tình thương, niềm vui, sự no ấm, hạnh phúc mà bà đã mang lại cho con
cháu. Bà đã “nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”, nuôi dưỡng và làm bừng sáng những ước mơ, những
khát vọng của đàn cháu nhỏ. Bếp lửa bà nhen đã nhóm lên ngọn lửa của tình thương ấm áp. Chính vì thế
mà nhà thơ đã cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị mà thân thuộc sự kì diệu, thiêng liêng: “ƠI!
Kì lạ và thiêng liêng - Bếp lửa”. Như vậy, từ ngọn lửa của bà, cháu nhận ra cả một “niềm tin dai dẳng” về
<i><b>c. Niềm thương nhớ của cháu:</b></i>
- Đứa cháu năm xưa giờ đã trưởng thành
“ <i>Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu.</i>
<i>Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,</i>
<i>Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:</i>
<i> - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”.</i>
- Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với những điều mới mẻ. Cháu đã được sống với những niềm
vui rộng mở, nhưng giữa “ngọn khói trăm tàu, ngọn lửa trăm nhà, cháu vẫn không thể quên bếp lửa của
bà, vẫn không nguôi nhớ thương bà…. Mỗi ngày đều tự hỏi: “sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?, mỗi
ngày đều nhớ về bà và bếp lửa của bà. Hình ảnh ấy đã trở thành kỉ niệm thiêng liêng làm ấm lòng, nâng
đỡ cháu trên những bước đường đời.
d<i><b>. Bài thơ chứa đựng một ý nghĩa triết lí thầm kín</b></i>: những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người
đều có sức toả sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình đài rộng của cuộc đời. Tình u thương và lịng
biết ơn bà chính là một biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, q hương, và đó
cũng là sự khởi đầu của tình yêu con người, tình yêu đất nước.
Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng kết hợp miêu tả, biểu
cảm, tự sự và bình luận; giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm. Bài
thơ như ngọn lửa ấm áp toả sáng và cháy mãi trong tình cảm của người đọc.
<b>3. Kết bài :</b>
Bếp lửa là bài thơ hay và độc đáo. Đọc bài thơ chúng ta vô cùng xúc động về tình cảm bà cháu
ngọt ngào sâu lắng. Qua đó ta càng thấy rõ tình cảm gia đình là là một trong những tình cảm thiêng liêng
<b>Bài làm:</b>
trong tõm trớ của Bằng Việt cũn là tỡnh cảm sõu đậm của hai bà chỏu.Tình cảm đó đợc thể hiện sâu sắc
trong bài thơ Bếp lửa.
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trëng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ “ Bếp lưả” được
ông sáng tác năm 1963 lúc đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người
bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lịng kính u, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia
đình, quê hương, đất nước.
<b> * Khổ thơ 1:</b>
Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt
gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà:
<i>“ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm</i>
<i>Một bếp lửa ấp iu nồng đượm</i>
<i>Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”</i>
Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập chờn như khói
bếp. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật và toả sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa
được thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời bà đã trải qua “ biết mấy nắng mưa”. Từ đó, hình ảnh
người bà hiện lên. Dù đã cách xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ
về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong cái khoảnh khắc ấy, trong lòng
nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vơ hạn. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dịng
toàn bài thơ.
<b>* Khổ thơ 2:</b>
<b> </b> Khổ thơ tiếp theo là dịng hồi tưởng cđa tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên
cạnh bà. Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xi, như thủ thỉ, tâm tình, tác giả như đang kể lại
cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình. Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những
bạn cùng lứa khác cú bà tiờn, cú phộp mu thì trong cõu chuyn của Bằng Việt có bà và bếp lửa. Trong
những năm đói khổ, người bà đã gắn bó bên tác giả, chính bà là người xua tan bớt đi cái khơng khí ghê
rợn của nạn đói 1945 trong tâm trí đứa cháu. Cháu lúc nào cũng được bà chở che, bà dẫu có đói cũng
chẳng để cháu thiếu bữa ăn nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn để chăm cho đứa cháu bé bỏng:
<i>“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói</i>
<i>Năm ấy là năm đói mịn đói mỏi</i>
<i>Bố đi đánh xe khơ rạc ngựa gầy</i>
<i>Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu</i>
<i>Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”</i>
Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã
quện lại và bám riết lấy tâm hồn đứa trẻ. Dù cho tháng năm có trơi qua, những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít
nhiều ấn tượng trong lòng đứa cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi còn cay”. Là mùi khói làm cay
mắt người cháu hay chính là tấm lịng của người bà làm đứa cháu khơng cầm được nước mắt?
<b>* Khổ thơ 3:</b>
<i>“ Tám năm rịng cháu cùng bà nhóm bếp</i>
đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú
kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa mau chín, người nơng dân mau thốt khỏi cái đói, và dường như đó
cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: “Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi
đấy!”. Từ “tu hú” được điệp lại ba lần làm cho âm điệu câu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc
cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ màng, lúc
văng vẳng từ những cánh đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. Tiếng chim tu hú khắc khoải làm cho
dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơn, rộng hơn trong cái không gian xa thẳm của nỗi nhớ thương.
<b> </b> Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác giả nhất, u
thương tác giả nhất thì trong tám năm rịng của cuộc kháng chiến chống Mĩ, tình cảm bà cháu ấy lại càng
sâu đậm:
<i>“Mẹ cùng cha bận công tác không về</i>
<i>Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe</i>
<i>Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.</i>
<i>Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc</i>
<i>Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà</i>
<i>Kêu chi hoài trên những cách đồng xa”</i>
Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công
tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy. Nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại
là một niềm hạnh phúc vô bờ? Ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn,
mờ mờ ảo ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu chuyện cổ tích huyền ảo. Nếu như đối với
mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa
<b> * Khổ thơ 4:</b>
<b> </b> Chiến tranh, một danh từ bình thường nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vơ cùng, nó đã gây ra
đau khổ cho bao người, bao nhà. Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành một nạn nhân của chiến
tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi...
“<i>Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi</i>
<i>Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi</i>
<i>Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh</i>
<i>Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:</i>
<i>“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố</i>
<i>Mày viết thư chớ kể này kể nọ</i>
<i>Cứ bảo nhà vẫn được bình n!’</i>
ngơi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã không cịn,
bà dù có đau khổ thế nào cũng khơng dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bỏng của mình lo buồn. Bà thật
“Mày có viết thư chớ kể này kể nọ .
Cứ bảo nhà vẫn đỵc bình yên!”.
Lời dặn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình cảm. Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi
nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lịng để n lịng người nơi tiền tuyến. Hình ảnh người bà
khơng chỉ cịn là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho những người phụ nữa Việt
Nam giàu đức hi sinh, thương con quý cháu.
<b>* Khổ thơ 5,6</b>:
Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh một ngọn lửa:
<i>“Một ngọn lửa lịng bà luôn ủ sẵn,</i>
<i>Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.</i>
Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn lửa của tình yên
thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng soi sáng cho con
đường của cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu.
Những dịng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thơ muốn gửi tới
bạn đọc, qua đó cũng là những bài học sâu sắc từ cơng việc nhóm lửa tưởng chừng đơn giản:
<i>“ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm”</i>
Một lần nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như muốn khẳng
định tình cảm sâu sắc của hai bà cháu.
“Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”.
Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt
và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn
mà hai bà cháu đã gắn bó với nhau :
<i> “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”</i>
“Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răn dạy cháu ln phải mở lịng ra với mọi người
xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ.
<i> “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”.</i>
Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đầy đủ về vật chất mà còn là người làm cho tuổi thơ của
cháu thêm đẹp. thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm
dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người.
Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà. Người bà đã
là, đang là và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. Bà đã trờ
thành một người không thể thiếu trong trái tim cháu.
<b>* Khổ thơ 7</b>:
Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, Bằng Việt vẫn ln hướng lịng mình về bà:
<i>“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu</i>
<i>Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả</i>
<i>Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở</i>
<i>Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?</i>
<b>3. Kết bài :</b>
Bếp lửa là bài thơ hay và độc đáo. Đọc bài thơ chúng ta vơ cùng xúc động về tình cảm bà cháu
ngọt ngào sâu lắng. Qua đó ta càng thấy rõ tình cảm gia đình là là một trong những tình cảm thiêng liêng
tha thiết, nó có sức tỏa sáng và nâng đỡ con người trong suốt hành trình của cuộc đời. Bài thơ đã khơi dậy
trong lịng chúng ta những tình cảm cao đẹp đối với gia ỡnh, vi quờ hng, t nc.
<b> Bài thơ khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ</b>
<b>1. Më bµi:</b>
Viết về bà mẹ Việt Nam thời chống Mỹ ta không thể không kể đến bài thơ Khúc hát ru những em bé
lớn trên lng mẹ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Bài thơ thể hiện tỡnh yờu thương con gắn với lũng yờu
nước, với tinh thần chiến đấu của người mẹ Tà Ơi. Tình u ấy đợc hòa quyện trong những khúc ru ngọt
ngào m sõu lng.
<b>2. Thân bài:</b>
<b>a.</b><i><b>Phõn tớch tỡnh cm ca ngi mẹ Tà Ôi trong khúc hát ru thứ nhất</b></i>
- Người mẹ Tà Ơi là một người mẹ giàu tình thương con và giầu lòng yêu nước
- Người mẹ Tà-Ơi ln địu con trên lưng trong lúc làm việc, dù cho cơng việc có nặng nhọc, dù mẹ
có vất vả thì em Cu Tai vẫn ln bên mẹ:
“<i>Mẹ giã gạo, mẹ nuôi bộ đội</i>
<i>Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng</i>
<i>- </i>Sự sóng đơi của từ “nghiêng” trong câu thơ thật giàu chất tạo hình đã vẽ lên hình ảnh người mẹ
đang giã gạo trong khi đứa con nhỏ đang ngủ trên lưng, nhịp chày nghiêng, kéo theo giấc ngủ con
nghiêng.
- Bằng ngòi bút tả thực, tác giả giúp người đọc nhận ra công việc của bà mẹ thật vất vả, “mồ hơi mẹ
rơi má em nóng hổi”. Bao nỗi vất vả ngọc nhằn như đọng hết trên đôi vai gầy của mẹ:
“Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời”
- Nghệ thuật nhân hoá đã diễn tả sâu sắc và cảm động tình mẹ u con. Người mẹ Tà ơi lấy thân
mình làm nơi, vai gầy làm gối và ru con không chỉ bằng lời ru thông thường như mọi lời ru của cuộc sống
thanh bình mà ru con bằng lời ru thầm từ trái tim, từ tình yêu con tha thiết sâu thẳm trong lòng mẹ. Âm
vang lòng mẹ cất thành lời ru đầy xúc cảm.
- Lòng yêu con gắn liền với tình thương bộ đội: “Mẹ thương A -Kay, mẹ thương bộ đội”
Điệp ngữ “mẹ thương” xuất hiện trong câu thơ ngắt hai vế đều đặn đã cho thấy người mẹ thương
con như thương bộ đội, lịng u con gắn liền với tình u người kháng chiến.
-> Vì thế nên trong những lời của mẹ ru con ta thấy được những ước mơ của mẹ:
“Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần
Mai sau con lớn vung chày lún sân”
<b>b.Phân tích khúc hát ru thứ 2.</b>
Hình ảnh người mẹ Tà Ôi với công việc lao động sản xuất trên chiến khu :
“Mẹ tỉa bắp trên núi Ka -lưi”
Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ”
- Sự tương phản giữa “lưng núi” và “lưng mẹ” gợi ra rất rõ sự nhọc nhằn, vất vả của người mẹ lao
động giữa núi rừng mênh mơng.
- Đặc biệt trong đoạn này có hai câu thơ rất gợi cảm:
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”
“Mặt trời của mẹ” là một ẩn dụ độc đáo, có ý nghĩa sâu sắc. Nếu như mặt trời của bắp đem lại hạt
mảy, hạt chắc thì em Cu Tai là mặt trời của mẹ. Cu Tai là nguồn hạnh phúc ấm áp vừa gần gũi vừa thiêng
liêng của đời mẹ. Chính em đã góp phần sưởi ấm lịng mẹ, đã ni giữ lịng tin u, hy vọng và ý chí của
mẹ trong cuộc sống.
- Sự sống của A -Kay cũng là sự sống của buôn làng. Bởi thế cũng rất tự nhiên khi: “ mẹ thương
A-kay, mẹ thương làng đói”. Dân làng đang đói khổ, cuộc sống của người Tà ôi những năm chống Mĩ còn
bao cơ cực, thiếu thốn, mẹ muốn cưu mang, chia sẻ. Sức mạnh của tình thương yêu cộng đồng sẽ giúp mẹ
vượt lên tất cả. Bàn tay mẹ cần mẫn “trỉa bắp”, gieo mầm sự sống với niềm mong mỏi thật bình dị: “con
mơ cho mẹ hạt bắp lên đều.
Mai sau con lớn phát mười ka-lưi.
Tình cảm thương yêu ấy đã thăng hoa trong những ước mơ về sự sống của buôn làng. Mẹ mong
được mùa và chứa đựng niềm mong ước về tương lai của con. Con có sức khoẻ làm nương giỏi. Đó là
một điều ước giản dị, chân thật, chính đáng của người mẹ Tà Ơi.
=> Tình thương gắn liền với những điều ước đó đã nói với ta về một người mẹ giàu tình thương
người và ln biết sống vì người khác.
<b>c. Phân tích khúc hát ru thứ 3.</b>
- Cảm hứng của khúc hát ru cuối gắn liền với hiện thực khốc liệt và khẩn trương của cuộc kháng
chiến chống Mĩ, với nhịp sống ở chiến khu Bình Trị Thiên. Hình ảnh người mẹ Tà Ơi trong đoạn thơ này
có một sự thay đổi, khơng chỉ u thương con mà cịn hành động vì tình u một cách dứt khốt mạnh
mẽ:
“Mẹ đi chuyển lán mẹ đi đạp rừng
Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông
Mẹ địu em đi để giành trận cuối. ơn.
- Hai động từ “đi” và « đạp » đã gợi tả tư thế chủ động với những công việc tiếp sức chiến đấu:
“chuyển lán, đạp rừng”. Con người trong tư thế đối mặt với kẻ thù, quyết tâm chiến đấu giữ đất, giữ rừng.
Người mẹ thật can đảm và dũng cảm cùng với “anh trai cầm súng, chị gái cầm chông” và “em Cu -Tai
cũng theo mẹ vào trận cuối”.Những câu thơ hừng hực tinh thần bất khuất của người dân tộc miền Tây
Thừa Thiên, đem lại cảm hứng lạc quan của cuộc chiến đấu chống Mĩ.
- Sự trưởng thành từ nhận thức đến hành động của mỗi con người được khẳng định bằng hai câu thơ thật
khoẻ khoắn:
Từ trong đói khổ, em vào Trường Sơn”
- Người mẹ Tà -Ơi muốn góp cơng sức của mình vào việc bảo vệ Tổ Quốc bởi giặc Mĩ với dã tâm
“đuổi ta phải rời con suối”- không để cho gia đình, bản làng của mẹ được sống bình yên.
=> Từ tình thương con, thương bộ đội đến tình thương làng, thương đất nước, ta thấy tình thương
của mẹ ngày càng rộng mở, người mẹ thật giầu đức hi sinh.
- Đó là cơ sở cho những ước mơ thật đẹp:
“Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ.
Mai sau con lớn làm người Tự do”
Trong tình cảm của người Tà -ơi cũng như của những người con Miền Nam trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ thì Bác Hồ (Người cha của dân tộc) luôn là nguồn động viên, là biểu tượng của chiến thắng, là
hình ảnh của đất nước tự do. Bởi vậy mong được gặp Bác là cảm xúc thường trực trong trái tim của người
dân Miền Nam. Ước mơ của người mẹ thật vĩ đại và lớn lao : mẹ mơ đất nước thống nhất, Nam Bắc xum
họp một nhà, đồng bào miền Nam sẽ được gặp Bác Hồ. Con của mẹ cũng như biết bao người con khác sẽ
được sống tự do. Lời ru kết lại cùng hình ảnh em Cu -Tai của tương lai là “người Tự do” của một đất
nước hồ bình. Đó cũng là mong ước chung của nhân dân, của những người Việt Nam yêu nước.
=>Người mẹ Tà Ôi quả là một người phụ nữ đảm đang, là một người mẹ giàu lòng yêu con, giàu lịng u
nước. Phẩm chất ấy vơ cùng đáng kính và đáng khâm phục. Hình tượng bà mẹ Tà-Ơi là hình ảnh tiêu biểu
cho người phụ nữ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Họ là những người mẹ Việt
Nam anh hùng thật xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ đã trao tặng.
<b>3. Kết bài : </b>
<b> </b>Bài thơ có cách kết cấu độc đáo, hình ảnh thơ đẹp, chọn lọc, nghệ thuật tu từ đặc sắc, giọng điệu trữ
tình thiết tha, âm hưởng lời ru ngọt ngào êm ái. “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”đã khắc họa
chân dung bà mẹ Tà-Ơi bình thường mà vĩ đại, đảm đang và anh hùng vừa yêu con, vừa yêu nước. Qua
đó, nhà thơ khẳng định và ngợi ca tình mẹ con hịa quyện với tình u nước. Đồng thời thể hiện quyết tâm
đánh đuổi giặc thù và khát vọng độc lập, tự do thống nhất Tổ quc ca nhõn dõn ta.
Trăng là hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng đã trở thành đề tài thường
xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại. Nếu như “ <i>Tĩnh dạ tứ</i>” của Lí Bạch
tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ <i>Vọng nguyệt</i>” của Hồ Chí Minh thể
hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài
thơ“<i>Ánh trăng</i>” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Đó
chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
<b>2. Thân bài:</b>
- Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà còn được biểu đạt một hàm nghĩa mới,
mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là biểu tượng cho quá khứ trong cuộc đời mỗi con người.
<b>a. Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ</b>
Trước hết là hình ảnh vầng trăng tình nghĩa, hiền hậu, bình dị gắn liền với kỉ niệm một thời đã qua,
một thời nhà thơ hằng gắn bó. Cuộc sống vất vả gian lao nhưng gần gũi với thiên nhiên.
- Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu hồn nhiên, tinh nghịch tại làng quê:
“Hồi nhỏ sống với rừng
- Nhớ đến trăng là nhớ đến không gian bao la. Những “đồng, sông, bể” gọi một vùng không gian
quen thuộc của tuổi ấu thơ, có những lúc sung sướng đến hả hê được chan hoà, ngụp lặn trong cái mát
lành của quê hương như dòng sữa mẹ ngọt ngào.
- Khi lớn lên, vầng trăng đã theo người lính vào chiến trường . Những năm tháng gian lao nơi chiến
trường, trăng thành người bạn tri kỉ, gắn với những kỉ niệm không thể nào quên trong cuộc chiến tranh ác
“Hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ.
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hoà hợp với thiên nhiên trong lành: “trần
trụi với thiên nhiên - hồn nhiên như cây cỏ”. Cuộc sống trong sáng và đẹp đẽ lạ thường.
- Hôm nay, cái vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa ấy đã là quá khứ trong kỉ niệm của con người. Đó là một quá
khứ đẹp đẽ, ân tình, gắn với hạnh phúc và gian lao của mỗi con người và của đất nước.
- Lời thơ kể khơng tả mà có sức gợi nhớ, âm điệu của lời thơ như trùng xuống trong mạch cảm xúc bồi
hồi.Tưởng chừng như sự gắn bó của đôi tri kỉ ấy sẽ không bao giờ tác rời.
<b>b. Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.</b>
<b>* Vầng trăng - người dưng qua đường.</b>
- Sau tuổi thơ và chiến tranh, người lính từ giã núi rừng trở về thành phố - nơi đơ thị hiện đại. Khi đó mọi
chuyện bắt đầu đổi khác:
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
- Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” - người khách qua đường xa lạ, còn con
người đâu còn son sắt thuỷ chung?
hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lịng người đọc bởi vì vầng trăng ấy chính
là một con người.
- Cũng chính phép nhân hố đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người
bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu
cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vơ tâm
của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi
được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ
bản của cuộc sống, đó chính là tình cảm con người.
- Có lẽ nào sự biến đổi về kinh tế, về điều kiện sống tiện nghi lại kéo theo sự thay dạ đổi lòng?
Trong thơ Tố Hữu, nhân dân Việt Bắc ở lại cũng băn khoăn một tâm trạng ấy khi tiễn đưa cán bộ cách
mạng về xi:
Mình về thành thị xa xơi
Nhà cao cịn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đơng cịn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?
=> Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở chúng ta : đừng để những giá trị vật chất
<b>* Những suy ngẫm sâu sắc và triết lí nhân sinh quan của nhà thơ qua hình tượng trăng.</b>
- Sự xuất hiện trở lại của vầng trăng thật đột ngột, ở vào một thời điểm thật bất ngờ. Tình huống mất điện
đột ngột trong đêm khiến con người vốn đã quen với ánh sáng, không thể chịu nổi cảnh tối om nơi căn
phòng buyn đinh hiện đại. Ba động từ “vội, bật, tung” đặt liền nhau diễn tả sự khó chịu và hành động
khẩn trương, hối hả của tác giả để đi tìm nguồn sáng. Và hình ảnh vầng trăng trịn tình cờ mà tự nhiên,
đột ngột hiện ra vằng vặc giữa trời, chiếu vào căn phịng tối om kia, chiếu lên khn mặt đang ngửa lên
nhìn trời, nhìn trăng:
Thình lình đèn điện tắt
Phịng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn.
- Lúc này con người mới vội vàng tìm đến trăng. Trăng vẫn hồn nhiên, vô tư, thủy chung như ngày nào.
=> Tình huống gặp lại trăng là bước ngoặt tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong tình cảm và suy nghĩ
của nhân vật trữ tình với vầng trăng. Vầng trăng đến đột ngột đã làm sáng lên cái góc tối ở con người,
đánh thức sự ngủ quên bấy lâu nay khi điều kiện sống của con người đã hoàn toàn đổi khác.
- Bất ngờ đối diện với vầng trăng, con người không khỏi bồi hồi xúc động.
<i>Ngửa mặt lên nhìn mặt</i>
<i>có cái gì rưng rưng. </i>
- Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế mặt đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng trịn. Con người
thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết của tác giả thật lạ và sâu sắc!
- Trước cái nhìn sám hối của nhà thơ, vầng trăng một lần nữa như gợi lên bao cái “còn” mà con người
- Bài thơ khép lại ở hình ảnh:
“<i>Trăng cứ trịn vành vạnh</i>
<i>kể chi người vơ tình</i>
<i>ánh trăng im phăng phắc</i>
<i>đủ cho ta giật mình</i>”.
- Trong cuộc gặp gỡ khơng lời này trăng và người như có sự đối lập. Trăng đã trở thành biểu tượng cho
sự bất biến, vĩnh hằng khơng thay đổi. “Trăng cứ trịn vành vạnh” biểu tượng cho sự tròn đầy, thủy
chung, trọn vẹn của thiên nhiên, quá khứ dù cho con người đổi thay vô tình.
- Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào. Trăng tròn vành vạnh. Ánh
trăng được nhân hóa im phăng phắc khơng một chút giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thơi, một cái
nhìn thật sâu như soi tận đáy tim người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hồ bình hơm nay.
Họ đã qn mất đi chính mình, qn những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để chìm đắm
trong một cuộc sống xơ bồ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất của chính mình.
+ Trăng trịn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. Ánh trăng chính là
người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta: con người có thể vơ tình, có
thể lãng qn nhưng thiên nhiên, nghĩa tình q khứ thì ln trịn đầy, bất diệt.
- Sự lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái
“giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vơ tình,
bạc bẽo, sự nơng nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi
thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá
khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ quá khứ. Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và
cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hồ bình, hưởng những tiện nghi hiện
<b>3.Kết bài:</b>
Bài thơ “Ánh trăng” là một lần “giật mình” của Nguyễn Duy về sự vơ tình trước thiên nhiên, vơ tình
với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Thơ của Nguyễn Duy không hề khai thác cái đẹp của
trăng, nhưng ánh trăng trong thơ ông vẫn mãi làm day dứt người đọc - sự day dứt về những điều được và
mất, nên và không, khi sống trong cuộc đời. Vẻ đẹp ấy mới chính là vẻ đẹp của văn chương cách mạng vì
thơ khơng chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người mà còn “dạy” ta cách học làm người. Thì ra
những bài học sâu sắc về đạo lí làm người đâu cứ phải tìm trong sách vở hay từ những khái niệm trừu
tượng xa xôi. Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương mặt thực của mình, để tìm
lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ ngon trong quên lãng. Bài thơ khép lại nhưng đã để lại ấn
tượng sâu sắc trong lịng người đọc. Nó gợi ra trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống,
cách làm người. Đó là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”sống ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ.
<b>---Bài: con cò - 1962</b>
<b>1.Mở bµi:</b>
ẩn khác nhau. Bài thơ “Con cị” là biểu tợng cho hồn thơ ấy. Từ hình tợng con cị, tác giả đã nâng lên
thành hình tợng tình yêu thơng của mỗi con ngời: Tình mẫu tử sâu nặng thiết tha.
Bài thơ là lời ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa lời ru trong cuộc đời mỗi con ngời.
<b>2.Thân bài:</b>
<b>* Luận điểm1:( Khổ thơ 1) </b>–<b> Hình ảnh cị đến với tuổi ấu thơ qua lời ru ngọt ngào của mẹ.</b>
Con còn bế trên tay
Con cha biết con cò
Nhng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay.
Đọc đoạn thơ ta có thể hình dung hình ảnh một bà mẹ bế con trên tay và đang hát ru cho con ngủ.
Lời hát ru của mẹ là những bài ca dao quen thuộc có hình ảnh con cò. “Con còn bế trên tay” bé bỏng và
non nớt biết bao. Vậy mà mẹ vẫn thầm thì nói với con những điều vừa nh căn dặn, vừa nh dãi bày. Từ
“con” đợc nhắc đi nhắc lại xiết bao thân thơng, trìu mến. Mẹ nói với con điều gì? Mẹ nói với con về con
cị trong lời hát. Đó là con cị “Cổng phủ”, “Con cị Đồng Đăng”, “Con cò bay la, con cò bay lả”... Tác giả
chỉ dẫn một số từ nhng ngời đọc vẫn hiểu từng bài ca dao quen thuộc. Mỗi bài ca dao hình ảnh cị là một
ẩn dụ, một liên tởng thú vị. “Con cò bay lả bay la. Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng...” Hình ảnh cò
trong bài ca dao này gợi cuộc sống yên ả thanh bình nơi làng q thơn dã. Con cị ấy phải chăng là hồn
của quê hơng mà mẹ gửi vào giấc ngủ cho đứa con. Trong lời ru của mẹ ta còn gặp:
“Con cò ăn đêm
Con cò xa tổ
Cò gặp cành mềm
Cò sợ xáo măng”.
Con cò trong lời bài ca gợi hình ảnh một ngời mẹ tần tảo, lam lũ, vất vả kiếm sống để nuôi con. Cuộc sống
luôn gặp nguy hiểm, nhng cị mẹ vẫn ln sống trong sạch, thanh cao và giàu đức hy sinh. Nh vậy, qua
những lời ru của mẹ, hình ảnh cị đến với tâm hồn tuổi ấu thơ đầu tiên là vô thức. Lời ru ấy dần thấm vào
tâm hồn bé, nh dòng sữa ngọt ngào mà tuổi thơ không thể thiếu. ở tuổi ấu thơ, đứa trẻ cha thể hiểu và cha
cần hiểu nội dung ý nghĩa của những lời ru này “Con cha biết con cò con vạc. Con cha biết những cành
mềm mẹ hát”. Trẻ chỉ cần đợc vỗ về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru để đón nhận bằng trực
Ngủ yên! Ngủ n! Cị ơi, chớ sợ!
Cành có mềm, mẹ đã sắn tay nâng!
Cảm xúc rót đầy hai câu thơ đợc tạo bởi rất nhiều câu cảm thán. Mẹ vừa nh nựng nịu dỗ dành con;
vừa nh tự nhủ mình. “Cành mềm” là ẩn dụ chỉ tai hoạ rủi ro, trắc trở, vấp váp. “Mẹ đã sẵn tay nâng” là mẹ
luôn ở bên con đón đỡ, bảo vệ, nâng niu. Điệp ngữ “ngủ yên”, “con cha biết” láy đi láy lại phổ nhạc vào
thơ, khiến lời thơ nh lời ru, nhịp thơ nh nhịp võng: nhè nhẹ đu đa theo bàn tay mẹ âu yếm vỗ về. “Trong
lời ru của mẹ thấm hơi xuân”. Lời ru của mẹ mang theo hơi xuân ngọt ngào, ấm áp . Lời ru ấy, về mặt tinh
thần, đó cũng là dịng sữa ngọt lành, thơm mát ni lớn tâm hồn con. Qua những lời thì thầm mẹ nói ta
mới hiểu khơng gì hạnh phúc hơn khi đợc mẹ ơm ấp, chở che, chăm sóc. Trong vịng tay mẹ “con ngủ
chẳng phân vân”. Tình mẹ thật bao la nh biển cả.
<b> * Luận điểm 2:( Khổ thơ 2) </b>–<b> Hình ảnh cị với cuộc đời con ngời.</b>
ở khúc hát ru thứ hai, cánh cị trong lời mẹ hát đã từ vơ thức đi vào tiềm thức tuổi thơ, trở nên gần
gũi thân thiết và theo con trên các chặng đờng đời:
Thuë n»m n«i:
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ,
Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi”.
Khi con đi học:
“ Mai khôn lớn, con theo cò đi học,
Cánh trắng cị bay theo gót đơi chân”.
Và khi con đã trởng thành:
“ C¸nh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trớc hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn...
<b> * Ln ®iĨm 3:( Khỉ thơ 3) </b><b>ý nghĩa triết lí của lời ru và t×nh mĐ.</b>
Từ sự thấu hiểu tấm lòng của ngời mẹ, nhà thơ đã khái qt thành một quy luật tình cảm có ý nghĩa
sâu sc v bn vng:
<i>Dù ở gần con,</i>
<i>Dù ở xa con,</i>
<i>Lên rừng xuống bể,</i>
<i>Cò sẽ tìm con,</i>
<i>Cò mÃi yêu con.</i>
<b> </b>Hình ảnh cị trong khổ thơ này biểu hiện rõ nhất cho tấm lịng ngời mẹ, ln ở bên con, đắm đuối vì
con. Những cặp từ trái nghĩa gần – xa, lên – xuống, rừng – bể gợi ra khoảng cách không gian dằng
dặc. Điệp từ “dù” đợc điệp lại hai lần kết hợp với phó từ chỉ thời gian tiếp nối “mãi”, “sẽ” đã khẳng định:
không khoảng cách không gian, thời gian nào, không núi cao bể sâu nào ngăn trở đợc lòng mẹ yêu con,
h-ớng về con với tất cả niềm nhớ thơng, lo âu, cầu ớc. Từ cảm xúc mở ra những suy tởng, nhà thơ khái quát
thành triết lí mang tính quy luật:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
Cho dẫu con sẽ lớn lên trởng thành, sẽ nếm trải mọi thành bại, mọi niềm vui, nỗi buồn, dù ở đâu, bao
giờ con cũng là con của mẹ. Mẹ theo từng bớc bao bọc, chở che nh lúc con còn thơ bé. Lịng mẹ mãi u
Bài thơ khép lại với âm hởng lời ru và đúc kết ý nghĩa phong phú ca hỡnh tng con cũ trong nhng
li ru y:
à ơi !
Một con cò thôi,
Con cũ m hỏt
Cng l cuc i
V cánh qua nôi.
Hai từ “à ơi” đến đây mới cất lên nghe thật mợt mà. Sau lời “à ơi” ngời mẹ dờng nh chỉ cịn đối thoại
với lịng mình về những cay đắng ngọt bùi, những cảnh ngộ buồn vui trong kiếp nhân sinh. Mặc dù bài thơ
khơng nói một nếm trải cụ thể nào của mẹ, nhng giọng điệu bùi ngùi đầy cảm thông, chia sẻ cho ta hiểu
cuộc đời thật lắm nỗi gian truân. Đúng vậy, chỉ một con cò trong lời ru của mẹ thôi mà ẩn chứa bao bài
học, bao ý nghĩa về cuộc đời. Bài học ấy, ý nghĩa ấy, đến với con thật nhẹ nhàng, sâu lắng, qua âm điệu
thiết tha của những lời ru:
Ngđ ®i!Ngđ ®i
Cho cánh cò,cánh vạc,
Cho cả sắc trời
Đến hát
Quanh nôi.
Trong lời ru, hình ảnh cò còn biểu tợng cho thiên nhiên, vũ trụ, cho quê hơng, đất nớc.Ta hiểu điều
ngời mẹ muốn. Mẹ muốn cả thiên nhiên, đất trời vũ trụ quây quần bên con, nuôi dỡng và chở che cho con.
Muốn điều gì, nghĩ điều gì mẹ cũng đều hớng về con, cho con tất cả. Tấm lòng yêu con của mẹ quả là
rộng lớn bao la.
Nh vậy, hình tợng bao trùm cả bài thơ là hình tợng con cị đợc khai thác từ ca dao truyền thống .
Trong ca dao con cò xuất hiện rất phổ biến, đợc dùng với nhiều ý nghĩa đặc biệt là nghĩa ẩn dụ tợng trng.
Con cò là ẩn dụ chỉ ngời nông dân một nắng hai sơng giàu đức tính tốt đẹp. Đến lợt mình Chế Lan Viên
đã mở rộng, phát triển ý nghĩa hình tợng con cị. Con cò trở thành biểu tợng của cái đẹp, của khát vọng
sáng tạo, của ý chí vơn lên mãi đặc biệt là biểu tợng của tấm lòng ngời mẹ yêu con sâu nặng trong suốt
cuộc đời.
<b>3.kÕt bµi:</b>
Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, thể thơ tự do, giọng điệu tâm tình mang âm
hởng của lời hát ru. “Con cị”thể hiện tình mẹ bao la, tình u q hơng, khát vọng về tơng lai. Qua đó
nhà thơ gửi gắm những suy ngẫm triết lí về lịng mẹ và khẳng định ý nghĩa của lời hát ru trong đời sống
tình cảm của con ngời. Đọc lại bài thơ một lần nữa ta nh nghe thấy tiếng lòng thân thơng và sâu kín của
chính mẹ ta. Ước gì đợc làm cánh cị bay xa, bay cao, bay mãi trong tình m v tỡnh t nc, quờ hng.
<b>---Bài mùa xuân nho nhỏ 11/1980.</b>
đất nớc đã và đang trên con đờng xây dựng Tổ Quốc. Bài thơ là tiếng lòng tha thiết của tác giả gắn bó với
đất nớc, với cuộc đời thể hiện ớc nguyện chân thành của nhà thơ đợc cống hiến cho Tổ quốc.
Cách 2: Không biết tự bao giờ mùa xuân đã đi vào thơ ca một cách nhẹ nhàng, sâu lắng. mùa xuân
không chỉ hội tụ vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nớc mà cịn hội tụ những tâm tình của con ngời. Trong vờn
thơ xuân đó, ta phải nhắc đến bài thơ “<i>Mùa xuân nho nhỏ</i>” của nhà thơ Thanh Hải. Bài thơ là tác phẩm
cuối cùng của ông viết năm 1980 trong một hoàn cảnh đặc biệt khi ông đang nằm trên giờng bệnh. Bài thơ
ngợi ca mùa xuân của thiên nhiên, đất nớc, thể hiện ớc nguyện chân thành của nhà thơ đợc cống hiến cho
Tổ quốc.
<b>2.Th©n bài:</b>
<b>* Luận điểm1:( Khổ thơ 1) </b><b> Bức tranh thiên nhiên của mùa xuân xứ Huế.</b>
Bài thơ mở ra bằng hình ảnh:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc.
Nh th ó tr một nét vẽ thật mềm mại trên bức tranh xuân, nét vẽ hiện nên dịng sơng Hơng thơ mộng,
trữ tình, nớc trong xanh tinh khiết. điểm trên nền sông xanh là nét chấm phá sinh động:<i> Một bơng hoa</i>“
<i>tím biếc</i>”. Chỉ là “<i>Một bông hoa</i>” chứ không phải mn đố, vạn đố ép cành trĩu xuống nh trong thơ Đỗ
Phủ, vậy mà sự sống vẫn rạo rực dâng trào. Vì sao? Vì động từ “<i>mọc</i>” đặt ở đầu câu thơ gây sự bất ngờ,
mới lạ, sự vật trở nên sống động nh đang diễn ra trớc mắt, đã góp phần nhấn mạnh sức trỗi dậy, sự vơn lên
bất diệt của hoa cỏ mùa xuân. Tính từ “ <i>tím biếc</i>”, màu tím có ánh sáng kết hợp với từ “<i>xanh</i>” ở câu thơ
trên làm nên sắc màu hài hoà tơi tắn của lá hoa sông nớc. Hai câu thơ hàm xúc, tả ít gợi nhiều . Nh thế,
chỉ bằng vài nét phác hoạ, Thanh Hải đã vẽ lên trớc mắt chúng ta một bức tranh xuân tơi đẹp gần gũi thi vị
mang đặc trng của xứ Huế. Bức tranh có đờng nét mềm mại, màu sắc sáng tơi, có khơng gian khống đạt .
Bức tranh xuân của Thanh Hải không chỉ có đờng nét,màu sắc mà cịn có âm thanh. Ngập tràn không
gian là bản nhạc mừng xuân của bầy chim chiền chiện:
“¥i con chim chiỊn chiƯn
Hót chi mà vang trời
Đoạn thơ miêu tả sự hoà thanh của tiếng chim chiền chiện, tạo nên một không gian rộn rà náo nức
tng bừng. Nhà thơ vui sớng lắng tai nghe tiếng chim hót. Từ cất lên nh một tiếng gọi thân thơng của<i>ơi</i>
mùa xuân. Hai tiếng <i>hót chi</i> thể hiện giọng điệu ngọt ngào của xứ Huế.
Từng giọt long lanh rơi
Tôi ®a tay t«i høng”
<i> Giọt long lanh</i>“ ” là một hình ảnh thơ đẹp, giàu sức liên tởng. Thật khó xác định đấy là giọt ma mùa
xuân? giọt sơng đêm lắng đọng trên cây lá? Hay từng giọi âm thanh của tiếng chim chiền chiện? ở đây,
Thanh Hải dùng “<i> giọt long lanh</i>” để miêu tả tiếng chim, đó là nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Âm
thanh tiếng chim đợc cảm nhận trở nên có hình khối, màu sắc: vừa trịn trịa, trong trẻo nh sơng, nh nớc,
vừa lấp lánh ánh sáng nh có nắng mai soi vào rực rỡ. Ngời đọc nh đợc đánh thức cả tai nghe, cả mắt nhìn
để rồi thoả sức bay bổng trong những liên tởng bất ngờ, mới mẻ, những cảm giác lạ lùng tinh tế mà nhà
thơ mang tới.
Cũng giống nh ngời đọc, nhà thơ đang say sa, ngây ngất, rạo rực trớc vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời
lúc vào xuân. Cảm xúc ấy đợc diễn tả qua từ “ ” ngọt ngào mà tha thiết. Qua cả giọng điệu thân thơng,<i>ơi</i>
dịu dàng của ngời dân xứ Huế “<i>hót chi</i>”. Tập trung nhất là đợc diễn tả qua hình ảnh “<i>Tơi đa tay tơi hứng</i>”.
Cử chỉ đa tay hứng bình dị mà nâng niu, thể hiện sự xúc động sâu sắc. Cả tâm trạng đắm say, trân trọng
của thi nhân trớc mùa xuân và cái đẹp. Nhà thơ nh muốn ôm lấy cả sự sống ngọt ngào thơ mộng. Phải có
tình u thiên nhiên tha thiết mãnh liệt Thanh Hải mới có những khao khát và rung động tinh tế đến nh
vậy. Nhà thơ căng ra mọi giác quan cả thị giác, thích giác, xúc giác để cảm nhận vẻ đẹp diệu kì của mùa
xuân. Bài thơ ra đời vào lúc Thanh Hải lâm bệnh trọng, nếu đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác ấy ta còn
thấy cả niềm lạc quan yêu đời của một tâm hồn sáng trong giàu bản lĩnh; thấy cả ý nghĩa nhân sinh khỏe
khoắn ẩn sau mỗi chữ, mỗi lời thơ.
<b>* Luận điểm2:( Hai khổ thơ tiếp ) </b>–<b> Mùa xuân của đất nớc.</b>
Và cũng trong mạch tình cảm chân thành, mãnh liệt ấy, Thanh Hải cũng đã nghe đợc mạch vận
chuyển rạo rực của màu xuân đất nớc:
“Mùa xuân ngời cầm súng
Lộc git y trờn lng
Mựa xuõn ngi ra ng
Lộc trải dài nơng mạ
<i>Mựa xuõn </i> v <i>lc</i> điệp lại hai lần trong khổ thơ còn mang ý nghĩa biểu tợng. Biểu tợng cho cuộc sống
của đất nớc đang ngập tràn sức xuân.
Cả dân tộc bớc vào mùa xuân với khí thế khẩn trơng và náo nức:
Tất cả nh hối hả
Tất cả nh xôn xao.
Cấu trúc lặp, cùng sự xuất hiện của hai từ láy “<i>hối hả , xôn xao</i>” “ ” càng tăng thêm nhịp điệu của mùa
xuân, nhịp sống của đất nớc. “<i>Tất cả</i>” là chỉ chung mọi cuộc đời, và cá nhân mỗi ngời. Mọi ngời nh đang
đem hết tài năng và sức lực của mình để cống hiến cho đất nớc. “<i>Hối hả</i>” gợi tả khơng khí hăng hái, khẩn
trơng, sơi nổi.<i> Xơn xao</i>“ ” là âm vang sôi động của cuộc sống mới đợc nhà thơ cảm nhận tinh tế bằng trái
tim nhiệt huyết đầy ắp tình yêu với cuộc đời.
Từ sự cảm nhận về sức sống của mùa xuân đất nớc, tác giả suy ngẫm về bề dày lịch sử của dân tộc:
“Đất nớc bốn nghìn năm
VÊt vả và gian lao.
Đất nớc ta có bề dày lịch sử bốn nghìn năm với bao gian lao vất vả. Đó là cái gian lao vất vả của một
dân tộc nhỏ bé nhng kiêu hãnh luôn phải đơng đầu với các thế lực ngoại xâm tàn bạo. Từ ngàn đời xa ông
cha ta đã đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi. Và thế hệ cầm súng hôm nay lại đánh Pháp, đuổi Mỹ bảo vệ quê
hơng. Tất nớc ta đợc gây dựng bởi mồ hôi, xơng máu của biết bao thế hệ. Vì thế hành trình về tơng lai là
tất yếu ca lch s.
Đất nớc nh vì sao
Cứ đi lên phí tríc...”
Hình ảnh so sánh “<i>đất nớc nh vì sao</i>” là một hình ảnh đẹp và đầy ý nghĩa. Sao là nguồn sáng lấp lánh,
là vẻ đẹp vĩnh hằng trong không gian, thời gian. So sánh đất nớc nh vì sao là muốn nói tới sức mạnh vợt
qua đêm tối, vợt qua gian khó; là biểu lộ niềm tự hào đối với đất nớc Việt nam anh hùng. Hành trình tới
t-ơng lai của dân tộc ta là không một thế lực nào cản nổi. Ba tiếng “ <i>cứ đi lên</i>” thể hiện chí khí quyết tâm và
niềm tin sắt đá vào tơng lai tơi sáng của dân tộc. Suy nghĩ của tác giả đã thể hiện sự trân trọng, tự hào và
niềm tin bất diệt vào sự trờng tồn của dân tộc.
<b> * LuËn ®iĨm 3 :( Hai khỉ th¬ tiÕp ) </b>–<b> Tâm trạng và Ước nguyện của nhà thơ.</b>
<b> </b>Nhng có lẽ, điều làm nên nét độc đáo, cảm động của bài thơ chính là ớc nguyện chân thành của tác
gỉa:
“Ta lµm con chim hãt
Ta lµm mét cµnh hoa
Ta nhËp vµo hµo ca
Mét nèt trÇm xao xuyÕn”.
Điệp ngữ “<i>Ta làm</i>” đợc nhắc lại hai lần và biến tấu thành “<i>ta nhập</i>” ở câu ba tạo nên nhạc điệu vui
t-ơi khỏe khoắn cho cả khổ thơ. Nếu ở khổ thơ đầu nhà thơ xng “<i>tôi</i>”, thì tới đây nhà thơ sử dụng đại từ
“<i>ta</i>”. “<i>Ta</i>” ở đây khơng chỉ là nhà thơ mà cịn là tất cả mọi ngời. Lời ớc nguyện của tác giả thật bình dị mà
điểm tô cho cuộc sống, làm đẹp cho núi sông. Lẽ tự nhiên con chim sinh ra là để cất tiếng hót, bơng hoa
nở là để toả sắc hơng. Thanh Hải muốn sự cống hiến cho đời cũng tự nhiên nh thế không ồn ào, khơng địi
hỏi đãi ngộ. Khát khao đợc sống có ích, cống hiến phần tinh t nhất cho cuộc đời. Và có lẽ, cũng chính
từ sự chân thành đó mà ta càng hiểu hơn cái ý nguyện thiết tha muốn đợc làm một nốt nhạc trầm. Trong
muôn âm thanh của bản đồng ca đất nớc, Thanh Hải tự nhận mình là một nốt trầm khơng vút cao rộn rã,
khơng thánh thót vang xa mà lắng sâu làm xao xuyến lịng ngời. Nhà thơ muốn hố thân để dâng hiến,
phục vụ cho một mục đích cao cả.Làm chim, làm hoa, làm nốt nhạc nhà thơ còn nguyện làm một mùa
xuân nho nhỏ để đóng góp phần nhỏ bé của mình vào mùa xuân lớn của đất nớc. Đó là ớc nguyện chân
thành . Với Thanh Hải<i> Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình . </i>“ ” Sự cống hiến của Thanh Hải đâu phải chỉ
trong ngày một, ngày hai mà là cả cuộc đời:
“Dï lµ ti hai mơi
Dù là khi tóc bạc.
<i>Tuổi hai mơi</i> là hoán dụ chỉ những năm tháng tuổi trẻ căng tràn sức sống, nhiều hoài bÃo, ớc mơ.
<i>Tóc bạc</i>
cng l hình ảnh hốn dụ chỉ tuổi già. Thơng qua hai hoán dụ chỉ cuộc đời con ngời cùng điệp
ngữ “<i>dù là</i>” nhấn mạnh sự cống hiến của tác giả là thờng xuyên, liên tục và trọn vẹn. Với Thanh Hải, còn
sống là còn phải cống hiến. Cống hiến là nguyện ớc suốt đời của nhà thơ. Trong thực tế, Thanh Hải đã
sống đẹp và cống hiến bền bỉ không biết mệt mỏi cho đất nớc, cho nhân dân. Bài thơ đợc viết một tháng
trớc khi nhà thơ trở về với cát bụi nhng không gợn chút băn khoăn về bệnh tật, hoặc những suy nghĩ riêng
t cho bản thân mà chỉ lặng lẽ cháy bỏng một khát khao đợc dâng hiến, thật đáng khâm phục!
<b> </b>
<b>* Luận điểm 4 :( Khổ thơ cuối ) </b>–<b> Lời ca ngợi quê hơng, đấtnớc qua làn điệu dân ca xứ Huế.</b>
Bài thơ khép lại trong âm điệu ngọt ngào của làn điệu dân ca xứ Hu:
Mùa xuân ta xin hát
Khúc nam ai nam bình
Nớc non ngàn dặm mình
<b> </b>Nếu khổ thơ đầu nhà thơ say sa đón những giọt âm thanh của đất trời, thì ở khổ cuối nhà thơ hoà
cùng giai điệu của quê hơng để đón mừng mùa xn. Nam ai, Nam bình là hai làn điệu dân ca Huế rất nổi
tiếng . “Nhịp phách tiền đất Huế” nghe giòn giã, vang xa.Con chim chiền chiện hót chi mà vang trời, cịn
nhà thơ hát khúc hát ngợi ca mùa xuân, ngợi ca quê hơng, đất nớc. Lời thơ đã hết mà nhạc điệu còn ngân
vang mãi. Phải yêu đời lắm, phaỉ lạc quan lắm mới có thể hát lên trong hồn cảnh của nhà thơ lúc đó.
Điều đó làm ta càng yêu quý và kính trọng nhà thơ. Nh vậy xuyên suốt bài thơ khơng chỉ là hình tợng mùa
xn. Từ tiếng chim chiền chiện tợng trng cho khúc hát của đất trời, đến làm một nốt trầm nhập vào bản
hoà ca của đất nớc và đến đây là khúc hát tạo ấn tợng một bài ca không dứt. Bài ca yêu cuộc sống ru nhà
thơ vào giấc ngủ tràn đầy tình q hơng.
<b>3.KÕtbµi:</b>
Tóm lại, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một bài ca xuân: xuân thiên nhiên, xuân của đất trời và
xuân của lòng ngời. Chất thơ ngọt ngào sâu lắng, hình ảnh thơ đặc sắc, giàu sức biểu cảm. Bài thơ đem
đến cho ngời đọc một bức tranh xuân tràn đầy sức sống. Giờ đây Thanh Hải khơng cịn nữa nhng ớc
nguyện và lẽ sống cao đẹp của nhà thơ cũn mói vi i.
<b> viếng lăng Bác</b>
<b>1.Mở bài:</b>
* Cách 1: Viễn Phơng là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lợng văn nghệ giải phóng
miền Nam thời chống Mĩ. Viếng Lăng Bác là một bài thơ hay đợc viết năm 1976 khi lăng Chủ tịch Hồ Chí
Minh vừa đợc khánh thành, Viễn Phơng ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ thể hiện lịng
thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ đối với Bác.
<b> * C¸ch 2: Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà,</b>
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.
Nỗi mong chờ và ao ớc của đồng bào miền Nam đợc Bác vào thăm không còn nữa. Ngời đã ra đi mãi
mãi để lại bao niềm tiếc thơng trong lòng mỗi ngời dân. Viễn Phơng, ngời con của Nam Bộ , một cây bút
thơ nhỏ nhẹ, sâu lắng, giàu tình cảm , đợc vinh dự ra thăm lăng Bác vào đúng dịp lăng Bác vừa khánh
thành. Xúc động sâu sắc tận cõi lòng, nhà thơ đã viết bài thơ “<i>Viếng lăng Bác</i>”. Bài thơ đã thể hiện niềm
kính u, sự xót thơng, và lịng biết ơn vơ hạn của nhà thơ cũng nh ca nhõn dõn i vi Bỏc.
<b>2. Thân bài:</b>
<b> * Khổ thơ 1: Cảm xúc trớc lăng Bác.</b>
T miền Nam, Viễn Phơng hồ vào dịng ngời vào lăng viếng Bác. Bài thơ của Viễn Phơng đợc kết
bằng dòng cảm xúc mãnh liệt, chân thành.
Mở đầu bài thơ, ngời đọc đã bị xúc động bởi cách xng hô trang nghiêm, thành kính mà thân mật biết
bao:
<i>Con ë miỊn Nam ra thăm lăng Bác</i>
Câu thơ gọn nh một lời thông báo của đứa con đi xa nay đợc trở về thăm ngời cha già kính yêu. Nhà
thơ xng “<i>con</i>” với Bác. Cách xng hô thân mật, ngọt ngào mang đậm phong cách của ngời dân Nam Bộ.
X-ng “<i>con</i>” bởi tự sâu thẳm lịng mình Viễn Phơng coi Bác là ngời cha nhân từ, hiền hậu. Cách xng hô ấy
Trong niềm xúc động trào dâng, nhà th nhn ra hỡnh nh hng tre:
<i>ĐÃ thấy trong sơng hàng tre bát ngát.</i>
Trong làn sơng mờ của buổi sớm mai Hà Nội, hình ảnh đầu tiên mà tác giả thấy đợc và cũng là ấn
t-ợng đậm nét nhất về cảnh quan trớc lăng Bác là hình ảnh “<i>hàng tre</i>”. Hàng tre xanh có thực, một hình ảnh
giản dị, thân thuộc của làng quê Việt Nam. Nhìn hàng tre xanh bát ngát quanh lăng gợi cảm giác là Bác
không đi xa. Ngời vẫn sống, vẫn trở về với quê hơng, đất nớc Việt Nam. Và cây tre, hình ảnh tợng trng
cho con ngời Việt Nam, vẫn quây quần bên Bác. Sự hiện diện của hàng tre quanh lăng khiến nhà thơ ngỡ
ngàng phải thốt lên:
<i>Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam.</i>
<i>Bão táp ma đứng thẳng hàng.</i>
tợng trng cho những gian khổ hy sinh. Trong gian nan vất vả, tre vẫn hiên ngang, bất khuất ngẩng cao đầu.
Hình ảnh tre chính là biểu tợng cho con ngời Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Tre mang phẩm chất cao quý
của con ngời Việt Nam: mộc mạc, thanh cao, ngay thẳng. Tre tợng trng cho sức sống bền bỉ, kiên cờng,
bất khuất của dân tộc Việt Nam, mà Bác là kết tinh của những phẩm chất ấy. Đến với lăng Bác không phải
là đến với đền đài nguy nga, tráng lệ mà là đến với những gì thân thuộc, gần gũi nhất. Nhìn thấy hàng tre
là nh nhìn thấy hình ảnh dân tộc. Hàng tre xanh quanh lăng gợi liên tởng nh dân tộc Việt Nam đang quây
quần bên Bác, Bác đang sống giữa lòng dân tộc Việt Nam.
<b> *Khổ thơ 2: Sự tôn kính, biết ơn B¸c. </b>
Bớc chân của dòng ngời vào lăng viếng Bác đã gần hơn. Cũng lúc ấy nhà thơ li phỏt hin thờm
nhng iu kỡ diu:
<i>Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng,</i>
<i>Thy mt mt tri trong lng rt đỏ.</i>
<i> </i> Hai câu thơ hô ứng với nhau tạo thành một cặp câu với những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ
sóng đôi: “<i>mặt trời trên lăng</i>” và “<i>mặt trời trong lăng .</i>” Mặt trời trên lăng là mặt trời thực, mặt trời của
thiên nhiên, vũ trụ. Mặt trời trong lăng chính là Bác Hồ. Cách so sánh của Viễn Phơng thật tự nhiên mà
cũng thật độc đáo, dùng từ thật chọn lọc. Chỉ khác nhau một chữ “<i>trên</i>” và “<i>trong </i>” mà ngời đọc hiểu đợc:
một đằng là cụ thể, một đằng là biểu tợng nhng ý nghĩa thì tơng đồng. Trong vũ trụ, mặt trời là thiên thể
rực rỡ ấm áp ngày tiếp ngày toả ánh sáng kỳ diệu đem lại sự sống cho mn lồi. Cũng nh thế, với chúng
ta, Bác là ánh sáng, là sức mạnh soi đờng, chỉ lối đa dân tộc Việt Nam đến bến bờ hạnh phúc. Bác mang
lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Sự nghiệp, trí tuệ của Bác toả sáng nh mặt trời. Nay, khi chỉ còn là thi
hài ở trong lăng, Bác vẫn là “<i>mặt trời rất đỏ </i>” trờng tồn cùng mặt trời thiên nhiên, soi sáng cho cách mạng
và sởi ấm trái tim mỗi con ngời. Mặt trời thiên nhiên cịn có khi mờ, khi tỏ nhng mặt trời Bác mãi mãi là
nguồn sáng vĩnh hằng. Ví Bác nh mặt trời Viễn Phơng vừa nói lên đợc sự vĩ đại, cao cả của Bác, vừa thể
hiện đợc niềm tơn kính, biết ơn của nhân dân, của nhà thơ với Bác kính yêu.
Và cũng trong niềm xúc động nhà thơ miêu tả:
<i>Ngµy ngµy dòng ngời đi trong thơng nhớ</i>
<i> </i> <i> KÕt trµng hoa dâng bảy mơi chín mùa xuân..</i>.
Câu thơ thứ nhất tả thực dòng ngời chầm chậm, lặng lẽ vào lăng viếng Bác. Nhìn dòng nối tiếp
nhau bất tận nhà thơ liên tởng nh những tràng hoa dâng lên Bác. Động từ <i>dâng</i> diễn tả lòng thành kính,
sự biết ơn.
T <i>ngy ngy</i> c lặp lại tạo thành một điệp ngữ sóng đơi với câu thơ trớc vừa có ý nhấn mạnh, vừa có ý
so sánh. Qua đó ta hiểu: “<i>Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng</i>” cũng giống nh “<i>Ngày ngày dòng ngời đi</i>
<i>trong thơng nhớ </i>” nghĩa là tình cảm của nhân dân đối với Bác cũng tự nhiên, gần gũi nh đất trời và vĩnh
hằng nh quy luật vận hành của vũ trụ. Tình cảm thơng nhớ Bác cịn đợc nhà thơ diễn tả qua một hình ảnh
thật xúc động “<i>dòng ngời đi trong thơng nhớ</i>”. “<i>Thơng nhớ</i>”từ lòng ngời toả ra nhuốm phủ tất cả khơng
gian. Hố ra tình cảm thơng nhớ Bác đâu chỉ có riêng Viễn Phơng mà là của chung dân tộc. Hình ảnh
hốn dụ “<i>bảy mơi chín mùa xuân</i>” tợng trng cho Bác bẩy mơi chín tuổi. Con Ngời bẩy mơi chín mùa xuân
ấy đã sống một cuộc đời đẹp, đã làm nên mùa xuân cho đất nớc, cho con ngời. Cuộc đời mỗi ngời dân
Việt Nam đã nở hoa dới ánh sáng của Bác. Giờ đây họ vào lăng để kính dâng lên Bác những bông hoa đời
tơi thắm nhất. Nh vậy từ “<i>mùa xuân</i>” không chỉ gợi đến sự bất tử mà cịn khẳng định sức cống hiến khơng
mệt mỏi của Bác Hồ cho đất nớc, cho nhân dân. Bác đã hiến trọn cả cuộ đời mình cho dân tộc. Trớc sự hy
sinh đó mãi mãi để lại trong lịng chúng ta lịng thành kính biết ơn Bác sâu sắc.
<b>*Khỉ th¬ 3: Cảm xúc trong lăng.</b>
<b> Theo dòng ngời chầm chậm vào lăng viếng Bác, đứng trớc linh cữu của Ngời nhà thơ có cảm nghĩ:</b>
<i>B¸c nằm trong giấc ngủ bình yên</i>
<i> Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền.</i>
Hai câu thơ làm hiện lên khung cảnh và khơng khí ở trong lăng vừa trang nghiêm vừa yên tĩnh. Bác
nh đang nằm ngủ, một giấc ngủ yên bình, thanh thản sau một thời gian làm việc căng thẳng. Phải rồi, suốt
cả cuộc đời Bác có ngủ yên đâu. Giờ đây đất nớc đợc độc lập tự do giấc ngủ của Bác mới đợc bình yên.
ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của những ngọn đèn mờ ảo trong lăng khiến nhà thơ liên tởng đến ánh sáng
của vầng trăng dịu hiền. Một liên tởng thật thú vị. Tác giả đã thể hiện sự am hiểu của mình về Bác qua sự
liên tởng đó, bởi trăng với Bác từng là đôi bạn tri âm tri kỉ. Những vần thơ của Bác vần thơ nào cũng lấp
lánh ánh sáng trăng. Trăng đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận, giờ đây trăng cũng đến để ru
giấc ngủ ngàn thu cho Ngời. Chọn hình ảnh “<i>vầng trăng</i>” nhà thơ cịn muốn tạo ra một hệ thống hình ảnh
vũ trụ để ví với Bác. Vầng trăng dịu hiền gợi ta nghĩ đến tâm hồn thanh cao của Bác. Ngời có lúc nh mặt
Trong khung cảnh bình yên tởng nh ngng kết cả không gian, thời gian ấy, tâm trạng, cảm xúc của nhà
thơ đợc biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ sâu xa:
<i> Bác sống nh</i>“ <i> trời đất của ta . </i>” Ngời là trời xanh, là mùa xuân trẻ mãi, là mặt trời rực đỏ. Viễn Phơng
so sánh Bác với bao nhiêu hình ảnh kì vĩ, lớn lao vĩnh hằng trong tự nhiên là để khẳng định cái vô cùng
cao cả và sức sống trờng tồn của Bác. Bác đã hoá thân vào thiên nhiên mây núi và trở thành hồn thiêng
của dân tộc. Bác là mặt trời rực rỡ ấm áp mỗi ngày. Là vầng trăng dịu hiền chiếu sáng đêm đêm. Bác vẫn
cịn sống mãi với non sơng đất nớc nh trời xanh vẫn còn mãi trên đầu. Vẫn biết thế, vẫn tin và muốn tin
nh thế nhng nhà thơ vẫn khơng tránh khỏi đau xót vì sự ra đi của Bác. Câu thơ đọc lên tởng chừng nh thắt
lại vì đau “<i>Mà sao nghe nhói ở trong tim . </i>” Từ “<i>nhói</i>” đứng ở giữa câu thơ làm cả khổ thơ xốn xang đau
đớn. “<i>Nghe nhói</i>” là nỗi đau có thể cảm giác đợc. Nỗi đau quặn thắt tê tái trong đáy sâu tâm hồn nh có
hàng nghìn mũi kim đâm vào trái tim thổn thức. Đã bao năm qua kể từ ngày chúng ta mất Bác, thời gian t
-ởng có thể làm ngi ngoai, nhng tình cảm đau xót, tiếc thơng của Viễn Phơng vẫn thật thấm thía. Lí trí
thấy rõ Bác đã thuộc về cõi vĩnh hằng nhng càng ý thức đợc điều ấy càng đau nỗi đau mất Bác. Không đau
sao đợc khi cả dân tộc sống trong hồ bình, hạnh phúc lại mất đi một vị lãnh tụ đã từng đem cả cuộc đời
mình để giành lại độc lập, tự do cho đất nớc. Tổn thất này thật lớn lao, đau thơng này thật vô hạn. Nỗi đau
riêng này của nhà thơ cũng là nỗi lòng chung của cả dân tộc, của bao nhiêu ngi tng khúc rũng khi Bỏc
mt:
<i>Suốt mấy hôm rày đau tiễn đa,</i>
<i> Đời tuôn nớc mắt trời tuôn ma.</i>
<b>*Khổ thơ 4: Ước nguyện của nhà thơ:</b>
Bài thơ kết thúc trong tình cảm nhớ thơng và lu luyến của tác giả. Nghĩ đến ngày mai phải xa Bác
trong lòng Viễn Phơng đã trào dâng những ớc muốn chân thành, mãnh liệt.
<i>Mai vÒ MiÒn Nam thơng trào nớc mắt.</i>
<i>Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác.</i>
<i>Muốn làm đoá hoa toả hơng đâu đây.</i>
<i>Muốn làm cây tre trung hiÕu chèn nµy.</i>
Nhịp điệu khổ thơ cuối dồn dập, điệp từ “<i>muốn làm</i>” nhắc lại ba lần đã tạo nên nhạc điệu ngân dài vang
vọng cho cả khổ thơ diễn tả tình cảm lu luyến khơng muốn rời xa Bác của nhà thơ. Nhà thơ ớc làm<i> con</i>“
<i>chim</i>” để cất tiếng hót cho Bác vui;<i> muốn làm bông hoa</i>“ ” toả hơng thơm ngát; muốn làm cây tre trung
hiếu trang nghiêm canh giấc ngủ cho Bác. Những ớc nguyện thật bình dị. Phải chăng ớc nguyện đợc hố
thân ấy, nhà thơ muốn mình đợc trở thành những giá trị tinh thần đẹp nhất của Bác? Hơn nữa, Chính điều
đó cũng đủ thấy Viễn Phơng hiểu Bác biết bao. Sinh thời Ngời đã từng rất yêu và gắn bó với thiên nhiên.
Ngời sống chan hồ giữa thiên nhiờn th mng:
<i>Xem sách, chim rừng vào cửa đậu</i>
<i>Phê văn, hoa nói ghÐ nghiªng soi.</i>
<i> </i> Chính vì vậy mà giờ đây mà giờ đây nhà thơ muốn tự mình góp thêm sắc hơng vào khu vờn của Bác.
Chắc ớc nguyện đó của nhà thơ sẽ đợc Bác đồng lòng. Và Viễn Phơng còn muốn làm cây tre trung hiếu
nhập vào hàng tre bát ngát quanh lăng Bác. Hình ảnh cây tre trung hiếu trong câu thơ cuối ngồi ý nghĩa
t-ợng trng cịn bao hàm cả lời hứa sắc son của nhà thơ: sẽ mãi mãi trung thành với lí t ởng của Bác. Tình
cảm thuỷ chung son sắt của nhà thơ cũng chính là tình cảm của nhân dân miền Nam, nhân dân cả nớc với
Bác Hồ mn vàn kính u.
<b>3. kÕt bµi:</b>
Viếng lăng Bác là bài thơ thật giàu cảm xúc và hình ảnh. Giọng thơ trang nghiêm mà sâu lắng, giàu chất
suy tởng, sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc. Chỉ với mời sáu câu thơ, Viễn Phơng đã nói hộ biết bao
tấm lịng, tình cảm của dân tộc Việt Nam gửi tới vị cha già kính u. Đó khơng phải là nỗi đau xót mềm
<b>Ôn Bài: Sang thu</b>
<i>(Hữu ThØnh)</i>
<b>Cách 1:</b>Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ có nhiều đóng góp trong nền thơ ca hiện đại Việt
Nam. Thơ ơng thể hiện tình cảm tinh tế mà sâu lắng. Bài thơ “<i>Sang thu</i>” đợc viết vào năm 1977. Bài thơ là
sự cảm nhận sâu sắc, tinh tế của tác giả trong khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu.
<b> Cách 2: </b>Nếu mùa xuân là mùa hội tụ của những bàn tay nghệ sĩ tài hoa, thì mùa thu bớc vào thơ
ca cũng tự nhiên, gần gũi. Trớc đây, Nguyễn Khuyến nổi tiếng với ba bài thơ thu: Thu điếu, Thu vịnh, Thu
ẩm. Sau này Xuân Diệu có Đây mùa thu tới . Nhỏ nhẹ, khiêm nhờng, Hữu Thỉnh cũng góp vào cho mùa
thu đất nớc một góc quờ hng Sang thu.
<b>2. Thân bài:</b>
<b> *Luận điểm 1: ( Khổ thơ đầu): Cảm nhận vỊ thiªn nhiªn lóc giao mïa.</b>
Sang thu đợc Hữu Thỉnh miêu tả bằng những bớc chuyển mình đầy tinh tế của vận vật trớc thời khắc
giao mùa. Bài thơ mở đầu bng mt phỏt hin bt ng:
Bỗng nhận ra hơng ổi
Phả vào trong gió se
Sơng chùng chình qua ngõ
Hỡnh nh thu đã về”.
Đoạn thơ có cái hơng vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ. Tín hiệu đầu tiên để tác giả
nhận ra là “<i>hơng ổi phả vào trong gió se</i>”. Nếu hơng cốm mới làng Vịng báo hiệu mùa thu nơi Hà thành,
thì hơng ổi chín lại là hơng thu của làng quê bình dị, mộc mạc. Mùi hơng q đợc gió đa trong khơng
gian cứ lan toả, thoang thoảng bay. Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ “<i>Bỗng nhận ra</i>...”, từ “<i>bỗng</i>” diễn tả
một trạng thái cha hề đợc chuẩn bị trớc, thể hiện sự bất ngờ. Mùa thu bất chợt hiện diện với hơng ổi chín
thơm lựng trong gió se. Làn gió nhẹ, khô hơi lạnh của mùa thu đã đánh thức cả thị giác, vị giác, khứu giác
của ngời đọc. Động từ “<i>phả</i>” có thể thay thế bằng các từ “<i>thổi, bay, toả</i>...”, nhng bấy nhiêu từ không từ
nào gợi nổi hơng thơm nh sánh lại, nh đậm hơn của mùi trái chín mà từ “<i>phả</i>” có khả năng diễn đạt. Vậy
là,với hơng ổi, gió se là mùa thu đã về. Thu đến mang theo cả những làn sơng mờ ớt lạnh. Dờng nh có
thêm sơng, nên thu dễ nhận hn.
Sơng chùng chình qua ngõ
Từ láy gợi hình và nghệ thuật nhân hố “<i>sơng chùng chình</i>” diễn tả rất nên thơ bớc đi chầm chậm của
mùa thu, sơng thu giăng mắc lan toả trong khơng gian góp phần làm cho cảnh thu thêm huyền ảo, quyến
rũ. Làn sơng mỏng, nhẹ, tơ mảnh nh mang cả tâm trạng bâng khuâng, lu luyến, bịn rịn. Hiểu nh thế ta sẽ
thấy cái ngõ đẫm hơng ổi, đẫm sơng theo gió đang ngập ngừng đi qua. Đấy vừa là cái ngõ thực, ngõ cổng
trúc, cổng tre quen thuộc của làng quê, vừa là cái ngõ của thời gian giao mùa. Có một chút man mác của
khơng gian thu, nét t lự của lịng ngời trong hai chữ “<i>chùng chình</i>”ấy. Cứ dần nh thế, nhẹ nhàng mềm mại
nh thế, thu đến tự lúc nào không hay. “<i>Hình nh thu đã về</i>”. Sao lại “<i>hình nh</i>” chứ không phải là “<i>chắc</i>
<i>chắn</i>”? Một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng không thật rõ ràng. Phút giây giao mùa của thiên nhiên
nhìn thấy rồi, cảm thấy rồi, bằng cả khứu giác, xúc giác, thị giác vậy mà nhà thơ vẫn ngỡ ngàng, bối rối
hoài nghi. Cái rung động rất tinh tế, mới mẻ của tâm hồn thi sĩ đồng điệu và hoà nhịp với thiên nhiên cảnh
sắc giao mùa nh thực, nh ảo, nh có, nh khơng. Bởi vậy, có thể nói nghệ thuật thành cơng trong khổ thơ đầu
không chỉ là sự lựa chọn những cảnh sắc đặc trng tiêu biểu mà còn ở sự cảm nhận và biểu đạt hết sức tinh
tế cái rung rinh mơ hồ của ngoại cảnh và tâm cảnh. Phải có một tâm hồn nhạy cảm và tình u gắn bó tha
thiết với quê hơng, tác giả mới có thể có những cảm nhận tinh tế nh vậy
<b> *Luận điểm 2: (Khổ thơ 2): Quang cảnh đất trời ngả dần sang thu.</b>
Sau phút ngỡ ngàng ban đầu là những cảm nhận rõ nét, từng sự chuyển biến của thiên nhiên, đất trời
lúc thu sang. Khổ thơ đầu thiên nhiên đợc nhà thơ quan sát ở không gian hẹp, trong ngõ nhỏ, cảnh vật mơ
hồ nh thực, nh ảo. Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên đợc nhà thơ quan sát ở không gian vừa dài, vừa rộng,
vừa cao vời vợi với những cảnh vật cụ thể:
“Sông đợc lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã”.
Hai câu thơ tạo nên một cặp đối rất tự nhiên gần với vẻ đẹp của thơ Đờng luật. Câu trớc miêu tả dịng sơng
dới mặt đất, câu sau miêu tả cánh chim trên bầu trời. Nhng, cảnh trong thơ xa thờng tĩnh còn ở đây cảnh
vật mới sống động làm sao! Dòng sông không chảy cuồn cuộn nh những ngày ma giông mừa hạ mà lắng
lại êm đềm, in bóng nền trời thu xanh cao, rộng rãi. Từ láy “<i>dềnh dàng</i>” miêu tả rất thực và sống động đặc
điểm của dịng sơng mùa thu. Sông thu chảy êm đềm, lững lờ, chậm chạp. Tơng phản với sông, “<i>chim bắt</i>
<i>đầu vội vã</i>”. Câu thơ gợi tả bầu trời cao chao lợn rộn ràng những cánh chim. Không phải cánh én báo hiệu
mùa xuân về, mà là cánh chim vội vã bay đi tránh rét. Chim cũng có cảm nhận thật tinh tế trớc bớc chuyển
giao mùa của thời gian. Nhng ấn tợng nhất là đám mây mang trên mình cả hai mùa:
“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”.
*Luận điểm 3: (Khổ thơ cuối): Suy t của tác giả trớc giờ phút giao mïa.
<b> </b>Khổ thơ thứ ba là nơi tác giả gửi gắm những suy nghĩ chiêm nghiệm về cuộc đời, về khát vọng trong
tâm hồn của mỗi con ngời:
“ Vẫn còn bao nhiêu nắng,
Đã vơi dần cơn ma
Sấm cũng bớt bất ngờ
Nắng vẫn cịn nhng có lẽ dịu hơn, ma vơi dần, sấm cũng bớt đột ngột và bất ngờ khiến hàng cây đã vững
vàng khơng cịn giật mình vì tiếng sấm. Đây cũng là dấu hiệu của sự chuyển mùa. Hạ đang nhạt dần cịn
thu thì đậm nét hơn. Hơng ổi nồng nàn hơn, gió lạnh hơn, sơng cũng giăng mắc nhiều hơn. Nhìn cảnh vật
đất trời vào thu, từ ngoại cảnh nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. Đất trời sang thu khiến lòng ng ời cũng bâng
khuâng, xao xuyến. Thu sang, đã bớt đi những cái náo động của không gian thiên nhiên, gợi cái xế chiều
của cuộc đời. Có lẽ vậy mà bài thơ đợc kết thúc bằng hình ảnh “<i>hàng cây đứng tuổi</i>” đã gửi gắm những ý
nghĩa sâu sa. “<i>Sấm , nắng , m</i>” “ ” “ <i>a</i>” là hình ảnh ẩn dụ chỉ những biến động của thiên nhiên, những biến cố
bất thờng của ngoại cảnh, của cuộc đời. “<i>Hàng cây đứng tuổi</i>” là hình ảnh những con ngời đã từng trải qua
biến cố thử thách. Khi đã từng trải, con ngời sẽ vững vàng hơn trớc những biến động của cuộc đời. Họ có
đủ bình tĩnh tự tin để đón nhận mọi sự thay đổi trong số phận, nh “<i>hàng cây đứng tuổi</i>” bình tĩnh đón nhận
những đợt sấm. “<i>Hàng cây đứng tuổi</i>” cịn là hình ảnh của đất nớc, của dân tộc ta vững vàng vợt qua thử
thách. Trải qua biết bao biến cố, thử thách ác liệt, chúng ta khơng cịn sợ bất cứ một thế lực nào, mà ln
vững vàng vợt lên phía trớc.Trong từng cảnh “<i>sang thu</i>” của thiên nhiên, đất trời, là hồn ngời “<i>sang thu</i>”
vừa lu luyến bồi hồi, vừa nghiêm trang chững chạc, vừa sâu lắng bâng khuâng nhng cũng tự hào kiêu
hãnh.
<b>3.KÕt bµi</b>
Bằng hình ảnh thơ tự nhiên giàu sức gợi cảm, vài nét chấm phá, sử dụng nhiều phép tu từ đặc sắc,
Hữu Thỉnh đã vẽ lên một bức tranh thu tuyệt đẹp mang hơi ấm cuộc đời. Sang thu là tiếng lịng của tác giả
gửi gắm biết bao tình yêu với quê hơng, đất nớc. Bài thơ bồi đắp cho ta tình yêu thiên nhiên, đất nớc, biết
trân trọng những giá trị của đời sống từ những cái bình thờng, nhỏ nhất.
<b> Nãi víi con</b>
<b>1.Më bµi:</b>
<b> Cách 1: Y Phơng là nhà thơ dân tộc Tày. Thơ của ông thể hiện một tâm hồn chân thực mạnh mẽ của</b>
ngời miền núi . Và tiêu biểu cho hồn thơ ấy là bài thơ “<i>Nói với con</i>”. Bài thơ là một lời nhắn gửi của thế
hệ cha anh, đối với thế hệ mai sau về cách sống, cách làm ngời.
C¸ch 2: Tình cảm gia đình, tình yêu đối với quê hương xứ sở là những tình cảm nguyên sơ nhưng
cũng thiêng liêng nhất của con người Việt Nam. Lòng yêu thương con cái, ước mong thế hệ sau nối tiếp
xứng đáng truyền thống của tổ tiên, dân tộc, quê hương là sự thể hiện cụ thể của tình cảm cao đẹp đó.
Nhiều nhà thơ đã giãi bày những sắc thái tình cảm ấy lên trang giấy. Chúng ta bắt gặp trong bài thơ “<i>Nói</i>
<i>với con</i>” của tác giả Y Phương một cách diễn đạt mộc mạc, chân chất của người miền núi những lời tâm
tình thiết tha, những lời dặn dò ân cần, chia sẻ của người cha đối với con lòng tự hào về con người và quê
hương yêu dấu của mình.
<b>2. Thân bài:</b>
<b> *Lun điểm 1: ( 11 Câu thơ đầu): Nói với con về cội nguồn sinh dỡng:</b>
<b>+ Tổ ấm gia đình:</b>
Để nói với con về cội nguồn sinh dỡng, điều đầu tiên ngời cha muốn nói tới là tình cảm gia đình. Bởi
gia đình là cái nôi nuôi dỡng con khôn lớn trởng thành:
Chân phải bớc tới cha
Chân trái bớc tới mẹ
Một bớc chạm tiếng nói
Hai bớc tới tiÕng cêi”
“Cha mẹ mãi nhớ về ngày cới,
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”.
Câu thơ đã hoàn thiện bức tranh gia đình hạnh phúc. Khắc hoạ hình ảnh gia đình hạnh phúc, nhà thơ
muốn khẳng định: con ngời cần biết bao nhiêu những mái ấm bình yên nh thế để lớn lên và trởng thành.
Gia đình quả là tổ ấm, là cội nguồn của mỗi ngời. Nói với con điều ấy, ngời cha muốn nhắc nhở con phải
khắc cốt ghi xng cụng lao tri bin ca cha m.
<b>+ Tình cảm quê hơng:</b>
Nhng tỡnh yêu thơng đầy ắp của cha mẹ, vòng tay cha mẹ có rộng mở đến đâu thì gia đình cũng
khơng phải là cội nguồn sinh dỡng duy nhất. Con ngời lớn lên còn cần một bầu sữa tinh thần thứ hai đó là
q hơng. Con cịn lớn lên trong cuộc sống lao động, trong tình yêu thơng của “ngời đồng mình”. Nơi ấy
có những con ngời làm việc với đơi tay cần cù, khéo léo:
“Ngời đồng mình yêu lắm con ơi!
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Câu thơ gợi ra cuộc sống lao động của ngời dân miền núi. Họ sống quây quần, gắn bó yêu thơng
nhau. Dới bàn tay tài hoa của họ những nan trúc, nan tre, nan nứa đã trở thành “nan hoa”, họ đã tạo nên
những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mĩ. Khơng gian quanh họ còn đầy ắp tiếng
khèn câu hát. Nơi miền núi xa xôi hẻo lánh, con ngời luôn sống vui tơi, lạc quan, yêu đời. “<i>Vách nhà ken</i>
<i>câu há</i>t”:Họ hát khi làm việc, hát trong các lễ hội... Tiếng hát ngợi ca cuộc sống, ngợi ca quê hơng.
Trong bài thơ, quê hơng còn thể hiện ở ba hình ảnh: “<i>rừng , con đ</i>” “ <i>ờng</i>”và “<i>ngời đồng mình .</i>”
“Rừng cho hoa
Con đờng cho những tấm lòng”.
Rừng núi quê hơng thật thơ mộng và nghĩa tình. , rừng quê ta đâu chỉ cho sản vật mà còn cho hoa.
“Gập ghềnh xuống biển lên non
Con đờng tình nghĩa ai cịn nhớ chăng? ”
Con đờng tình nghĩa chính là những tấm lòng cao cả, là vẻ đẹp của tình ngời. Ngời cha muốn nói cho
con biết q hơng mình vừa đẹp, vừa giàu truyền thống văn hố, mà cũng thật nghĩa tình. Từ đó giáo dục
con lịng tự hào về quê hơng, đất nớc mình.
Nh vậy, cả quê hơng và gia đình cùng ni con khơn lớn. Nói với chúng ta về cội nguồn sinh dỡng ấy,
nhà thơ thầm nhắn nhủ: gia đình là lịng nơi, q hơng là điểm tựa suốt đời không bao giờ đợc quên,
giống nh lời thơ của nhà thơ Đỗ Trung Quân đã từng nhn nh:
Quê hơng nếu ai không nhớ,
Sẽ không lớn nổi thành ngời.
<b> *Luận điểm 2: ( 17 Câu thơ cuối): Nói với con về truyền thống quê hơng và lời dặn dị con trên</b>
<b>đờng đời.</b>
<b>+ Trun thèng cđa quª h¬ng:</b>
<b> Nếu nh ở phần đầu bài thơ, tác giả bộc lộ một cách cụ thể tình cảm gia đình , nghĩa tình quê hơng, thì</b>
ở phần thứ hai tác giả mợn lời của ngời cha nói với con về sức mạnh truyền thống, lịng thuỷ chung với
q hơng. Lời cha nói với con nghe thật ngọt ngào tha thiết:
“Ngời đồng mình thơng lắm con ơi”
Xa nu«i chÝ lín”.
“<i>Ngời đồng mình</i>” là đồng bào quê hơng mình. Ngời quê mình không chỉ cần cù, khéo léo, tài hoa và
yêu đời, mà họ cịn rất bền bỉ, kiên cờng khơng bao giờ chịu lùi bớc trớc mọi thử thách khó khăn: “<i>Cao đo</i>
<i>nối buồn , xa ni chí lớn .</i>” “ ” Ta bắt gặp ở đây một lần nữa cách nói khác lạ rất hay của ngời miền núi.
“Nỗi buồn” đợc đo bằng chiều cao, “chí lớn” đợc đo bằng độ xa. Lấy cái cao, cái xa của trời đất làm chiều
kích của nỗi buồn và chí hớng. Đó là tầm vóc của núi cao, rừng thẳm. Tâm hồn càng sáng thì chí càng
cao, càng bền, tầm nhìn càng xa thì càng rộng.
Ngời đồng mình cịn đẹp bởi tấm lịng chung thuỷ với q hơng:
“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung khơng chê thung nghèo đói
Sống nh sông nh suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cùc nhäc”.
gợi ra sức sống mạnh mẽ, lối sống khống đạt ăm ắp nghĩa tình của con ngời quê hơng. Cha luôn mong
con nhớ lấy những điều ấy để sống có tình có nghĩa, thuỷ chung với quê hơng. Biết chấp nhận và vợt qua
những khó khăn thử thách bằng ý chí, nghị lực và niềm tin của mình.
Nếu ngời Kinh dùng lối nói “chân lấm tay bùn” để nói lên sự mộc mạc, giản dị của ngời dân quê,
thì Y Phơng lại diễn đạt:
“ Ngời đồng mình thơ sơ da thịt
Cả lời thơ và ý thơ đều rất giản dị. Thô sơ da thịt là hình thức bên ngồi, làn da, mái tóc, dãi giầu
nắng ma, khơng cầu kì tơ điểm. Ngời đồng mình có vẻ đẹp mộc mạc,chân chất nhng lẽ sống thì vơ cùng
cao đẹp. Khơng nhỏ bé là khơng cúi mình cam chịu mà sống kiêu hãnh cao thợng “sống chẳng cúi đầu,
chết vẫn ung dung”. Nhà thơ tiếp tục khẳng định điều này bằng những câu thơ nói về khát vọng xây dựng
quê hơng:
“ Ngời đồng mình tự đục đá kê cao quê hơng,
Còn quê hơng thì làm phong tục”.
Tác giả đã sử dụng lối nói độc đáo của ngời dân tộc miền núi mang đến cho câu thơ có thể hiểu theo
hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa ẩn dụ. Đục đá kê cao là hoạt động có thực thờng thấy ở vùng miền núi,
đó là hoạt động lao động vất vả, cực nhọc để tồn tại. Nói tự đục đá kê cao quê hơng cịn là lối nói ẩn dụ
chỉ sự lao động bền bỉ và sáng tạo của ngời đồng mình; diễn tả ý chí tự lập, tự cờngvà ớc muốn lu giữ
những phong tục tập quán tốt đẹp của quê hơng, góp sức chung tay đa quê hơng đất nớc lên tầm cao mới.
Đó cũng chính là tinh thần tự tơn, ý thức bảo tồn nguồn cội. Qua đó, ngời cha ln mong con phải biết
nêu cao lịng tự hào, biết giữ lấy và phát huy truyền thống cao đẹp của ngi ng mỡnh, ca quờ hng
mỡnh.
<b>+ Lời dặn dò cña ngêi cha:</b>
Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ dặn dò của ngời cha mong muốn con mình phải tự hào về truyền
thống tốt đẹp của quê hơng, hãy lấy những tình cảm đó để làm hành trang vững bớc trên đờng đời:
“ Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đờng
Không bao giờ nhỏ bé đợc
Nghe con”.
Lần thứ nhất ngời cha nói đến Ngời đồng mình thơ sơ da thịt để nói cho con về sức sống mạnh mẽ,
sức mạnh truyền thống của quê hơng. Lần thứ hai ngời cha nhắc lại nh để nhắc con khắc cốt ghi xơng
rằng: quê hơng mình tuy mộc mạc, chân chất, ngời đồng mình tuy thơ sơ da thịt nhng sống cao đẹp nên
trên đờng đời con phải làm những điều lớn lao, con phải sống cao thợng, tự trọng để xứng đáng với ngời
đồng mình. Bài học làm ngời mà cha dạy cho con tuy ngắn gọn mà thấm thía biết bao: cha mong con biết
tự hào về quê hơng, có ý thức giữ gìn truyền thống của q hơng, đóng góp cơng sức của mình để xây
dựng q hơng giàu đẹp.
<b>3.KÕt bµi</b>
Với ngơn ngữ thơ giản dị, trong sáng, hình ảnh mộc mạc, cơ đọng mà vẫn phong phú sinh động,
Y Phơng đã gửi gắm vào đó những lời cha nói với con, cha dạy con bài học làm ng ời, biết giữ gìn phẩm
giá và đạo lí: u mến tự hào về q hơng, sống có chí khí, sống đẹp nh ngời đồng mình từ bao đời nay. Y
Phơng đã thấu hiểu và bởi vậy lột tả đợc cái hồn trong bản sắc truyền thống của ngời dân tộc miền núi.
Lời của cha nói với con hay chính là lời của tác giả trao gửi cho thế hệ mai sau? Ai cũng có một quê h ơng
để mà nhớ, để mà yêu. Là thế hệ sau chúng ta nguyện ghi nhớ lời dặn của cha anh và sống sao cho xứng
đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình, nguyện kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp đó.
<b>truyện hiện đại việt nam</b>
Làng – Kim Lõn
Nói đến Kim Lân là nói đến nhà văn của nơng dân bởi ơng đã gắn bó cả cuộc đời máu thịt của mình
với quê hơng để rồi những tác phẩm của ông sống mãi trong lòng bạn đọc theo thời gian năm tháng.
<i>Lµng</i>
“ ” là một truyện ngắn hay đợc Kim Lân viết vào những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Nhân vật chính trong truyện là ơng Hai đã để lại trong lòng ngời đọc nhiều ấn tợng sâu sắc. Ơng là một
lão nơng cần cù, chất phác, giàu lịng u q hơng đất nớc. Ơng gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo
kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Hồ Chí Minh.
<b> * Khái quát: Ông Hai, là nhân vật chính của truyện, quê ở làng Chợ Dầu. Ơng là ngời nơng dân thật thà</b>
nhng lại có lịng u nớc cao độ, ý chí quyết tâm đi theo kháng chiến đến cùng.
<b>* Ln ®iĨm 1: Phân tích hoàn cảnh của ông Hai:</b>
<b> Cũng nh hàng triệu ngời nông dân khác, ông Hai là một ngời cần cù, chất phác, nhân hậu. Ông hay</b>
lam hay làm, suốt cuộc đời sống ở quê hơng, gắn bó máu thịt với từng con đờng, từng nếp nhà, thửa
ruộng. ở quê ông làm suốt ngày không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay. Đi cày, đi cuốc, gánh phân, tát
n-ớc, đan rổ, đan rá ông đều làm khéo, làm giỏi.
<b>* LuËn điểm 2: Lòng yêu làng, yêu n ớc của ông Hai.</b>
<b> + Luôn tự hào vỊ lµng vµ hay khoe lµng:</b>
Ông Hai yêu làng tha thiết. Cái làng chợ Dầu vốn là nơi chôn rau cắt rốn của ông không yêu sao đ ợc.
Đi đâu ông cũng khoe cỏi hay, cỏi p v làng của mình c nh khụng õu bng c nh vy. Làng ông
<i>nhà ngói san sát, sầm uất nh</i>
<i> tnh; ng trong lng tồn lát đá xanh, trời ma, trời gió tha hồ đi khắp đầu</i>
<i>làng cuối xóm bùn khơng dính đến gót chân, ngày mùa phơi thóc, phơi rơm thì tốt thợng hạng... .</i>”
Trớc kia, ông Hai lấy làm tự hào về cái sinh phần của cụ quan tổng đốc làng ông. Đi đâu, gặp ai ông
cũng khoe “<i>cái dinh cụ Thợng làng tôi có lắm lắm là của. Vờn hoa cây cảnh nom nh là động ấy .</i>” Ông yêu
làng chợ Dầu với tất cả sự hồn nhiên ngây thơ của một ngời ít học. Ơng đã mang thơng tật trên mình khi
bị bắt làm phu xây cái lăng ấy. Đáng lẽ, ông không nên khoe, ông có quyền căm thù nó nhng đằng này
Từ ng y cà ỏch mạng thành cụng, được giỏc ngộ ý thức giai cấp, tỡnh yờu làng của ơng Hai có sự
chuyển biến rõ rệt. Ơng khơng bao giờ cịn đả động đến cái sinh phần ấy nữa, ơng biết thù nó đến tận tim
gan bởi cỏi lăng đú đó làm khổ ụng, và làm khổ biết bao nhiờu người dõn trong làng. Ông yêu cái làng
Dầu kháng chiến với tất cả niềm kiêu hãnh cao cả. ễng khoe làng Chợ Dầu của ụng cú cỏi phũng thụng
tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng,chịi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiu chiu loa gi c
lng u nghe thy. Ông tự hào về phong trào cách mạng sôi nổi ca lng, các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ
vác gậy đi tập quân sự, “nhất là những hố, những giao thông hào của làng ơng thì lắm cơng trình khơng
để đâu hết”.
Kháng chiến nổ ra khắp nơi với khẩu hiệu “<i>Ruộng rẫy là chiến trờng. Cuốc cày là vũ khí .Nhà nơng</i>
<i>là chiến sĩ</i>”. Vợ con ông đi tản c, nhng ông vẫn ở lại cùng với đội du kích đi đào đờng, đắp ụ để bảo vệ
làng chợ Dầu thân yêu của ơng. Nhng khi hồn cảnh gia đình neo bấn, vợ con thúc bách, cực chẳng đã
ông phải dời xa quê hơng lên phố chợ để tản c. Ông tự an ủi mình “<i>Thơi thì chẳng ở lại làng cùng anh em</i>
<i>đợc, thì tản c âu cũng là kháng chiến .</i>”
+ <b> ở nơi tản c : </b>
<b> Xa làng đi tản c, ơng lão ln nhớ về ngơi làng của mình. Tính nết ơng có phần thay đổi. Ơng ít nói, ít</b>
cời, lầm lầm, lì lì, thậm chí cáu gắt với vợ con. Ơng vơ cùng đau khổ, lịng dạ ơng nh có lửa đốt cứ thấp
thỏm khơng n. Ơng lão cứ nằm vắt tay lên trán mà lo “<i>cái chòi gác đặt ở đâu , Những đ</i>” “ <i>ờng hầm bí</i>
<i>mật giờ này đã đào xong cha?</i>”. Ngời thì ở nơi tản c mà lịng dạ ơng thì lại để ở ngơi làng chợ Dầu, hớng
về nó với nỗi niền tha thiết “<i>Chao ơi! Ơng lão nhớ cái làng q! Nhớ q! .</i>” Ban ngày bận việc thì thơi,
buổi tối ơng lại sang nhà hàng xóm dãi bày nỗi nhớ làng của mình. Ơng khơng ngớt lời khoe những cái
đẹp của q hơng mình. Ơng khoe với cái giọng say mê, náo nức, không cần để ý đến thái độ của ngời
nghe, chỉ nói cho sớng miệng và cho đỡ cái nỗi nhớ làng.Ngày nào ơng cũng lên phịng thơng tin để nghe
<b> +Truyện đặt nhân vật vào một tình huống bất ngờ: Ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.</b>
Để khắc sâu thêm tình u làng, u nớc của ơng Hai, tác gỉa Kim Lân đã đặt nhân vật vào một tình
huống bất ngờ. Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những g ơng anh dũng
của qn và dân ta thì ơng nh bị sét đánh vì cái tin dữ. Cả làng chợ Dầu của ơng là Việt gian theo Tây.
Nhận đợc tin đó, ơng lão lặng đi, tởng nh không thở đợc. “<i>Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân</i>
<i>rân</i>”. Có lẽ, đối với ông lúc này trời đất nh đang quay cuồng sụp đổ. Tội nghiệp ơng lão vui tính, hay
chuyện, lúc nào cũng mong ngóng tin tức từ làng quê, vậy mà tin từ làng quê khiến ông phải vờ lảng ra
chỗ khác rồi đi thẳng. Ơng khơng tin vào sự thật cịn hỏi lại” <i>Liệu có thật khơng hả bác? Hay là chỉ lại</i>...”.
Nhng sự thật đã quá rõ ràng, cái tin ấy đợc chính những ngời tản c mới lên thông báo nên ông lão buộc
phải tin. Bên tai ông cứ văng vẳng tiếng chửi của ngời đàn bà cho con bú: “Cha mẹ tiên s nhà chúng nó!
Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt đợc ngời ta cịn thơng. CáI giống Việt gian bán nớc thì cứ cho mỗi đứa một
nhát!”. Những lời nói ấy nh những nhát dao chém vào tim ông làm tim ông se thắt lại. Tin dữ ấy cứ xâm
chiếm hành hạ ông nên ông phải“ <i>cúi gằm mặt mà đi </i>” nh chính ơng đang là kẻ phản bội vậy. Thật xót xa
đau đớn, tủi nhục. Ngơi làng mà ơng hằng tự hào, yêu mến nh đứa con của mình, ngôi làng đã trở thành
một phần của cuộc đời ông giờ đã phản bội lại lòng tin và sự mong mỏi của ơng. Ơng lão nắm chặt hai
bàn tay lên mà rít: “<i>Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán </i>
<i>n-ớc để nhục nhã thế này .</i>”
Hết mấy ngày sau, ông không dám đi đâu, không dám ra đến ngoài ngõ, khơng dám gặp mặt ai,
khơng dám cả nói to. Nghe những tiếng lao xao ngồi đờng ơng cũng chột dạ tởng nh ngời ta đang bàn tán
nói đến chuyện làng ơng. Thống nghe những tiếng<i> Tây , Việt gian , cam nhông</i>“ ” “ ” “ ”là ơng lủi vào một
góc nhà nín thin thít. “<i>Thơi lại chuyện ấy rồi</i>”. Ông rơi vào một tâm trạng đau xót tủi hổ càng lúc càng
nặng nề và nó đã trở thành một nỗi ám ảnh, một sự sợ hãi thờng xuyên trong ông.
Không chỉ riêng ông Hai mà cả bà Hai và những đứa nhỏ cũng đều “<i>cúi mặt xuống bất thần</i>”, khơng
riờng và của những người nụng dõn Việt Nam trong khỏng chiến chống Phỏp núi chung cú một sự chuyển
biến mới trong đời sống tỡnh cảm.Với họ, tình yêu làng gắn liền với tình yêu kháng chiến, tình yêu cách
mạng, ủng hộ và đi theo Cụ Hồ. Khi cần, họ sẵn sàng gạt bỏ tình riêng để h ớng tới tình cảm chung của cả
cộng đồng. Rõ ràng tình u nớc của ơng Hai rộng lớn bao trùm lên tình yêu làng. Dù xác định đợc nh
vậy nhng ơng Hai vẫn khơng dứt bỏ đợc tình cảm đối với làng Chợ Dầu nên càng thêm day dứt. Tình u,
sự gắn bó với làng Chợ Dầu nh ngấm vào máu thịt của ông. Trong tâm trạng bị dồn nén bế tắc, ơng chỉ
cịn biết trút nỗi lịng của mình với thằng con út. Khi nghe con nói “<i>ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh</i>”, nớc mắt
ơng cứ giàn ra, chảy rịng rịng trên má, giọng ơng nh nghẹn lại “<i>ừ! Đúng rồi! ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh</i>
<i>con nhỉ!</i>”. Ơng nhắc con cũng chính là tự nhắc mình ủng hộ Cụ Hồ. Những lời tâm sự của ông Hai với con
chính là những lời ơng tự nhủ với lịng mình, giãi bày nỗi lịng của mình nhằm khẳng định tình yêu sâu
nặng với cái làng Chợ Dầu.Mỗi việc ông làm, mỗi lời ông nói, mỗi biểu hiện dù là nhỏ nhất trong tâm
trạng ông lúc này đều chứng tỏ tình u làng tha thiết của ơng. Đồng thời cũng khẳng định lịng trung
thành tuyệt đối của ơng với cách mạng với cụ Hồ
<b>+ Tâm trạng của ông Hai sau khi nghe được tin cải chính về làng:</b>
<b> Lòng yêu làng, yêu nớc của ông Hai đợc biểu hiện rõ hơn khi ơng nghe đợc tin cải chính về làng</b>
Chợ Dầu. Sự đau khổ của ơng Hai những ngày trớc đó nhiều bao nhiêu thì niềm hạnh phúc phấn khởi của
ơng lúc này càng lớn bấy nhiêu. Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tơi vui rạng rỡ hẳn lên, “<i>mồm bỏm bẻm</i>
<i>nhai trầu, cặp mắt hấp háy</i>”. Ông mua quà chia cho con trẻ để chúng nó cùng đợc chia sẻ niềm vui. Ông
tất tả đi từ nhà này sang nhà khác “<i>bô bô</i>” khoe với mọi ngời về cái tin làng ông bị đốt, nhà ông cũng bị
giặc đốt nhẵn. Nội dung lời khoe của ơng có vẻ vơ lý bởi khơng ai có thể vui mừng khi làng mình, nhà
mình bị tàn phá; Nhng trong tình huống này thì điều vơ lý ấy lại dễ hiểu<i>: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng</i>
<i>thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ơng đang đợc đón nhận</i>. Từ ngôi nhà cháy rụi của ông danh dự
<b>3.kÕt bµi:</b>
Kim Lân đã thành công bởi nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật. Cách xây dựng tình huống bất
ngờ, cốt truyện dựa theo tâm lí nhân vật, giọng kể thủ thỉ tâm tình. Kịch tính phát triển cao và đợc giải
quyết hợp lí. Xây dựng nhân vật điển hình qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. Qua đó,
nhân vật ơng Hai hiện lên chân thực, sinh động và có chiều sâu cảm xúc. Nhà văn qua nhân vật ông Hai
đã khẳng định và ngợi ca tình cảm tốt đẹp của ngời nơng dân trong kháng chiến chống Pháp. Mỗi lần đọc
truyện ngắn “<i>Làng</i>” ta lại thấy tự hào và càng yêu quê hơng, đất nớc, đồng thời biết ơn những ngời dân
cày Việt Nam biết bao nhiêu!
<b> lỈng lÏ sa pa nguyễn thành long</b>
<b> </b> Nguyễn Thành Long là cây truyện ngắn nổi tiếng của làng văn học hiện đại Việt Nam. Truyện của
ông thờng giàu chất hoạ, chất nhạc và chất thơ. “<i>Lặng lẽ Sa Pa</i>” là kết quả của chuyến đi thực tế Lào Cai
vào mùa hè năm 1970 của tác giả. Đây là một truyện ngắn tiêu biểu viết về cuộc sống mới hồ bình, xây
<b>2.thân bài:</b>
<b> Đến với Lặng lẽ Sa Pa, ngời đọc không chỉ đợc thởng thức vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên mà cịn</b>
gặp những con ngời qn mình vì nhiệm vụ. Đó là anh thanh niên nhân vật chính của truyện.
Anh khoảng hai mơi bảy tuổi, sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét, xung quanh anh
chỉ có gió, núi, cỏ cây và sơng mù lạnh lẽo. Bác lái xe đã từng nhận xét “<i>anh là ngời cô độc nhất thế</i>
<i>gian .</i>” Anh làm cơng tác khí tợng kiêm vật lí địa cầu. Công việc chủ yếu của anh là đo gió, đo ma, đo
nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, để góp phần dự báo thời tiết phục vụ sản xuất và chiến đấu. Cơng
việc ấy địi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác và có tinh thần trách nhiệm cao. Cơng việc ấy cũng rất gian khổ bởi có
lúc phải chui ra khỏi chăn lúc một giờ sáng trong đêm ma tuyết rét nh cắt da, cắt thịt.
Hoàn cảnh sống và làm việc thật khó khăn gian khổ. Một thanh niên mới có 27 tuổi mà đã có tới 4 năm
sống ở Yên Sơn giữa non xanh heo hút. Làm thế nào để anh vợt qua đợc hoàn cảnh sống đó và hồn thành
xuất sắc nhiệm vụ của mình. Đó chính là bởi lịng u nghề, có trách nhiệm với công việc.
<b>b) Vẻ đẹp của anh thanh niên:</b>
<b> * Say mª với công việc và là ngời có trách nhiệm cao:</b>
Trớc hết, anh thanh niên có những suy nghĩ đúng đắn về cơng việc, và ý thức đợc trách nhiệm của
mình trong công cuộc xây dựng đất nớc. Anh bảo “<i>Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một</i>
<i>mình đợc?</i>”. Cơng việc của anh gắn liền với việc của bao anh em đồng chí dới kia. Anh biết công việc của
anh gian khổ nhng nếu đem cất nó đi anh buồn đến chết mất. Chính những suy nghĩ đúng đắn đó đã khiến
anh n tâm cơng tác. Dù không trực tiếp chiến đấu với kẻ thù, nhng trên mặt trận thầm lặng này anh đã
dành hết tình yêu, tinh thần trách nhiệm cho công việc. Từ chỗ cha yên tâm với nghề, anh đã yêu nghề
<b> * Sống ngăn nắp, khoa học, gọn gµng.</b>
Khơng chỉ có vẻ đẹp trong suy nghĩ, cơng việc, ngời thanh niên ấy cịn có vẻ đẹp trong cuộc sống,
cách sống và tình cảm, tâm hồn. Nếu bác lái xe bảo anh là cô độc nhất thế gian, ta thấy anh không hề cô
độc bởi anh đã biết tự tạo cho mình một cuộc sống giản dị, ngăn nắp, gọn gàng, thơ mộng trên đỉnh núi
cao. Căn nhà của anh chỉ có ba gian nhỏ nhng sạch sẽ, ngăn nắp. Gia tài của anh chỉ là bàn ghế, sổ sách,
biểu đồ thống kê, máy bộ đàm...và nhiều nhất là sách. Chính ơng hoạ sĩ đã lầm tởng anh chạy về trớc gấp
chăn màn để chuẩn bị đón khách. Một chàng trai trẻ tuổi, đã có cuộc sống ngăn nắp, gọn gàng, tạo cho
cuộc sống của mình thêm thơ mộng bằng việc trồng hoa. Chính cơ kĩ s đã ngạc nhiên thấy trên đỉnh núi
cao lại gặp nhiều hoa đến thế. Ngồi giờ làm việc, anh cịn tích cực tăng gia sản xuất. Đàn gà anh chăm
không chỉ giúp bữa ăn của anh thêm tơi mà nó cịn là ngời bạn giúp anh vơi đi nỗi nhớ nhà. Anh không cơ
đơn vì ngồi hoa, đàn gà, cơng việc anh cịn có sách. Sách giúp anh nhanh chóng giỏi nghề, là ng ời bạn
tâm tình, chia sẻ mọi buồn vui với anh. Ngời thanh niên ấy thật có chí tiến thủ. Anh mừng quýnh lên khi
thấy bác lái xe mua hộ sách cho anh. Một thanh niên làm công tác nghiên cứu khoa học, u q sách cho
thấy anh ln có ý chí vơn lên, khơng dừng lại ở những điều đã có sẵn, anh phải nghiên cứu để nắm bắt
khoa học phục vụ đất nớc nhiều hơn.
* Anh có phong cách sống đẹp: Cởi mở, chân thành, mến khách.
Anh còn là chàng trai rất cởi mở, chân thành, ln nhiệt tình chu đáo với mọi ngời. Chẳng thế mà
chỉ mới nghe tin vợ bác lái xe ốm anh đã lặn lội vào tận trong rừng sâu để đào củ tam thất biếu bác.Gói củ
tam thất anh gửi biếu vợ bác lái xe cho thấy anh yêu quý ngời biết nhờng nào. Anh có tấm lòng nhân hậu,
chu đáo, tận tụy, quan tâm đến ngời khác. Đối với đoàn khách lên thăm nhà, anh đối xử với họ thật cởi
mở, nồng hậu, chu đáo, thân tình và hiếu khách. Anh tong tả chạy về trớc đón khách. Anh thảo với khách
đến nỗi bảo cơ gái muốn lấy hoa bao nhiêu tuỳ ý. Khi tiễn họ đi, anh còn tặng họ cả làn trứng gà. Anh
sung sớng khi có đồn khách đến thăm nhà mình. Anh quý trọng từng giây, từng phút của cuộc gặp gỡ.
Anh mời khách nớc chè thơm, đón khách bằng tất cả sự nồng hậu, chân thành của mình.
<b> * Anh là chàng trai rất khiêm tốn:</b>
Tóm lại, anh thanh niên là một chàng trai hồ hởi, dễ mến, một ngời lao động say mê thạo việc, một trí
thức chân chính, anh có lí tởng sống cao đẹp, có hồi bão lớn lao, mỗi suy nghĩ của anh đều thấm đẫm
tình yêu ngời, yêu cuộc đời. Anh yêu quý và tự hào về mảnh đất mình đang sống. Anh đã biết sống cho
một sự nghiệp lớn lao đó là vì Tổ quốc. Anh là một con ngời mà trong lịng ln cháy rực một ngọn lửa
khát vọng: Sống đẹp, sống có ích, sống có ý nghĩa cho xã hội, cho mọi ngời. Cũng nh các nhân vật khác
trong truyện, anh khơng có tên cụ thể đó là dụng ý của tác giả muốn ca ngợi những ng ời lao động âm
thầm, lặng lẽ trên khắp mọi miền Tổ quốc. Họ không cần đợc biết đến tên tuổi. Họ đã và đang dốc sức lao
động xây dựng Tổ quốc. Anh thanh niên là mẫu ngời lí tởng cho lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh trong
thời chống Mĩ.
<b> 3. kÕt bµi:</b>
Cốt truyện đơn giản nhng giàu chất thơ, truyện xây dựng thành công nhân vật anh thanh niên. Một
con ngời có lí tởng và mục đích sống đẹp <b>. </b>Anh là tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam, những con ngời
mạnh mẽ, táo bạo trong suy nghĩ và việc làm, hết mình cống hiến cho Tổ quốc. Dù anh thanh niên chỉ
xuất hiện trong khoảnh khắc nhng đã để lại trong lòng ngời đọc biết bao cảm mến. Anh xứng đáng là tấm
gơng sáng để th h sau hc tp v noi theo.
<b>---chiếc lợc ngà - ngun quang s¸ng</b>
<b>1. Mở bài: </b>Nguyễn Quang Sáng là nhà văn có biệt tài về nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản
phim. Các tác phẩm của ông chủ yếu viết về cuộc sống của người dân Nam Bộ . Truyện ngắn Chiếc lược
ngà là bài ca bất tử về tình cha con của những người lính trong chiến tranh. Bé Thu, nhân vật chính của
truyện, một c« bé có cá tính và yêu ba tha thiết . Thu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
<b>2. Thân bài</b>: Gót giày xâm lược của Đế quốc Mỹ đã gieo bao đau thương, tang tóc, biệt ly cho biết bao
mái ấm gia đình Việt Nam khiến cha phải xa con, vợ phải xa chồng. Gia đình bé Thu cũng khơng tránh
được cảnh ngộ đó. Đất nước có chiến tranh, cha đi chiến đấu khi Thu chưa đầy một tuổi, lớn lên em chưa
một lần được gặp ba. Trong tâm trí Thu ln ni dưỡng hình ảnh một người cha trong tấm ảnh đã phai
màu chụp chung với má hồi cưới. Thu u thương và tơn kính người cha ấy trong tâm hồn bé thơ của
mình. Đã bao lần Thu khao khát được nằm trong vòng tay vỗ về âu yếm của ba. Cũng không biết đã bao
lần Thu khóc thầm vì ao ước được gặp ba và để được gọi “ba ơi”. Ấy vậy mà, khi người cha thực sự bằng
xương, bằng thịt của em xuất hiện, được cả mẹ cơng nhận thì Thu lại khước từ một cách tàn nhẫn.
Sau bao năm xa cách trở về, ông Sáu cứ tưởng rằng đứa con gái bé bỏng của mình sẽ sà vào vịng tay
ơng khi ơng cất tiếng gọi <i>“Thu! Ba đây con”</i>. Nhưng thật bất ngờ, trái với ý nghĩ của ơng, nghe tiếng gọi
bé Thu giật mình trịn mắt nhìn; nó ngạc nhiên ngơ ngác lạ lùng khi thấy một người lạ mặt gọi nó là con.
Khi ông Sáu tiến lại gần, mặt con bé bỗng tái đi, nó vụt chạy và kêu thét lên gọi má. Hành động của bé
Thu thật bất ngờ nhưng đó cũng là phản ứng rất tự nhiên và phù hợp với tâm lí trẻ thơ bởi trong suy nghĩ
của Thu, ông Sáu là người đàn ông lạ lại có vết thẹo trên mặt trơng thật dễ sợ. Thái độ đó của bé Thu làm
ông Sáu hết sức ngạc nhiên, buồn bã và thất vọng.
Trong những ngày sau đó, Thu càng ngày càng trở nên bướng bỉnh, khó hiểu hơn. Mặc kệ những lời
nói, những cử chỉ âu yếm vỗ về, làm thân của ông Sáu, bé Thu một mực thờ ơ lạnh lùng. Ơng Sáu tìm
hành động đó Thu vừa bị đánh, vừa bị mắng nhưng nó khơng khóc, khơng hối hận mà thậm chí cịn tỏ ra
lì lợm sẵn sàng chịu đựng. <i>“Nó ngồi im đầu cúi gằm xuống”. </i>Nghĩ thế nào Thu lại cầm đũa gắp lại miếng
trứng cá bỏ vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy bỏ ra ngồi, chèo xuồng sang ngoại, nó cịn cố ý khua dây lịi
tói kêu rổn rảng như thách thức.
Tất cả những hành động, cử chỉ, lời nói của Thu với ơng Sáu chứng tỏ Thu là cô bé ương ngạnh,
bướng bỉnh. Từ chỗ xa lánh, cự tuyệt ông Sáu đến những phản ứng mạnh mẽ cho thấy Thu căm ghét cao
độ người đàn ông mặt thẹo mà em bị bắt buộc gọi là ba kia. Thu tức giận và khi bị đánh đã bỏ đi một cách
bất cần. Đó là phản ứng tâm lí hồn tồn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ. Đến bác Ba cũng
phải nghĩ “<i>con bé đáo để thật</i>”, cịn ơng Sáu thì khơng nén được phải thốt lên“<i>sao mày cứng đầu quá</i>
<i>vậy</i>”… Hành động tưởng như vô lễ đáng trách của Thu lại hồn tồn khơng đáng trách, bởi em cịn q
nhỏ chưa hiểu được những tình thế khắc nghiệt éo le của đời sống. Thu không nhận ông Sáu là cha bởi
vết thẹo trên mặt của ông Sáu đã làm cho ông khơng cịn giống với người trong ảnh(<i>người cha trong tâm</i>
<i>tưởng của bé Thu</i>). Trong trí óc ngây thơ của Thu, em đã dành hết tình yêu thương cho người cha đích
thực của mình, người cha mà Thu vẫn thường thấy trong tấm ảnh. Có thể nói, ngay từ nhỏ, bé Thu đã có
cá tính, u ghét rạch rịi, cứng cỏi, song cũng rất hồn nhiên ngây thơ. Sự hồn nhiên, ngây thơ của bé Thu
thật dễ thương.
Khi chưa hiểu về cha, Thu là cô bé ương ngạnh, bướng bỉnh, kiên quyết cự tuyệt mọi tình cảm của
ơng Sáu dành cho Thu. Nhưng khi được bà ngoại giải thích, sự nghi ngờ của Thu bấy lâu đã được giải
tỏa. Hình ảnh người cha thân yêu mà Thu khắc ghi sâu trong lòng đến lúc ấy mới nhập vào người đàn ơng
có vết thẹo dài trên mặt. Đã hiểu ra thì tình yêu ba được nhân lên gấp bội. Nghe bà ngoại nhắc tội mấy
thằng Tây bắn ba bị thương, con bé nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn. Những chi
tiết ấy cho ta thấy rõ tâm trạng đau đớn, ân hận, hối tiếc trong lòng bé Thu. Đau đớn vì thương cha, hối
tiếc vì thời gian cha về phép không dài, niềm hạnh phúc được ở bên cha chỉ cịn tính bằng khoảnh khắc,
Buổi sáng cuối cùng trước lúc ông Sáu lên đường, thái độ của bé Thu thay đổi hẳn. Nó khơng ương
bướng mà buồn rầu nghĩ ngợi sâu xa. Cử chỉ, ánh mắt, hành động như muốn nhận ba nhưng còn e ngại.
Khi đối diện với ông Sáu <i>“đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao”</i>. Và khi nghe ông Sáu nói
“<i>Thơi! Ba đi nghe con</i>”. Mọi người lúc đó, kể cả ông Sáu đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thơi. Nhưng
thật lạ lùng đến lúc ấy, tình cha con như bỗng trỗi dậy trong người nó. Nó bỗng kêu thét lên
<i>“Ba..a..a..ba</i>”. Đây không phải là tiếng kêu sợ hãi mà là tiếng gọi thiêng liêng quý giá của tình ruột thịt.
Tiếng kêu của Thu như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người nghe thật xót xa. Em thèm
được gọi ba suốt bao nhiêu năm nay. Tiếng “<i>ba</i>” mà em cố kìm nén lâu nay, lúc này tiếng ba đó như vỡ
tung ra từ đáy lịng con bé. Nó vừa kêu vừa chạy xơ tới nhanh như một con sóc. Nó chạy thót lên và dang
hai tay ơm chặt lấy cổ ba nó. Làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên. Con bé vừa ơm chặt lấy ba vừa nói
trong tiếng khóc “<i>Khơng cho ba đi nữa!Ba ở nhà với con!</i>”. Ba nó bế nó lên. Nó hơn ba nó cùng khắp. Nó
hơn tóc, hơn cổ, hơn vai và hơn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa, cái vết sẹo mà nó đã từng ghê sợ.
Có thể nói tình cảm của Thu dành cho ba thật mãnh liệt, hối hả, cuống quýt song cũng thật hồn nhiên,
chân thành xen lẫn sự ân hận, hối tiếc. Đến bây giờ hiểu được vì sao cha có vết sẹo Thu càng thương cha
hơn. Hành động của Thu như muốn xoa dịu nỗi đau đã gây ra cho cha trong mấy ngày vừa qua.
Cũng như bao đứa trẻ cùng trang lứa, Thu khao khát được ba chăm sóc, yêu thương, che chở. Khi
nghe cha nói “<i>Ba đi rồi ba lại về với con”</i>, Bé Thu hét lên <i>“Khơng!” </i>Rồi hai tay nó siết chặt cổ ba, chắc
nó nghĩ hai tay khơng thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân câu chặt lấy ba, và đơi vai nhỏ bé của nó
run run. Thu khóc vì thương cha, khóc vì ân hận đã khơng phải với cha, khóc vì khơng biết đến bao giờ
mới được gặp lại cha. Nhìn cảnh ấy, bà con xung quanh có người khơng cầm được nước mắt, ngay cả bác
Ba cũng cảm thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.
Nhưng cũng rất hồn nhiên Thu đã đồng ý để cho ba đi với một lời hứa, khi về ba sẽ mua cho con một
cây lược.
Qua những lời nói, cử chỉ, hành động của Thu với ba, ta có thể thấy tình u thương mãnh liệt mà
<b>3. Kết bài:</b>
Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình huống truyện bất ngờ. Đặc biệt những năm tháng sống
gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, bằng một trái tim nhạy cảm, nhân hậu, am hiểu tâm lý của trẻ thơ đã giúp
tác giả xây dựng thành công nhân vật bé Thu. Một cơ bé có cá tính mạnh mẽ, u thương cha sâu sắc.
Gấp trang sách lại rồi nhưng hình ảnh bé Thu mãi làm ta xúc động. Câu chuyện làm chúng ta suy nghĩ về
đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh với bao đau thương, mất mát thiệt thịi. Từ đó, ta càng trân
trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hôm nay.
<b>1.Mở bài: </b>
<b> </b>Nguyễn Quang Sáng là nhà văn có biệt tài về nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản
phim. Các tác phẩm của ông chủ yếu viết về cuộc sống của người dân Nam Bộ trong hai cuộc kháng
chiến cũng như sau hịa bình .<i> “Chiếc lược ngà”</i> là truyện ngắn xuất sắc của ông được viết năm
1966.Truyện đã xây dựng thành công nhân vật ông Sáu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một người
cha u thương con hết mực.Ơng Sáu đã đĨ lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.
<b>2. Thân bài:</b>
ễng Sỏu là một nụng dõn Nam bộ giàu lũng yờu nước. ễng đó tham gia hai cuộc khỏng chiến chống
vài ngày. Cái khao khát của một ngời lính sau những năm dài vào sinh ra tử là đợc trở lại quê hơng, đợc
gặp vợ con,và để đợc nghe con cất tiếng gọi “<i>ba</i>”. Suốt mấy năm xa nhà, ơng Sáu chỉ đợc nhìn con trong
tấm ảnh nhỏ. Khơng lúc nào hình ảnh đứa con khơng ở trong tâm trí của ơng. Từ một cô bé cha đầy một
tuổi, Thu lớn dần lên theo thời gian, trong nỗi nhớ và những hình dung tởng tợng của ông.
Gặp lại con, bằng linh cảm của ngời cha, Ông Sáu nhận ngay ra đứa trẻ mặc quần đen, áo bông đỏ
đang chơi nhà chịi là bé Thu. Khơng kìm đợc nỗi vui mừng, cũng chẳng đợi cho xuồng cập bến ơng đã
nhón chân nhảy thót lên bờ. Ơng bớc vội những bớc dài và kêu to “<i>Thu!con. </i>”. Hành động của ơng cho
thấy tâm trạng ơng đang rất nơn nóng muốn đợc gặp con, muốn đợc ơm con vào lịng và đợc sống trong
tình cha con mà bấy lâu nay ông cha từng đợc hởng. Nhng mọi chuyện diễn ra trái với mong đợi của ông.
Trong khi ông Sáu vừa bớc tới vừa khom ngời đa hai tay ra đón chờ con thì bé Thu khơng sà vào ơm lấy
ơng nh ơng từng mong đợi mà giật mình, trịn mắt nhìn, cái nhìn lạ lùng và ngơ ngác. Ơng Sáu đã khơng
ghìm nổi xúc động, vết thẹo trên má đỏ ửng lên, giọng nói lặp bặp run run “<i>Ba đây con! Ba đây con!</i>”. Sự
xúc động và q nơn nóng của ơng khiến bé Thu hoảng sợ, nó bỏ chạy và kêu thét lên gọi má. Thấy con
có thái độ nh vậy, ơng Sáu đứng sững lại, nhìn con, nỗi đau đớn khiến mặt ông sầm lại trông thật đáng th
-ơng và hai tay buông xuống nh bị gãy. Có thể nói phản ứng của bé Thu làm ơng Sáu ngạc nhiên, đau đớn,
hụt hẫng. Nỗi đau tinh thần đợc cảm nhận bằng nỗi đau thể xác nên cụ thể và nhức buốt vơ cùng. Ngời
cha náo nức vì niềm vui gặp con, muốn ơm con vào lịng mà bế bồng với tất cả sự âu yếm dành dụm trong
bao năm xa cách nhng đứa con lại hoảng sợ chối từ đó, chẳng phải là điều đau đớn quá sao!
Trong ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi, ông Sáu chẳng đi đâu xa, cứ quanh quẩn ở nhà tìm mọi cách
gần gũi làm thân với con bé. Nhng ụng cng xớch lại gần thì nó càng lùi xa. Ơng càng chiều thương thì
nhất định khơng chịu gọi ba điều này đã làm cho ông Sáu, bác Ba<i>(ngời bạn của ơng Sáu), </i>và ngời đọc hết
sức đau lịng. Cịn gì đau đớn hơn sau tám năm mới gặp đứa con gái duy nhất của mình, thơng và yêu con
hết mực, nhng lại bị đứa con ấy cơng quyết chối từ.
Ơng Sáu khơng cần biết bé Thu nghĩ gì , tình cha con ấm áp sâu nặng khiến ơng vẫn u thơng
chăm sóc cho con từng ly từng tý một. Trong bữa ăn, ông Sáu gắp một miếng trứng cá vàng ơm vào bát
cho con. Bé Thu đã hất tung cái trứng cá làm cơn văng tung tóe ra mâm. Giận q, ơng đã vung tay đánh
con bé và hét lên “<i>Sao mày cứng đầu quá vậy hả</i>?”. Trớc sự phản ứng quyết liệt của bé Thu, ông Sáu đã
không kiềm chế đợc, đánh con khơng phải là ơng khơng u thơng con. Ơng vẫn vơ cùng u con nhng đã
bất lực trớc tính cách ơng bớng, ngang ngạnh, có phần xấc xợc của bé Thu.
Thời gian vẫn thản nhiên trôi qua. Giờ phút đợc ở gần con của ơng Sáu chẳng cịn bao lâu nữa. Tận
đến lúc chia tay ông Sáu vẫn buồn, khơng hiểu vì lí do gì mà bé Thu khơng nhận, khơng chịu gọi ơng là
ba. Ơng muốn mà khơng dám ơm con, hơn con bởi ơng sợ nó lại giẫy lên rồi bỏ chạy. Ơng chỉ đứng nhìn
nó, cái nhìn trìu mến lẫn buồn rầu. Ngời cha ấy yêu thơng con và độ lợng với con biết bao. Lúc chia tay
ơng chỉ dám khe khẽ nói “<i>Thơi! Ba đi nghe con</i>!”. Thật bất ngờ, con bé bỗng kêu thét lên tiếng “<i>ba</i>”, rồi
chạy xô tới ôm chặt lấy ông Sáu. Tiếng gọi ba vang lên từ miệng con bé vào cái lúc không ai ngờ ấy nghe
thật xúc động, xót xa. Tiếng “ba” mà ơng Sáu khao khát muốn đợc nghe từ miệng đứa con ruột thịt. Thật
đau đớn đó là tiếng gọi ba đầu tiên và cũng là tiếng gọi ba cuối cùng ông đợc nghe từ miệng của con.
Cùng với tiếng kêu là những cử chỉ, hành động bộc lộ tình cảm yêu th ơng hồn nhiên, thắm thiết chân
thành của con bé dành cho ông. Thu ôm chặt cổ ba, nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hơn tóc, hơn cổ, hơn vai
và hơn cả vết thẹo dài. Nó nói trong tiếng khóc “<i>Khơng cho ba đi nữa, ba ở nhà với con</i>”. Giờ thì ơng đã
hiểu lí do vì sao con khơng nhận ơng là cha. Lý do ấy thật đơn giản bởi trên mặt ơng có vết sẹo nên ơng
khơng giống với ngời cha trong ảnh đã in sâu trong tâm trí con bé. Trớc tình cảm mãnh liệt của con, ơng
Sáu vơ cùng xúc động. Niềm hạnh phúc đợc đón nhận tình ruột thịt khiến ngời chiến sĩ kiên cờng gan góc
cũng khơng sao cầm đợc nớc mắt. Đó là những giọt nớc mắt sung sớng, hạnh phúc. Và không muốn cho
con thấy mình khóc, ơng Sáu một tay ơm con, một tay rút khăn lau n ớc mắt, rồi hôn lên mái tóc con. Ơng
ra đi trong niền sung sớng hạnh phúc mang theo hình bóng đứa con u, và một lời hứa ngày trở về sẽ
mua cho con một chiếc lợc.
Trở lại khu căn cứ, những ngày chiến đấu ở rừng với bao nỗi gian khổ, thiếu thốn, hiểm nguy nh ng
không lúc nào ông Sáu nguôi nỗi nhớ con. Ngời cha hiền từ nhân hậu ấy cứ ân hận vì sao mình lại đánh
con. Nỗi khổ tâm cứ dày vị ơng khiến ông day dứt mãi. Nhớ lời hứa với con, ông dồn hết tình cảm yêu
th-ơng con vào làm một chiếc lợc bằng ngà voi để tặng cho cô con gái bé bỏng.Tìm đợc khúc ngà voi để làm
Chiếc lợc ngà nh một vật kí thác thiêng liêng của ngời lính về tình phụ tử sâu nặng mà bom đạn
quân thù khơng thể nào tàn phá đợc. Chính vì thế mà khi bị thơng nặng, biết không thể sống đợc, ông đã
dồn hết sức lực đa tay vào túi móc ra cây lợc, đa cho ngời bạn, nhìn bạn hồi lâu, cái nhìn tha thiết nh nhắn
gửi điều gì. Chỉ đến khi ngời bạn chiến đấu hứa sẽ mang cây lợc về trao tận tay cho bé Thu, đến lúc ấy
ông Sáu mới nhắm mắt đi xi. Ơng Sáu hy sinh trong những ngày đen tối và gian khổ. Ngôi mộ của ông
là một ngôi mộ bằng giữa rừng sâu, không một tấm bia, cũng vô danh nh bao nhiêu ngời chiến sĩ khác
chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
3. KÕt bµi:
Với nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, cách lựa chọn ngôi kể, tạo lập tình huống bất ngờ, miêu tả diễn
biến tâm lý nhân vật tinh tế, sâu sắc. Chiếc lợc ngà đã xây dựng thành cơng nhân vật Ơng Sáu, một ngời
cha hết mực u con. Ơng Sáu là hình ảnh tiêu biểu của những ngời chiến sĩ cách mạng vừa yêu nớc vừa
yêu con. Qua nhân vật ông Sáu tác giả vừa ca ngợi tình cảm cha con thắm thiết sâu nặng, vừa tố cáo tội ác
của chiến tranh. Gấp trang sỏch lại rồi nhưng tình cảm của ơng Sáu dành cho con mói làm ta xỳc động.
Câu chuyện làm chúng ta suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh với bao đau thương,
mất mát thiệt thòi. Từ đó, ta càng trân trọng tình cảm gia đình trong cuc sng hụm nay.
<b>Ôn Bài: những ngôi sao xa xôi</b>
ca ngợi những cô thanh niên xung phong trong tổ trinh sát mặt đờng làm nhiệm vụ phá bom trên tuyến
đ-ờng Trđ-ờng Sơn. ở họ sáng lên những nét đẹp thật đáng yêu, đáng quý, đáng khâm phục.
<b>2.thân bài:</b>
* Khái quát: Ra đời năm 1971, tác phẩm hấp dẫn ngời đọc trớc hết ở nhan đề “Những ngôi sao xa
xôi”, một nhan đề vừa gợi cảm, vừa lãng mạn. Là một nữ thanh niên xung phong, Lê Minh Khuê hiểu cặn
kẽ cuộc sống, chiến đấu ở Trờng Sơn đồng thời cũng rất hiểu tâm lí của các nữ thanh niên xung phong.
Những ngơi sao xa xôi là một truyện ngắn đậm chất hiện thực kể về ba cô thanh niên xung phong trong tổ
trinh sát phá bom trên tuyến đờng Trờng Sơn trong những năm chống Mĩ cứu nớc.
*Luận điểm 1:Giới thiệu hoàn cảnh sống và chiến đấu của ba cô gái:
<b> Tổ trinh sát mặt đờng gồm ba cô gái trẻ Nho, Phơng Định và Chị Thao. Họ sống và sinh hoạt trong</b>
một cái hang ngay dới chân cao điểm, cách mặt trận ba trăm mét. Nhng khi chiến sự xảy ra “tất cả cứ nh
lên cơn sốt”, bụi cát mù mịt, khói che kín cả cửa hang. Nhiệm vụ hàng ngày của họ là phải chạy trên cao
điểm trong ma bom, bão đạn dới cái nóng trên 30 0 <sub>C của thời tiết. Họ phải chia nhau có mặt ngay trên</sub>
trọng điểm cả khi máy bay đánh phá dữ dộinhất. Công việc của họ rất nguy hiểm. Trên đầu máy bay Mỹ
quần đảo, dới mặt đất có biết bao quả bom cha nổ, và nó có thể nổ bất cứ lúc nào. Khi có bom nổ thì chạy
lên đo khối lợng đất đá lấp vào hố bom, đánh dấu vị trí những quả bom cha nổ và sau đó là phá bom. Họ
ln phải đối mặt với thần chết mà thần chết lại là tay không thích đùa. Thần chết ln lẩn trong ruột quả
bom làm thần kinh họ “căng nh chão”, tim đập bất chấp nhịp điệu. Mặc dù quen rồi nhng cảm giác hồi
hộp khi chờ bom phát nổ vẫn không hề thay đổi. Tất cả đều đứng im, cả gió, cả nhịp tim trong lồng ngực.
Ai biết đợc cái quả bom câm lặng đang nằm chềnh ềnh ra đó sẽ phát nổ lúc nào. Và ngay cả khi bom nổ
trong tầm kiểm soát thì cũng đâu phải đã hết những hiểm nguy? Nó tạo ra một âm thanh kỳ quái đến váng
Cuộc sống chiến trờng vừa gian khổ vừa ác liệt. Điều này có thể thấy rõ qua những chi tiết miêu tả cảnh
tợng chiến trờng. Đờng đất bị cày xới lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn, hai bên đờng khơng có lá cây
xanh, thân cây bị tớc khơ cháy, rễ cây nằm lăn lóc, ngổn ngang...Những con số đợc nói tới trong truyện
cũng là những con số biết nói: Chỉ tính ở một cao điểm trong một trận đánh phá, khối lợng đất bị cày xới
đã lên đến hàng nghìn mét khối. Bao nhiêu quả bom đã nổ và bao nhiêu quả bom cha nổ. Một ngày ba
trận, năm trận nh thế. Chiến trờng ác liệt biết chừng nào! Cảnh tàn phá của bom đạn Mĩ khiến ta hình
dung nơi đây cuộc sống đang bị huỷ diệt thật tàn khốc. Giặc Mỹ muốn cô lập miền Nam nên đã trút bom
điên cuồng tàn phá những cánh rừng Trờng Sơn nhằm cắt đứt huyết mạch giao thông duy nhất nối liền hai
miền Nam - Bắc.
Gian khổ, ác liệt nên hy sinh là điều không tránh khỏi. Không biết bao nhiêu lần họ bị bom vùi, có
khi bị trên cao điểm trở về chỉ thấy hai con mắt lấp lánh, khuôn mặt lem luốc trông nh “những con quỷ
mắt đen”; mồ hôi thấm vào môi, cát lạo xạo trong miệng. Chị Thao mang vết sẹo đã bóng lên. cơ gái Hà
Thành Phơng Định vết thơng còn cha lành. Còn Nho máu túa ra từ cánh tay, ngấm vào đất, mắt nhắm
nghiền, quần áo dính đầy bụi.
Có thể thấy qua những chi tiết chân thực Lê Minh Khuê đã tái hiện cuộc sống nơi chiến trờng gian
khổ, ác liệt và đầy hy sinh. Điều khiến chúng ta ngỡ ngàng và cảm phục ở các cơ gái chính là họ tình
nguyện xung phong vào nơi khói lửa ác liệt của cuộc chiến tranh này. Họ đều là thế hệ thanh niên đi theo
tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc “Đâu cần thanh niên có - Đâu khó có thanh niên”. Chính họ đã để lại
dấu n lch s ca mt thi:
Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc,
Mà lòng phơi phới dậy tơng lai.
<b> *Luận điểm 2: Vẻ đẹp chung của các cô thanh niên xung phong:</b>
Cuộc sống chiến trờng khó khăn nguy hiểm là vậy, nhng chính trong bom đạn ác liệt, đứng giữa ranh
Trớc hết họ là những ngời có lí t<b> ởng sống đẹp . Họ sẵn sàng hi sinh tuổi thanh xuân, hy sinh hạnh</b>
phúc cá nhân của mình vì độc lập tự do của Tổ Quốc. Cũng bởi có lí tởng sống đẹp những cơ gái vốn chân
yếu tay mềm nhìn thấy máu, thấy vắt đã tái mặt, cũng trở nên bản lĩnh, khơng tiếc thân mình, vợt qua mọi
gian khổ, bất chấp hiểm nguy hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợc giao với tinh thần tự giác trách nhiệm
cao. Ba lần, năm lần phá bom mỗi ngày, cả ngàn ngày nh thế, bình n chỉ tính bằng khoảnh khắc. Vậy
mà các cô vẫn không phút giây nào dao động, trăn trở, hay hối tiếc. Họ âm thầm giữ cho con đ ờng giao
thông duy nhất không bao giờ đứt mạch. Chẳng dễ để có đợc điều đó, mồ hơi và cả máu nữa của tuổi đôi
mơi đã thấm ớt mảnh đất này.
Trong chiến đấu, sự dũng cảm, can tr<b> ờng của những cô thanh niên xung phong còn đợc thể</b>
hiện thật rõ nét. Đến với toạ độ chết các cô không đi khom mà “đàng hoàng bớc tới”, t thế của các cơ
thanh niên xung phong có khác gì đâu t thế của ngời lính lái xe trong thơ Phạm Tiến Duật:
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng.
qua, những gì sắp tới với họ cũng không đáng kể. Điều đáng quan tâm là liệu mìn có nổ khơng? Nếu
khơng thì làm thế nào để châm ngòi lần hai. Họ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng thế nên mảnh bom ghim
vào tay cũng chẳng đáng gì, cùng lắm chỉ gây phiền. Vết thơng cịn cha lành Phơng Định khơng vào viện
mà vẫn xung trận nh thờng. Suốt thời gian dài họ sống, chiến đấu trên cao điểm, giữa tuyến lửa, thực hiện
nhiệm vụ hết sức hiểm nguy. Đó khơng chỉ là biểu hiện của lí tởng sống đẹp mà cịn là bằng chứng đầy
thuyết phục của bản lĩnh cách mạng phi thờng và tinh thần quả cảm, không sợ hy sinh. Thật đáng khâm
phục.
Cũng nh những ngời lính thời chống Pháp, các cơ thanh niên xung phong gắn bó với nhau trong tình
Giữa bom đạn ác liệt của chiến trờng, những cô gái vẫn không mất đi vẻ đẹp tâm hồn của ngời thiếu
nữ. Đó là sự hồn nhiên, trong sáng, dễ xúc cảm, hay mơ mộng và rất lạc quan, yêu đời.
Cả ba cô gái đều dễ xúc cảm tâm hồn lãng mạn hay mơ mộng. Họ ấp ủ trong lòng bao nhiêu mơ ớc. Nho
bảo : “Xong chiến tranh sẽ về làm thợ hàn”. Chị Thao muốn làm y tá, lấy chồng bộ đội, đeo qn hàm
trung , có râu quai nón. Cịn Phơng Định đang lựa chọn làm kiến trúc s, lái xe, hay thuyết minh phim.
Chỉ có điều ở mỗi chị ớc mơ về tơng lai có phần khác nhau song có lẽ ớc mơ lớn nhất của các chị là đất
n-ớc đợc thống nhất, đợc sống trong hồ bình.
Nét nổi bật ở các chị còn là mê hát và hay hát. Mặc dù hát khơng hay, lại cịn sai nhạc nữa nhng chị
Thao rất hay hát, chị có tới ba quyển sổ dày để chép bài hát. Những bài hát hành khúc, những làn điệu dân
ca quan họ Bắc Ninh, dân ca ý, Ca-chiu –sa là những bài Phơng Định thích nhất. Định hát trong những
khoảnh khắc im lặng giữa các trận đánh, hát ngay khi máy bay trinh sát rè rè trên đầu, hát cả khi bom nổ.
Tiếng hát của các chị thực sự đã “át tiếng bom”. Qua các chị ta hiểu giặc thù dù tàn bạo bao nhiêu, dù
muốn huỷ diệt cả sự sống nhng làm sao ngăn đợc lòng lạc quan yêu đời của con ngời Việt Nam.
Các nhân vật trong truyện ngắn của Lê Minh Khuê còn rất trẻ trung, rất nữ tính. Họ thích làm đẹp
cho cuộc sống của mình ngay giữa nơi chiến trờng ác liệt. Đây là nét giới tính đáng yêu mà các chàng trai
khơng có. Phơng Định thích ngắm mình trong gơng, tự hào khi thấy các chàng trai để ý đến mình. Chị
Nho là em út trong tổ trinh sát, tính nết trẻ con, thích ăn kẹo, có dáng vẻ bé nhỏ, nhẹ nhàng. Mỗi lần
đi trinh sát về lại đi tắm và cứ để quần áo ớt Nho ngồi địi ăn kẹo. Nhìn Nho Phơng Định luôn liên tởng
đến một que kem trắng mát mẻ. Thế nhng khi bị thơng Nho lại rất rắn rỏi, bản lĩnh.
Chị Thao là đội trởng tổ trinh sát mặt đờng. ở chị có những nét rất dễ nhớ. Chị tỉa lơng mày nhỏ nh
cái tăm; chị thích hát, chăm chép bài hát nhng thờng hát sai. Trong công việc chị rất có bản lĩnh, quyết
đốn táo bạo , nhng lại rất sợ máu và sợ vắt.
Phơng Định là nhân vật chính của tác phẩm. Một cô gái thủ đô xinh đẹp, hồn nhiên, hay mơ mộng,
thờng sống với những kỉ niệm quá khứ khi cịn ở thành phố. Cơ hát hay và rất hay hát. Trong cơng việc cơ
rất bình tĩnh, dũng cảm.
Cả ba cơ gái trẻ trong truyện đều có những nét tính cách đẹp, đáng yêu. Tổ quốc cần, họ sẵn sàng
đón nhận những nguy hiểm. Và cuộc sống ác liệt nơi chiến trờng đã biến họ thành những anh hùng.
<b>2.kết bài:</b>
Với nghệ thuật kể chuyện sinh động, xây dựng nhân vật thành công, ngôn ngữ giàu hành ảnh,
truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã tái hiện chân thực, xúc động cuộc sống chiến đấu
gian khổ mà hào hùng của những cô thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc.
Vẻ đẹp của họ chính là vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến. Chúng ta vô cùng khâm phục,
tự hào và biết ơn những con ngời đã đem cả tuổi thanh xuân và tính mạng của mình để đổi lấy độc lập, tự
do cho Tổ Quốc. Những tấm gơng chiến đấu hy sinh của họ mãi mãi là những ngôi sao xa xôi lung linh
toả sáng trên bầu trời để thế hệ sau chúng ta học tập và noi theo.
<b> </b>
<b> * Cách 1: Lê Minh Khuê là một nhà văn nữ chuyên viết về truyện ngắn với đề tài về cuộc sống</b>
chiến đấu của tuổi trẻ trên tuyến đờng Trờng Sơn máu lửa. Một trong những tác phẩm đầu tay của nhà văn
là truyện ngắn “<i>Những ngôi sao xa xôi</i>”. Truyện viết về ba cô thanh niên xung phong trong tổ trinh sát mặt
đờng làm nhiệm vụ phá bom trên tuyến đờng Trờng Sơn. Nổi bật trong số đó là Phơng Định , một cơ gái
trẻ mơ mộng, u đời có tinh thần chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh. Phơng Định đã để lại trong lòng
bạn đọc nhiều ấn tợng sâu sắc nhất.
<b> * Cách 2: Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ không thể thiếu những trang viết về Trờng Sơn máu</b>
lửa. Những chàng trai, những cô gái đã làm nên những trang sử vàng chói lọi. Họ là nguồn cảm hứng cho
thi ca. Có rất nhiều văn nghệ sĩ đã có đợc cảm hứng sáng tác từ đề tài này. “<i>Những ngôi sao xa xôi</i>” của nữ
tác giả Lê Minh Khuê là một tác phẩm nh vậy. Truyện ca ngợi thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến
chống Mỹ. Nhân vật chính của tác phẩm là Phơng Định - một cơ gái đã để lại ấn tợng sâu sắc trong lòng
ngời đọc.
<b> * Cách 3:</b>.Chúng ta đã từng biết đến hình ảnh những chiến sĩ lái xe Trờng Sơn qua tác phẩm<i> "Bài</i>
<i>thơ về tiểu đội xe khơng kính"</i> của Phạm Tiến Duật. Họ là những chiến sĩ trẻ trung sôi nổi can trờng mang
trong mình khát vọng thống nhất non sơng. Và một lần nữa chúng ta lại đợc gặp hình ảnh những con ngời
gan dạ trẻ trung trên tuyến đờng Trờng Sơn qua tác phẩm "<i>Những ngôi sao xa xôi</i>" của Lê Minh Kh. Đó
là ba cơ gái nhỏ nhắn xinh xắn trong một tổ trinh sát mặt đờng. Nhân vật chính trong tác phẩm là Phơng
Định - một cô gái Hà Nội trẻ trung, hồn nhiên, gan dạ, dũng cảm đã để lại ấn tợng sâu sắc trong lịng
ng-ời đọc.
<b>2.th©n bµi:</b>
* Khái quát: Truyện kể về những cô gái trong tổ trinh sát mặt đờng là Chị Thao, Nho, và Phơng
Định. Họ làm nhiện vụ phá bom trên tuyến đờng Trờng Sơn ác liệt trong những năm chống Mỹ. Cuộc
sống chiến đấu của họ đầy gian khổ, hiểm nguy. Tuy đối mặt với cái chết nhng ba cô gái vẫn hồn nhiên,
yêu đời, lạc quan, dũng cảm. Nổi bật trong số đó là Phơng Định.
* Giíi thiƯu nh©n vËt:
Phơng Định là một cô nữ sinh của thủ đô thanh lịch, cũng nh bao thanh niên khác nghe theo tiếng gọi
thiêng liêng của Tổ quốc cơ đã tình nguyện xung phong vào chiến trờng ác liệt. Cô mang theo những kỷ
niệm của một thời học sinh vô t bên mẹ và mang theo cả phong cách sống của những cô gái Hà Thành.
<b> * Luận điểm 1: Phơng Định là cô gái trẻ trung, xinh xắn:</b>
Cũng nh các cô gái mới lớn, Phơng Định nhạy cảm và rất quan tâm đến hình thức của mình. Cơ cũng
thích làm dun nh bao cơ thơn nữ ngày xa soi mình xuống giếng làng vừa mỉm cời vừa vuốt tóc. Định
<i>thÝch ng¾m</i>
“ ” đơi mắt mình trong gơng. Cơ tự hào về cặp mắt của mình “<i>nó dài dài, màu nâu, hay nheo</i>
<i>lại nh chói nắng</i>”. Cơ tự quan sát, đánh giá về mình một cách tự tin: “<i>Nói một cách khiêm tốn tơi là một</i>
<i>cơ gái khá. Hai bím tóc dày , tơng đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh nh đài hoa loa kèn. Cịn mắt tơi thì</i>
<i>các anh lái xe bảo: cơ gái có cái nhìn sao mà xa xăm . </i>” Đúng là một cô gái đẹp, một vẻ đẹp duyên dáng
đầy nữ tính và có chiều sâu của một cơ gái thị thành. Cơ cũng biết mình đẹp và đ ợc nhiều chàng trai để ý.
Điều đó khiến cơ vui và tự hào. Nhng dù nhạy cảm cô cũng chẳng để lịng mình xao động. Biết mình đợc
các chàng trai trẻ để ý nhng cơ khơng “<i>săn sóc vồn vã</i>” mà thờng đứng ra xa, khoanh tay trớc ngực và
nhìn đi nơi khác mơi mím chặt. Đó là vẻ đẹp kiêu kỳ đáng yêu của các cô gái Hà Nội nh chính cơ đã từng
thú nhận. Chẳng qua là cơ chỉ điệu thế thơi. Ai mà có thể ghét đợc một nét điệu nh thế của một cô gái đẹp
giữa chiến trờng ác liệt. Thậm chí càng điệu, Phơng Định càng đáng yêu hơn. Phơng Định đến với bạn đọc
bằng nét đẹp ngoại hình thật đáng yêu. Song cái cốt yếu mà Lê Minh Khuê tìm thấy ở cơ gái Hà Nội này
lại chính là vẻ đẹp sâu thẳm của một tâm hồn mơ mộng, trong sáng, lạc quan, yêu đời.
* Luận điểm 2: Là cô gái hồn nhiên, ngây thơ m¬ méng.
Vào chiến trờng đã ba năm, cô đã quen với thử thách nguy hiểm. Công việc luôn cận kề với cái chết ,
cô đã dạn dày bản lĩnh sống. Nhng ở cô không hề mất đi sự hồn nhiên trong sáng. Cô vẫn giữ ngun sở
thích u âm nhạc của mình. Quả thực Phơng Định là cô gái hồn nhiên, trong sáng và rất mơ mộng đặc
biệt là thích hát. Hồi ở nhà cơ hát say mê, có lúc hát ầm ĩ đến nỗi làm ơng bác sĩ hàng xóm mất ngủ phải
gõ cửa để nhắc nhở. Cô hồn nhiên, tinh nghịch đến nỗi có thể ngồi trên cửa sổ hát say s a suýt nữa thì lăn
nhào từ cửa sổ tầng hai xuống đất. Cơ đem cả niềm say mê hát đó vào Trờng Sơn ác liệt. Cơ thích hát
những bài hành khúc bộ đội, những điệu dân ca Quan họ, bài Ca-chiu –sa của hồng quân Liên Xô, bài
dân ca ý.... Giọng hát của Phơng Định chắc là hay lắm, chẳng thế mà chị Thao thờng yêu cầu cô hát.
Định cịn có tài bịa ra lời mà hát. Chị Thao cịn mải mê chép vào sổ của mình cả những bài hát mà Phơng
Định bịa ra. Sống trong cảnh bom đạn ác liệt, cái chết kề bên Định càng hay hát. Cô hát trong những
khoảnh khắc im lặng giữa các trận đánh, hát ngay khi máy bay trinh sát rè rè trên đầu, hát cả khi bom nổ.
Tiếng hát của cô thực sự đã “<i>át tiếng bom . </i>” Phải là một cô gái giàu bản lĩnh, hồn nhiên, lạc quan Định
mới có thể cất lên những tiếng hát say sa, yêu đời đến vậy. Qua tiếng hát đó ta hiểu giặc thù dù tàn bạo
bao nhiêu, dù muốn huỷ diệt cả sự sống nhng làm sao ngăn đợc lòng lạc quan yêu đời, vô t, hồn nhiên của
các cô gái trẻ nh Phơng Định.
đờng phố yên tĩnh, những ngọn đèn trên quảng trờng lung linh nh những ngơi sao trong câu chuyện cổ
tích, hoa trong cơng viên, tiếng rao của bà bán xơi sáng có cái mủng đội trên đầu...
Những kỷ niệm ấy luôn sống lại trong cô ngay giữa chiến trờng dữ dội. Nó vừa là niềm khao khát, vừa
làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến trờng. Chiến tranh ngỡ nh lùi xa trong phút giây
bình yên của những mơ mộng ấy. Ngay giữa chiến trờng ác liệt mà Phơng Định vẫn có đợc nét hồn nhiên,
vơ t thật đáng khâm phục.
* Luận điểm 3: Là một cô thanh niên xung phong gan d¹, anh hïng.
Cô sinh ra và lớn lên tại thủ đơ Hà Nội, có lẽ cơ dễ dàng chiếm lấy một chỗ ngồi ở giảng đờng đại
học, xung quanh cơ tíu tít là bạn bè áo trắng. Nhng cuộc chiến tranh xâm lợc của đế quốc Mỹ đã cớp đi sự
Cũng nh đồng đội của mình, Phơng Định rất có trách nhiệm trong công việc. Tổ trinh sát mặt
đ-ờng của cô chỉ có ba ngời, cả ba đều là con gái, các cô ở trong một cái hang dới chân cao điểm. Nơi cô ở
là một vùng trọng điểm luôn phải hứng chịu những trận bom dữ dội của kẻ thù. Nơi đây, đ ờng đất bị cày
xới lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn, hai bên đờng khơng có lá cây xanh. Chỉ có thân cây bị tớc khơ cháy.
Công việc hàng ngày của cô là phải chạy trên cao điểm giữa ban ngày trong ma bom, bão đạn dới cái
nóng trên 30 0 <sub>C của thời tiết. Thật nguy hiểm. Trên đầu máy bay Mỹ quần đảo, dới mặt đất có biết bao</sub>
quả bom cha nổ, và nó có thể nổ bất cứ lúc nào. Sau mỗi trận bom cô phải chạy lên đo khối lợng đất đá
lấp vào hố bom, đếm bom cha nổ và phá bom. Chừng ấy công việc nhng với cô tất cả đều quen thuộc và
nhẹ nhàng. Một cơ gái trẻ vừa tạm biệt tuổi học trị vào chiến trờng, cơ đã trở thành ngời có bản lĩnh. Cơ
gái khi cịn ở nhà đã từng làm nũng mẹ, từng gào to mẹ chỉ vì mớ sách vở giấy tờ cô bày bừa trên bàn
không biết sắp xếp thế nào cho gọn nữa. Chiến tranh và bom đạn Mỹ đã làm cô lớn lên và trở thành dũng
sĩ mạnh mẽ từ lúc nào mà cô không hề biết.
Cô không trực tiếp đối diện với kẻ thù mà phải đối diện với thần chết do kẻ thù ném xuống. Cô hiểu
thần chết là tay khơng thích đùa. Thần chết ln lẩn trong ruột quả bom. Một ngày cơ phải có đến vài lần
đối diện với thần chết nhng cô không hề run sợ. Cơ nghĩ : “<i>Tơi có nghĩ đến cái chết nhng là một cái chết</i>
<i>mờ nhạt, khơng cụ thể. Cịn cái chính hiện bên mình là liệu bom có nổ khơng, khơng thì làm thế nào để</i>
<i>châm mìn lần thứ hai</i>”. Nh bao nhiêu ngời lính khác, Phơng Định xác định rất rõ lẽ sống cho mình: quyết
tử cho tổ quốc quyết sinh. Với Phơng Định, cô coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thế nên, vết thơng cha lành
miệng, Phơng Định không đi bệnh viện, cũng chẳng chịu ở trong hang mà vẫn lên cao điểm tham gia phá
bom cùng đơn vị. Cơ hiểu rằng cơng việc của mình quan trọng nh thế nào với sinh mệnh của bao đồng chí,
với những chuyến hàng chi viện cho tiền tuyến đánh thắng quân thù. Còn bom là còn đồng đội hy sinh.
Phải chăng vì tình yêu Tổ Quốc mà những cô gái thanh niên xung phong nh Phơng Định quyết chiến đấu,
dù có hy sinh cũng phải giữ cho con đờng giao thông duy nhất không bao giờ đứt mạch. Lịng u nớc, ý
<b> </b> Lòng gan dạ, dũng cảm, thái độ bình tĩnh tự tin của Phơng Định cịn đợc thể hiện rõ nét trong một
lần cơ phá bom.
<b>Lúc ấy, </b>trọng điểm đang chìm trong ma bom bão lửa. Một mình cơ phá quả bom trên đồi. Quang
cảnh chiến trờng vắng lặng đến phát sợ. Phơng Định bình tĩnh và dũng cảm tiến thẳng đến gần quả bom,
cô khơng đi khom mà “<i>đàng hồng bớc tới</i>”. Quả bom có hai vịng trịn màu vàng nằm lạnh lùng trên một
bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Thần chết đang chờ đợi. Khi thực hiện nhiệm vụ phá bom, ban đầu cô
cũng thấy căng thẳng hồi hộp “<i>thần kinh căng nh chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu .</i>” Nhng cơ lại bình
tĩnh ngay, chủ động, tự tin thực hiện từng thao tác phá bom, chạy đua với thời gian để vợt qua cái chết. “
<i>Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dới quả bom. Đất rắn. Những hịn sỏi theo tay tơi bay ra hai bên. Thỉnh</i>
<i>thoảng lỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai ngời, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và</i>
<i>bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng một dấu hiệu chẳng lành .</i>”
Thật đáng sợ cái công việc “<i>chọc giận</i>” thần chết đó. Ai dám chắc nó sẽ khơng nổ ngay bây giờ, lúc mà
Phơng Định đang hí hốy đào bới ấy. Thế mà cô vẫn không run tay vẫn tiếp tục công việc đáng sợ. “<i>Tôi</i>
<i>cẩn thận bỏ cái gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, châm ngịi. Tơi khoả đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của</i>
<i>mình</i>”; căng thẳng chờ đợi: “<i>liệu mìn có nổ, bom có nổ khơng? khơng thì làm cách nào để châm mìn lần</i>
<i>thứ hai</i>”. Thời gian chờ đợi thật đáng sợ, “<i>mồ hôi thấm vào môi mằn mặn, cát lạo xạo trong miệng</i>”. Rồi
quả bom nổ. “<i>Một thứ tiếng kỳ quái đến váng óc. Ngực tơi đau nhói, mắt cay mãi mới mở ra đợc. Mùi</i>
<i>thuốc bom buồn nôn.</i>..” Cái công việc khủng khiếp bóp nghẹt trái tim ấy khơng chỉ đến một lần trong đời
mà đến hằng ngày. Rõ ràng phẩm chất dũng cảm, tự tin, bản lĩnh kiên cờng của Phơng Định càng đợc
khắc sâu trong lần phá bom này. Cơ đã chiếm đợc lịng u mến và sự kính phục của ngời đọc. Một cơ gái
nhỏ bé, trẻ trung, hồn nhiên hay mơ mộng và nhạy cảm cũng thật anh hùng. Phơng Định là một hình ảnh
đẹp, tiêu biểu cho vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
* Luận điểm 4: Là cô gái giàu tình yêu thơng đồng đội.
dậy. Nho bị thơng máu túa ra thấm vào đất. Cô bế Nho lên đùi băng rửa vết thơng cho bạn, cử chỉ cẩn thận
<b>3.kÕt bµi:</b>
Lịch sử chống Mỹ không thể thiếu những trang viết về Trờng Sơn máu lửa. Phơng Định và đồng đội
của cô là những ngôi sao xa mà gần của một thời oanh liệt, một thời không thể nào quên của cả dân tộc.
Những cơ gái ấy đã đóng góp một phần khơng nhỏ vào chiến công kỳ diệu của đất nớc. Đọc truyện, ta
cảm thấy khâm phục tự hào vì những thế hệ đi trớc đã khơng tiếc máu xơng của mình để bảo vệ đất nớc.
Câu chuyện còn làm chúng ta suy nghĩ nhiều về cơng việc, lí tởng, ý chí và mục đích sống của chúng ta
hiện nay. Khơng đối mặt với mũi tên, hòn đạn nh Phơng Định nhng chúng ta phải đối diện với những khó
khăn thử thách của cuộc sống mới xây dựng đất nớc. “<i>Những ngôi sao xa xơi</i>” sẽ giúp chúng ta nhìn nhận
cuộc sống tốt hơn và có lẽ sống đúng đắn hơn.
<b>Dàn ý</b>
<b>1.mở bài:</b>
<i><b>- Giới thiệu tác giả</b>:</i> Lê minh Khuê là cây bút nữ trởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, nhà văn rất
thành công trong thể loại truyện ng¾n.
<i><b>- Giới thiệu tác phẩm: NNSXX là một trong những tác phẩm đầu tay của tác giả. Truyện ca ngợi cuộc</b></i>
sống, chiến đấu của những cô gái TNXP trên tuyến đờng TS trong những năm chống Mỹ ác liệt.
<i>- Vấn đề nghị luận</i>: Lê Minh Khuê đã tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của những cô gái TNXP đặc biệt là
<b>2.Thân bài:</b>
<b>a) V p chung ca cỏc cụ gái TNXP:</b>
<b>* Hoàn cảnh sống và chiến đấu.</b>
<b>* Là những ngời sống có lí tởng, có mục đích.</b>
<b>* Gan dạ, dũng cảm.</b>
<b>* Tình đồng đội nồng ấm.</b>
<b>* Hồn nhiên, mơ mộng, lạc quan yêu đời.</b>
<b>* Nét cá tính riêng của Nho, Chị Thao.</b>
<b>b) Vẻ đẹp của Phơng Định.</b>
* Vào chiến trờng đã đợc ba năm, giữa bom đạn ác liệt nhng Phng nh vn gi c nột
<i>hồn nhiên, vô t của ngời con gái Hà Thành.</i>
- Cng nh cỏc bn của mình: Phơng Định rất nhạy cảm và quan tâm đến hình thức.Cơ tự hào về vẻ đẹp của
mình.
- Cơ có một cá tính khác với chị em trong tổ là cơ thờng kín đáo trớc đám đơng. Trong khi bạn bè của cô
xúm lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy, thì cơ thờng đứng ra xa, khoanh tay trớc ngực, mơi
mím chặt, mắt nhìn đi nơi khác.Tự tin và tự hào về vẻ đẹp của mình nên Phơng Định có vẻ hơi điệu và
kiêu kì thế thơi cịn thực chất trong suy nghĩ của cô, những ngời đẹp nhất, thông minh gan dạ, cao thợng
nhất là những ngời mặc qn phục có ngơi sao trên mũ.
<i>* Hát hay, hay hát, có tài bịa ra lời hát:</i> Cô hát động viên đồng đội trong lúc họ nhớ nhà,
<i>* Thờng hay sống với nhữngkỷ niệm </i>thời học sinh vô t hồn nhiên bên ngời mẹ trong một
căn nhà nhỏ bên một đờng phố yên tĩnh giữalòng Hà Nội. Những hồi ức đó xoa dịu khơng khí
căng thẳng ở chiến trờng giúp cơ có thêm nghị lực để chiến đấu.
<i>* Cã tinh thần trách nhiệm trong công việc, gan dạ, dũng cảm</i>.
<i>* Kể lại một lần phá bom của Phơng Định.</i>
- Phng Định và đồng đội của cô đều là những cô gái có những nét tính cách đẹp, đáng u, đáng khâm
phục. Tổ quốc cần, họ sẵn sàng đón nhận những nguy hiểm. Họ đã hy sinh cả tuổi thanh xn của mình
cho đất nớc. Họ là những cơ gái mở đờng ở Ngã Ba Đồng Lộc và trên khắp các nẻo đờng của Tổ quốc
chúng ta, đâu đâu cũng có dấu chân của các cơ gái thanh niên xung phong anh hựng.
<b>3.kết bài:</b>
<b>Ôn Bài: bến quê</b>
<i>(Nguyễn Minh Châu)</i>
<b>1.Mở bài:</b>
Cùng với chi tiết, sự việc, nhân vật và cốt truyện, tình huống truyện là một yếu tố quan trọng của văn
bản tự sự. <i> Tình huống truyện</i> là hoàn cảnh xảy ra và làm điều kiện cho câu chuyện phát triển, góp phần
thể hiện tính cách nhân vật và chủ đề của tác phẩm. Khi nhà văn xây dựng tác phẩm thờng chú ý xây
dựng tình huống truyện độc đáo để tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện. “<i>Bến quê</i>” của Nguyễn Minh
Châu đã xây dựng đợc tình huống truyện vừa đời thờng vừa nghch lớ.
<b>2.Thân bài:</b>
Cũng nh bao truyện ngắn khác của mình, “<i>Bến quê</i>” của Nguyễn Minh Châu đã xây dựng đợc tình
huống truyện vừa đời thờng vừa nghịch lí. Nhân vật chính của truyện là Nhĩ đợc đặt vào một hoàn cảnh rất
đặc biệt. Nhĩ đã từng đi khắp nơi trên thế giới<i> suốt đời Nhĩ đã từng đi tới khơng sót một xó xỉnh nào trên</i>“
<i>trái đất</i>”, và chắc hẳn cuộc đời anh sẽ còn nhiều chuyến đi tới những phơng trời xa lạ. ấy thế mà về cuối
đời lại mắc một căn bệnh hiểm nghèo cột chặt anh vào giờng bệnh. Anh khơng thể tự mình di chuyển đợc
dù chỉ là nhích nửa phân trên giờng. Mọi sinh hoạt của anh đều phải nhờ vào sự giúp đỡ của ngời khác mà
chủ yếu là Liên, vợ anh. Tuy ở vào hoàn cảnh đặc biệt, nhng hoàn cảnh của Nhĩ cũng là hoàn cảnh của
biết bao ngời. Bởi lẽ, con ngời ta không ai tránh đợc quy luật muôn đời của sự sống Sinh – lão –bệnh –
tử.
Tình huống nghịch lí ấy lại dẫn đến một tình huống thứ hai cũng đầy nghịch lí. Nhân vật Nhĩ đã tởng
mình đặt chân đến khơng sót một xó xỉnh nào trên trái đất hố ra lại cha bao giờ đến bãi bồi bên kia sông
ngay trớc cửa nhà mình. Khi Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi thì anh cũng đau đớn nhận ra rằng
sẽ khơng bao giờ anh có thể đặt chân đợc lên mảnh đất ấy, dù nó ở rất gần anh.Nhĩ đã nhờ cậu con trai
thực hiện giúp mình niềm khao khát đó. Nhng cậu con trai lại mải chơi sa vào đám cờ thế để lỡ mất
chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Vậy là cái mảnh đất nhìn thấy kia gần gũi thế cũng đã trở nên quá
xa vời với anh.
Tạo ra một chuỗi những tình huống nghịch lí trên, tác giả muốn lu ý ngời đọc một nhận thức về cuộc
đời: <i>Cuộc sống và số phận con ngời chứa đầy những điều bất thờng, những nghịch lí, ngẫu nhiên vợt ra</i>
<i>ngồi những dự định , ớc muốn, cả những hiểu biết và toan tính của con ngời</i>. Nhận thức đợc điều này,
mọi ngời sẽ bình tâm hơn trớc những éo le, trớ trêu của cuộc sống. Nhng ý nghĩa của tình huống trong
truyện “Bến q” khơng dừng ở đó. Truyện cịn mở ra một nội dung triết lí nữa, mang tính tổng kết những
trải nghiệm của cả đời ngời, qua những suy ngẫm của nhân vật Nhĩ “<i>Con ngời ta trên đờng đời thật khó</i>
<i>tránh đợc những điều vịng vèo hoặc chùng chình </i>” và sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp rất gần gũi nh cái bãi bồi
bên kia sông, ngời vợ dịu hiền, tần tảo, giàu tình yêu thơng, giàu đức hy sinh, khi sắp từ biệt cuộc đời Nhĩ
mới cảm nhận thấm thía đợc.
<b>3.kÕt bµi:</b>
Tóm lại, truyện “Bến quê” Nguyễn Minh Châu đã xây dựng đợc một chuỗi những tình huống vừa đời
thờng, vừa nghịch lý. Qua đó nhà văn thể hiện những triết lí sâu sắc về con ngời và cuộc đời. Truyện thức
tỉnh con ngời biết trân trọng những vẻ đẹp và những giá trị bình dị gần gũi của gia đình, quờ hng.
<b> Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Nhiều sáng tác của ông đã để</b>
lại ấn tợng sâu sắc trong lòng ngời đọc. Bến quê là một trong số đó. Đó là câu chuyện chứa đựng những
suy ngẫm, những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con ngời và cuộc đời, thức tỉnh con ngời biết trân
trọng những vẻ đẹp và những giá trị bình dị gần gũi của gia đình, quờ hng.
<b>2.thân bài:</b>
* Tóm tắt ngắn gọn cốt truyện và tình hng trun:
bồi bên kia sơng ngay phía trớc cửa sổ nhà mình. Anh khao khát đợc đặt chân lên bãi bồi đó nhng anh
cũng đau đớn nhận ra rằng anh không thể thực hiện đợc. Anh nhờ cậu con trai thực hiện giúp mình niềm
khao khát đó nhng cậu con trai lại mải chơi sa vào đám cờ thế có thể làm lỡ mất chuyến đị ngang duy
nhất trong ngày. Qua việc xây dựng những tình huống nghịch lí tác giả đã gửi gắm những chiêm nghiệm
có ý nghĩa triết lí về cuộc đời con ngời.
* Cảm nhận của Nhĩ về gia đình:
Nhân vật Nhĩ đợc Nguyễn Minh Châu miêu tả hết sức tinh tế về đời sống nội tâm. Nhĩ bị bệnh hiểm
nghèo, mọi sinh hoạt đều phải nhờ vào sự chăm sóc của vợ con. Cũng chính lúc này anh mới cảm nhận
Khi sai con trai sang bên kia bãi bồi, lúc này anh mới ngắm kỹ đứa con. Nhĩ xúc động thấy càng lớn
con càng có nhiều nét giống mình. Anh cũng ân hận vì nhận ra sự vơ tình, thiếu trách nhiệm của mình với
vợ con. Khơng tự mình sang đợc bãi bồi, Nhĩ nhờ con giúp, nhng cậu con trai mải chơi không thực hiện
đ-ợc ý bố. Nhĩ không trách giận con vì anh hiểu đđ-ợc sự nơng nổi của tuổi trẻ mà chính anh đã từng trải qua.
Vì lo lắng cho con Nhĩ đã dồn hết sinh lực đa tay ra khoát khoát ra hiệu con mau mau cho kịp chuyến đị.
Qua đó ta nhận ra tấm lịng của ngời cha biết cảm thông và độ lợng.
<b> * C¶m nhận của Nhĩ về quê hơng:</b>
Cùng với những cảm nhận về gia đình, Nhĩ suy nghĩ cảm nhận về quê hơng. Từ khung cửa sổ nhà
mình, Nhĩ nhìn thấy cảnh đất trời sắp vào thu nh đang thay áo mới. <i>Những bông hoa bằng lăng cuối mùa</i>
<i>tha thớt, nhng lại đậm sắc hơn; dòng sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông nh rộng thêm ra; vịm trời nh cao</i>
<i>hơn. Và phía bên kia sơng là một dải đất bồi màu vàng thau xen lẫn với màu xanh non. </i>Cảnh vật hiện ra
theo mắt nhìn của Nhĩ từ gần đến xa tạo thành một khơng gian ba chiều: cao, xa, rộng. Qua đó ta thấy Nhĩ
có những cảm nhận hết sức thân thuộc. Cảnh vật quê hơng trong mắt anh vừa quen, vừa lạ. Phơ ra với tất
cả vẻ đẹp và sự giàu có. Về con ngời quê hơng: Nhĩ phát hiện ra ở họ những vẻ đẹp đáng quý. Đó là lũ trẻ
hàng xóm tay chua lịm mùi nớc da nhng ngoan ngỗn, lễ phép, nghe Nhĩ gọi là ríu rít chạy lên, xúm vào
* Kh¸t khao cđa NhÜ:
Cũng chính từ những cảm nhận đó, Nhĩ chợt nhận ra cái vẻ đẹp muôn thuở của quê hơng. Thì ra suốt
đời Nhĩ đã từng đi khơng sót một xó xỉnh nào trên trái đất. Vậy mà giờ đây nằm trong căn phịng nhìn ra
cửa sổ Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp rất đỗi bình dị và thân thuộc của cái bãi bồi bên kia sơng khi mình sắp từ
giã cõi đời. Bãi bồi ấy đã làm sống dậy trong Nhĩ một niềm khát khao mãnh liệt: đợc một lần đặt chân lên
bãi bồi đó. Khát vọng ấy thật bình dị nhng đặt trong hồn cảnh của Nhĩ lúc bấy giờ nó lại trở thành vơ
vọng. Điều đó làm Nhĩ hết sức ân hận, xót xa.Từ việc nhờ cậu con trai thực hiện giúp nhng không thành,
cùng với quãng đời tuổi trẻ của mình, Nhĩ đã nghiệm ra một quy luật có tính chất phổ biến của đời ngời
<i>Con ng</i>
“ <i>ời ta trên đờng đời thật khó tránh đợc những cái điều vịng vèo hoặc chùng chình</i>”. Bởi thế hành
động của Nhĩ ở cuối truyện anh cố thu ngời giơ tay khoát khoát, nh muốn thúc giục cậu con trai hãy mau
lên kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Hành động này còn đợc hiểu theo ý khái quát nh muốn thức
tỉnh, nhắc nhở, thúc giục mọi ngời hãy mau chóng dứt ra khỏi những cái chùng chình, vịng vèo trên đờng
đời để hớng tới những giá trị đích thực, bền vững của cuộc sống. Đừng vịng vèo, đừng phung phí những
tháng năm tuổi trẻ vì những trị vơ bổ, phải có trí tuệ, có nghị lực, có lịng kiên nhẫn mới mong bớt đ ợc
những rủi ro, thất bại trên đờng đời.
<b>3. KÕt bµi:</b>
Tóm lại, nhân vật Nhĩ trong truyện là một nhân vật t tởng, có đời sống nội tâm sâu sắc, tinh tế.
Cuộc sống ln vận động và phát triển khơng ngừng . Nó địi hỏi mọi người phải vận động để theo
kịp sự phát triển của xã hội . Chính vì vậy mà tinh thần tự học có vai trị vơ cùng quan trọng .
Trước hết ta phải hiểu “tự học” là như thế nào?Nếu <b>học</b> là quá trình tìm hiểu , thu nhận kiến thức và
hình thành kỹ năng của bản thân díi sù híng dẫn của thầy cô ,thỡ <b>t hc</b> l s ch động , tích cực , độc
lập tìm hiểu , lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình .Q trình tự học cũng có phạm vi khá
rộng :khi nghe giảng ,đọc sách hay làm bài tập , cần tích cực suy nghĩ , ghi chép , sáng tạo nhằm rút ra
những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân . Tự học cũng có nhiều hình thức: có khi là tự mày mị tìm
hiểu hoặc có sự chỉ bảo , hướng dẫn của thầy cô giáo …Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri
thức của người học vẫn là quan trọng nhất .
Phải tự học mới thấy hết những ý nghĩa lớn lao của công việc này .Tự học giúp ta nhớ lâu và vận
dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộcsống . Không những thế tự học còn giúp
con người trở nên năng động , sáng tạo , không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác . Từ đó biết tự bổ
sung những khiếm khuyết của mình để tự hồn thiện bản thân .
Tự học là một cơng việc gian khổ , địi hỏi lịng quyết tâm và sự kiên trì .Càng cố gắng tự học con
người càng trau dồi được nhân cách và tri thức của mình .Chính vì vậy tự học là một việc làm độc lập
gian khổ mà khơng ai có thể học hộ , học giúp . Bù lại , phần thưởng của tự học thật xứng đáng : đó là
Rồng , nhờ tự học Người biết nhiều ngoại ngữ và đã tìm được đường đi cho cả dân tộc Việt Nam đến bến
bờ hạnh phúc . Macxim Gorki với cả một thời thơ ấu gian khổ ,không được đi học , bằng tinh thần tự
học ông đã trở thành đại văn hào Nga .Và còn rất nhiều những tấm gương khác nữa : Lê Q Đơn ,Mạc
Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền …Nhờ tự học đã trở thành bậc hiền tài , làm rạng danh cho gia đình quê hương
xứ sở .
Việc tự học có ý nghĩa to lớn như vậy nên bản thân mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình tinh thần tự
học trên nền tảng của sự say mê , ham học, ham hiểu biết , giàu khát vọng và kiên trì trên con đường
chinh phục tri thức .Từ đó bản thân mỗi con người cần chủ động , tích cực, sáng tạo , độc lập trong học
tập . Có như vậy mới chiếm lĩnh được tri thức để vươn tới những ước mơ, hồi bão của mình .
Càng hiểu vai trị và ý nghĩa của việc tự học,em càng cố gắng và quyết tâm học tập hơn .Bởi tự
học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực . Có lẽ
bởi vậy mà Lê-nin đã từng đặt ra một phương châm : Hc , hc na , hc mói.
Xã hội ngày càng phát triển , con người ngày càng được quan tâm song vẫn có khơng ít những tác
nhân làm nguy hại đến sức khoẻ của con người .Một trong số đó là thuốc lá !
Trên mỗi vỏ bao thuốc lá đều có dịng chữ “ Hót thuốc lá có hại cho sức khoẻ” vậy mà bất chấp
điều cảnh báo ấy,người ta vẫn hút thuốc.Hút đến vàng răng,vàng cả ngón tay cầm thuốc,hơi thở hơi đến
khó chịu với những người xung quanh…Có một thời, thuốc lá trở thành vật không thể thiếu trên bàn tiếp
khách. Người lớn hút , trẻ nhỏ cũng hút.Nguyên nhân nào dẫn đến thói quen tai hại ấy? Do thói quan giao
tiếp cũng có,do sự học địi bắt chước thích tỏ ra mình là người “sành điệu” cũng có.
Thuốc lá khơng chỉ có hại đối với người trực tiếp sử dụng nó mà cịn ảnh hưởng đến những người
xung quanh vì khói thuốc lan trong khơng khí khiến họ cũng phải chịu ảnh hưởng nặng nề. Hiện nay, khi
đến các nơi cơng cộng như bến xe, thậm chí cả trường học, trụ sở nhà nước, chúng ta vẫn bắt gặp nhiều
người hút thuốc lá mà không hề quan tâm đến sức khoẻ của mình và cảm giác của những người xung
quanh. Như vậy họ đã gián tiếp làm nguy hại đến sức khoẻ cộng đồng và vơ tình làm cho mơi trường bị
suy thối . Theo điều tra mới nhất của tổ chức y tế thế giới WHO , cứ theo đà hút thuốc hiện nay thì đến
năm 2020 số người chết vì thuốc lá sẽ là 8 triệu người một năm . Tức là cao hơn số người chết vì
HIV/AIDS, bệnh lao và tai nạn giao thơng cộng lại. Dự báo ấy liệu có làm cho những con nghiện thuốc lá
lưu tâm ?
Thuốc lá có hại như vậy . Làm thế nào để ngăn chặn việc hút thuốc lá ?Có lẽ cần tuyªn truyền
nhiều hơn về tác hại của nó trên các phương tiện thơng tin đại chúng . Coi việc hút thuốc lá là hành vi
không đẹp bởi nó là biểu hiện của nghiện ngập và của những con người dễ bị chi phối .Và yếu tố quan
trọng nhất là tự bản thân phải ý thức cao , chủ động không tiếp cận với thuốc lá để giữ gìn,bảo vệ sức
khoẻ của chính mình và những người thân trong gia đình mình .
Thuốc lá có hại .Thuốc lá nguy hiểm cho sức khoẻ .Bởi vậy thế hệ trẻ chúng ta hãy cùng nhau nói
khơng với thuốc lá !
<b>§Ị 30: Tác hại của trò </b>
Trũ chi in tử vốn là một trị giải trí lành mạnh song hiện tượng đam mê trò chơi này mà sao
nhãng học hành và gây nhiều hậu quả tại hại đã trở thành một vấn đề bức xúc ở lứa tuổi học sinh
Có thể thấy ở khắp các phố phường và các nẻo đường thơn ngõ xóm những qn Intenet. Học sinh
đến đó khơng phải để truy cập thơng tin phục vụ cho việc học mà để chơi điện tử . Nhiều bạn ngồi hàng
giờ , hàng ngày trước màn hình vi tính, mê mẩn với những trị chơi trên máy ,quên thời gian thậm chí bỏ
học để chơi ,trong đầu lúc nào cũng chỉ nghĩ đến các trò chơi và ham muốn chinh phục khám phá nó
khiến gương mặt ngơ ngẩn như mất hồn…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó .Do bố mẹ khơng quan tâm , do buồn , do bạn bè rủ
rê , do không tự chủ được bản thân …Song dù lý do nào đi nữa , ham mê trò chơi điện tử cũng là một
điều tai hại . Trước hết ngồi quá gần màn hình vi tính trong một thời gian dài có thể làm cho mắt bị cận
thị , người mệt mỏi, sức khoẻ bị tổn hại . Khơng chỉ có thế , ham mê trò chơi điện tử còn dẫn đến sao
nhãng nhiệm vụ chính của người học sinh là học tập . Mải chơi , bỏ tiết, trốn học, không hiểu bài , không
làm bài tập , học tập sút kém dẫn đến chán học . Như vậy vơ tình sự ham chơi nhất thời có thể tự huỷ hoại
tương lai của chính bản thân mình .Trị chơi điện tử cịn khiến tâm hồn bị đầu độc bởi bạo lực , chém
giết , bắn phá , cuốn con người vào một thế giới ảo đầy những mưu mô , thủ đoạn . Hơn nữa ham chơi
điện tử còn tiêu tốn tiền bạc một cách vơ ích , có khi cịn làm thay đổi nhân cách con người . Để có tiền
chơi điện tử nhiều thói hư tật xấu bắt đầu nảy sinh như dối trá , thủ đoạn , trộm cắp tiền bạc, tài sản của
gia đình , bạn bè …Và khơng ai có thể lường trước được những hậu quả tai hại khác nếu niềm đam mê
kia vẫn còn tiếp diễn .
tạo ra những hoạt động bổ ích ,những sân chơi vui tươi lành mạnh để mọi học sinh đều được tham gia
.Có như vậy vấn nạn học sinh say mê trò chơi điện tử mới được giải quyết triệt để.
Ham chơi điện tử - Ham muốn nhất thời mà tác hại không lường hết được.Bởi vậy vì tương lai của
chính mình,chúng ta đừng để bản thân vướng vào đam mê chết người đó.
<b>§Ị 31: UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN .</b>
Trong kho tàng ca dao tục ngữ của người Việt Nam ta có rất nhiều những câu nói về truyền thống
đạo lý ân nghĩa thuỷ chung.Một trong số đó là câu:“Uống nước nhớ nguồn ”.
Trước hết ta phải hiểu nội dung câu tục ngữ là như thế nào .“Uống nước ”chính là sự hưởng thụ những
thành quả vật chất và tinh thần ;“Nhớ nguồn ”là sự tri ân ,giữ gìn phát huy những thành quả của người
làm ra chúng .Như vậy cả câu tục ngữ là lời khuyên,lời dạy bảo chúng ta phải biết ơn thế hệ cha anh và
phát huy những thành quả của họ .
Thật vậy ,thành quả không tự nhiên mà có .Đất nước hồ bình mà chúng ta sống hôm nay được
đổi bằng sinh mạng của biết bao người ngã xuống .Bởi vậy ta không được phép quên tổ tiên ,nòi giống và
những người đã chiến đấu, hy sinh bảo vệ quê hương. Cha mẹ ,ông bà người thân đã sinh ra ta ,nuôi
dưỡng ta khôn lớn, thầy cô dạy dỗ ta học hành trở nên người có ích cho xã hội…Tất cả đều là “nguồn”để
ta phải nhớ,phải tri ân.
Lòng biết ơn là cở sở của đạo làm người.Một xã hội chỉ thực sự tốt đẹp khi được xây dựng vững
vàng trên nền tảng đạo lý .Trên khắp đất nước Việt Nam lòng biết ơn thể hiện ở việc xây dựng các
đền,miếu,chùa chiền phụng thờ, tôn vinh các bậc anh hùng có cơng với nước.Trong mỗi gia đình,bàn thờ
tổ tiên được đặt ở nơi trang trọng.Nhiều năm nay, cả nước dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với
những thương binh,liệt sĩ,bà mẹ Việt Nam anh hùng và những gia đình có cơng với cách mạng…Đến bất
kỳ nơi nào cũng có thể tìm thấy những biểu hiện sinh động phong phú của đạo lý “uống nước nhớ nguồn
”trên đất nước ta .
Nhớ nguồn không chỉ là biết ơn, giữ gìn ,bảo vệ thành quả đã có mà bản thân mỗi người cần cố
gắng cống hiến, bổ sung thêm những thành quả mới cho “nguồn nước” dân tộc ln tràn đầy và bất
diệt.Có như vậy mới phát huy được tinh hoa truyền thống tốt đẹp của tổ tiên , làm cho xã hội ngày một
phát triển .Đó mới là nhớ nguồn một cách thiết thực.Ở lứa tuổi học sinh, chúng ta chưa làm ra của cải vất
chất, tinh thần cho xã hội , do đó hãy bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cha mẹ, thầy cơ bằng lời nói,
việc làm cụ thể của mình:phấn đấu học tập,rèn luyện và tu dưỡng thành con ngoan,trò giỏi để trở thành
những cơng dân có ích cho xã hội sau này .
Câu tục ngữ không chỉ là lời khuyên dạy ,nó cịn là lời nhắc nhở sâu sắc, thấm thía đối với những
kẻ vơ ơn,“khỏi vịng cong đi”,“qua cầu rút ván”,“khỏi rên quên thầy”…Mạch nguồn trong trẻo của
truyền thồng ân nghĩa thuỷ chung sẽ có một ngày làm cho những trái tim lầm đường thức tỉnh !
Lòng biết ơn thực sự là một nét truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc song nó khơng tự nhiên
mà có .Nó là kết quả của q trình rèn luyện , tu dưỡng lâu dài của con người.Có lẽ bởi vậy mà tự thủơ ấu
thơ, lời ru thấm đượm ân tình của bà của mẹ đã gieo mầm ân nghĩa :
“Công cha nghĩa mẹ ơn thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao…”
<b>§Ị 32: SUY NGHĨ VỀ BÁC HỒ</b>
<b>Đáp án .</b>
Có một con người mà khi nhắc đến tên, những người Việt Nam đều vơ cùng kính u và ngưỡng
mộ , đó là Hồ Chí Minh : vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam , anh hùng giải phóng dân tộc , danh
nhân văn hố thế giới .
thắng ,khai sáng nền độc lập tự do ở đất nước Việt Nam .Người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường
đi và tương lai cho đất nước ,giải phóng dân tộc thốt khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ .Người đã dẫn dắt dân tộc ta thốt khỏi đói nghèo ,đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp .Tư tưởng
của Người có giá trị vơ cùng to lớn đối với Cách Mạng Việt Nam ,nhân dân Việt Nam .Người đã hy sinh
cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc ,Người yêu nước thương dân sâu sắc ,bởi vậy triệu
triệungười dân Việt Nam đều là con cháu của Người .Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước
nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi:
“Bác ơi tim Bác mênh mơng thế
Ơm cả non sơng mọi kiếp người .”
(Tố Hữu )
Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như
thế :Sống trong ngôi nhà sàn nhỏ ,ăn những món ăn dân dã, mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc
rương nhỏ và mấy bộ quần áo bạc màu …Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam , Bác Hồ khơng chỉ là
anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính u và
ngưỡng vọng .
Bác Hồ cịn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới .Bác dã từng là chủ bút tờ
Mặc dù Bác đã đi xa nhưng trong lòng mọi người dân Việt Nam Bác vẫn là người đẹp nhất:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ .
Càng tìm hiểu về cuộc đời vĩ đại và cao đẹp của Bác,em càng kính yêu và tự hào về Bác
hơn.Điều đó khơi dậy trong em mong muốn học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện để trở thành con
người có ích cho xã hội .
Bác là tinh hoa khí phách của dân tộc,cuộc đời của Bác là một tấm gương sáng. Bởi vậy mà
chúng ta cần “Sống, chiến đấu ,lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại ”.
Trong những năm gần đây, tình hình trật tự an tồn giao thơng ở nước ta có nhiều diễn biến phức tạp,
đặc biệt là trên lĩnh vực giao thông đường bộ.
Mỗi ngày , các phương tiện thông tin đại chúng đều có bản tin về sè lượng các vụ tai nạn giao thông
xảy ra trên các địa bàn trên cả nước . Đáng báo động, tính chất các vụ tai nạn ngày càng nghiêm trọng, thể
hiện qua số ngi cht tng mnh. Hàng năm số vụ tai nạn giao thông vẫn không hề suy giảm, ngợc lại nó
còn tăng lên rất nhiều.
Nguyờn nhõn gây ra tình trạng tai nạn giao thơng cao ở nước ta có rất nhiều . Đó là sự hiểu biết cịn
hạn chế về an tồn giao thơng đường bộ, về quy định giao thông, về các hành vi lái xe an tồn.
Mơi trường giao thơng khơng an tồn và cơ sở hạ tầng giao thông nghèo nàn.Việc chấp hành luật lệ
giao thông còn kém. Những hành động nguy hiểm thường gặp của thanh niên như lạng lách, đua xe máy
là nguồn gốc của nhiều tại nan giao thông . Đồng thời , việc người dân sử đã sử dụng rượu bia , nồng độ
cồn trong máu quá mức cho phép cũng là nguyên nhân gây ra những vụ tai nạn khơng đáng có.
Tai nạn giao thông và những thiệt hại do tai nạn gây ra đang là nỗi lo và vấn đề bức xúc của tồn xã
hội. Đó là thiệt hại về sinh mạng, thiệt hại về nhân lực, trí tuệ, gây tổn thương về tinh thần xã hội, về vật
chất, tiền của và cả nỗi đau thể xác, tinh thần dai dẳng. Những người vợ xót xa khi mất đi người chồng
thân yêu, đứa con nghẹn ngào vì tới đây sẽ chẳng còn được vòng tay người cha dạy dỗ . Họ mang đến sự
thương tâm cho toàn xã hội.
nhằm tăng nhận thức về phòng tránh tai nạn và an tồn giao thơng. Áp phích, tờ rơi về an tồn giao thơng
và sử dụng mũ bảo hiểm đã được phân phát rộng rãi trên toàn quốc . Các tiểu phẩm phát trên truyền hình
cũng góp phần vận động để giúp cho công chúng hiểu rõ hơn về luật giao thông và nghiêm chỉnh chấp
hành luật. Quy định bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi sử dụng phương tiện xe gắn máy tham gia giao
thông và xử phạt nghiêm minh những trường hợp khơng chấp hành luật cũng đã hạn chế bớt tình trạng tai
nạn giao thông .
Cũn đối với giao thụng học đường cần sự đồng thuận giữa gia đỡnh, nhà trường và xó hội ,để học sinh
có ý thức chấp hành tốt luật giao thông. Đồng thời việc đặt biển bỏo giới hạn tốc độ, làm gờ giảm tốc,
đèn hiệu giao thông, vạch dành cho người đi bộ ở khu vực , đặc biệt nơi có đơng trẻ em cũng cần được
thực hiện . Tổ chức các cuộc thi an tồn giao thơng cho mọi người đặc biệt là thanh thiếu niên.
Ngày nay , tình trạng đua xe của giới trẻ, tầng lớp thanh niên - những người chủ tương lai đất nước
đang gây bức xúc trong dư luận . Đó là những thanh niên đua địi với bản tính “con nhà giàu” cùng với sự
rủ rê của bạn bè, họ sẵn sàng đánh cược với tính mạng của mình. Những bậc cha mẹ nuông chiều con ,
<b>Đề 4: Cảm nhận của em về truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu.</b>
<b>Dàn ý</b>
<b>Ôn Bài: lặng lẽ sa pa</b>
<i>(Nguyễn Thành Long)</i>
<b>Đề 1 : Phân tích nhân vật anh thanh niên trong </b><i><b>Lặng lẽ Sa Pa</b></i> của : Nguyễn Thành Long .
<b>Gợi ý</b>
<b>1.Më bµi:</b>
<b> </b> Nguyễn Thành Long là cây truyện ngắn nổi tiếng của làng văn học hiện đại Việt Nam. Truyện của
ông thờng giàu chất hoạ, chất nhạc và chất thơ. “<i>Lặng lẽ Sa Pa</i>” là kết quả của chuyến đi thực tế Lào Cai
vào mùa hè năm 1970 của tác giả. Đây là một truyện ngắn tiêu biểu viết về cuộc sống mới hồ bình, xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Truyện ca ngợi vẻ đẹp của anh thanh niên, nhân vật chính trong truyện,
một con ngời sống âm thầm, lặng lẽ, cống hiến sức lực và tuổi trẻ của mình cho đất nớc. Anh để lại ấn
t-ợng sâu sắc trong lòng ngời đọc.
a) Giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh sống và làm việc:
<b> Đến với Lặng lẽ Sa Pa, ngời đọc không chỉ đợc thởng thức vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên mà cịn</b>
gặp những con ngời qn mình vì nhiệm vụ. Đó là anh thanh niên nhân vật chính của truyện.
Anh khoảng hai mơi bảy tuổi, sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét, xung quanh anh
Hồn cảnh sống và làm việc thật khó khăn gian khổ. Một thanh niên mới có 27 tuổi mà đã có tới 4 năm
sống ở Yên Sơn giữa non xanh heo hút. Làm thế nào để anh vợt qua đợc hồn cảnh sống đó và hồn thành
xuất sắc nhiệm vụ của mình. Đó chính là bởi lịng u nghề, có trách nhiệm với công việc.
<b> b) Vẻ đẹp của anh thanh niên:</b>
<b> * Say mª với công việc và là ngời có trách nhiệm cao:</b>
Trớc hết, anh thanh niên có những suy nghĩ đúng đắn về cơng việc, và ý thức đợc trách nhiệm của
mình trong công cuộc xây dựng đất nớc. Anh bảo “<i>Khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một</i>
<i>mình đợc?</i>”. Cơng việc của anh gắn liền với việc của bao anh em đồng chí dới kia. Anh biết công việc của
anh gian khổ nhng nếu đem cất nó đi anh buồn đến chết mất. Chính những suy nghĩ đúng đắn đó đã khiến
anh n tâm cơng tác. Dù không trực tiếp chiến đấu với kẻ thù, nhng trên mặt trận thầm lặng này anh đã
dành hết tình yêu, tinh thần trách nhiệm cho công việc. Từ chỗ cha yên tâm với nghề, anh đã yêu nghề
thực sự và nhanh chóng giỏi nghề. Chỉ cần nhìn ánh nắng mặt trời xuyên qua cái kính đốt các mảnh giấy,
anh cứ theo mức độ hình dáng vết cháy mà định nắng.Ban đêm khơng nhìn máy, chỉ cần nhìn gió lay lá
hay nhìn trời, thấy sao nào khuất, sao nào sáng anh có thể nói đợc mây, tính đợc gió. Khơng chỉ giỏi nghề,
anh cịn có tinh thần trách nhiệm cao trong nghề. Công việc của anh không nặng nhọc nhng địi hỏi phải tỉ
mỉ, chính xác. Một ngày anh phải ghi số liệu để báo về nhà bốn lần. Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc
một giờ sáng. Mùa đơng, trên núi cao, bên ngồi gió tuyết ào ào xô tới, anh vẫn dậy đúng giờ, ghi số liệu
và báo về nhà chính xác. Anh đã vợt lên gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Suốt bốn năm khơng lúc nào
anh qn nhiệm vụ của mình. Cơng việc của anh đã có kết quả thật bất ngờ. Anh đã góp phần bắn rơi máy
bay từ trên cầu Hàm Rồng. Từ hơm đó, anh thấy mình thật hạnh phúc, càng thêm u cơng việc của mình
hơn. Anh càng cố gắng làm việc vì Tổ Quốc.
<b> * Sống ngăn nắp, khoa học, gọn gµng.</b>
Khơng chỉ có vẻ đẹp trong suy nghĩ, cơng việc, ngời thanh niên ấy cịn có vẻ đẹp trong cuộc sống,
cách sống và tình cảm, tâm hồn. Nếu bác lái xe bảo anh là cô độc nhất thế gian, ta thấy anh không hề cô
độc bởi anh đã biết tự tạo cho mình một cuộc sống giản dị, ngăn nắp, gọn gàng, thơ mộng trên đỉnh núi
cao. Căn nhà của anh chỉ có ba gian nhỏ nhng sạch sẽ, ngăn nắp. Gia tài của anh chỉ là bàn ghế, sổ sách,
biểu đồ thống kê, máy bộ đàm...và nhiều nhất là sách. Chính ơng hoạ sĩ đã lầm tởng anh chạy về trớc gấp
chăn màn để chuẩn bị đón khách. Một chàng trai trẻ tuổi, đã có cuộc sống ngăn nắp, gọn gàng, tạo cho
cuộc sống của mình thêm thơ mộng bằng việc trồng hoa. Chính cơ kĩ s đã ngạc nhiên thấy trên đỉnh núi
cao lại gặp nhiều hoa đến thế. Ngồi giờ làm việc, anh cịn tích cực tăng gia sản xuất. Đàn gà anh chăm
không chỉ giúp bữa ăn của anh thêm tơi mà nó cịn là ngời bạn giúp anh vơi đi nỗi nhớ nhà. Anh không cơ
đơn vì ngồi hoa, đàn gà, cơng việc anh cịn có sách. Sách giúp anh nhanh chóng giỏi nghề, là ng ời bạn
tâm tình, chia sẻ mọi buồn vui với anh. Ngời thanh niên ấy thật có chí tiến thủ. Anh mừng quýnh lên khi
thấy bác lái xe mua hộ sách cho anh. Một thanh niên làm công tác nghiên cứu khoa học, u q sách cho
thấy anh ln có ý chí vơn lên, khơng dừng lại ở những điều đã có sẵn, anh phải nghiên cứu để nắm bắt
khoa học phục vụ đất nớc nhiều hơn.
* Anh có phong cách sống đẹp: Cởi mở, chân thành, mến khách.
Anh còn là chàng trai rất cởi mở, chân thành, ln nhiệt tình chu đáo với mọi ngời. Chẳng thế mà
chỉ mới nghe tin vợ bác lái xe ốm anh đã lặn lội vào tận trong rừng sâu để đào củ tam thất biếu bác.Gói củ
tam thất anh gửi biếu vợ bác lái xe cho thấy anh yêu quý ngời biết nhờng nào. Anh có tấm lòng nhân hậu,
chu đáo, tận tụy, quan tâm đến ngời khác. Đối với đoàn khách lên thăm nhà, anh đối xử với họ thật cởi
mở, nồng hậu, chu đáo, thân tình và hiếu khách. Anh tong tả chạy về trớc đón khách. Anh thảo với khách
đến nỗi bảo cơ gái muốn lấy hoa bao nhiêu tuỳ ý. Khi tiễn họ đi, anh còn tặng họ cả làn trứng gà. Anh
sung sớng khi có đồn khách đến thăm nhà mình. Anh quý trọng từng giây, từng phút của cuộc gặp gỡ.
Anh mời khách nớc chè thơm, đón khách bằng tất cả sự nồng hậu, chân thành của mình.
<b> * Anh là chàng trai rất khiêm tốn:</b>
Ngời thanh niên ấy trong ba mơi phút gặp gỡ với khách chỉ kể về mình có năm phút còn lại anh
muốn đợc nghe chuyện khách kể, kể chuyện dới xi. Tác giả nh cố tình nhấn mạnh cái tỉ lệ thời gian ấy
để làm nổi bật phẩm chất của anh. Nói về mình đã ít, nhng cách nói hết sức nhẹ nhàng. Anh ln cho rằng
những điều anh làm, cái khắc nghiệt của cuộc sống cô đơn nơi mà anh sống thật khơng có nghĩa lí gì so
với mọi ngời. Khi ơng hoạ sĩ định vẽ chân dung anh, anh giãy nảy từ chối. Ngời thanh niên ấy thật khiêm
tốn. Anh coi những việc làm của mình thật nhỏ bé, bình thờng. Chỉ ba mơi phút gặp gỡ ngắn ngủi với ông
hoạ sĩ, với cô kĩ s, chính anh làm cho ơng hoạ sĩ thấy nhọc quá, ông vui, hạnh phúc, khao khát muốn đợc
sáng tạo, cống hiến cũng vì anh. Anh làm cho cơ gái bừng tỉnh, thức dậy những tình cảm lớn lao, cao đẹp
và cô đã yên tâm lên miền Tây công tác không chút băn khoăn, nuối tiếc. Cũng nh anh, cô sẵn sàng đi bất
cứ nơi đâu, làm bất kì việc gì khi Tổ Quốc cần.
Tóm lại, anh thanh niên là một chàng trai hồ hởi, dễ mến, một ngời lao động say mê thạo việc, một trí
thức chân chính, anh có lí tởng sống cao đẹp, có hồi bão lớn lao, mỗi suy nghĩ của anh đều thấm đẫm
tình yêu ngời, yêu cuộc đời. Anh yêu quý và tự hào về mảnh đất mình đang sống. Anh đã biết sống cho
một sự nghiệp lớn lao đó là vì Tổ quốc. Anh là một con ngời mà trong lòng luôn cháy rực một ngọn lửa
khát vọng: Sống đẹp, sống có ích, sống có ý nghĩa cho xã hội, cho mọi ngời. Cũng nh các nhân vật khác
trong truyện, anh khơng có tên cụ thể đó là dụng ý của tác giả muốn ca ngợi những ng ời lao động âm
thầm, lặng lẽ trên khắp mọi miền Tổ quốc. Họ không cần đợc biết đến tên tuổi. Họ đã và đang dốc sức lao
động xây dựng Tổ quốc. Anh thanh niên là mẫu ngời lí tởng cho lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh trong
thời chống Mĩ.
<b> 3. kÕt bµi:</b>
Cốt truyện đơn giản nhng giàu chất thơ, truyện xây dựng thành cơng nhân vật anh thanh niên. Một
con ngời có lí tởng và mục đích sống đẹp <b>. </b>Anh là tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam, những con ngời
mạnh mẽ, táo bạo trong suy nghĩ và việc làm, hết mình cống hiến cho Tổ quốc. Dù anh thanh niên chỉ
xuất hiện trong khoảnh khắc nhng đã để lại trong lòng ngời đọc biết bao cảm mến. Anh xứng đáng là tấm
gơng sáng để thế hệ sau học tập và noi theo.
<b>Đề2: Trong cái lặng lẽ của Sa Pa có biết bao con ngời đang âm thầm, lặng lẽ cống hiến tài năng</b>
<b>cơng sức của mình cho đất nớc. Hãy phân tích truyện ngắn </b>“<i><b>Lặng lẽ Sa Pa</b></i>” của : Nguyễn Thành“
<b>Long để làm sáng tỏ ý kiến trên.</b>”
<b> </b>(Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu chuyện
vào một lời nhận xét ngắn gọn “trong cái lặng im... đất nớc”.
Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp của con ngời lao động và ý nghĩa cao q của những cơng việc thầm
lặng).
<b>Dµn ý chi tiÕt</b>
<b>I. Më bµi:</b>
- Trong văn học Việt Nam có những cây bút văn xi chỉ chun về truyện ngắn và ký – Nguyễn
Thành Long là một trong số đó. Ơng đợc khẳng định nh một cây bút truyện ngắn và ký đáng chú ý trong
những năm 60 – 70 với cả gần chục sách đã in.
“LỈng lÏ Sa Pa là kết quả của chuyến thâm nhập thực tế ở Lào Cai của tác giả trong mùa hè
năm ấy.
- Trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”, tác giả Nguyễn Thành Long đã gửi gắm chủ đề của câu
chuyện “trong cái lặng im lặng của sa pa, dới những dinh thự cũ kĩ của sa pa, Sa pa mà chỉ nghe tên , ngời
ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con ngời làm việc và lo nghĩ nh vậy cho đất nớc”.
Điều ấy sẽ đợc thấy rõ qua nhân vật: anh thanh niên; ông...
<b>II. Thân bài:</b>
<b>* Khái quát:- Đọc truyện, ngời đọc thấy vẻ đẹp của Sa Pa hiện lên thật độc đáo, đầy chất thơ, </b>
nh-ng truyện còn giới thiệu với chúnh-ng ta về vẻ đẹp của con nh-ngời Sa Pa. Đó là nhữnh-ng con nh-ngời miệt mài làm
việc, nghiên cứu khoa học, trong lặng lẽ mà rất khẩn trơng vì lợi ích của đất nớc, vì cuộc sống của con
<b>* Lặng lẽ Sa Pa của NTL trớc hết vẽ lên bức tranh thiên nhiên đẹp hùng vĩ, đầy chất thơ.</b>
- Đọc truyện ta nh lạc vào một miền thiên nhiên kì vĩ của trời mây, cây cỏ sơng tuyết Sa Pa.
- Sa Pa cứ dần dần hiện ra với vẻ đẹp mơ màng dới ngòi bút tả cảnh tài tình của NTL: “Nắng bắt đầu len
tới đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao q đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dới
cáI nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cáI đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng.
Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ớt sơng, rơi xuống đờng cái, luồn cả vào gầm
xe”.
cùng những câu văn tả cảnh đặc sắc đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp lung linh huyền ảo, thơ mộng đầy quyến rũ
của thiên nhiên sa pa.
<b>* Vẻ đẹp của con ngời: </b>
Những con ngời ở sa pa, chủ yếu là những trí thức cách mạng đang lao động và cống hiến âm thầm cho sự
nghiệp xây dựng đất nớc. ở họ tốt lên những vẻ đẹp của lí tng sng.
<i><b>1. Đó là anh thanh niên:</b></i>
- Nhõn vt chớnh trong truyện làm cơng tác khí tợng kiêm vật lý địa cầu. Sống một mình trên đỉnh
núi Yên Sơn cao 2600m, quanh năm suốt tháng giữa cỏ cây và mây núi Sa Pa. Cơng việc của anh là: đo
gió, đo ma, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dựa vào công việc báo trớc thời tiết hàng ngày, phục
vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu.
<i><b>- Vợt lên hoàn cảnh sống, những vất vả của cơng việc, anh có những suy nghĩ rất đẹp:</b></i>
+ Đối với công việc, anh u nó tới mức trong khi mọi ngời cịn ái ngại cho cuộc sống ở độ cao
2600m của anh thì anh lại ớc ao đợc làm việc ở độ cao trên 3000m. Vì anh cho nh vậy mới gọi là lý tởng.
+ Anh có những suy nghĩ thật đúng và sâu sắc về công việc đối với cuộc sống con ngời: “khi ta
làm việc, ta với công việc là một, sao lại gọi là một mình đợc” và anh hiểu rằng cơng việc của anh cịn gắn
với cơng việc của bao anh em đồng chí dới kia. “Cơng việc của cháu gian khổ thật đấy chứ cất nó đi, cháu
buồn đến chết mất”.
+ Mặc dù chỉ có một mình, khơng ngời giám sát, anh đã vợt qua những gian khổ của hoàn cảnh,
làm việc một cách nghiêm túc, tự giác với tinh thần trách nhiệm cao. Nửa đêm, đúng giờ “ốp”, dù ma
tuyết giá lạnh thế nào anh cũng trở dậy ra ngoài trời làm việc. Ngày nào cũng vậy, anh làm việc một cách
đều đặn, chính xác đủ 4 lần trong một ngày vào lúc 4 giờ, 11 giờ, 7 giờ tối và 1 giờ sáng.
+ Quan niệm của anh về hạnh phúc thật là đơn giản nhng cũng thật đẹp. Khi biết một lần do phát
hiện kịp thời một đám mây khơ mà anh đã góp phần vào chiến thắng của không quân ta bắn rơi đ ợc máy
bay Mỹ trên cầu Hàm Rồng, anh thấy mình “thật hạnh phúc”.
+ Nhng cái gian khổ nhất là vợt qua đợc sự cô đơn, vắng vẻ quanh năm suốt tháng một mình trên
đỉnh núi cao, khơng một bóng ngời. Mới đầu, anh “thèm ngời” tới mức phải lấy cây chắn ngang đờng ô tô
để đợc nghe tiếng ngời ! Về sau anh nghĩ: “Nếu đó chỉ là nỗi nhớ phồn hoa đơ thị thì thật xồng” và anh
đã vợt qua để sống, làm việc một mình với cỏ cây thiên nhiên Sa Pa, để trở thành: “con ng ời cô độc nhất
thế gian” mà bất cứ ai đã một lần gặp anh đều mang theo ấn tợng đẹp đẽ.
=> Là ngời làm cơng tác khí tợng thờng xun tiếp xúc với máy móc, nhng anh khơng giống một cái máy
nghĩa là không khô khan cứng nhắc. Tâm hồn anh luôn lạc quan yêu đời, sống chân thành, cởi mở và rất
khiêm tốn.
<i><b>- Anh cịn có một nếp sống đẹp: </b></i>
+ Cuộc sống của anh không cô đơn buồn tủi nh ngời khác nghĩ. Bởi anh còn biết tạo niềm vui
trong cơng việc, đó là đọc sách. Vì sách chính là ngời bạn để anh “trị chuyện”. Nhờ có sách mà anh
chống trọi đợc với sự vắng lặng quanh năm. Nhờ có sách mà anh tiếp tục học hành, mở mang kiến thức.
+ Anh tự sắp xếp cuộc sống một mình ở trạm một cách ngăn nắp: có một vờn rau xanh tốt, một đàn
gà đẻ trứng, một vờn hoa rực rỡ.
<i><b>- ở ngời thanh niên ấy còn có một phong cách sống rất đẹp:</b></i>
+ Đó là sự cởi mở, chân thành với khách, rất qúy trọng tình cảm của mọi ngời, khao khát đợc gặp
gỡ, đợc trò chuyện. Dẫu phải sống một mình nhng anh vẫn ln quan tâm tới ngời khác: anh gửi biếu gói
tam thất cho vợ bác lái xe vừa bị ốm, tặng hoa cho cô gái, mời bác lái xe và ông hoạ sĩ uống trà, tặng cho
ngời đi xa một giỏ trứng gà tơi.
<b>- Anh còn là ngời khiêm tốn, thành thực cảm thấy cơng việc và những đóng góp của mình chỉ là</b>
nhỏ bé. Khi ông hoạ sĩ muốn vẽ chân dung anh, anh nhiệt tình giới thiệu với ơng những ng ời khác mà anh
cho rằng đáng cảm phục hơn anh.
<i><b>2) Ta còn bắt gặp ở đất Sa Pa những con ngời làm việc âm thầm, lặng lẽ cho đất nớc qua lời kể</b></i>
<i><b>của anh thanh niên:</b></i>
<i><b>a) Đó là ơng kỹ s vờn rau: Ngày này qua ngày khác ngồi trong vờn, chăm chú rình xem cách lấy</b></i>
mật của ong để rồi tự tay thụ phấn cho hoa, nghiên cứu để tìm ra giống cây mới đem lại năng suất cao làm
giàu cho đất nớc. cúng say mê nh thế là:
<i><b>b) Đó là anh cán bộ nghiên cứu sét: đã “11 năm không một ngày xa cơ quan” luôn “trong t thế</b></i>
sẵn sàng, suốt ngày chờ sét” để lập bản đồ tìm ra tài ngun trong lịng đất.
mài lao động trên những vùng núi cao xa xôi của Tổ quốc. Những điều họ nghĩ, những việc họ làm đều
trong sáng và cao quí đến mức khiến ta ngạc nhiên và khâm phục. Họ có lý tởng sống đẹp: sống cống hiến
cho dân tộc, cho nhân dân, sống có ý nghĩa sẽ mang đến cho con ngời niềm vui và hạnh phúc.
- Cuộc sống lao động giản dị nhng cao đẹp làm nên vẻ đẹp đích thực của mỗi con ngời, có sức
* Tóm lại, trong truyện khơng ai có một tên riêng. Họ đến từ những vùng quê khác nhau, nghề
nghiệp, lứa tuổi, hoàn cảnh khác nhau nhng đều ngời sáng lên những vẻ đẹp đáng quí, đáng khâm phục.
Vẻ đẹp ấy càng bừng sáng hơn trên nền thiên nhiên thơ mộng của mây trời, sơng núi Sa pa. Viết về họ
phải chăng tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và lý tởng sống của những con ngời lao động mới trên
khắp mọi miền của Tổ Quốc.
<b>III. KÕt bµi:</b>
Truyện LLSP của NTL là một tác phẩm rất hiện thực, giàu chất trữ tình và chất thơ. Truyện đã giúp
ta hiểu đợc một Sa pa không lặng lẽ bởi ở đó có những con ngời lao động thầm lặng cống hiến cho Tổ
Quốc. Họ là tiêu biểu cho lớp trí thức cống hiến hết mình cho đất nớc. Đọc “Lặng lẽ Sa Pa” khiến lòng ta
ngân lên những rung động nhẹ nhàng mà thú vị về những con ngời âm thầm lặng lẽ nhng thật đáng yêu.
Họ đã dệt lên bài ca về tình yêu tổ quốc, tình yêu đất nớc.
Đề 3: LLSP là một truyện ngắn giàu chất trữ tình và giàu chất thơ. Hãy phân tích truyện để làm sáng tỏ ý
kiến trên.
- MB phải đa đợc nhận định đây là truyện ngắn giàu chất trữ tình và chất thơ.
- Chất thơ đợc thể hiện trong đoạn miêu tả cảnh thiên nhiên.
- chất thơ đợc toát lên từ vẻ đẹp tâm hồn của các nhân vật:
+ Anh thanh niên
+ Bác tài: vui tính, ln quan tâm đến ngời khác
+ Ông họa sĩ đến tuổi về hu vẫn muốn cống hiến.
+ Cô kỹ s trẻ mới ra trờng muốn khám phá miền đất mới.
+ Anh kỹ s vờn rau, ông cán bộ nghiên cứu sét.
- Chất thơ thể hiện qua nghệ thuật đặc sắc của truyện: ngôn ngữ giàu chất thơ, trong sáng, chọn lọc, nghệ
thuật tả cảnh đặc sắc giàu chất tạo hình
- Tên truyện cũng giàu chất thơ: vừa gợi vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên sa pa, vừa gợi chủ đề của truyện.
<b>truyện hiện đại việt nam</b>