Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 12 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span><div class='page_container' data-page=1>
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 1
<b>A.</b> <b>SƠ ĐỒTÓM TẮT GỢI Ý</b>
<b>B.</b> <b>DÀN BÀI CHI TIẾT </b>
<b>1.</b> <b>Mởbài</b>
- Giới thiệu vềtác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang
- Dẫn dắt vào vấn đề: hai khổthơ đầu bài thơ
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 2
- Khái quát chung
• Với nhan đề, nhà thơ đã khéo gợi lên một vẻđẹp cổđiển lại hiện đại:
o <i>“Tràng giang</i>” gợi hình ảnh một con sơng dài, rộng lớn.
o Tác giảđã sử dụng từHán Việt để gợi khơng khí cổkính trangnghiêm.
o Tác giảcịn sử dụng từ biến âm <i>“tràng giang</i>” thay cho “<i>trường giang”,</i>hai âm
"<i>ang"</i> đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác vềcon sơng, khơng chỉ
dài vơ cùng mà cịn rộng mênh mơng, bát ngát.
• Câu thơ đề từ “<i>Bâng khuâng trời rộng nhớ</i> <i>sông dài</i>” gợi nỗi buồn sâu lắng trong
lòng người đọc. Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủđạo của tác giả
xuyên suốt tác phẩm. Đó là tâm trạng “<i>bâng khuâng</i>”; nỗi buồn mênh mang, không
rõ nguyên cớnhưng da diết, khôn nguôi. Đó cịn là khơng gian rộng lớn <i>“trời rộng </i>
<i>sơng dài</i>” khiến hình ảnh con người càng trởnên nhỏbé, lẻ loi, tội nghiệp.
Bài thơ diễn tảtâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trước cảnh sông nước bao
la trong một buổi chiều đầy tâm sự.
- Phân tích
• Khổ1: Bài thơ mởđầu bằng một khổthơ mang vẻđẹp thiên nhiên, đậm chất cổ thi.
Cảnh vật thiên nhiên ấy lại được cảm nhận qua tâm hồn “<i>sầu vạn kỉ</i>” của nhà thơ:
<i>“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ </i>
<i>Thuyền vềnước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng.”</i>
o Nhà thơ sử dụng một loạt các thi liệu trong thơ Đường như “<i>thuyền, nước, sóng, </i>
<i>…”</i>. Đó là một bức tranh đẹp như bức tranh thủy mặc nhưng buồn đến tê tái.
o “<i>Sóng gợn” </i>chỉ nhẹ thơi nhưng cứ “<i>điệp điệp</i>” kéo dài khơng dứt, đó chính là
những cơn sóng lịng cứdâng lên khiến cho tác giả buồn bã không nguôi. Huy
Cận đã sử dụng 2 từ láy liên tiếp nhau trong một câu thơ “<i>tràng giang”, “điệp </i>
<i>điệp</i>”. Cách dùng từ thật mới lạ, độc đáo, không phải là buồn bã, da diết mà là
buồn “<i>điệp điệp</i>”, nghĩa là một nỗi buồn tuy khơng mãnh liệt nhưng nó cứliên
tục, khơng ngừng.
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 3
<i>ngả</i>”. Nghệ thuật đối giữa “Thuyền về” và “nước lại” nhằm nhấn mạnh sự chia
ly, xa cách, thể hiện sự nuối tiếc trong lòng tác giả.
o Nếu nỗi buồn ởcâu 1 còn mơ hồchưa định hình rõ ràng thì đến đây nó đã trở
thành nỗi sầu lan tỏa khắp không gian. Từ trước đến giờ ta thấy, <i>“thuyền” </i>và
<i>“nước</i>” là haihình ảnh khơng thểtách rời nhau vậy mà Huy Cận lại chia rẽchúng
ra. Điều này chứng tỏông đã quá đau buồn, ông lúc nàocũng mang trong mình
o Gây ấn tượng nhất trong khổthơ là hình ảnh ẩn dụ“<i>củi một cành khơ</i>” từthượng
nguồn trơi dạt trên dịng sơng, đang phải chọn lựa sẽxi theo dịng nước nào
khiến tác giảliên tưởng đến cuộc đời mình. Ơng cũng như bao người dân mất
nước mang thân phận bọt bèo giữa cuộc đời rộng lớn. Hình ảnh cành củi kia
cịn tượng trưng cho kiếp người nhỏ bé, những văn nghệ sĩ đang băn khoăn,
ngơ ngác, lạc lõng trước nhiều trường phái văn học, ngã rẽ của cuộc đời. Câu
thơ nhiều tầng ý nghĩa, khiến cho ý thơ sâu sắc. Bằng bút pháp nghệ thuật đảo
ngữ: đẩy từ<i>“củi” </i>lên đầu câu, tác giả nhấn mạnh thân phận nhỏbé, bọt bèo của
kiếp người trong cuộc sống.
Đến đây, ta nhận ra nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn của một kiếp người bởi cuộc
đời vốn có nhiều thay đổi, bất ngờ, không báo trước mà con người thì rất nhỏ nhoi
và cơ độc, lẻ loi. Khổthơ đầu gợi một cảm giác bâng khuâng, lo lắng , lạc lõng, chơi
vơi của tác giả giữa dòng đời vơ định, khơng biết sẽđi đâu vềđâu.
• Khổ 2: Nỗi lịng nhà thơ được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của
không gian lạnh lẽo “<i>Lơ thơ cồn nhỏ</i> <i>gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều </i>
<i>Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sơng dài, trời rộng, bến cơ liêu</i>”
o Lúc này, góc nhìn của nhân vật trữtình đã thay đổi, bao quát hơn, rộng hơn khi
từ cảnh sông Hồng chuyển sang không gian bao la của trời đất, bến bờ. Đó là
một khơng gian vắng lặng, n tĩnh: Có cảnh vật (cồn, gió, làng, chợ…) nhưng
cảnh vật lại q ít ỏi, nhỏ nhoi (cồn nhỏ, làng xa, chợvãn... )
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 4
o Có âm thanh nhưng âm thanh ấy lại phát ra từngôi <i>“chợ chiều</i>” đã <i>“vãn</i>” mà làng
lại xa nên không đủ sức làm cho cảnh vật sinh động, có hồn.
Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái gợi lên âm thanh xa xôi, khơng rõ rệt. “<i>Đâu </i>
<i>tiếng làng xa” </i>có thểlà câu hỏi "<i>đâu" </i>như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của
nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể
là "<i>đâu có</i>", một sự phủđịnh hồn tồn,vì chung quanh đây chẳng hề có chút gì
sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Tất cả vẫn chỉlà sự im lặng bao
trùm lên dòng chảy tràng giang.
o Đến hai câu thơ tiếp theo thì khơng gian được mởra bát ngát:“<i>Nắng xuống, trời </i>
<i>lên, sâu chót vót./ Sơng dài trời rộng bến cô liêu”</i>
o Huy Cận đã vẽnên một khung cảnh khơng gian ba chiều rộng lớn: có chiều cao
(nắng xuống, trời lên), có chiều rộng (trời rộng) và cả chiều dài (sơng dài), thậm
chí là có cảđộ“<i>sâu</i>”. Vũ trụthì bao la, vơ tận, cịn con người thì q nhỏbé, cơ
độc lẻ loi.
o Nhà thơ nhìn lên bầu trời và thấy bầu trời “<i>sâu chót vót</i>”. Cách dùng từ thật độc
đáo vì nhà thơ không dùng từ“<i>cao” </i>mà dùng từ “<i>sâu”. “Cao” </i>chỉ độ cao vật lý
của bầu trời. Cịn “<i>sâu</i>” khơng chỉ diễn tảđược độ cao vật lý mà còn diễn tảđược
sự rợn ngợp trước khơng gian ấy. Đó chính là sự rợn ngợp trong tâm hồn của
thi nhân trước cái vô cùng của vũ trụ. Cách sử dụng từ hết sức mới lạ bởi tác
giảđã lồng chiều cao vào chiều sâu; ông đang ngắm cảnh bầu trời cao “<i>chót vót</i>”
dưới mặt nước <i>“sâu” </i>thăm thẳm. Khơng gian càng rộng, hình ảnh con người lại
càng nhỏbé, cơ độc, lẻloi đến tội nghiệp.
o Hình ảnh <i>“bến cô liêu</i>” với âm hưởng man mác của hai chữ“<i>cô liêu</i>” ấy, một lần
nữa lại gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu
<i>chiều"</i>, mọi thứđã tan rã, chia lìa.
Khơng gian càng vắng lặng rộng lớn bao la thì hình ảnh con người càng cô đơn đến
tột cùng. Nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, bao trùm lên cảnh vật.
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 5
• Nội dung: Hai khổthơ cho ta thấy được tâm trạng buồn bã, băn khoăn, ngơ ngác
trước những ngã rẽ của cuộc đời. Thi nhân cảm nhận rõ sự nhỏbé, lẻ loi, cô độc
của một kiếp người giữa dịng đời rộng lớn. Đây khơng phải là nỗi buồn của cá
nhân ông mà là cảm xúc chung của cả một thế hệ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ đầu
thế kỉ XX.
• Nghệ thuật
o Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổđiển và hiện đại:
o Cổđiển ở thểthơ, cách đặt nhan đề, bút pháp “<i>tả cảnh ngụtình</i>”.
o Cịn hiện đại trong việc xây dựng thi liệu, đặc biệt là hình ảnh “<i>cành củi khơ</i>” gây
ấn tượng, cách dùng từ mới lạ“<i>sâu chót vót</i>”.
<b>3.</b> <b>Kết bài:</b>
- Nêu nhận xét, cảm nhận khái quát về hai khổthơ
- Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân
<b>Bài văn mẫu 1 </b>
Không thắm thiết, nồng nàn như Xuân Diệu, cũng chẳng quắt quay đến điên cuồng
như Hàn Mặc Tử, nỗi buồn của Huy Cận tựa hồ như nỗi buồn u hòa của một bậc hiền sĩ
mà vẫn không thiếu chất phong tình của mơt lãng tử. Nỗi buồn của Huy Cận, trái tim u
sầu của nhà thơ tuy cùng chung những nhịp đập u uất, bế tắc của các thi sĩ đương thời mà
vẫn có những họa tần riêng những hơi thởriêng không lẫn vào đâu được. Bài thơ Tràng
giang trong tập Lửa thiêng của chàng thi sĩ 21 tuổi này là nhịp thở của trái tim nhảy cảm
mà mấy thập kỉ qua vẫn chưa nhòa phai trong tâm tưởng đọc giả:
<i>"Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp </i>
<i> Con thuyền xuôi mái nước song song, </i>
<i> Thuyền vềnước lại, sầu trăm ngả; </i>
<i> Củi một cành khô lạc mấy giòng.</i>
<i> Lơ thơ cồn nhỏgió đìu hiu,</i>
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 6
<i> Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;</i>
<i> Sông dài, trời rộng, bến cơ liêu."</i>
Nốt nhạc mởmàn có ngân lên những tiếng lòng tuyệt diệu là điều mà chúng ta cần
phải tìm hiểu, bình xét.
Bài thơ ra đời trong một lần dừng chân ở bờ nam bến chèm, sống Hồng, nhưng có lẽ
nó đã được thai nghén từlâu trong một tâm hồn giàu tình cảm của nhà Thơ mới có thể
Mởđầu bài thơ, cũng là mởđầu khổ thứ nhất bằng cảnh con thuyền, dịng sơng vốn
chẳng cịn là mới trong thi ca Việt Nam:
<i> "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp </i>
<i> Con thuyền xi mái nước song song". </i>
Dịng sơng rộng, dài gợn sóng, đẩy thuyền xi dịng trên những gợn sóng song song,
chởtrên mình cả nỗi buồn chồng chất. Sơng dài vốn được gọi là "<i>trường gian</i>g<i>"</i>theo âm
Hán Việt, vẫn chẳng thay đổi chút nghĩa nào khi gọi tràng giang, mà sao mỗi khi cất giọng
đọc lên, hai âm "ang" họa cùng thanh huyền cùng thanh ngang cứlàm cho âm điệu dàn
trải ra, mở rộng ra làm cho hồn người cùng nỗi lịng tác giảcũng theo đó mà lan ra trên
sông nước. Hai câu thơ được kết nối bằng nhiều từđối nhau mang lại cho cảnh vật chút
gì cổkính, trang nghiêm mà vẫn thấy thấm đẫm tình người với "<i>nỗi buồn điệp điệp</i>". Huy
Cận đã tượng hình cho nỗi buồn. Nỗi buồn "<i>điệp điệp"</i>như từng đợt sống cuộn về, trào
dâng, từng đợt gối vào nhau, và cứ thế không ngớt vỗ vào bờ, vào tâm hồn tác giả. Nỗi
buồn dường như rõ ràng hơn, dễ thấm sâu vào lòng người hơn khi "<i>buồn điệp điệp</i>" hịa
với "<i>nước song song</i>". Sóng nước cứ cuộn trôi chẳng bao giờ gặp gỡ, cứ<i>"song song</i>" đơn
lẻnhư hình ảnh con thuyền xi mái trống có vẻan nhàn mà đơn chiếc. Có con sóng nào
gặp được con sóng nào? Và hồn Huy Cận phải chăng đang giấu kín một điều gì đó tựa hồ
như nỗi buồn, một những thanh bằng vốn là chủ đạo của hai câu thơ trên như làm cho
độc giảthêm tin rằng mình tiếp nhận đúng.
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 7
"<i>Thuyền vềnước lại sầu trăm ngả</i>
<i> Củi một cành khô lạc mấy dịng".</i>
Thuyền, nước cứtrơi, nỗi sầu chia theo sóng nước về đến chốn nào. Một cành cũi
khô quay quay trên dòng nước. Cũng hòa theo bố cục vốn có của bức tranh tràng giang,
mà Huy Cận đã khéo tạo hình, những câu thơ hiện lên những hình ảnh đối lập, tạo nên
nét cổkính cho bài thơ. Hình ảnh đối lập đẹp nhất có lẽlà "<i>thuyền và nước".</i>
Thuyền và nước là những gì sóng đơi ("<i>Chỉ</i> <i>có biển mới biết thuyền đi đâu về</i> <i>đâu"</i>
Xuân Quỳnh - Thuyền và biển) mà sao nghe cứ xa cách, cứ lạc nhịp mà xót xa. Hình ảnh
<i>"Củi một cành khơ</i>" là một hình ảnh táo bạo mới trong thi ca Việt Nam vì lẽ từtrước đến
đây những vật tầm thường vốn không được trang trọng đặt vào vần thơ cổ kính thế.
Nhưng cịn hình ảnh nào hay hơn, gợi tả hơn một cành củi khơ xoay xoay giữa dịng,
khơng biết trôi vềđâu, chỉ biết đi theo vô định và mang theo cái nhỏ nhoi cạn hết nguồn
sông của mình? Cịn trạng thái nào gợi cảm hơn trạng thái <i>"lạc mấy dòng",</i> xoay vần theo
từng con nước? Số thanh bằng, thanh trắc tương xứng và hỗ trợ nhau ởcâu trên, câu dưới
nghe tựa hồnhư từng đợt sóng, đợt sóng lịng hắt lên nỗi buồn hiu quạnh, cơ đơn, chẳng
biết vềđâu, trên mấy dịng vơ định.
Nỗi buồn dâng đầy theo từng đợt sóng, theo từng cảnh vật đi qua đôi mắt cô đơn, âu
sầu ấy:
<i> "Lơ thơ cồn nhỏgió đìu hiu</i>
<i> Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều". </i>
Nhìn trên sóng những cịn nhỏlơ thơ với gió đìu hiu. Nghe trong khơng gian tiếng
chợ vãn văng vẳng đó đây khi bóng chiều bng xuống. Chỉ là "<i>lơ thơ</i>", chỉ là "<i>đìu hiu",</i>
những từláy giản dịmà gợi tả, mà gây xúc động đến lạlùng. Cái quạnh quẽ, cái đơn chiếc
như bật lên thành tiếng thởdài u uất chỉ sau mấy từláy giản dịấy. Huy Cận đã công nhận
<i> "Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gị"</i>
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 8
Chưa hết, cái quạnh hiu như được cộng bằng: "<i>Tiếng làng xa vãn chợ chiều"</i>làm cho không
gian thống rộng của dịng sơng bỗng trởnên ngột ngạt, như ngừng thở trong một không
gian đã buồn lại tĩnh mịch đến khơng ngờ. "<i>Chợ chiều</i>" vốn là những gì sống động cịn sót
lại giờđây đã "<i>vãn"</i>thì phải biết cái sinh khí của cảnh vật chẳng cịn là mấy. Vậy mà, chút
sinh khí động lại chỉvăng vẳng đâu đây, tựa hồnhư những gì ở rất xa mà lại sắp mất. Cảnh
vật qua những vần thơ dàn trải, tiết tấu chậm rãi cứ quyện vào nhau gợi lên một nỗi "<i>sầu </i>
<i>trăm ngả</i>".
Lòng người buồn tưởng chừng như nghẹn lại:
<i> "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,</i>
<i> Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".</i>
Nắng trải xuống cảnh vật, trời như được đẩy lên cao. Sông như dài thêm, trời như
rộng ra, cảnh càng thêm quạnh quẽ. Bước đi của không gian "<i>nắng xuống, trời lên</i>" vốn dĩ
là cái động, nhưng cái động cũng chẳng hơn gì cái tĩnh. Cái động trong tình đã khái quát
được toàn cảnh trời cao lồng lộng, "<i>sâu chót vót</i>", cách sử dụng từ trái ngược như Huy
Cận quảlà dụng công kiến cho cảnh cao, rộng, lại thêm cả chiều sâu. Nhưng hơn cả, có lẽ
từ "<i>sâu chót vót</i>", vẫn gợi lên chút gì lạnh lẽo, băng giá trong khung cảnh trời nước này.
"<i>Bến cô liêu</i>" tựa như một phụâm họa cho bản nhạc lặng buồn thêm buồn lặng.
Cả hai khổthơ là một khúc nhạc mà âm trầm và âm lặng vốn là âm hưởng chủđạo.
Khách văn chương vốn được xem là những người sống trong thế giới của một ảnh.
Thếnhưng, Huy Cận sau này là một nhà thơ tích cực trên cảthi đàn và cả cuộc sống. Xét
đến cùng Huy Cận không phải là nỗi sầu bi quan, yếm thếmà là nỗi sầu nhân sinh, nỗi sầu
khao khát được giao cảm và sống. Điều này đã được chứng minh bằng cuộc đời nhà thơ
và bằng những vần thơ sống động, đắm say với cuộc sống sau này:
<i> "Cái đi em quẫy trăng vàng chóe</i>
<i> Đêm thởsao lùa nước Hạ Long". </i>
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 9
<b>Bài văn mẫu 2 </b>
Có lẽthiên nhiên đẹp và bao la đại ngàn luôn làm khuấy động nỗi lịng và tâm thức
con người, nó khuấy sâu thẳm vào lòng người khiến nỗi sầu càng sầu hơn, vì vây việc
dùng vẻđẹp bao la của thiên nhiên đểbày tỏtâm trạng đã được rất nhiều thi sỹ sử dụng
trong thơ trung đại.
Nhưng Huy Cận đã tiếp thu phong vịđó vào tác phẩm <i>“Tràng Giang</i>” của mình, phổ
thêm những nét mới lạ của thơ hiện đại; qua đó, Huy Cận đã tạo nên cho người đọc những
ấn tượng vềkhông gian của tác phẩm, đặc biệt là trong hai khổthơ đầu.
Ngay từtên bài thơ “<i>Tràng Giang</i>” và lời đề từ<i>“Bâng khuâng trời rộng sông dài</i>”, một
không gian sông nước bao la đã hiện hữu. “<i>Tràng</i>” tức là dài, “<i>Giang”</i>là sông. Sông dài,
trời rộng mở ra một không gian bao la, tươi đẹp, nhưng buồn, nhưng dấy lên trong tâm
hồn tác giả một nỗi “<i>bâng khuâng</i>” lạ kỳ.
Khổthơ đầu tiên, Huy Cận viết:
<i>“Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp </i>
<i>Con thuyền xuôi mái nước song song, </i>
<i>Thuyền vềnước lại, sầu trăm ngả, </i>
<i>Củi một cành khơ lạc mấy dịng”.</i>
Khơng gian bao la, rộng lớn hiện hữu trước mắt, nhưng cũng bởi vậy mà con người
càng cảm thấy lạc lõng, cô đơn. Giữa bạt ngàn của sông nước, con người nhỏbé, lặng lẽ,
cô đơn. Đứng trước không gian ấy, nỗi lịng Huy Cận cũng dâng trào. Từng đợt sóng xơ
trên “<i>Tràng Giang”</i>là “<i>điệp điệp</i>” nỗi buồn trong tâm hồn thi sỹ. Sóng của thiên nhiên vỗ
nhẹ thì cơn sóng lịng dào dạt ùa về. Và từ đây, một khơng gian thứ hai xuất hiện đó là
khơng gian của tình cảm, cảm xúc trong nỗi lịng tác giả. Nhìn vềphía sơng nước bao la,
tác giả thấy một con thuyền cứtrôi theo mái nước song song.
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 10
thuyền kia, vô dịnh và bơ vơ, lạc lõng. Nhìn con thuyền mà nỗi sầu của tác giảnhư dâng
cao, không gian rộng lớn của thiên nhiên đã thôi thúc khơng gian lịng, khiến tác giả cảm
thấy nỗi dầu của mình cũng vơ định như con thuyền ấy, “<i>sầu trăm ngả</i>”.
Một hình ảnh buồn hiện lên trước mắt tác giả : “<i>Củi một cành khô lạc mấy dịng</i>”.
Khơng biết cành củi đáng thương ấy là một vật hữu hình có thực, hay nó là một hình ảnh
chợt xuất hiện trong nỗi cô đơn của Huy Cận, bởi nó cũng nhỏ bé và lạc lõng như con
người.
Giữa dịng đời bao la, giữa sựxơ đẩy của từng dịng sóng, nó cứ trơi lạc lõng, lênh
đênh. Nỗi sầu trong tác giảcàng sầu hơn. Việc sử dụng những hình ảnh thiên nhiên bao
la là một nét quen thuộc trong đường thi, nhưng Huy Cận đã nhờnó mà thầm nói lên nỗi
Ở khổthơ thứ hai, vẫn bắt gặp những hình ảnh trải dài theo không gian, nhưng cái
nỗi cô đơn trong tâm trạng tác giảcàng trải dài hơn nữa:
<i>“Lơ thơ cồn nhỏgió đìu hiu,</i>
<i>Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. </i>
<i>Nắng xuống trời lên sâu chót vót;</i>
<i>Sơng dài, trời rộng, bến cô liêu”.</i>
Không gian hiện ra không chỉđược tác giảquan sát bằng thịgiác, mà tác giảcòn lắng
tai nghe và càng sầu hơn – một nỗi sầu vềnhân thế, về kiếp người, về cuộc sống thời đó.
Đơi mắt tác giả buồn theo và nhìn xung quanh cảnh vật, đôi tai nhạy cảm lẳng nghe những
âm thanh thưa thớt, vãn dần ở xa xa. Cồn nhỏlơ thơ, nhỏbé, cơn gió thì thổi nhẹ nhưng
đìu hiu, như cũng buồn giống tác giả. Huy Cận tinh tế cảm nhận cơn gió ấy, sao mà buồn,
sao mà lặng lẽ, cô liêu.
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net T: 098 1821 807 Trang | 11
Sựsuy tư của Huy Cận như đi vào bầu trời ấy, khoét sâu đến tận vũ trụ xa thẳm ngồi
kia, buồn đến lạlùng. Nhìn lại khung cảnh thiên nhiên bao la ấy, vẫn trời rộng, sơng dài,
vẫn bến cơ liêu và trong lịng tác giả vẫn ồn ào của một nỗi sầu, một nỗi bâng khuâng cô
đơn và vắng vẻ.
Cảnh quan, không gian bao la của thiên nhiên mở rộng ra trước mắt Huy Cận nhưng
mọi thứ đều mờ ảo, mang một cái nét rất trơ trọi, bâng khuâng. Tuy mờ ảo nhưng lại
mang một triết lý sâu xa. Mọi vật hữu hình hiện ra trong mắt Huy Cận đều buồn, đều cô
đơn, cũng như thời thếđất nước bấy giờ, cũng băn khoăn và lạc lõng, trôi nổi vơ đình như
con thuyền, nguy hiểm và nhỏbé như cây củi khơ lạc giữa dịng sơng.
Con người như trơi lạc giữa dòng đời, dòng cuộc sống. Bởi vậy, tuy mọi thứđều mờ
ảo như được phủ một làn khói buồn nhưng đều tơ đậm tính triết lý về cuộc sống và con
người, cũng như một nỗi buồn của người con thương đất nước – Huy Cận.
Tác phẩm “ <i>Tràng Giang”</i>cho đến tận bây giờ vẫn là một đỉnh cao nghệ thuật mà khó
ai có thểvươn tới, bởi sựkhéo léo và tinh tế của tác giả trong việc kéo hợp giữa không
gian thiên nhiên với không gian tâm tình, quan trọng hơn là vì “<i>Tràng Giang</i>” mang một
triết lý sâu xa về cuộc đời, vềđất nước. Tuy không thể hiện trực tiếp nhưng Huy Cận đã
in bóng vào “<i>Tràng Giang</i>” một tình u tổ quốc, cũng sự lặng lẽ buồn trước cuộc sống
thời bấy giờ.
Vì vậy, “<i>Tràng Giang</i>” ln đứng vững và đứng cao trong nền văn học nước nhà, cũng
như trong trái tim của người đọc mãi về sau. Một nỗi buồn đã qua đi từlâu, nhưng dư vị
ấy, cảm giác ấy, nỗi buồn ấy cứđọng mãi với con người sau này mỗi khi đọc “<i>Tràng Giang”, </i>
W: www.hoc247.net F: www.facebook.com/hoc247.net Y: youtube.com/c/hoc247tvc 1
Website <b>HOC247</b> cung cấp một mơi trường <b>học trực tuyến</b>sinh động, nhiều <b>tiện ích thông minh</b>,
nội dung bài giảng được biên soạn công phu và giảng dạy bởi những <b>giáo viên nhiều năm kinh </b>
<b>nghiệm, giỏi về kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng sư phạm</b>đến từcác trường Đại học và các
trường chuyên danh tiếng.
- <b>Luyên thi ĐH, THPT QG:</b>Đội ngũ <b>GV Giỏi, Kinh nghiệm</b> từ các Trường ĐH và THPT danh tiếng xây
dựng các khóa <b>luyện thi THPTQG </b>các mơn: Tốn, NgữVăn, Tiếng Anh, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Học.
- <b>Luyện thi vào lớp 10 chun Tốn: </b>Ơn thi <b>HSG lớp 9</b> và <b>luyện thi vào lớp 10 chuyên Toán</b> các
trường <i>PTNK, Chuyên HCM (LHP-TĐN-NTH-GĐ), Chuyên Phan Bội Châu Nghệ An</i> và các trường Chuyên
- <b>Toán Nâng Cao THCS:</b> Cung cấp chương trình Tốn Nâng Cao, Tốn Chun dành cho các em HS THCS
lớp 6, 7, 8, 9 u thích mơn Tốn phát triển tư duy, nâng cao thành tích học tập ởtrường và đạt điểm tốt
ở các kỳ thi HSG.
- <b>Bồi dưỡng HSG Toán:</b> Bồi dưỡng 5 phân môn <b>Đại Số, Số Học, Giải Tích, Hình Học </b>và <b>Tổ Hợp</b> dành cho
học sinh các khối lớp 10, 11, 12. Đội ngũ Giảng Viên giàu kinh nghiệm: <i>TS. Lê Bá Khánh Trình, TS. Trần </i>
<i>Nam Dũng, TS. Pham Sỹ Nam, TS. Lưu Bá Thắng, Thầy Lê Phúc Lữ, Thầy Võ Quốc Bá Cẩn</i>cùng đơi HLV đạt
thành tích cao HSG Quốc Gia.
- <b>HOC247 NET:</b> Website hoc miễn phí các bài học theo <b>chương trình SGK</b> từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các
môn học với nội dung bài giảng chi tiết, sửa bài tập SGK, luyện tập trắc nghiệm mễn phí, kho tư liệu tham
khảo phong phú và cộng đồng hỏi đáp sôi động nhất.
- <b>HOC247 TV:</b> Kênh <b>Youtube</b> cung cấp các Video bài giảng, chuyên đề, ôn tập, sửa bài tập, sửa đề thi miễn
phí từ lớp 1 đến lớp 12 tất cả các môn Toán- Lý - Hoá, Sinh- Sử - Địa, NgữVăn, Tin Học và Tiếng Anh.
<i><b> Học mọi lúc, mọi nơi, mọi thiết bi – Tiết kiệm 90% </b></i>
<i><b>Học Toán Online cùng Chuyên Gia </b></i>