.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------
LÂM TUYẾT HOA
NGHIÊN CỨU TẬP HUẤN ĐIỀU DƯỠNG
SỬ DỤNG THANG ĐIỂM ALDRETE
ĐÁNH GIÁ NGƯỜI BỆNH PHỊNG HỒI TỈNH
LUẬN VĂN CAO HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------
LÂM TUYẾT HOA
NGHIÊN CỨU TẬP HUẤN ĐIỀU DƯỠNG
SỬ DỤNG THANG ĐIỂM ALDRETE
ĐÁNH GIÁ NGƯỜI BỆNH PHÒNG HỒI TỈNH
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS.BS TRẦN THIỆN TRUNG
GS.TS SARA JARRETT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi. Số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ cơng
trình nào.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày
tháng
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Lâm Tuyết Hoa
.
năm
.
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT ................................................................................. i
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................. iii
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ........................................................................... 5
Mục tiêu tổng quát ................................................................................... 5
Mục tiêu cụ thể ........................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................ 6
1.1
Đặc điểm phòng hồi tỉnh ...................................................................... 6
1.2
Nhiệm vụ điều dưỡng phịng hồi tỉnh................................................... 7
1.3
Gây mê tồn diện .................................................................................. 9
1.4
Q trình hồi phục sau gây mê ........................................................... 10
1.5
Quy trình chăm sóc tại phòng hồi tỉnh ............................................... 11
1.6
Các biến chứng hậu phẫu cần theo dõi ............................................... 12
1.7
Thang điểm Aldrete ............................................................................ 15
1.8
Các nghiên cứu liên quan ................................................................... 17
1.9
Mơ hình học thuyết ............................................................................. 18
1.10 Sơ lược về bệnh viện Quận Thủ Đức ................................................. 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......... 22
2.1
Đối tượng và thiết kế nghiên cứu .................................................... 22
2.1.1 Thiết kế nghiên cứu ......................................................................... 22
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu ........................................................................ 22
2.1.3 Thời gian nghiên cứu ....................................................................... 22
2.1.4 Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 22
2.2
Phương pháp chọn mẫu ................................................................... 22
2.2.1 Cỡ mẫu ............................................................................................. 22
2.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu ........................................................................... 22
.
.
2.3
Chương trình tập huấn .................................................................... 23
2.4
Phương pháp thu thập số liệu.......................................................... 23
2.5
Công cụ thu thập số liệu................................................................... 26
2.6
Liệt kê và định nghĩa các biến số .................................................... 28
2.7
Nhập liệu và phân tích dự liệu......................................................... 33
2.8
Kiểm sốt sai lệch ............................................................................. 34
2.9
Đạo đức trong nghiên cứu ............................................................... 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ............................................................................... 36
3.1. Các đặc tính của mẫu nghiên cứu......................................................... 36
3.1.1. Nhóm tuổi .......................................................................................... 36
3.1.2. Giới..................................................................................................... 37
3.1.3. Trình độ học vấn ................................................................................ 38
3.1.4. Năm kinh nghiệm ............................................................................... 39
3.1 Kiến thức và thực hành trong đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh
của điều dưỡng trước và sau tập huấn ........................................................ 40
3.2.1 Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang
điểm Aldrete của điều dưỡng trước tập huấn............................................... 40
3.2.2 Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang
điểm Aldrete của điều dưỡng sau tập huấn .................................................. 41
3.2.3 Thực hành trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang
điểm Aldrete của điều dưỡng sau tập huấn so với trước tập huấn............... 42
3.2 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với
đánh giá của bác sĩ trước và sau tập huấn.................................................. 43
3.2.1 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với
đánh giá của bác sĩ trước tập huấn ............................................................... 43
3.2.2 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với
đánh giá của bác sĩ sau tập huấn .................................................................. 45
3.2.4 Quyết định chuyển BN của điều dưỡng phù hợp với bác sĩ trước và
sau tập huấn .................................................................................................. 50
3.3 Sự hài lòng của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete để
đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh ...................................................... 51
.
.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ............................................................................ 54
4.1
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu ............................................................ 54
4.2 Kiến thức và thực hành trong đánh giá người bệnh của điều dưỡng trước
và sau tập huấn ................................................................................................ 58
4.3 Đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh của điều dưỡng phù hợp với đánh
giá của bác sĩ trước và sau tập huấn ................................................................ 60
4.4 Sự hài lòng của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá
người bệnh tại phòng hồi tỉnh ......................................................................... 63
4.5
Hạn chế của nghiên cứu ......................................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 65
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. a
PHỤ LỤC 1 ...................................................................................................... e
PHỤ LỤC 2 ....................................................................................................... f
PHỤ LỤC 3 ...................................................................................................... g
PHỤ LỤC 4 ...................................................................................................... h
PHỤ LỤC 5 ....................................................................................................... i
PHỤ LỤC 6 ....................................................................................................... j
.
.
DANH MỤC VIẾT TẮT
PACUs
PADSS
SPEEDS
Postanesthesia Care
Units
Phòng phục hồi sau
phẫu thuật
Post anaesthetic
discharge scoring
system
Thang điểm đánh giá
xuất viện sau gây mê
Saturation, Pain,
Extremit movement,
Emesis, Dialogue,
Stable vitals signs
Độ bão hòa oxy
máu, đau, vận động
tứ chi, nơn ói, giao
tiếp, dấu hiệu sinh
tồn ổn định
Bệnh nhân
BN
.
.
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Biến số và định nghĩa biến số ......................................................... 21
Bảng 3.1. Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo thang
điểm Aldrete của điều dưỡng trước tập huấn ................................................ 33
Bảng 3.2. Kiến thức trong đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh theo
thang điểm Aldrete của điều dưỡng sau tập huấn ........................................ 34
Bảng 3.3. Tổng điểm của bệnh nhân theo thang Aldrete và quyết định
chuyển khoa/phòng của điều dưỡng trước và sau tập huấn ........................... 35
Bảng 3.4. Thực hành ra quyết định chuyển bệnh nhân của điều dưỡng
được đánh giá theo thang điểm Aldrete trước và sau tập huấn ..................... 35
Bảng 3.5. Tỉ lệ phù hợp đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh của
điều dưỡng với bác sĩ trước và sau tập huấn ................................................. 40
Bảng 3.5. Tỉ lệ phù hợp đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh của
điều dưỡng với bác sĩ trước và sau tập huấn .................................................. 42
Bảng 3.7. Quyết định chuyển bệnh nhân của của điều dưỡng phù hợp
với quyết định của bác sĩ trước và sau tập huấn ........................................... 43
Bảng 3.9. Sự đồng thuận của điều dưỡng khi sử dụng thang điểm Aldrete
để đánh giá người bệnh tại phòng hồi tỉnh ..................................................... 44
.
.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Nhóm tuổi .................................................................................. 29
Biểu đồ 3.2. Giới ............................................................................................ 30
Biểu đồ 3.3. Trình độ học vấn ........................................................................ 31
Biểu đồ 3.4. Số năm kinh nghiệm .................................................................. 32
Biểu đồ 3.5. Đánh giá của điều dưỡng về thang Aldrete so với đánh giá của
bác sĩ trên cùng bệnh nhân trước tập huấn ..................................................... 36
Biểu đồ 3.6. Đánh giá của điều dưỡng về thang Aldrete so với đánh giá của
bác sĩ trên cùng bệnh nhân sau tập huấn ........................................................ 38
Biểu đồ 3.7. Điểm tổng đánh giá của điều dưỡng và bác sĩ trên cùng bệnh
nhân trước tập huấn ........................................................................................ 41
Biểu đồ 3.8. Điểm tổng đánh giá của điều dưỡng và bác sĩ trên cùng bệnh
nhân sau tập huấn (p=0,15) ............................................................................. 41
.
.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật là kỹ thuật mổ xẻ nhằm loại bỏ hoặc sửa chữa các tạng hư
hỏng trong cơ thể con người, với mục đích đưa cơ thể trở về trạng thái bình
thường hoặc gần như bình thường. Thành công của nhiều phẫu thuật, đặc biệt
là những phẫu thuật phức tạp, phụ thuộc vào các biện pháp chăm sóc, điều trị
tích cực trực tiếp ở giai đoạn ngay sau cuộc mổ. Để đạt được mục đích này thì
khu phịng mổ sẽ được gắn liền với với phịng chăm sóc sau gây mê là
Postanesthesia Care Units (PACUs) hay còn được gọi là phòng phục hồi sau
gây mê hoặc phòng hồi tỉnh, đây là tiêu chuẩn không thể thiếu của bệnh viện
[39].
Sự hồi phục sau gây mê được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn hồi phục
sớm (giai đoạn I), hồi phục trung gian (giai đoạn II), và hồi phục muộn (giai
đoạn III). Sau khoảng thời gian phẫu thuật trong phòng mổ, ở những bệnh
nhân được gây mê thì khoảng thời gian thốt mê được coi là rất quan trọng, vì
đây là giai đoạn mà bệnh nhân gặp nhiều rối loạn sinh lý bao gồm hệ hơ hấp,
tuần hồn, thần kinh trung ương, tiêu hóa, thận niệu, cho đến hệ cơ xương
khóp cũng như hệ nội tiết [8], [9], [10], [33]. Các biến chứng liên quan đến
gây mê đã được đề cập sớm từ giữa thế kỷ thứ 19 khi mà lần đầu tiên sử dụng
gây mê theo đường hô hấp [35]. Theo hiệp hội phẫu thuật ngoại trú liên bang
Mỹ (FASA) thì tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ở những cuộc mổ kéo dài
dưới 1 giờ là 1/115 bệnh nhân, trong khi đó nếu các phẫu thuật địi hỏi gây mê
trên 2 giờ thì tỷ lệ biến chứng là 1/48 bệnh nhân [11]. Theo đó các biến chứng
thường gặp trong khoảng thời gian hậu phẫu có triệu chứng buồn nôn và nôn
là 9.8%, thiếu oxy và cần hỗ trợ đường thở trên 6,8%, hạ thân nhiệt và run 565%, mê sảng ở bệnh nhân lớn tuổi 10% (ở những người trên 50 tuổi), hạ
huyết áp (2,7%) [17]. Điều này cho thấy tính chất quan trọng của cơng tác
chăm sóc người bệnh tại phòng hồi tỉnh.
.
.
Chăm sóc hậu phẫu hay quản lý người bệnh sau phẫu thuật được bắt đầu
ngay từ khi cuộc phẫu thuật kết thúc cho đến khi người bệnh trở về trạng thái
sinh lý ban đầu lúc chưa phẫu thuật. Vì vậy người bệnh cần được theo dõi
chăm sóc một cách đặc biệt của các bác sĩ, điều dưỡng có khả năng và kinh
nghiệm, đồng thời cũng cần có đầy đủ các phương tiện để theo dõi, giúp giảm
tử vong và biến chứng xảy ra sau phẫu thuật [21]. Bên cạnh đó, khi khơng thể
theo dõi tình trạng bệnh nhân đang dần xấu đi và xử lý chậm trễ, có thể dẫn
đến bệnh nhân tăng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng, thậm chí là tử vong
[40]. Một nghiên cứu vào năm 1990, cứ mỗi phút khi bệnh nhân nằm trong
phịng chăm sóc đặc biệt, phòng hồi tỉnh cũng như nằm trên bàn mổ thì chúng
ta phải tiêu tốn hết 20 USD, khơng tính tiền chi trả cho chất xám và thời gian
sau mổ [8].
Trên thế giới có nhiều hướng dẫn về quản lý bệnh nhân thời gian hậu
phẫu được phát triển và thực hiện [50], tuy nhiên đa số chỉ nói về vai trò của
bác sĩ gây mê- người chịu trách nhiệm chính cho bệnh nhân của mình đến khi
rời phịng hồi tỉnh để về khoa/phịng, trong khi đó trách nhiệm đánh giá sự
sẵn sàng của bệnh nhân để rời phòng hồi tỉnh thường giao cho điều dưỡng đã
được đào tạo. Người điều dưỡng sẽ gặp khó khăn trong việc quyết định thời
gian cho bệnh nhân ra khỏi hậu phẫu vì cần có y lệnh của bác sĩ gây mê, sự
chờ đợi hồ sơ cũng như ý kiến đánh giá là một trong những nguyên nhân gây
chậm trễ [15], [23]. Một nghiên cứu cho thấy 76% bệnh nhân đã bị trì hỗn
vận chuyển ra khỏi PACU, trong đó 26% bệnh nhân đã phải chờ đến 30 phút
[23]. Khoảng thời gian không cần thiết mà bệnh nhân phải ở lại phòng hồi
tỉnh này có thể gây tồn đọng hồ sơ làm chậm lịch trình phẫu thuật dẫn đến
ảnh hưởng tới dịch vụ chăm sóc, làm tăng chi phí điều trị, cũng như sự hài
lịng của bệnh nhân, thân nhân. Theo đó nghiên cứu tại Porto Alegre đã kết
luận có mối tương quan chặt chẽ giữa khối lượng công việc điều dưỡng và
.
.
thời gian BN ở lại đơn vị chăm sóc sau gây mê [15], [18], [29]. Chính vì lý do
đó mà các tiêu chí, các quy định của bệnh viện hay hệ thống tính điểm cho
BN từ phịng hồi tỉnh chuyển về khoa/phòng cần được sử dụng.
Năm 1970, Aldrete and Kroulik [13] đã thiết kế một hệ thống tính điểm
nhằm đánh giá sự hồi phục sau gây mê và trong thời gian đó khơng có một
cơng cụ nào được xác nhận là an tồn cho BN rời phịng hồi tỉnh [35]. Aldrete
đã nhận ra sự cần thiết của một công cụ giám sát có thể sử dụng để chuẩn hóa
việc chăm sóc bệnh nhân phẫu thuật trên tồn thế giới. Vào năm 1995, ông đã
cải tiến thang đo này do nhu cầu phẫu thuật trong ngày, đó là đưa SpO2 vào
tiêu chuẩn chăm sóc thay vì trước đó sử dụng chỉ số màu da để đánh giá độ
bão hòa oxy trong máu [12]. Hệ thống tính điểm của Aldrete [16] gồm 5 lĩnh
vục, với điểm 0, 1, hoặc 2 cho mỗi lĩnh vực , điểm tối đa là 10 và chỉ cần đạt
được 9/10 điểm bệnh nhân đã có đủ tiêu chuẩn rời phịng hồi tỉnh. Do tính dễ
sử dụng, thang điểm Aldrete đã trở thành tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng về sự
hồi phục thể chất của bệnh nhân trong nhiều PACU trên toàn thế giới.
Mặc dù thang điếm Aldrete khá phổ biến trên thế giới, nhưng hiện nay
tại Việt Nam chỉ có các bệnh viện quốc tế và một số bệnh viện lớn đã áp dụng
làm tiêu chuẩn đánh giá người bệnh có đủ điều kiện rời phịng hồi tỉnh [7].
Nghiên cứu của Dowling năm 2015 đã khuyến cáo rằng điều dưỡng cần được
hướng dẫn sử dụng và huấn luyện định kỳ để có thể sử dụng tốt và hiệu quả
thang điểm Aldrete, cũng như thống nhất với các thành viên trong đội chăm
sóc, bao gồm cả bác sĩ.
Hiện tại, khoa Gây mê Hồi sức bệnh viện quận Thủ Đức đã có quy trình
sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnh phịng hồi tỉnh, tuy nhiên
chưa có nghiên cứu nào khảo sát về mức độ sử dụng cũng như kiến thức, thực
hành của điều dưỡng. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tập huấn
.
.
điều dưỡng sử dụng thang điểm Aldrete đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh”
nhằm thống kê tỉ lệ điều dưỡng có thực hiện đúng hay sai và sau tập huấn các
điều dưỡng ấy có thay đổi kiến thức, thực hành của mình hay khơng.
.
.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Điều dưỡng sẽ cải thiện như thế nào về kiến thức và thực hành sau khi
được tập huấn sử dụng thang điểm Aldrete để đánh giá người bệnh tại phòng
hồi tỉnh là bao nhiêu?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu hiệu quả tập huấn điều dưỡng sử dụng thang điểm Aldrete
đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh tại bệnh viện quận Thủ Đức.
Mục tiêu cụ thể
1. Xác định tỷ lệ điều dưỡng có cải thiện về kiến thức và thực hành
trong đánh giá người bệnh phòng hồi tỉnh sau tập huấn.
2. Khảo sát tỷ lệ điều dưỡng đánh giá đúng theo thang điểm Aldrete.
.
.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm phòng hồi tỉnh
Vào thế kỷ thứ 19 khi mà phương pháp gây mê đã được sử dụng hơn
160 năm thì PACU chỉ mới phổ biến trong khoảng 50 năm qua, đươc giới
thiệu và trở thành cơ sở tiên phong cho sự hồi phục của bệnh nhân ngay sau
phẫu phuật vào năm 1923 [24], [44]. Phòng hồi sức thường được nối liền với
phòng mổ bằng dãy hành lang kín, bằng phẳng, mục đích là để có thể vận
chuyển bệnh nhân trở lại phịng mổ một cách nhanh chóng, an tồn nếu cần
và cũng dễ dàng hơn cho việc thăm khám liên tục của phẫu thuật viên và bác
sĩ gây mê.
Quy mơ phịng có thể tùy theo từng bệnh viện nhưng số giường bệnh
phải đáp ứng đủ cho số lượng bệnh nhân mổ dự kiến tối đa. Theo quy định
của Bộ Y Tế thì diện tích cho một giường bệnh là 36m2/ giường, trần nhà phải
phủ vật liệu nhân tạo chống mài mòn, chống nấm móc, chống tĩnh điện, tường
sử dụng vật liệu chịu nước, chất tẩy khuẩn và có sơn kháng khuẩn,có hệ thống
chiếu sáng, phịng - chữa cháy, cấp khơng khí sạch, các hệ thống máy móc kỹ
thuật, nhiệt độ dao động từ 21oC- 24oC [6].
Trong giai đoạn hồi tỉnh người bệnh sẽ rất dễ bị kích thích bởi các tác
động bên ngồi như tiếng ồn, vì vậy phịng cũng cần phải được n tĩnh và ở
mỗi giường bệnh phải có chng gọi khẩn cấp cho bệnh nhân sử dụng khi
cần. Ngoài khơng gian giường bệnh, phịng hồi tỉnh cịn có khu vực trung tâm
cho bác sĩ, điều dưỡng lưu trữ hồ sơ bệnh án, thuốc và các thiết bị cần thiết,
tất nhiên khu vực đó phải là khơng gian mở để có thể theo dõi sát bệnh nhân.
Mục tiêu chăm sóc của phịng hậu phẫu là chăm sóc người bệnh cho
đến khi hết thuốc mê, dấu hiệu sinh tồn ổn định, người bệnh khơng cịn chảy
máu, người bệnh định hướng được (trừ trường hợp về sọ não) thì chuyển sang
.
.
trại bệnh, thường phòng hậu phẫu chỉ lưu người bệnh trong 24 giờ sau mổ.
Nếu sau thời gian này tình trạng bệnh trở nặng thì người bệnh sẽ được chuyển
sang phịng hồi sức tích cực. Nhân lực cho phịng hồi tỉnh tối thiểu gồm một
bác sỹ gây mê – hồi sức, điều dưỡng viên (số lượng điều dưỡng viên tuỳ
thuộc vào số giường hồi tỉnh với tỷ lệ hai điều dưỡng viên phụ trách năm
giường bệnh và một hộ lý [5].
Phòng hồi tỉnh tại bệnh viện quận Thủ Đức nối liền với khu phịng mổ
bằng một hành lang có diện tích khoảng 1,5-1,8m2 , sử dụng hệ thống cửa tự
động. Bên trong có 15 giường (gấp 2 lần số bàn phẫu thuật là 7 bàn) cùng 15
monitor theo dõi SpO2, huyết áp, điện tim, nhiệt độ và nhịp thở; mỗi giường
đều được trang bị chuông gọi khẩn cấp, hệ thống oxy âm tường. Ngồi ra,
phịng hồi tỉnh có 2 máy hút đàm di động, 1 máy sốc điện, 3 đèn hồng ngoại
sười ấm bệnh nhân. Mỗi giường đều có cây dịch truyền riêng và có thêm 3
cây dịch truyền di động, khoa cũng trang bị 2 máy làm ấm máu-dịch truyền.
Hiện tại, phịng hồi tỉnh có 1 bộ dụng cụ để cấp cứu đường thở và 2 máy thở.
Nhiệt độ phòng đảm bảo nhờ hệ thống 4 máy lạnh, đầy đủ đèn và sáng sủa,
thường xuyên được kiểm tra và bảo trì. Phịng hành chánh ngay sát cạnh
phịng hồi tỉnh và có cửa sổ lớn để có thể thao dõi bên ngồi, trong đó có các
tủ thuốc với cơ số rõ ràng.
1.2 Nhiệm vụ điều dưỡng phòng hồi tỉnh
Bộ Y Tế Việt Nam [5] quy định về nhân lực của khoa Gây mê-hồi sức
bộ phận hồi tỉnh gồm: 1 bác sĩ gây mê, số lượng điều dưỡng viên tùy thuộc
vào số giường bệnh với tỷ lệ 2 điều dưỡng phụ trách 5 giường bệnh, và 1 hộ
lý. Ngồi ra, thơng tư cũng có hướng dẫn nhiệm vụ của người điều dưỡng tại
bộ phận hồi tỉnh rõ ràng:
.
.
- Theo dõi, phát hiện và xử trí cấp cứu ban đầu kịp thời trong phạm vi
cho phép.
- Chuẩn bị đầy đủ giường bệnh, trang thiết bị, vật tư tiêu hao sẵn sàng
đón người bệnh từ phịng mổ.
- Phụ giúp bác sĩ gây mê – hồi sức trong thăm khám và điều trị người
bệnh tại bộ phận.
- Đánh giá người bệnh theo các thang điểm quy định.
- Theo dõi, ghi chép đầy đủ, chính xác, trung thực diễn biến của
người bệnh, việc thực hiện y lệnh vào bảng theo dõi và hồ sơ bệnh
án.
Califonia [38] là tiểu bang duy nhất đã hợp pháp được tỉ lệ điều dưỡng:
bệnh nhân tối thiểu bắt buộc phải duy trì mọi lúc trong từng khoa/phịng.
Trong đó tỷ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân trong phòng hồi tỉnh là 1:2.
Sau khi ra khỏi phòng mổ, bệnh nhân sẽ được bàn giao từ điều dưỡng
phòng mổ sang điều dưỡng phịng hồi tỉnh. Ngay sau đó người điều dưỡng
hồi tỉnh phải nhận định tình trạng người bệnh, bao gồm: dấu hiệu sinh tồn, tri
giác, tình trạng vết mổ, dẫn lưu, bệnh, loại phẫu thuật… Họ là người chịu
trách nhiệm quan sát và chăm sóc sau phẫu thuật cho bệnh nhân và đảm bảo
rằng họ tỉnh táo một cách an toàn sau gây mê. Cũng như điều dưỡng ở các vị
trí khác, điều dưỡng phịng hồi tỉnh cũng làm việc trong mơi trường có nhịp
độ nhanh, phải nhanh chóng đưa ra quyết định quan trọng nhằm cung cấp
dịch vụ chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân, cần siêng năng theo dõi người bệnh
khi đang thoát khỏi thuốc an thần và hành động ngay lập tức nếu có bất kỳ
biến chứng nào xảy ra. Phần lớn điều dưỡng làm việc tại PACU là niềm an ủi
cho bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật vì họ có thể cảm thấy sợ hãi và bối rối
khi mới thức dậy và thuốc mê có thể làm trầm trọng thêm cảm giác đó ở một
.
.
số bệnh nhân, vì vậy một điều dưỡng thành cơng sẽ có thể xử lý tình huống
này một cách cẩn thận để bệnh nhân an tâm và tiếp tục hồi phục. Bên cạnh đó,
điều dưỡng phịng hồi tỉnh cịn có vai trò liên lạc với người nhà bệnh nhân, họ
cần kỹ năng giao tiếp tốt để có thể truyền đạt rõ ràng các hướng dẫn và trả lời
bất kỳ câu hỏi nào.
Tại phòng hồi tỉnh bệnh viện quận Thủ Đức, điều dường được chia làm 2
ca: sáng từ 7g đến 16g và đêm từ 16g đến 7g sáng hôm sau. Thơng thường ca
sáng sẽ có 4 đến 5 điều dưỡng tham gia chăm sóc trực tiếp người bệnh và 1
điều dưỡng hành chánh làm công việc liên quan đến thuốc và vật tư y tế. Ca
đêm có 3 đến 4 điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân và khơng có điều dưỡng
hành chánh. Như vậy, tỉ lệ điều dưỡng trên bệnh nhân khoảng 1:3. Tuy nhiên,
khác với các bệnh viện khác, điều dưỡng tại phòng hồi tỉnh bệnh viện quận
Thủ Đức có trách nhiệm vận chuyển người bệnh về khoa/phịng; vì vậy, nhóm
điều dưỡng tham gia chăm sóc trực tiếp sẽ phân công một nửa ở tại khoa làm
hồ sơ bệnh án và một nửa sẽ vận chuyển người bệnh về khoa/phịng khi có y
lệnh.
1.3 Gây mê tồn diện
Hiện nay, phương pháp gây mê tồn diện[3] có khuynh hướng sử dụng
nhiều, do có ưu điểm là mê ổn định, tránh được quá liều thuốc mê. Trong
phương pháp này, bác sĩ sẽ khởi mê bằng thuốc mê đường tĩnh mạch, duy trì
mê với thuốc mê hơi. Khí mê sẽ qua đường nội khí quản cùng với thuốc giảm
đau họ morphine và thuốc giãn cơ qua đường tĩnh mạch. Ngoài ra, bác sĩ có
thể khởi mê bằng khí mê, thuốc mê hơi qua đường hơ hấp, sau đó đăt nội khí
quản rồi duy trì mê bằng thuốc mê hơi, khí mê qua đường nội khí quản cùng
thuốc giảm đau họ morphine và thuốc giãn cơ qua đường tình mạch. Bên cạnh
đó, phương pháp này còn được phát triển cao hơn bằng kỹ thuật sử dụng các
.
0.
thuốc mê hơi, khí mê để gây mê với hệ thống mê kín, qua đó họ sẽ áp dụng kỹ
thuật gây mê với lưu lượng cao, lưu lượng trung bình, lưu lượng thấp hoặc tối
thiểu.
Với phương pháp gây mê này, bệnh nhân sẽ ít bị biến loạn tuần hồn, hơ
hấp, an tồn, giảm tai biến q liều thuốc mê, ít biến chứng gây mê, tiết kiệm
thuốc mê, tránh được ô nhiễm môi trường và tạo điều kiện tốt cho phẫu thuật.
1.4 Quá trình hồi phục sau gây mê
Ngay sau khi ngừng gây mê, ở mỗi bệnh viện sẽ có tiêu chí khác nhau
để chuyển bệnh từ phịng mổ sang phịng hậu phẫu. Tại Mỹ, một số cơ sở yêu
cầu bệnh nhân phải lấy lại được các phản xạ của cơ thể, tỉnh táo và có thể đáp
ứng các mệnh lệnh cơ bản, trong khi đó ở Anh lại chuyển bệnh nhân khi họ
vẫn còn đang ngủ, chưa lấy lại ý thức và chuyển đến phịng hậu phẫu để có
thể tỉnh dậy một cách tự nhiên [44]. Phục hồi sau phẫu thuật là một q trình
liên tục, trong đó bệnh nhân sẽ khơng được coi là hồn tồn phục hồi nếu như
chưa trở về trạng thái sinh lý trước phẫu thuật. Tồn bộ q trình này có thể
kéo dài vài ngày, nhưng nó có thể được chia làm ba giai đoạn riêng biệt [19]:
- Giai đoạn I: giai đoạn phục hồi sớm, bắt đầu từ lúc bệnh nhân được
ngừng gây mê cho đến khi đã phục hồi được các phản xạ, chức năng
vận động, và thường diễn ra trong đơn vị chăm sóc đặc biệt vì bệnh
nhân cần được theo dõi, giám sát một cách chặt chẽ.
- Giai đoạn II: giai đoạn phục hồi trung gian, thường diễn ra ở các khoa,
phịng lâm sàng, khi đó người bệnh sẽ được cung cấp thức ăn, nước
uống và sẵn sàng về nhà.
- Giai đoạn III: giai đoạn phục hồi muộn là lúc bệnh nhân được xuất viện
và trải qua quá trình bình phục hồn tồn tại nhà. Q trình này có thể
kéo dài đến 6 tuần [20].
.
1.
Khi bệnh nhân được đánh giá đã hồi phục đủ và sẵn sàng chuyển sang
giai đoạn II thì thang điểm Aldrete có thể được sử dụng [13].
1.5 Quy trình chăm sóc tại phịng hồi tỉnh
Khoa Hồi sức sau mổ được trang bị đội ngũ nhân viên có trình độ
chun mơn tốt, yêu nghề, làm việc nghiêm túc và phải thường xuyên theo
dõi đánh giá tình trạng bệnh nhân. Để hạn chế cũng như tránh các thiếu sót,
cần chăm sóc theo thứ tự ưu tiên các cơ quan như sau: chăm sóc tồn thể tồn
diện, cơ quan hơ hấp, tuần hồn, thần kinh trung ương, tiêu hóa, tiết niệu, vận
động và đặc biệt là cơ quan phẫu thuật vừa xong [8]:
Hơ hấp
Mục đích chính là duy trì thơng khí phổi và phòng ngừa thiếu oxy máu.
Những trường hợp mổ lớn thường sử dụng phương pháp gây mê nội khí quản,
vì vậy cần chú ý đánh giá bệnh nhân đã rút nội khí quản được chưa đồng thời
theo dõi sát hơ hấp người bệnh.
-
Chú ý quan sát tần số, tính chất nhịp thở, các dấu hiệu khó thở.
- Ln cung cấp đủ oxy, qua nội khí quản, mặt nạ hay oxy 2 nhánh.
- Làm sạch đường thở bằng cách hút đàm nhớt, chất nôn, cần nghe phổi
trước và sau khi hút đàm.
- Ngồi ra tư thế người bệnh cũng khơng kém phần quan trọng, ở những
bệnh còn mê cho nằm đầu bằng, mặt nghiêng một bên, kê gối sau lưng,
còn ở những bệnh nhân tỉnh thì nên nằm tư thế fowler đồng thời hướng
dẫn họ cách tập thở, hít thở sâu.
Tim mạch
Người bệnh có nguy cơ bị hạ huyết áp, tăng huyết áp hay rối loạn nhịp
tim, người điều dưỡng cần:
.
2.
- Nhận định, theo dõi: mạch, huyết áp và ghi thành biểu đồ.
- Phát hiện máu chảy qua vết mổ, ống dẫn lưu.
- Quan sát tình trạng da niêm cũng như lượng nước xuất nhập thường
xuyên.
- Nâng đỡ bệnh nhân nhẹ nhàng tránh tụt huyết áp tư thế
- Thực hiện truyền dịch, truyền máu theo y lệnh
Thần kinh
Bệnh nhân sẽ trải qua phương pháp vô cảm (gây mê hoặc gây tê) tùy theo tính
chất cuộc phẫu thuật, vì thế khi được chuyển ra phịng hồi tỉnh sẽ có bệnh
nhân mê vẫn còn ngủ hoặc ngược lại. Nhiệm vụ của người điều dưỡng là:
- Ghi nhận những thuốc mê, thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc giảm đau
mà bệnh nhân đã dùng vì chúng có ảnh hưởng đến sự tỉnh táo
- Đánh giá người bệnh qua thang điểm Glasgow.
- Đảm bảo an tồn cho người bệnh vì giai đoạn này họ rất dễ bị kích
thích, vật vã.
- Theo dõi vận động, cảm giác của chi đồng thời tránh chèn ép khi xoay
trở.
Nước tiểu
Lượng nước tiểu trung bình của mỗi người khoảng 1ml/kg/giờ [8], cần phải
theo dõi số lượng, màu sắc, tính chất nước tiểu mỗi giờ, vì nó là chỉ số quan
trọng để đánh giá tình trạng tuần hồn nội tạng người bệnh sau mổ, đặc biệt là
trường hợp mổ phức tạp.
1.6 Các biến chứng hậu phẫu cần theo dõi
Biến chứng hô hấp
- Tắc nghẽn đường hô hấp trên
.
3.
Nguyên nhân: tụt lưỡi, co thắt thanh quản, phù nề thanh môn, dịch
tiết, dịch nôn hay máu trong đường thở, nguyên nhân bên ngoài đè
vào đường thở.
Biểu hiện lâm sàng: khó thở, thở ngáy, thở dạng bụng ngực khơng
đồng bộ, nghe ran rít trước cổ.
Xử trí: nâng hàm dưới và nằm đầu nghiêng, thở oxy, hút sạch dịch
tiết, corticoid, phun khí dung, đặt nội khí quản, mở khí quản.
- Giảm thơng khí phế nang
Ngun nhân: sử dụng thuốc ảnh hưởng hô hấp (giảm đau họ
Morphin, thuốc dãn cơ, thuốc mê tĩnh mạch), hạ thân nhiệt, chảy
máu hoặc thiếu máu não, đau, tràn khí- tràn dịch màng phổi, béo
phì.
Biểu hiện lâm sàng: nhịp thở chậm, thở nhanh và nông hay gắng
sức, mạch nhanh, huyết áp tăng nhưng nếu bệnh nhân vơ toan hơ
hấp nặng thì huyết áp và mạch sẽ giảm.
Xử trí: tùy theo nguyên nhân: thở oxy 100%, dùng các thuốc đối
kháng họ Morphin, thuốc dãn cơ, điều trị đau, dẫn lưu màng phổi.
Rối loạn tuần hoàn
- Hạ huyết áp
Nguyên nhân: giảm thể tích tuần hồn, giảm tính co cơ tim, rối loạn
nhịp.
Xử trí: thở oxy 100%, truyền dịch, truyền máu và các thành phần
của máu, theo dõi sát huyết động, độ bão hòa oxy.
- Tăng huyết áp
Nguyên nhân: đau, ứ đọng thán khí, thiếu dưỡng khí, hạ thân nhiệt,
Xử trí: điều trị đau, điều trị kịp thời ứ đọng thán khí và thiếu dưỡng
khí, dung thuốc hạ áp.
.
4.
- Rối loạn nhịp tim
Nguyên nhân: phân áp dưỡng khí máu động mạch thấp , giảm thể
tích tuần hồn, đau, hạ thân nhiệt nhiều, dung thuốc kháng cholin,
thiếu máu cơ tim, rối loạn điện giải, toan hô hấp, tăng huyết áp.
Xử trí: giải quyết nguyên nhân là chủ yếu.
Kích thích sau phẫu thuật
Hay gặp ở bệnh nhân lớn tuổi, sử dụng thuốc kháng cholin
Xử trí: kéo song chắn giường lên cao, cố định tay bệnh nhân và đảm
bảo bệnh nhân không đè lên dẫn lưu hay ống thông tiểu.
Đau sau phẫu thuật
Thực hiện y lệnh thuốc giảm đau theo giờ, tránh tình trạng bệnh nhân
xuất hiện cảm giác đau rồi mới cho thuốc. Một số thuốc giảm dùng trong
giai đoạn hồi tỉnh: paracetamol, thuốc nhóm NSAID, thuốc á phiện
(fentanyl, tramadol), thuốc phiện (morphin).
Rối loạn chức năng thận
Có nhiều nguyên nhân khác nhau, do thận chưa được bù dịch đủ trong
lúc mổ, hay do nguyên nhân thực thể. Vì vậy cần tìm hiểu rõ ngun nhân
để xử trí chính xác.
Rối loạn đơng chảy máu
Nguyên nhân: bệnh lý về máu, mất nhiều máu trước , trong mổ hoặc
sau mổ vẫn còn chảy máu.
Xử trí: truyền máu hay các chế phẩm của máu theo y lệnh, c
Hạ thân nhiệt
Nguyên nhân: truyền nhiều dịch, hay truyền nhiều máu trong khi mổ
vì thơng thường máu được dự trữ ở nhiệt độ rất thấp, mổ bụng phải
.
5.
rửa ổ bụng với dung dịch nhiệt độ thấp, hay để ruột bên ngồi ổ
bụng.
Xử trí: ủ ấm hay sưởi đèn cho người bệnh, đo thân nhiệt suốt thời
gian lưu trú và trước khi ra phòng hồi tỉnh, ủ ấm dịch truyền.
1.7 Thang điểm Aldrete
Thang đo Aldrete [12], [13], [26] là một hệ thống tính điểm thơng dụng
được sử dụng để đánh giá tình trạng người bệnh có đủ tiêu chuẩn rời phòng
hồi tỉnh để về khoa lâm sàng hay chuyển sang giai đoạn hồi phục II, hệ thống
điểm Aldrete được phát minh vào năm 1970, bởi bác sĩ gây mê người Mexico
Jorge Antonio Aldrete, khi ông đang làm việc tại bệnh viện cựu chiến binh
Denver, và hê thống này đã được đánh giá về tính hiệu quả do Wiley và cộng
sự [53] vào năm 2002. Vào năm 1995 thang đo Aldrete đã được cải tiến, thay
vì quan sát màu sắc của da niêm và nền móng, họ sẽ sử dụng SpO2 để đo độ
bão hòa oxy máu. Thời gian để đánh giá tình trạng người bệnh là ngay lập tức
sau khi đến phòng hồi tỉnh và mỗi giờ sau đó, cho đến khi họ sẵn sàng về
khoa lâm sàng. Các dấu hiệu được đánh giá bao gồm [13]:
Vận động
Hô hấp
Huyết áp
Tri giác
Độ bão hòa oxy
.
6.
Thơng số
Vận động
Hơ hấp
Tuần hồn
Tri giác
Oxy hóa máu
Mơ tả
Cử động tứ chi tự nhiên hoặc theo y lệnh
Cử động 2 chi
Khơng cử động được
Thở đều/sâu, ho tốt
Thở chậm/nơng hoặc khó thở
Ngưng thở
Huyết áp < 20 mmHg mức trước mổ
Huyết áp < 20-50 mmHg mức trước
mổ
Huyết áp > 50 mmHg mức trước mổ
Điểm
2
1
0
2
1
0
2
1
Tỉnh táo hồn tồn
Gọi tỉnh
Gọi khơng tỉnh
SpO2 > 90% với khí phịng
SpO2 > 90% khi được thở oxy
SpO2 < 90% dù đã thở oxy
2
1
0
2
1
0
10
Tổng số
0
Sau khi đánh giá các dấu hiệu, tổng điểm bệnh nhân đạt được là 9 hoặc
10 thì sẽ có đủ chuẩn để chuyển sang giai đoạn phục hồi tiếp theo. Tuy rằng
hệ thống tính điểm Aldrete rất dễ sử dụng, là hướng dẫn đáng tin cậy và được
áp dụng làm tiêu chí rời phòng hồi tỉnh cho các điều dưỡng ở nhiều cơ sở
bệnh viện, nhưng vẫn có một số hạn chế:
- Hệ thống không bao gồm các đánh giá về mức độ đau hay nơn ói, trong
khi đó các dấu hiệu này được tìm thấy ở 9.8% ở người bệnh phịng hồi
tỉnh [33], gây khó chịu cho họ và khó khăn cho việc điều trị, thường
làm chậm trễ sự phục hồi toàn diện cũng như xuất về khoa lâm sàng
của các bệnh nhân.
.