Tải bản đầy đủ (.pdf) (230 trang)

Tín ngưỡng thờ ông địa ông tà của người việt ở an giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.7 MB, 230 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------  ----------

MAI THỊ MINH THUY

TÍN NGƢỠNG THỜ ƠNG ĐỊA – ƠNG TÀ
CỦA NGƢỜI VIỆT Ở AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HĨA HỌC
Mã số: 60.31.70

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 6/2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
---------  ----------

MAI THỊ MINH THUY

TÍN NGƢỠNG THỜ ƠNG ĐỊA – ƠNG TÀ
CỦA NGƢỜI VIỆT Ở AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

Ngƣời thực hiện

TS. Lý Tùng Hiếu

Mai Thị Minh Thuy

TP. Hồ Chí Minh, năm 2016


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn này, tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ
Lý Tùng Hiếu. Thầy đã tận tình giúp đỡ, động viên trong q trình tơi học tập và
nghiên cứu, thực hiện luận văn. Với sự khách quan trong khoa học, nhiệt tình trong
việc dìu dắt các thế hệ học trị, thầy là tấm gƣơng sáng để tôi noi theo trong suốt
cuộc đời.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy/cô Khoa Văn hóa học – Trƣờng
ĐH KHXH&NV – ĐHQG Tp. HCM đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm
quý báu giúp tơi hồn thành chƣơng trình cao học và luận văn thạc sĩ của mình.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tác giả mà chúng tôi đã tham khảo,
trích dẫn trong luận văn. Luận văn của tơi đƣợc hoàn thành nhƣ mong muốn là nhờ
vào những nội dung quý giá mà Quý vị đã dày công nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn đến tập thể thầy cô Khoa Văn hóa nghệ thuật, lãnh đạo nhà
trƣờng – Trƣờng Đại học An Giang đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học
tập và thực hiện luận văn.
Thân gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp Cao học Văn hóa học K14A, đặc biệt là
anh Nguyễn Trung Hiếu đã động viên, giúp đỡ tơi trong q trình học tập và thực
hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý ông, bà, cô, chú, anh, chị ở những nơi

tơi đến tìm hiểu – đã nhiệt tình giúp đỡ.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn thân thƣơng đến gia đình, bạn bè của tơi –
những ngƣời ln bên cạnh, yêu thƣơng, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!

Long Xuyên & Tp. HCM, ngày 24/4/2016

TÁC GIẢ


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan, đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Nội dung nghiên
cứu của đề tài chƣa từng đƣợc công bố ở bất cứ công trình nào khác. Nếu có vấn đề
gì, tơi xin hồn toàn chịu trách nhiệm trƣớc cở sở đào tạo, trƣớc pháp luật và xã hội!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

MAI THỊ MINH THUY


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................................ 3
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................................. 4
DẪN NHẬP ........................................................................................................................... 8
1.

Lý do chọn đề tài ....................................................................................................... 8

2.


Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................... 9

3.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 11

4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 12

5.

Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu .............................................................. 12

6.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ................................................................................. 15

7.

Bố cục luận văn........................................................................................................ 16

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................................ 17
1.1.

Cách tiếp cận và thuật ngữ liên quan .................................................................... 17

1.1.1.


Cách tiếp cận .................................................................................................. 17

1.1.2.

Thuật ngữ liên quan ....................................................................................... 26

1.2.

Môi trƣờng văn hóa và chủ thể văn hóa ở An Giang ............................................ 30

1.2.1.

Mơi trƣờng văn hóa tỉnh An Giang................................................................ 30

1.2.2.

Ngƣời Việt và các tộc ngƣời cộng cƣ ở An Giang ........................................ 39

1.3.

Khái quát về các loại thần Đất của ngƣời Việt An Giang ..................................... 48

1.3.1.

Bà Chúa Xứ ................................................................................................... 49

1.3.2.

Thành Hoàng.................................................................................................. 52


1.3.3.

Thổ thần, Ông Địa – thần Tài ........................................................................ 55

1.3.4.

Ông Tà ........................................................................................................... 58

1.3.5.

Sơn thần ......................................................................................................... 59


1.4.

Tiểu kết.................................................................................................................. 59

CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG ÔNG ĐỊA – ÔNG TÀ CỦA
NGƢỜI VIỆT Ở AN GIANG .............................................................................................. 61
2.1.

Phƣơng tiện thờ cúng Ông Địa – Ông Tà của ngƣời Việt An Giang .................... 61

2.1.1.

Hình tƣợng và khơng gian thờ cúng Ơng Địa và Ơng Tà .............................. 61

2.1.2.

Giới thiệu một cơ sở thờ cúng tiêu biểu: miếu Ông Tà – xã Tà Đảnh, huyện


Tri Tôn ....................................................................................................................... 81
2.2.

Nghi thức thờ cúng Ông Địa và Ông Tà ............................................................... 89

2.2.1.

Nghi thức thờ cúng Ông Địa .......................................................................... 89

2.2.2.

Nghi thức thờ cúng Ông Tà ........................................................................... 93

2.3.

Tiểu kết................................................................................................................ 109

CHƢƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG ƠNG ĐỊA – ƠNG TÀ
ĐỐI VỚI NGƢỜI VIỆT Ở AN GIANG ........................................................................... 112
3.1.

Chức năng của tín ngƣỡng thờ cúng Ông Địa – Ông Tà trong văn hóa vật thể .. 112

3.1.1.

Chức năng sinh sản của cải .......................................................................... 112

3.1.2.


Chức năng cai quản đất đai .......................................................................... 116

3.1.3.

Chức năng bảo trợ đời sống vật chất cho ngƣời dân ................................... 119

3.2.

Chức năng của tín ngƣỡng thờ cúng Ơng Địa – Ông Tà trong văn hóa phi vật thể ..
............................................................................................................................. 123

3.2.1.

Chức năng hộ mệnh cho con ngƣời ............................................................. 124

3.2.2.

Chức năng ban phúc lành ............................................................................. 128

3.2.3.

Chức năng xử lý tranh chấp ......................................................................... 131

3.2.4.

Chức năng dẫn đƣờng .................................................................................. 132

3.3.

Một số biến đổi trong tín ngƣỡng thờ cúng Ơng Địa và Ơng Tà của ngƣời Việt An


Giang ............................................................................................................................. 133
3.4.

Tiểu kết................................................................................................................ 137


KẾT LUẬN........................................................................................................................ 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 147
PHỤ LỤC ........................................................................................................................ PL.1
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH THÔNG TIN VIÊN/ CÔNG TÁC VIÊN TRONG THỰC
TẾ ĐIỀN DÃ ............................................................................................................... PL.1
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU QUA KHẢO SÁT ĐIỀN DÃ
..................................................................................................................................... PL.5
PHỤ LỤC 3: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT TÍN NGƢỠNG THỜ ÔNG ĐỊA ............. PL.32
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ THỐNG KÊ KHẢO SÁT TÍN NGƢỠNG THỜ ƠNG ĐỊA Ở
AN GIANG BẰNG PHIẾU KHẢO SÁT.................................................................. PL.42
PHỤ LỤC 5: HÌNH ẢNH VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ ƠNG ĐỊA – ƠNG TÀ Ở AN
GIANG....................................................................................................................... PL.64


-8-

DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Cƣ dân Việt là một tộc ngƣời có truyền thống làm nơng nghiệp. Hoạt động sản
xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên nhƣ: đất đai, thời
tiết, khí hậu, nguồn nƣớc,… Trƣớc đây, khoa học, kỹ thuật chƣa phát triển nên con
ngƣời sống lệ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, dẫn đến tâm lý tơn kính các lực lƣợng
siêu nhiên. Các sự vật, hiện tƣợng trong tự nhiên có ảnh hƣởng đến con ngƣời đƣợc

thần thánh hóa, trở thành các đối tƣợng đƣợc suy tôn và thờ cúng. Trong đó quan
trọng phải kể đến thần Đất. Tục thờ thần Đất là một phong tục rất phổ biến của cƣ
dân Việt, nhƣng ở những vùng miền khác nhau thì phong tục này rất khác nhau.
Từ thời khai hoang mở cõi trong hành trình Nam tiến, những lƣu dân ngƣời
Việt có cơ hội tiếp xúc với nhiều tộc ngƣời khác nhƣ ngƣời Chăm, ngƣời Khmer,
sau đó là ngƣời Hoa nhập cƣ từ thế kỷ XVII. Đến đây, những tộc ngƣời dù không
cùng ngôn ngữ, nếp sinh hoạt nhƣng cùng sinh sống hịa thuận trên một vùng đất,
dần dà có sự giao lƣu với nhau. Sự giao lƣu diễn ra rộng rãi trên nhiều phƣơng diện
của đời sống văn hóa từ ngơn ngữ, hoạt động sản xuất, ẩm thực, trang phục,… và
đặc biệt là tín ngƣỡng dân gian. Trong những địa phƣơng của Tây Nam Bộ, An
Giang là tỉnh biểu hiện khá rõ những nét văn hóa đặc trƣng của vùng đồng bằng
rộng lớn này về lĩnh vực tín ngƣỡng dân gian. An Giang là vùng đất cộng cƣ của
nhiều tộc ngƣời, tiêu biểu là bốn tộc ngƣời Việt, Khmer, Chăm và Hoa. Vì thế, nơi
đây có sự pha trộn trong văn hóa qua q trình giao lƣu tiếp biến của các tộc ngƣời
cộng cƣ. Do đó, bản thân văn hóa của An Giang cũng đã mang nhiều yếu tố khác
biệt so với những địa phƣơng khác.
Tục thờ thần Đất ở vùng đất Tây Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng
xuất hiện nhiều biến tƣớng độc đáo. Sự kết hợp của các yếu tố văn hóa truyền thống
của tổ tiên với những điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội của vùng đất
mới làm nên diện mạo mới cho tín ngƣỡng thờ thần Đất của ngƣời Việt ở An Giang.
Biểu hiện rõ nét và phổ biến hầu nhƣ rộng khắp địa phƣơng An Giang trong tín


-9-

ngƣỡng thờ thần Đất của ngƣời Việt là tín ngƣỡng thờ Ơng Địa và Ơng Tà. Ngày
nay, tín ngƣỡng thờ hai vị thần này vẫn còn tồn tại và ăn sâu vào tâm thức ngƣời
dân nơi đây, dù nó đã có nhiều sự biến đổi. Bên cạnh đó, tín ngƣỡng thờ Ông Địa và
Ông Tà của ngƣời Việt ở An Giang khác biệt so với thần Đất của các tộc ngƣời và
địa phƣơng khác nhƣ thế nào cũng là một vấn đề rất đáng lƣu tâm. An Giang là quê

hƣơng của ngƣời thực hiện đề tài, do đó, chúng tơi muốn đóng góp một phần nhỏ
cơng sức của mình nhằm tìm tịi, chỉ ra đƣợc sự phong phú, đa dạng trong văn hóa
dân gian của địa phƣơng mình.
Vì những lý do nêu trên chúng tơi đã chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ Ông Địa –
Ông Tà của người Việt ở An Giang” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu đề tài tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng Tà của ngƣời Việt ở An
Giang, chúng tôi thu thập đƣợc nhiều tƣ liệu có liên quan từ các cơng trình nghiên
cứu của các tác giả đi trƣớc. Với các chiều kích khác nhau, các tác giả đã chỉ ra một
số nội dung mà chúng tôi sẽ lƣu ý và nghiên cứu nhằm đƣa ra những nhận định
khoa học và khách quan.
Các công trình nghiên cứu sâu về tín ngƣỡng thờ Ơng Địa gồm có Văn hóa
dân gian cổ truyền – Ơng Địa, tín ngƣỡng và tranh tƣợng của nhóm tác giả Huỳnh
Ngọc Trảng, Trƣơng Ngọc Tƣờng và Hồ Tƣờng [1993] mô tả chi tiết về hình tƣợng
Ơng Địa với nhiều dạng khác nhau dƣới góc độ tín ngƣỡng và mỹ thuật, qua đây,
nhóm tác giả cũng trình bày một cách khái qt các dạng thần Đất của ngƣời Việt;
Đặc khảo về tín ngƣỡng thờ gia thần của Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc
[2013]; Những biểu tƣợng đặc trƣng trong văn hóa truyền thống Việt Nam (tập 2) –
Các vị thần [2015] của tác giả Đinh Hồng Hải trình bày một cách chi tiết về các vị
thần Đất đƣợc thờ trong gia đình ngƣời Việt.
Đề cập một cách khái qt về tín ngƣỡng thờ Thổ Địa – Ông Địa ở Nam Bộ và
Tây Nam Bộ có các cơng trình nhƣ Biên khảo Nói về miền Nam – Cá tính miền


- 10 -

Nam – Thuần phong mỹ tục Việt Nam của Sơn Nam [2005]; Văn hóa ngƣời Việt
vùng Tây Nam Bộ do Trần Ngọc Thêm chủ biên [2013]; Văn hóa Nam Bộ qua cái
nhìn của Sơn Nam của Võ Văn Thành [2013]; Ơng Địa – Thần Tài trong tín

ngƣỡng dân gian Nam Bộ của Trần Thanh Thảo Uyên [2014].
Khái quát về tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng Tà ở An Giang có các cơng trình
nhƣ An Giang đơi nét văn hóa đặc trƣng vùng đất bán sơn địa của tác giả Nguyễn
Hữu Hiệp [2010]; luận văn thạc sĩ ngành văn hóa học Đời sống cƣ dân vùng Tứ
Giác Long Xun dƣới góc nhìn văn hóa học của Trần Trọng Lễ [2011]; Diện mạo
văn hoá đa tộc ngƣời - đa tôn giáo ở An Giang qua khảo sát điền dã của tác giả Lý
Tùng Hiếu [2012].
Nghiên cứu về tín ngƣỡng thờ Ne-ak Ta có các cơng trình nhƣ Ngƣời Việt gốc
Miên của Lê Hƣơng [1969]; Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những
vấn đề đặt ra do Trần Văn Bính chủ biên [2004]; Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam
Bộ của Nguyễn Hữu Hiếu [2011]; luận văn thạc sĩ ngành văn hóa học Tục thờ Neak
Ta của ngƣời Khmer ở Tây Nam Bộ (So sánh với tín ngƣỡng thờ Thành Hồng) của
Đào Thị Hồ Phƣơng [2011] trình bày khá chi tiết về tục thờ Ne-ak Ta của ngƣời
Khmer; Ăn cơm mới nói chuyện cũ: Hậu Giang - Ba Thắc của Vƣơng Hồng Sển
[2012]; Ông Tà (Neak Ta) là ai? của Bùi Việt Thành [2015].
Giới thiệu sơ nét về sự giao lƣu tiếp biến văn hóa giữa ngƣời Việt và ngƣời
Khmer Nam Bộ qua tín ngƣỡng thờ Ơng Tà qua cơng trình Nửa tháng trong miền
Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu [2006].
Khái quát về tín ngƣỡng thờ thần Đất (Thổ Địa, thần Thành Hoàng) của ngƣời
Việt đƣợc thể hiện qua các cơng trình Việt Nam văn hóa sử cƣơng của Đào Duy
Anh [1938]; Cơ sở văn hóa Việt Nam [1995/1999]; Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam [1996/2004] của Trần Ngọc Thêm; Cơ sở văn hóa Việt Nam do Trần Quốc
Vƣợng chủ biên [1998/2008].
Đề cập đến các vị thần Đất, thần Núi, thần Sơng, thần Thành Hồng,… trong
đó, nói đến lịch sử hình thành và biểu hiện của tín ngƣỡng thờ thần Đất của ngƣời


- 11 -

Việt có các cơng trình Việt Điện U Linh do Lý Tế Xuyên biên soạn và Lĩnh Nam

chích quái do Trần Thế Pháp biên soạn khái quát hệ thống thần linh của ngƣời Việt
qua những câu chuyện từ thời xa xƣa, đƣợc ghi chép lại vào thời Lý – Trần trong
thời đại phong kiến của Việt Nam; Thần linh đất Việt của Vũ Thanh Sơn [2002];
Thần ngƣời và đất Việt của Tạ Chí Đại Trƣờng [2006, 2013]; Tìm hiểu văn hóa tâm
linh của ngƣời Việt của hai tác giả Cao Ngọc Lân và Cao Vũ Minh [2013].
Tín ngƣỡng và văn hóa tín ngƣỡng ở Việt Nam do Ngơ Đức Thịnh chủ biên
[2012] khái qt các hình thức tín ngƣỡng dân gian ở Việt Nam, trong đó có tín
ngƣỡng thờ thần Đất với những nội dung giới thiệu về các dạng thần Đất nhƣ thần
Thành Hoàng, Bà Chúa Xứ,…
Ngoài ra, cịn nhiều bài báo đề cập đến tín ngƣỡng thờ Ông Địa – Ông Tà đƣợc
thể hiện qua từng khía cạnh nhƣ hình tƣợng, cách thờ cúng, vai trị trong đời sống
ngƣời dân Nam Bộ nói chung,…
Dù đã có khá nhiều tài liệu đề cập đến tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng Tà,
nhƣng chƣa có cơng trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về tín ngƣỡng này ở
địa phƣơng An Giang. Do đó, chúng tơi muốn góp một phần công sức vào việc làm
sáng tỏ những đặc trƣng của tín ngƣỡng này trong lĩnh vực văn hóa dân gian ở An
Giang.

3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Chỉ ra đƣợc nét đặc trƣng trong tín ngƣỡng thờ Ông Địa – Ông Tà của ngƣời
Việt ở An Giang, qua đó làm rõ vai trị và chức năng của hai vị thần này trong đời
sống của ngƣời Việt nơi đây.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Đề tài giúp hệ thống lại các dạng thức thờ cúng trong tín ngƣỡng thờ thần Đất
của ngƣời Việt ở địa phƣơng An Giang.


- 12 -


Tìm hiểu một cách cụ thể về đặc điểm của tín ngƣỡng thờ Ơng Địa và Ơng Tà
của ngƣời Việt ở An Giang qua những khía cạnh nhƣ hình tƣợng, cách thức thờ
cúng, chức năng và tầm ảnh hƣởng của tín ngƣỡng này trong tâm thức và đời sống
của ngƣời dân.
Chỉ ra những đặc trƣng của tín ngƣỡng thờ Ông Địa – Ông Tà của ngƣời Việt
ở An Giang.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: tín ngƣỡng thờ Ơng Địa và Ơng Tà ở An Giang.
Giới hạn không gian: đề tài tập trung vào các địa phƣơng có cƣ dân theo tín
ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ông Tà ở An Giang;
Giới hạn thời gian: từ khi ngƣời Việt đến định cƣ tại địa bàn tỉnh An Giang
cho đến hiện nay.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1.1.

Phương pháp khảo sát điền dã

Phƣơng pháp khảo sát điền dã (field study method) là phƣơng pháp thu thập tƣ
liệu, đƣợc vận dụng để thu thập các tƣ liệu văn hố và ngơn ngữ sơ cấp, cập nhật,
trực tiếp từ cộng tác viên là ngƣời lƣu trữ, sử dụng những tƣ liệu đó trong sinh hoạt.
Vận dụng phƣơng pháp này, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc khảo sát thực tế
tại những địa bàn trong tỉnh có sự hiện diện của miếu/ miễu thờ Ông Tà, cũng nhƣ
một số cơ sở thờ tự các dạng thần Đất khác (trong đó có Ơng Địa) ở An Giang nhƣ
Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu, Châu Đốc, Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành, Long
Xuyên,… nhằm thu thập những thơng tin, hình ảnh có liên quan đến đề tài luận văn.
Qua những chuyến điền dã, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu nhiều đối tƣợng nhƣ
ban quản lý các miễu/ miếu thờ Ông Tà, miếu Bà Chúa Xứ, ngƣời trong coi/quản lý



- 13 -

một số cơ sở thờ tự của ngƣời Hoa; ngƣời dân tại một số khu vực có nhiều gia đình
thờ Ơng Tà (xem phụ lục 1). Đặc biệt, chúng tôi triển khai đƣợc một buổi phỏng
vấn hội đồng với các đối tƣợng: ban quản trị miếu Ông Tà và một số ngƣời dân lớn
tuổi tại xã Tà Đảnh về tín ngƣỡng thờ Ơng Tà của ngƣời Việt nơi đây. Bên cạnh
việc quan sát, chúng tôi tham dự lễ cúng miếu Ơng Tà tại xã Tà Đảnh, huyện Tri
Tơn, tỉnh An Giang, ngày 09-10/03/2015 (ngày 19, 20 tháng Giêng âm lịch năm Ất
Mùi – 2015).
Với phƣơng pháp này, chúng tơi đã thu thập đƣợc nhiều tƣ liệu và hình ảnh có
liên quan đến đề tài tại các địa phƣơng, địa bàn dân cƣ có tín ngƣỡng thờ Ơng Địa –
Ơng Tà trong tỉnh. Qua đó, đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện nội dung và minh
chứng cho những nhận định trong việc xác định những đặc trƣng văn hóa của tín
ngƣỡng này tại địa phƣơng An Giang.
5.1.2.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi đƣợc vận dụng nhằm khảo sát tín ngƣỡng
thờ Ơng Địa. Ông Địa đƣợc ngƣời Việt An Giang thờ cúng rất phổ biến với số
lƣợng đơng đảo. Do đó, chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên với cách chọn mẫu
thuận tiện bằng bảng hỏi với nhiều đối tƣợng ngƣời dân tại một số địa phƣơng tại
An Giang nhƣ thành phố Long Xuyên và các huyện Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân.
Đợt khảo sát đƣợc tiến hành trong thời gian một tháng. Phần mềm SPSS đƣợc sử
dụng làm công cụ để thực hiện thống kê mô tả kết quả điều tra. Chúng tôi thu thập
đƣợc tổng số 254 phiếu trả lời khảo sát. Qua kết quả khảo sát, chúng tôi thu thập
đƣợc những số liệu nhằm tìm ra mẫu số chung góp phần xác định đặc trƣng của tín
ngƣỡng này của ngƣời Việt ở An Giang.

5.1.3.

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp (analysis - synthesis) đƣợc tiến hành bằng
cách phân chia các tƣ liệu qua thƣ tịch và tƣ liệu thu thập qua các đợt khảo sát điền
dã thành các bộ phận có bản chất khác nhau (phân tích), và tìm hiểu mối quan hệ
giữa các bộ phận đã đƣợc phân tích (tổng hợp). Thơng qua đó, chúng tơi nghiên cứu


- 14 -

tổng hợp, đối chiếu, phân tích các tƣ liệu, số liệu qua các nguồn tƣ liệu tiếp cận
đƣợc có liên quan đến văn hóa tín ngƣỡng nói chung và tín ngƣỡng thờ Ơng Địa –
Ơng Tà nói riêng của ngƣời Việt ở An Giang.
5.1.4.

Phương pháp phân tích hệ thống - cấu trúc

Phƣơng pháp phân tích hệ thống - cấu trúc (system-structure analysis) đƣợc
tiến hành bằng cách sắp xếp tƣ liệu vào các bộ phận tƣơng ứng của hệ thống, đặt
các yếu tố vào hệ thống của chúng để xem xét giá trị tự thân và giá trị trong hệ
thống của từng yếu tố; dựa vào mối quan hệ tƣơng tác giữa các yếu tố với hệ thống
để truy xét nguyên nhân hình thành, tồn tại, biến đổi, suy thối, phát triển của từng
yếu tố và của tồn hệ thống; và dựa vào các yếu tố môi trƣờng, quan hệ giữa các
yếu tố môi trƣờng với hệ thống để xem xét nguyên nhân hình thành, tồn tại, biến đổi
và khả năng suy thoái, phát triển của hệ thống.
Vận dụng phƣơng pháp phân tích hệ thống - cấu trúc, chúng tơi đặt tín ngƣỡng
thờ Ơng Địa – Ơng Tà nhƣ một thành tố có mối liên hệ hữu cơ với những thành tố
khác trong hệ thống văn hóa của ngƣời Việt ở An Giang, qua đó, cho thấy sự tƣơng

tác trở lại của tín ngƣỡng này đến đời sống văn hóa của họ.
5.1.5.

Phương pháp so sánh

Phƣơng pháp so sánh (comparative method) đƣợc tiến hành bằng cách so sánh
các tƣ liệu liên quan đến tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng Tà của ngƣời Việt với các
hình thức tín ngƣỡng, hay đối tƣợng thờ cúng khác của họ; bên cạnh còn so sánh
các tƣ liệu liên quan đến tín ngƣỡng của ngƣời Việt với các tộc ngƣời khác. Từ đó,
chỉ ra những đặc trƣng và đặc thù của tín ngƣỡng này trong văn hóa của ngƣời Việt
An Giang.

5.2. Nguồn tƣ liệu
Đầu tiên là các tƣ liệu chuyên khảo về tỉnh An Giang nói chung đề cập các
lĩnh vực có tác động đến việc hình thành và biến đổi những yếu tố văn hóa, cụ thể là


- 15 -

văn hóa tín ngƣỡng, nhƣ điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, lịch sử, văn
hóa tộc ngƣời, giao lƣu tiếp biến văn hóa,… đƣợc tham khảo, để tiếp thu có chọn
lọc các kết quả có liên quan đến tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng Tà của ngƣời Việt ở
An Giang.
Kế tiếp là các tƣ liệu từ các chuyến khảo sát điền dã mà chúng tôi thu thập
đƣợc, phản ánh một cách chân thực và sinh động về tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng
Tà của các tộc ngƣời tại nhiều địa phƣơng ở An Giang. Tƣ liệu này rất quan trọng
trong việc đƣa ra những nhận định về những đặc điểm của tín ngƣỡng này, cũng
nhƣ những biến đổi của nó trong thực tế cuộc sống. Từ đó, đối chiếu với các tƣ liệu
trong các cơng trình nghiên cứu trƣớc để đƣa ra những nhận định thuyết phục, cũng
nhƣ tìm ra cái mới của vấn đề nghiên cứu. Qua những đợt khảo sát điền dã, chúng

tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu nhiều đối tƣợng có liên đến đề tài (xem phụ lục 1) và
tham dự nghi lễ liên quan đến tín ngƣỡng này (lễ cúng miếu Ông Tà tại xã Tà Đảnh,
huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, ngày 09-10/03/2015, nhằm ngày 19, 20 tháng Giêng
âm lịch năm Ất Mùi – 2015).
Ngoài ra, chúng tơi cịn sử dụng các tài liệu mang tính lý luận, học thuật có
liên quan đến vấn đề nghiên cứu để làm nền tảng lý thuyết cho nội dung cốt lõi của
đề tài. Bên cạnh, chúng tơi cịn sử dụng nguồn tƣ liệu từ những bài viết có liên quan
đến nội dung của đề tài đƣợc đăng tải trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ
báo, đài, internet,… làm tƣ liệu bổ trợ.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1.

Ý nghĩa khoa học

Tìm hiểu một cách cụ thể những đặc điểm trong tín ngƣỡng thờ Ơng Địa –
Ơng Tà của ngƣời Việt ở An Giang. Qua đó, cho thấy tín ngƣỡng này có vai trị, vị
trí nhƣ thế nào và những biến đổi của nó trong đời sống văn hóa tinh thần của ngƣời
dân nơi đây. Bên cạnh, tìm hiểu cách ứng xử của ngƣời dân khi chịu ảnh hƣởng từ
yếu tố văn hóa tâm linh của tín ngƣỡng này.


- 16 -

6.2.

Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài giúp làm phong phú thêm nguồn tƣ liệu về văn hóa dân gian của địa
phƣơng. Qua đó, cũng thấy đƣợc những ảnh hƣởng của q trình giao lƣu tiếp biến

văn hóa đến việc hình thành và củng cố bản sắc văn hóa của tộc ngƣời, cụ thể là văn
hóa tín ngƣỡng của ngƣời Việt ở An Giang.

7. Bố cục luận văn
Bố cục của luận văn dẫn dắt vấn đề từ cái nhìn khái qt chung đến trình bày
một cách cụ thể, có sự so sánh để tìm ra những đặc điểm nổi bật của vấn đề. Ngoài
những phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn
đƣợc chia làm 3 chƣơng:
-

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn: chƣơng này trình bày một cách tóm

lƣợc cơ sở lý thuyết, lý luận về cách tiếp cận và những thuật ngữ liên quan nhằm sử
dụng làm công cụ nhận diện và dẫn dắt vấn đề một cách có logic. Bên cạnh, chƣơng
này cũng nêu một cách sơ lƣợc về vùng đất, con ngƣời và văn hóa An Giang với các
nội dung cụ thể nhƣ mơi trƣờng văn hóa (khơng gian văn hóa và giao lƣu tiếp biến
văn hóa); khái quát các chủ thể văn hóa ở An Giang; khái quát các loại thần Đất của
ngƣời Việt An Giang.
-

Chương 2. Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Ơng Địa – Ông Tà của người

Việt ở An Giang: chƣơng này trình bày những đặc điểm của tín ngƣỡng thờ cúng
Ơng Địa – Ơng Tà của ngƣời Việt ở An Giang thơng qua hình tƣợng, phƣơng tiện,
nghi thức thờ cúng Ơng Địa – Ơng Tà.
-

Chương 3. Chức năng của tín ngưỡng thờ Ông Địa – Ông Tà đối với

người Việt An Giang: chƣơng này trình bày những chức năng của tín ngƣỡng Ông

Địa – Ông Tà đối với văn hóa ngƣời Việt ở An Giang; ngồi ra chúng tơi cịn chỉ ra
một số biến đổi của tín ngƣỡng này đối với ngƣời Việt ở An Giang ngày nay.


- 17 -

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.

Cách tiếp cận và thuật ngữ liên quan

1.1.1.

Cách tiếp cận

Trong nghiên cứu về văn hóa hay các khía cạnh trong văn hóa của một tộc
ngƣời, quốc gia, dân tộc, có rất nhiều hƣớng tiếp cận. Việc xác định hƣớng tiếp cận
nào khi nghiên cứu rất quan trọng, nó có thể quyết định đến cả quá trình và kết quả
nghiên cứu. Với đề tài này, chúng tôi vận dụng các cách tiếp cận địa văn hóa, hệ
thống - chức năng và tơn giáo học.
1.1.1.1.

Cách tiếp cận địa văn hóa

Nhƣ chúng ta đã biết, sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên đã
tạo ra nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, mơi trƣờng tự nhiên có vai trị rất quan trọng
trong tiến trình văn hóa của lồi ngƣời. Do đó, khơng thể bỏ qua việc nghiên cứu
mơi trƣờng tự nhiên – nơi chứa đựng một nền văn hóa đang tồn tại. Địa văn hóa chỉ
một hƣớng tiếp cận văn hóa từ góc độ khơng gian, khảo sát văn hóa theo chiều

ngang, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định những đặc điểm “gốc” của một
nền văn hóa [Đinh Thị Dung, 2014]. Theo đó, ta thấy đƣợc tầm quan trọng trong
việc nghiên cứu khơng gian văn hóa. Điều kiện của mơi trƣờng tự nhiên có tác động
mạnh mẽ đến việc hình thành các yếu tố văn hóa nhƣ nhận thức, ăn, mặc, ở, đi lại,
hoạt động mƣu sinh, tâm linh – tín ngƣỡng, văn học, nghệ thuật,… của một tộc
ngƣời. Theo tác giả Trần Quốc Vƣợng, trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển
của văn hóa, khơng thể không thừa nhận tác động của điều kiện tự nhiên và xã hội.
Điều kiện tự nhiên và lịch sử, xã hội của mỗi vùng không giống nhau. Những nét
khác nhau của các vùng đất về các phƣơng diện ấy sẽ tạo ra sự phát triển của văn
hóa có những điểm khác nhau [Trần Quốc Vƣợng (cb), 2008: 208].
Phạm vi đề tài này đƣợc xác định cụ thể trong phạm vi địa phƣơng An Giang,
nơi có điều kiện tự nhiên khá đặc thù của vùng Tây Nam Bộ. Có thể nói điều kiện


- 18 -

tự nhiên nơi đây đã tác động không nhỏ đến cách nhận thức, lựa chọn và hành xử
của ngƣời dân trong đời sống của họ. Văn hóa vùng Tây Nam Bộ có nhiều nét
tƣơng đồng, tuy nhiên biểu hiện văn hóa của các địa phƣơng lại chứa đựng nhiều
điểm khác biệt, ví nhƣ An Giang là tỉnh tồn tại đa dạng hơn hết các hình thức tơn
giáo tín ngƣỡng, chắc hẳn điều này có liên quan đến địa thế nơi đây. Theo tác giả
Lý Tùng Hiếu “điều kiện địa lý tự nhiên đặc thù của vùng đất An Giang cũng góp
phần giúp cho các tơn giáo cũ mới có mơi sinh thuận lợi để sinh sơi. Đó chính là
cảnh quan u tịch và hoang sơ của vùng núi Thất Sơn, vừa cung cấp khung cảnh
thanh tịnh để tu hành, vừa cho phép ngƣời tu hành tự mƣu sinh bằng cách khai khẩn
đất hoang quanh núi” [Lý Tùng Hiếu, 2012a]. Từ việc tìm hiểu mơi trƣờng tự nhiên
đặc trƣng của An Giang với các khía cạnh về vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, thủy
văn, hệ sinh vật,... cùng với môi sinh của các tộc ngƣời cộng cƣ, có thể thấy đƣợc
những tác động của mơi trƣờng tự nhiên đến việc hình thành các đặc trƣng văn hóa
An Giang nói chung và văn hóa tín ngƣỡng nói riêng. Với địa văn hóa đặc thù, An

Giang tồn tại đa dạng các hình thức thần Đất có mặt ở Việt Nam. Với hƣớng tiếp
cận này, chúng tôi tập trung làm rõ những ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên trong
việc hình thành, hình thức, diễn biến và biểu hiện đặc trƣng trong tín ngƣỡng nói
chung và tín ngƣỡng thờ Ơng Địa – Ơng Tà nói riêng của ngƣời Việt ở An Giang.
1.1.1.2.

Cách tiếp cận hệ thống – chức năng

Trong nghiên cứu văn hóa, chúng ta biết đến nhiều cách tiếp cận hệ thống của
nhiều nhà nghiên cứu đi trƣớc: Cấu trúc hai thành phần Văn hóa vật chất - Văn hóa
tinh thần, đây có thể xem là một hệ thống cấu trúc truyền thống trong nghiên cứu
văn hóa; Văn hóa vật thể - Văn hóa phi vật thể (UNESCO). Cấu trúc ba thành phần
nhƣ Văn hóa sản xuất – Văn hóa vũ trang – Văn hóa sinh hoạt (Trần Quốc Vƣợng);
Văn hóa vật thể - Văn hóa phi vật thể - Văn hóa tâm linh (Nguyễn Tri Nguyên);
Văn hóa nhận thức – Văn hóa tổ chức – Văn hóa ứng xử (Trần Ngọc Thêm). Cấu
trúc đa thành phần – 15 thành tố (Trần Quốc Vƣợng),… [Nguyễn Ngọc Thơ, 2012].
Mỗi một cách tiếp cận hệ thống có thể phù hợp trong một vài trƣờng hợp nhất định.


- 19 -

Vì thế, dựa vào đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu, cần xác định cho mình một hệ
thống cấu trúc phù hợp.
Ở đây, chúng tôi đặc biệt chú ý đến cách tiếp cận hệ thống của tác giả Lý
Tùng Hiếu [2015]. Với cách tiếp cận này, chúng tôi chủ yếu làm nổi bật chủ thể văn
hóa cũng nhƣ những giá trị văn hóa đặc trƣng hình thành và biến đổi cùng với lịch
sử xã hội của chủ thể văn hóa. Với mơ hình hệ thống này, chúng tơi tập trung làm rõ
các nội dung về chủ thể văn hóa, hoạt động văn hóa và những đặc trƣng văn hóa.
(1) Chủ thể văn hố: bao gồm các tộc ngƣời, các cộng đồng ngƣời cƣ trú trong
một không gian văn hố và có các hoạt động văn hố, truyền thống văn hố góp

phần làm nên các đặc trƣng văn hố của khơng gian ấy. Các thuộc tính của chủ thể
văn hố có thể bao gồm: thành phần tộc ngƣời, ngơn ngữ, giai cấp, tầng lớp xã hội,
học vấn, nghề nghiệp, truyền thống văn hoá, ý thức hệ, thế giới quan, nhân sinh
quan, tâm lý, tính cách, lối sống, đạo đức, v.v.
(2) Văn hoá vật thể (tangible culture) là những hoạt động, sản phẩm, giá trị
văn hóa có thể tiếp xúc và tƣơng tác trực tiếp.
(3) Văn hoá phi vật thể (intangible culture) là những hoạt động, sản phẩm, giá
trị văn hóa khơng thể tiếp xúc và tƣơng tác trực tiếp mà phải thông qua những đối
tƣợng làm trung gian truyền dẫn.
Trong đó, văn hóa tín ngƣỡng là một bộ phận cấu thành trong văn hóa phi vật
thể. Văn hóa tín ngƣỡng của An Giang rất phong phú và đa dạng với hình thức khác
nhau. Trong phạm vi đề tài này, chúng tơi tìm hiểu những hoạt động văn hóa qua
một bộ phận cụ thể của văn hóa tín ngƣỡng ở An Giang là tín ngƣỡng thờ Ơng Địa
– Ơng Tà của ngƣời Việt nhƣ một tiểu hệ thống với những biểu hiện đặc trƣng của
nó qua các phƣơng diện: Hình tƣợng, phƣơng tiện thờ cúng, nghi thức thờ cúng,
chức năng của nó đối với chủ thể.
Để có cái nhìn tồn diện, bên cạnh việc vận dụng mơ hình hệ thống nêu trên,
chúng tôi kết hợp hƣớng tiếp cận địa văn hóa qua nội dung mơi trƣờng văn hóa


- 20 -

nhằm tập hợp những thông tin liên quan để đƣa ra kết quả nghiên cứu xác thực [Lý
Tùng Hiếu, 2015].
Cách tiếp cận hệ thống đƣợc triển khai cụ thể bởi các nhà chức năng luận.
Chức năng luận (Functionalism) ra đời gắn với tên tuổi của các nhà nghiên cứu lớn
nhƣ Bronislaw Malinowski (1884 – 1942), Arthur Reginald Radcliffe Brown (1881
– 1955) cùng với những cơng trình của họ. Hai nhà nghiên cứu này đề xuất nghiên
cứu theo hƣớng chức năng luận với các chiều kích khác nhau.
Trong quá trình nghiên cứu văn hóa học, khái niệm chức năng mang hai nghĩa

cơ bản. Một là, nó chỉ ra vai trị, mà yếu tố văn hóa cụ thể nào đó thực hiện trong
mối quan hệ với chỉnh thể; hai là, nó diễn đạt tính phụ thuộc giữa các bộ phận, các
thành tố của văn hóa [Belik, A.A., 2000: 104]. Do đó, chức năng luận đƣợc vận
dụng trong đề tài này nhƣ một trong các hƣớng tiếp cận khả dụng để vấn đề đƣợc
bóc tách đầy đủ các tầng ý nghĩa của nó. Nó nhƣ cơng cụ nhằm làm rõ vai trò, ý
nghĩa và tầm quan trọng của đối tƣợng nghiên cứu.
Theo tác giả Bùi Thế Cƣờng, có thể tóm lƣợc tƣ tƣởng cơ bản của chức năng
luận nhƣ sau: “Bất kỳ một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác
nhau nhƣng liên hệ với nhau, chúng cùng nhau vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo
nên sự ổn định hệ thống. Có thể xem là hiểu đƣợc một bộ phận trong hệ thống khi
hiểu đƣợc cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống. Sự đóng góp vào
việc vận hành ổn định của hệ thống đƣợc gọi là chức năng. Các bộ phận có tầm
quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống” [Bùi Thế Cƣờng, 2006: 74-85].
Theo nghĩa đó, cách tiếp cận chức năng luận thực chất là sự cụ thể hố cách tiếp cận
hệ thống.
Tín ngƣỡng tơn giáo có vai trị thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con ngƣời
trong những bối cảnh lịch sử nhất định. Do đó cần xem xét nó nhƣ một bộ phận
quan trọng cấu thành đời sống tinh thần của con ngƣời, qua đó gián tiếp tác động
đến đời sống nói chung của họ.


- 21 -

Con ngƣời thờ cúng thần linh, với nhiều hình thức tơn giáo khác nhau, có thể
là tơn giáo độc thần hoặc đa thần, những vị thần đƣợc thờ này chiếm giữ một vị trí,
một chức năng riêng biệt trong đời sống tâm linh của họ. Theo tác giả Đặng
Nghiêm Vạn: “dƣới con mắt ngƣời dân, các vị thần thuộc bất kỳ tôn giáo nào khi
ngồi chung trên cùng một điện thần, tất cả đều là những đối tƣợng bảo vệ cái
THIỆN, che chở cho con ngƣời; mỗi vị đều có một chức năng nhất định để con
ngƣời cầu xin” [Đặng Nghiêm Vạn, 2012: 91]. Vì thế, cần làm rõ vai trị và vị trí

của từng đối tƣợng thờ tự nhằm hiểu rõ hơn về đời sống tâm linh tín ngƣỡng của
một nền văn hóa trên các phƣơng diện nhận thức và thực hành nghi lễ của những tín
ngƣỡng đó.
Ngồi ra, mỗi một hành vi mang tính tâm linh trong việc thực hành các nghi
thức trong mỗi tín ngƣỡng cũng có những chức năng và ý nghĩa riêng, điều đó thể
hiện sự đa dạng và phong phú trong văn hóa tinh thần của một nền văn hóa. Và qua
đó, giúp chúng ta có thể nhận diện những đặc trƣng văn hóa tiềm ẩn trong nhiều
khía cạnh văn hóa đang nói đến.
1.1.1.3.

Cách tiếp cận của tơn giáo học

Theo E.B Tylor, “sự tín ngƣỡng đối với những thực thể tâm linh là mức tối
thiểu của tôn giáo” [E.B. Tylor, 2000: 510]. Theo ông niềm tin vào các đối tƣợng
tâm linh hay linh hồn (ma, thần thánh, linh hồn của tổ tiên sau khi chết) đƣợc trình
bày một cách phong phú và đa dạng trong thuyết vật linh là những biểu hiện của tôn
giáo nguyên thủy. Thuyết vật linh đƣợc xem nhƣ một hình thái của tơn giáo,
“Thuyết vật linh trong sự phát triển đầy đủ của nó bao trùm cả những tín ngƣỡng
và những thần linh cai quản và vào những linh hồn phục tùng những thần linh này,
vào linh hồn và vào sự sống tƣơng lai – những tín ngƣỡng chuyển thành sự thờ
cúng thật sự trên thực tiễn” [E.B. Tylor, 2000: 511]. Ơng xem xét những hình thức
tín ngƣỡng này nhƣ một hệ thống tôn giáo đƣợc sáng tạo ra từ trí tuệ của con ngƣời:
“các học thuyết và nghi thức tôn giáo đƣợc xem xét ở đây nhƣ những bộ phận của
các hệ thống tơn giáo do trí tuệ con ngƣời tạo ra, không cần tới một sự giúp đỡ hay


- 22 -

một sự khải thị siêu nhiên nào đó, nói cách khác, nhƣ những nấc phát triển hơn nữa
của tôn giáo tự nhiên” [E.B. Tylor, 2000: 512].

Theo Émile Durkheim: “Tôn giáo là hệ thống liên thể niềm tin và nghi lễ có
liên quan đến những cái linh thiêng (thánh), hay nói khác đi là những cái bị tách
rời và cấm kỵ, gắn kết những con ngƣời phụ thuộc vào nó với một cộng đồng mang
tính đạo đức là tổ chức tôn giáo” [Nguyễn Văn Tiệp – nnk, 2013: 198].
Theo tác giả Lý Tùng Hiếu: ““tôn giáo” là hệ thống những quan niệm, lòng
tin vào các thần linh và những hình thức nghi lễ thể hiện các quan niệm và lòng tin
ấy” [Lý Tùng Hiếu, 2014a: 187 – 211].
Rõ ràng trong các định nghĩa đƣợc dẫn ra đây không thống nhất về hình thức
lẫn nội dung của tơn giáo, tuy nhiên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đối tƣợng
của tôn giáo cùng với cấu trúc cốt lõi bên trong cấu thành một tơn giáo. Đó là tín
ngƣỡng hay niềm tin tôn giáo (beliefs), nội dung tôn giáo (contents), những hành vi
tơn giáo hay cịn gọi là nghi lễ (rituals).
Đối tƣợng của tôn giáo trƣớc hết phải là những thứ mang “tính thiêng” - đối
lập với “cái trần tục” – thứ mà con ngƣời chƣa nhận thức đƣợc hết và xem nhƣ thần
bí có sức mạnh siêu nhiên. Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn: “đối tƣợng của tôn
giáo là thế giới bao gồm các lực lƣợng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng,
đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hƣ
ảo) với con ngƣời, nhằm lý giải những vấn đề trần thế cũng nhƣ ở thế giới bên kia”
[Đặng Nghiêm Vạn, 2012: 82].
Đầu tiên, để cấu thành một hình thức tơn giáo, trƣớc hết phải kể đến tín
ngƣỡng hay niềm tin tôn giáo. Niềm tin tôn giáo khác niềm tin thông thƣờng ở chỗ,
niềm tin đƣợc đặt vào một “lực lƣợng thiêng liêng” nào đó mà con ngƣời khơng thể
chứng thực đƣợc, con ngƣời cho rằng những “lực lƣợng thiêng liêng” đó có khả
năng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với đời sống của họ. Theo tác giả Đặng
Nghiêm Vạn: “niềm tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác,
tạo cho con ngƣời một niềm tin có tính thiêng liêng, giúp ta có thể nhìn nhận đƣợc


- 23 -


những sự vật mà ngƣời thƣờng không thấy đƣợc, tạo cho ta một sức mạnh “thăng
hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục” [Đặng Nghiêm Vạn, 2012: 97].
Hai là, nội dung tôn giáo bao gồm những kinh sách, giáo lý, truyện kể, truyền
thuyết, bí tích, tiểu sử của những đấng sáng thế, các vị thần (nhân thần, nhiên thần,
tinh linh của các vật, thiện cũng nhƣ ác, những ác ma,...). Bên cạnh, nội dung tơn
giáo cịn bao gồm những ƣớc nguyện, mục đích mang tính tuyệt đối, vĩnh cửu cho
cộng đồng, cho cá nhân, điều mà ngƣời trần dù với trình độ khoa học, cơng nghệ
cao đến mấy cũng không vƣơn tới đƣợc: một thế giới cực lạc, một con ngƣời bất tử,
một niềm an ủi để làm vơi bớt nỗi khổ đau của trần gian,... [Đặng Nghiêm Vạn,
2012: 98]. Ngoài những ƣớc nguyện về sự an toàn đối với cuộc sống hiện tại, kéo
dài sự sống hoặc giả là cuộc sống an lạc vĩnh cửu sau khi chết,... thì con ngƣời cịn
mong cầu đối với các “lực lƣợng siêu nhiên” giúp họ sung túc, giàu có hơn trong
cuộc sống hiện tại nơi trần thế.
Ba là, những hành vi tơn giáo hay cịn gọi là nghi lễ, mỗi tôn giáo dù lớn hay
nhỏ đều tồn tại nhiều nghi lễ, nghi thức tôn giáo hay là thực hành tôn giáo. Theo
Nguyễn Minh Khải (cb), hệ thống nghi lễ thể hiện ở các quy định, quy tắc thái độ,
hành vi trong hành lễ tôn giáo – một cách thức (hình thức) tín đồ giao tiếp với thần
linh [Nguyễn Minh Khải cb, 2013: 18]. Việc “giao tiếp” với các thần linh trong mỗi
tơn giáo có thể đƣợc thực hiện thơng qua cá nhân hoặc cộng đồng trong tơn giáo đó
với các hình thức nhƣ tƣởng niệm, cầu xin, kiêng cữ, dâng cúng lễ vật, hành hƣơng,
lễ hội,... [Đặng Nghiêm Vạn, 2012: 118].
Ngồi ra, một hình thái tâm linh đƣợc hiểu là một tôn giáo với đầy đủ các yếu
tố cấu thành phải đảm bảo đối tƣợng tôn thờ của tôn giáo đó có cơ sở thờ tự độc lập,
khơng phối thờ cùng các đối tƣợng thần linh khác; nghi lễ tƣởng nhớ riêng, không
phụ thuộc hay đƣợc cúng kèm theo lễ cúng của vị thần nào khác.
Một số tôn giáo cụ thể cịn có tổ chức tơn giáo thành một hệ thống nhất định.
Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và sự đa dạng, phong phú của các hình thức tơn
giáo, mà yếu tố tổ chức tơn giáo có thể không đƣợc xem nhƣ một yếu tố cơ bản cấu



- 24 -

thành tơn giáo, mà cốt lõi để hình thành một tôn giáo, chúng tôi chủ yếu dựa vào ba
yếu tố nêu trên.
Bên cạnh, có thể nói một hình thái đƣợc xem là tơn giáo khi nó đáp ứng cơ
bản những chức năng và vai trò của cái đƣợc coi là tôn giáo.
Tôn giáo xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử phát triển của nhân loại. Nó nhƣ
một điểm tựa, liều thuốc tinh thần đối với đời sống của đa số bộ phận con ngƣời.
Ban đầu, khi chƣa giải thích đƣợc những hiện tƣợng và nắm bắt đƣợc những quy
luật biến đổi của giới tự nhiên, con ngƣời phải chống chọi, đấu tranh để thích nghi
và ứng phó lại những “sức mạnh vĩ đại” của tự nhiên, con ngƣời có tâm lý sự hãi
đối với chúng, dần xuất hiện những hành vi nhằm cầu viện sự trợ giúp, cứu rỗi từ
sức mạnh của tự nhiên. Tôn giáo thời bấy giờ xuất hiện với chức năng cơ bản của
mình là chức năng đền bù bằng hƣ ảo. Tôn giáo xoa dịu nỗi đau và nỗi thống khổ
của con ngƣời khi họ gặp những bất trắc nhƣng thiên tai, dịch bệnh,... khi đối mặt
với nỗi sợ hãi cái chết, bị áp bức từ những thế lực thống trị,... Niềm tin vào thần
thánh giúp con ngƣời có một chỗ dựa, rằng họ sẽ đƣợc cứu giúp để thốt khỏi tình
trạng khó khăn, nguy hiểm.
Chức năng thứ hai của tôn giáo là chức năng thế giới quan. Xét từ góc độ tơn
giáo học, con ngƣời là chủ thể tạo ra tôn giáo, con ngƣời tạo ra những thần thánh,
đấng sáng thế bằng trí tuệ và thế giới quan của mình, thế nhƣng họ đã nhƣờng
quyền năng sáng tạo lại cho các “đấng siêu nhiên”. Dựa vào tơn giáo, con ngƣời
giải thích những điều chƣa biết về vũ trụ, thế giới và bản thân mình một cách duy
tâm và thần bí. Những điều chƣa lý giải đƣợc trong cuộc sống, con ngƣời quy ƣớc
là do một “lực lƣợng siêu nhiên” nào đó mong muốn và “phù phép”. Theo tác giả
Nguyễn Minh Khải (chủ biên); “trong quan niệm của ngƣời có tín ngƣỡng, tơn
giáo, vai trò chủ thể sáng tạo của con ngƣời bị suy giảm, biến mất, họ rất dễ phó
mặc cho thần thánh” [Nguyễn Minh Khải cb, 2013: 26].
Chức năng quan trọng khác của tôn giáo là chức năng điều chỉnh. Mỗi tơn
giáo đều có hệ thống “giá trị”, chuẩn mực đạo đức tôn giáo nhằm điều chỉnh suy



- 25 -

nghĩ, hành vi ứng xử của con ngƣời với bản thân, với ngƣời khác, với xã hội và với
giới tự nhiên phù hợp với đức tin. Tôn giáo điều chỉnh con ngƣời, vừa có tính tự
giác, vừa có tính bắt buộc tuân theo nội dung ở giáo lý, giáo luật, nghi lễ hành đạo
[Nguyễn Minh Khải cb, 2013: 26, 27].
Đây chỉ mới là những chức năng cơ bản của tơn giáo. Tơn giáo có nhiều chức
năng, những chức năng này liên kết và tồn tại đan xen nhau tạo nên “hệ giá trị”
riêng của tôn giáo đối với đời sống của con ngƣời.
Tơn giáo cùng những hình thức biểu hiện của mình rất phong phú và phức tạp.
Do đó, có rất nhiều cách phân loại tơn giáo khác nhau. Ở đây, chúng tôi vận dụng
cách phân loại tôn giáo của tác giả Lý Tùng Hiếu nhằm nhận diện các hình thức tơn
giáo và những biểu hiện của nó:
Theo tiêu chí nguồn gốc hình thành, có thể phân chia các tôn giáo ở Việt Nam
thành 2 loại: (1) các tôn giáo nội sinh, (2) các tôn giáo ngoại sinh.
Theo tiêu chí đối tƣợng thờ cúng, có thể phân chia các tôn giáo ở Việt Nam
thành 2 loại:
(1) Các tôn giáo đa thần: các tôn giáo thờ cúng nhiên thần, các tôn giáo thờ
cúng nhân thần, một số tôn giáo dân tộc; (2) các tôn giáo độc thần: một số tôn giáo
dân tộc, các tôn giáo thế giới [Lý Tùng Hiếu, 2014a: 187 – 211].
Dựa vào cách tiếp cận tôn giáo học và cách phân loại các tôn giáo ở Việt Nam
của tác giả Lý Tùng Hiếu, tín ngƣỡng thờ Ơng Tà ở An Giang có thể đƣợc xếp vào
tơn giáo thờ cúng nhiên thần thuộc hình thức tơn giáo đa thần, nội sinh và tín
ngƣỡng thờ Ơng Địa chỉ là một bộ phận thuộc hình thức tơn giáo này.
Vận dụng cách tiếp cận tôn giáo học, chúng tôi muốn làm rõ, tín ngƣỡng thờ
Ơng Địa – Ơng Tà là một hình thức/bộ phận của tơn giáo. Do đó, chúng tôi vận
dụng những biểu hiện nhận diện tôn giáo trong việc bóc tách chức năng, vai trị, vị
trí của tín ngƣỡng thờ Ông Địa – Ông Tà trong đời sống của ngƣời Việt ở An

Giang.


×