Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Phân tích đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (693.1 KB, 6 trang )

<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>

<b>BÀI VĂN MẪU LỚP 9 </b>



<b>PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH THÚY KIỀU BÁO ÂN BÁO ỐN </b>


<b>A. Sơ đồ gợi ý tóm tắt </b>


<b>B. Dàn bài chi tiết </b>
<b>1. Mở bài </b>


- Giới thiệu sơ lược về Nguyễn Du


+ Nguyễn Du (1765 – 1820), quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Là một người có hiểu biết sâu rộng, vốn sống phong phú.


- Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ưóc
mơ cơng lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu
2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7
tên khác bị báo oán


<b>2. Thân bài </b>


- Giới thiệu về đoạn trích:


+ Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo ốn được trích từ phần sau đoạn “Kiều gặp Từ Hải”.
- Thúy Kiều báo ân


+ Thúc Sinh được mời đến trong cảnh oai nghiêm nơi Kiều xử án.
+ Kiều biết ơn Thúc Sinh


Đã cứu nàng ra khỏi lầu xanh.


Cho nàng về làm vợ lẽ (dù phải chịu nhiều đau đớn hơn phận tơi địi).



</div>
<span class='text_page_counter'>(2)</span><div class='page_container' data-page=2>

+ Kiều đền ơn Thúc Sinh: “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”.
+ Nhắc đến những việc mà Hoạn Thư đã gây ra cho mình.


 Cách cư xử tế nhị, khôn khéo của Thúy Kiều khi báo ân Thúc Sinh.


 Kiều là người có bản chất vị tha, thơng minh, sáng suốt và sống có tình nghĩa.
- Thúy Kiều báo oán


+ Vị thế của Thúy Kiều:


Lúc ở nhà Hoạn Thư: Kiều là nô tì, vợ lẽ.


Giờ Kiều đã là phu nhân quan tòa.
+ Vị thế của Hoạn Thư:


Lúc trước là chủ nhà.


Bây giờ là bị cáo, bị xét xử bởi Kiều.


+ Cách xưng hô “Tiểu thư”: thể hiện thái độ mỉa mai, đe dọa những hình phạt khủng khiếp
đối với Hoạn Thư và danh gia nhà họ Hoạn.


+ Thái độ của Hoạn Thư: tuy sợ nhưng vẫn tỏ ra là người khôn ngoan, gian xảo.


Đầu tiên, dựa vào cớ mình là phụ nữ hay ghen để gỡ tội.


Khôn khéo gợi lại những việc làm nhân nghĩa đối với Kiều: cho chép kinh ở Quan Âm Các,
không bắt giữ khi Kiều bỏ trốn.



Tự nhận lỗi về mình.


 Hoạn Thư là một người khơn ngoan, quỷ quyệt, biến biến nguy thì an.
+ Trước lí lẽ sắc bén của Hoạn Thư, Kiều đã:


Khâm phục tài trí, miệng lưỡi của Hoạn Thư.


Phân vân, khó xử.


Răn đe và tha bổng cho Hoạn Thư.


 Kiều là người độ lượng, khoan dung, vị tha và nhân hậu.


- Nguyễn Du đã những từ ngữ mang tính ước lệ và ngơn ngữ nơm na, bình dân, thành ngữ
dân gian.


<b>3. Kết bài </b>


- Nội dung:


+ Tính cách Thúy Kiều và Hoạn Thư được làm nổi bật.


+ Đoạn trích thể hiện ước mơ cơng lí, chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân.
- Nghệ thuật:


+ Sử dụng hình ảnh tương trưng, ước lệ.


+ Ngơn ngữ đối thoại được sử dụng để khắc họa, miêu tả và xây dựng nhân vật.


<b>C. Bài văn mẫu </b>



<i><b>Đề bài:</b> Phân tích đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo ốn </i>
<i>Gợi ý làm bài: </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(3)</span><div class='page_container' data-page=3>

bao lâu sau, Từ Hải đã có binh cường tướng mạnh:


<i>Trong tay mười vạn tinh binh, </i>
<i>Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri. </i>
Kiều đã dựa vào uy thế Từ Hải để báo ân báo oán.


Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo ốn là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ước mơ
cơng lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu
2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7
tên khác bị báo oán:


<i>Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà, </i>
<i>Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh. </i>


<i>Tú Bà với Mã Giám Sinh, </i>
<i>Các tên tội ấy đáng tình cịn sao? </i>


Ở đây, chúng ta chỉ nói đến hai tình tiết: Kiều báo ân Thúc Sinh và báo ốn Hoạn Thư. Tâm lí
và cách ứng xử của Thúy Kiều, tính sáng tạo của Nguyễn Du là những điều mà ta có thể tìm
hiểu và cảm nhận trong đoạn thơ này.


Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Bà bắt ép làm gái lầu xanh. Và Kiều đã gặp Thúc
Sinh “cũng nòi thư hương”, là con rể của quan thượng thư, một con người phong tình “quen
thói bốc rời”. Lúc đầu chỉ là “trăng gió”, nhưng về sau, Thúc Sinh và Thúy Kiều trở thành “đá
vàng”. Thúc Sinh đã chuộc Kiều, lấy làm vợ lẽ: “Gót tiên phút đã thốt vịng trần ai”. Mặc dù
sau này có chuyện đánh ghen, bị làm nhục, nhưng Thúc Sinh trong điều kiện có thể, nói với


Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm các “giữ chùa, chép kinh”, thoát khỏi kiếp tơi địi. Tuy “thấp
cơ thua trí đàn bà” nhưng tình cảm của Thúc Sinh đối với Thúy Kiều, trong bi kịch vẫn “nặng
lòng”:


<i>Bây giờ kẻ ngược người xuôi, </i>
<i>Biết bao giờ lại nối lời nước non ? </i>


Có thể chê trách Thúc Sinh này nọ, nhưng Thúc Sinh là ân nhân của Kiều, đã giúp Kiều hoàn
lương. Kiều là một người phúc hậu, nên nàng khơng bao giờ có thể qn ơn chàng.


Trong cuộc tầm nã của ba quân, gia đình Thúc Sinh đã được Kiều quan tâm “giữ giàng”:
<i>Lại sai lệnh tiễn truyền qua, </i>


<i>Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên. </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(4)</span><div class='page_container' data-page=4>

cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân tình, nhân hậu; cách ứng xử của nàng đối với Thúc
Sinh rất giàu ân nghĩa thủy chung:


<i>Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non. </i>
<i>Lâm Tri người cũ chàng cịn nhớ khơng? </i>


<i>Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng, </i>
<i>Tại ai há dám phụ lòng cố nhân? </i>


Cái lễ vật chất mà Kiều báo ân Thúc Sinh cũng thật “hậu”, khẳng định cái nghĩa đối với “cố
nhân” trong những năm tháng ở Lâm Tri là vô cùng sâu nặng:


<i>Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân. </i>
<i>Tạ lịng để xứng báo ân gọi là. </i>



Sau đó, Kiều dùng lời lẽ dân dã, sắc sảo để nói về “vợ chàng”. Bao năm tháng đã trơi qua,
lịng Kiều vẫn chưa ngi. “Miếng ngon nhớ mãi, địn đau nhớ đời” có phải như thế khơng?
Vị thế đã đổi thay: kẻ là phạm tội, người là quan tòa đang ngồi trong trướng hùm giữa cành
“gươm lớn giáo dài”:


<i>Vợ chàng quỷ quái tinh ma, </i>
<i>Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau. </i>


<i>Kiến bò miệng chén chưa lâu, </i>
<i>Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa. </i>


Kiều đã có hai cách nói khác nhau: nói về ân nghĩa thì trang trọng, ơn tồn; nói về ốn thì
nơm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời
của Thúy Kiều, điều đó cho thấy thi hào rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật. Dù là
được báo ân, nhưng đứng trước cảnh “Vác đòng chật đất, tinh kì rợp sân”, Thúc Sinh cực kì
khủng khiếp: “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”, mồ hơi tốt ra “ướt đẫm”, khơng nói
được một lời nào, sống trong tâm trạng vừa “mừng”, vừa “sợ”:


<i>Lòng riêng mừng sợ khôn cầm, </i>
<i>Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai. </i>


Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư
thế của người “chiến thắng” ra tay báo oán, Kiều đã “chào thưa” bằng những lời “mát mẻ”:


<i>Thoắt trông nàng đã chào thưa: </i>
<i>Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! </i>


Giọng nói trở nên chì chiết, đay nghiến. Các chữ “mấy tay”, “mấy mặt”, “mấy gan” như những
mũi dao sắc lạnh:



<i>Đàn bà dễ có mấy tay, </i>


</div>
<span class='text_page_counter'>(5)</span><div class='page_container' data-page=5>

Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: “Càng
cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.


Là “thủ phạm” đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt nắp
ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”. Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình,
khó lịng thốt khỏi lưỡi gươm trừng phạt? Vốn khơn ngoan, sắc sảo, đứa con của “họ Hoạn
danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái “khấu đầu” giữ lễ, khi chân tay đang bị
trói. Trước hết nhận tội “ghen tng” và lí giải đó là chuyện “thường tình” của đàn bà. Tiếp
theo Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình” ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ
chùa chép kinh”, khơng bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng
khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong
cuộc mới biết. “Nghĩ cho” là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:


<i>Nghĩ cho khi gác viết kinh, </i>
<i>Với khi khỏi cửu dứt tình chẳng theo. </i>


Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên
thương”. Tuy “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư
“kính yêu” Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:


<i>Trót lịng gây việc chơng gai, </i>
<i>Cịn nhờ lượng bể thương bài nào chăng. </i>


Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế,
Kiều phải “khen cho”. “Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”. Khơng thể là “người nhỏ
nhen”, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:


<i>Đã lịng tri q thì nên, </i>



<i>Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay. </i>


Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Vốn là một phụ nữ
trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự
biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác, tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều
càng tỏ ra vô cùng cao thượng. Ai đã từng đọc bản dịch Kim Vân Kiều truyện, đem đối chiếu
với Truyện Kiều, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, nhất là trong
cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém
phần uy nghiêm! Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách nhân vật Thúc Sinh
lành mà nhát sợ, Hoạn Thư thì khơn ngoan, sắc sảo, Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao
dung.


</div>
<span class='text_page_counter'>(6)</span><div class='page_container' data-page=6>

Website <b>HOC247</b> cung cấp một môi trường <b>học trực tuyến</b> sinh động, nhiều <b>tiện ích thơng minh</b>,


nội dung bài giảng được biên soạn công phu và giảng dạy bởi những <b>giáo viên nhiều năm kinh </b>


<b>nghiệm, giỏi về kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng sư phạm</b> đến từ các trường Đại học và các
trường chuyên danh tiếng.


<b>I.</b> <b>Luyện Thi Online</b>


- <b>Luyên thi ĐH, THPT QG: Đội ngũ GV Giỏi, Kinh nghiệm</b> từ các Trường ĐH và THPT danh tiếng xây
dựng các khóa <b>luyện thi THPTQG </b>các mơn: Tốn, Ngữ Văn, Tiếng Anh, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học.
- <b>Luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán: </b>Ôn thi <b>HSG lớp 9</b> và <b>luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán</b> các


trường <i>PTNK, Chuyên HCM (LHP-TĐN-NTH-GĐ), Chuyên Phan Bội Châu Nghệ An</i> và các trường Chuyên
khác cùng <i>TS.Trần Nam Dũng, TS. Pham Sỹ Nam, TS. Trịnh Thanh Đèo và Thầy Nguyễn Đức Tấn.</i>


<b>II.</b> <b>Khoá Học Nâng Cao và HSG </b>



- <b>Toán Nâng Cao THCS: Cung cấp chương trình Tốn Nâng Cao, Tốn Chun dành cho các em HS THCS </b>
lớp 6, 7, 8, 9 u thích mơn Tốn phát triển tư duy, nâng cao thành tích học tập ở trường và đạt điểm tốt
ở các kỳ thi HSG.


- <b>Bồi dưỡng HSG Toán: Bồi dưỡng 5 phân môn Đại Số, Số Học, Giải Tích, Hình Học </b>và <b>Tổ Hợp</b> dành cho
học sinh các khối lớp 10, 11, 12. Đội ngũ Giảng Viên giàu kinh nghiệm: <i>TS. Lê Bá Khánh Trình, TS. Trần </i>


<i>Nam Dũng, TS. Pham Sỹ Nam, TS. Lưu Bá Thắng, Thầy Lê Phúc Lữ, Thầy Võ Quốc Bá Cẩn</i> cùng đơi HLV đạt


thành tích cao HSG Quốc Gia.


<b>III.</b> <b>Kênh học tập miễn phí</b>


- <b>HOC247 NET: Website hoc miễn phí các bài học theo chương trình SGK</b> từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các
môn học với nội dung bài giảng chi tiết, sửa bài tập SGK, luyện tập trắc nghiệm mễn phí, kho tư liệu tham
khảo phong phú và cộng đồng hỏi đáp sôi động nhất.


- <b>HOC247 TV: Kênh Youtube</b> cung cấp các Video bài giảng, chuyên đề, ôn tập, sửa bài tập, sửa đề thi miễn
phí từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các mơn Tốn- Lý - Hoá, Sinh- Sử - Địa, Ngữ Văn, Tin Học và Tiếng Anh.


<i><b>Vững vàng nền tảng, Khai sáng tương lai </b></i>



<i><b> Học mọi lúc, mọi nơi, mọi thiết bi – Tiết kiệm 90% </b></i>


<i><b>Học Toán Online cùng Chuyên Gia </b></i>


</div>

<!--links-->

×