.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------
NGUYỄN HỒNG THIỆP
MỨC ĐỘ LO ÂU CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC
PHẪU THUẬT NỘI SOI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2020
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------
NGUYỄN HỒNG THIỆP
MỨC ĐỘ LO ÂU CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC
PHẪU THUẬT NỘI SOI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS. LÊ HUY HÒA
2. GS.TS. LORA CLAYWELL
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Cc số liệu,
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nghiên cứu nào khác. Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về
lời cam đoan này.
Tác giả
NGUYỄN HỒNG THIỆP
.
.
MỤC LỤC
Lời cam đoan ...................................................................................................... I
Mục lục ..............................................................................................................II
Danh mục từ viết tắt .......................................................................................... V
Danh mục các bảng ......................................................................................... VI
Danh mục các biểu đồ .................................................................................... VII
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ........................................................................... 5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 6
1.1 Sơ lược tâm lý người bệnh .......................................................................... 6
1.2 Tình trạng lo âu ........................................................................................... 8
1.3 Các cơng trình nghiên cứu về tình trạng lo âu trước PT ........................... 14
1.4 Ung thư đại trực tràng ............................................................................... 17
1.5 Học thuyết điều dưỡng .............................................................................. 21
1.6 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu .................................................................... 25
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......... 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu................................................................................ 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 26
2.3 Cỡ mẫu ...................................................................................................... 27
2.4 Kỹ thuật chọn mẫu .................................................................................... 27
2.5 Kiểm soát sai lệch ..................................................................................... 27
.
.
i
2.6 Các bước tiến hành nghiên cứu ................................................................. 28
2.7 Công cụ thu thập số liệu ............................................................................ 29
2.8 Các biến số cần thu thập và định nghĩa..................................................... 30
2.9 Xử lý số liệu và phân tích số liệu .............................................................. 33
2.10 Vấn đề y đức và tính ứng dụng của nghiên cứu...................................... 34
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 36
3.1 Đặc điểm chung của người bệnh ............................................................... 36
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của NB ............................................................... 39
3.3 Đặc điểm về bệnh của người bệnh ............................................................ 41
3.4 Mức độ lo âu người bệnh trước phẫu thuật của người bệnh ..................... 42
3.5 Những vấn đề lo âu của người bệnh ......................................................... 43
3.6 Các yếu tố liên quan và không liên quan đến lo âu trước phẫu thuật ....... 44
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ............................................................................. 48
4.1 Đặc điểm chung của người bệnh ............................................................... 48
4.2 Đặc điểm về bệnh của người bệnh ............................................................ 53
4.3 Mức độ lo âu của người bệnh.................................................................... 53
4.4 Các vấn đề lo âu của người bệnh .............................................................. 56
4.5 Xác định các yếu tố liên quan đến lo âu ................................................... 58
4.6 Điểm mạnh và hạn chế nghiên cứu ........................................................... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
.
.
PHỤ LỤC 1
Phiếu khảo sát
PHỤ LỤC 2
Bộ câu hỏi đánh giá mức độ lo âu của người bệnh
PHỤ LỤC 3
Những vấn đề lo âu trên người bệnh
PHỤ LỤC 4
Phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu
PHỤ LỤC 5
Danh sách người bệnh tại Bệnh viện Đại học Y dược Cần Thơ tham gia NC
.
.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
NB
: Người bệnh
PT
: Phẫu thuật
PTNS
: Phẫu thuật nội soi
UTĐT
: Ung thư đại tràng
UTĐTT
: Ung thư đại trực tràng
UTTT
: Ung thư trực tràng
Tiếng Anh
APAIS
: Amsterdam Preoperative Anxiety Information Scale
BAI
: Beck Anxiety Inventrory
HADS
: Hospital Anxiety and Depression Scale
HAM-A
: Hamilton Scale
STAI
: State-Trait Anxiety Inventory
UICC
: Union for International Cancer Control
VSA-A
: Visual Analog Scale for Anxiety
WHO
: Word Health Organization
.
i.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Khung học thuyết về sự thoải mái ................................................... 23
Bảng 1. 2 Ứng dụng khung học thuyết về sự thoải mái cho NB PT............... 24
Bảng 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu ....................................................... 28
Bảng 3.1 Tuổi trung bình ................................................................................ 36
Bảng 3.2 Phân bố UTĐTT theo nhóm tuổi ..................................................... 36
Bảng 3.3 Phân bố theo đặc điểm kinh tế xã hội .............................................. 39
Bảng 3.4 Đặc điểm về bệnh của người bệnh .................................................. 41
Bảng 3.5 Vấn đề lo âu người bệnh trước phẫu thuật ...................................... 43
Bảng 3.6 Bảng các yếu tố liên quan đến lo âu người bệnh trước PT
UTĐTT. ........................................................................................................... 44
Bảng 4.1 So sánh tuổi trung bình trong các nghiên cứu ................................. 49
Bảng 4.2 So sánh tỷ lệ nam/nữ trong các nghiên cứu ..................................... 50
Bảng 4.3 Kết quả mức độ lo âu trước phẫu thuật của một vài nghiên cứu ..... 54
.
.
i
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố UTĐTT theo giới ........................................................... 37
Biểu đồ 3.2 Phân bố UTĐTT theo nơi cư trú ................................................. 38
Biểu đồ 3.3 Phân bố UTĐTT theo dân tộc ..................................................... 38
Biểu đồ 3.4 Mức độ lo âu phẫu thuật của người bệnh .................................... 42
.
.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hiện đang là gánh nặng của hệ thống y tế toàn cầu. Theo tổ chức
y tế thế giới năm 2012, trên thế giới có khoảng 14 triệu trường hợp ung thư
mới, đến năm 2030 dự kiến sẽ tăng lên 21,7 triệu trường hợp ung thư [71]. Tại
Việt Nam, ước tính mỗi năm có khoảng 150 nghìn NB ung thư mới và dự báo
tới năm 2020 sẽ tăng lên 200 nghìn trường hợp [14]. Trong đó, tỷ lệ hiện mắc
ung thư đường tiêu hóa tại Việt Nam năm 2017 gần 240 nghìn ca chiếm gần
40% trong tất cả các loại ung thư [70].
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là bệnh phổ biến tại các nước Âu Mỹ
và đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hoá. Theo số liệu của Tổ chức Y tế
năm 2018, ung thư đại trực tràng là một trong 3 căn bệnh ung thư có tỷ lệ mắc
cao (sau ung thư phổi và ung thư vú) và thuộc nhóm 5 căn bệnh ung thư dẫn
tới tử vong, UTĐTT đã ảnh hưởng tới 1,4 triệu người, 55% trong số đó sống ở
các nước cơng nghiệp [30]. Hiệp hội Phòng chống Ung thư Quốc tế (UICCUnion for International Cancer Control) ước tính mỗi năm trên thế giới có
khoảng 1,2 triệu trường hợp UTĐTT mới được phát hiện và khoảng 5000
trường hợp tử vong [30]. Năm 2016, ước tính có khoảng 1.324.922 người mắc
bệnh ung thư đại trực tràng ở Hoa Kỳ [28]. Ở Việt Nam, theo số liệu ghi nhận
năm 2018, UTĐTT đứng hàng thứ 5 trong tất cả các loại ung thư, sau ung thư
phổi, dạ dày, vú, gan và đứng hàng thứ 3 trong ung thư đường tiêu hóa, sau ung
thư gan và ung thư dạ dày [12].
Cho đến nay, phẫu thuật là phương thức điều trị chính cho ung thư đại
trực tràng với mục đích chữa bệnh, điều trị triệu chứng khi người bệnh bị biến
chứng: thủng đại tràng hoặc tắc nghẽn [16].
Mặc dù phẫu thuật là phương pháp điều trị hiệu quả nhất trong ung thư
đại trực tràng nhưng phẫu thuật cũng ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của
.
.
người bệnh. Phẫu thuật thường ảnh hưởng lớn đến tâm lý người bệnh, người
bệnh thường đặt câu hỏi: mổ có nguy hiểm khơng, sau mổ có đau khơng, mổ
có lành bệnh khơng, có để lại di chứng, biến chứng khơng, chi phí có nhiều
khơng...[71]. Đây chính là những vấn đề lo âu của người bệnh trước phẫu thuật.
Lo âu là một trạng thái tâm lý phổ biến ở người bệnh khi nằm viện, đặc
biệt là ở người bệnh điều trị bằng phẫu thuật. Lo âu được định nghĩa là một
cảm giác không thoải mái, sợ hãi, căng thẳng và e ngại. Nó là một phản ứng
với bên ngồi hoặc kích thích bên trong và có thể có các triệu chứng về hành
vi, cảm xúc, nhận thức, thể chất [15]. Lo âu có thể xuất hiện trong cả ba giai
đoạn: trước phẫu thuật, trong quá trình phẫu thuật và sau phẫu thuật. Lo âu ảnh
hưởng đáng kể đến người bệnh và cũng là một trong nhiều lý do để điều dưỡng
phải quan tâm, chăm sóc. Lo âu có tác động trực tiếp đến sự thành công của
phẫu thuật và sự phục hồi sức khỏe của người bệnh sau phẫu thuật. Giai đoạn
trước phẫu thuật là một trong những sự kiện đáng lo ngại đối với hầu hết người
bệnh phẫu thuật. Nó thường kích hoạt cảm xúc, nhận thức và sinh lý phản ứng.
Mục tiêu của chăm sóc điều dưỡng quanh phẫu thuật là cung cấp môi trường
tốt hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh trước, trong và sau
phẫu thuật [72]. Lo âu trước phẫu thuật là một vấn đề đầy thách thức trong
chăm sóc trước phẫu thuật của người bệnh. Một mức độ thấp phổ biến của lo
âu là một phản ứng mong đợi đối với những điều khơng thể đốn trước hoặc
trường hợp có khả năng đe dọa tính mạng, đặc biệt là đối với một kinh nghiệm
phẫu thuật đầu tiên của người bệnh. Tuy nhiên, cao hơn và mức độ lo âu trước
phẫu thuật kéo dài dẫn đến chậm trễ trong việc chữa lành vết thương cũng như
cần liều thuốc gây mê lớn hơn và phục hồi kém. Hầu hết người bệnh trong giai
đoạn tiền phẫu đều cảm thấy lo âu và coi như một phản ứng thông thường [31],
[34]. Lo âu trước phẫu thuật có thể dẫn đến một số biến chứng trên người bệnh,
và một trong những biến chứng là đau. Đau là mong muốn phổ biến của người
.
.
bệnh sau phẫu thuật hầu hết xảy ra do lo âu trước phẫu thuật và là một yếu tố
phổ biến. Lo âu trước phẫu thuật đã được tìm thấy dẫn đến một số vấn đề như
buồn nôn, nôn, rối loạn tim mạch như nhịp tim nhanh và tăng huyết áp, và tăng
nguy cơ nhiễm trùng. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một tỷ lệ lớn người bệnh
phẫu thuật gặp phải lo âu trước phẫu thuật đáng kể và điều này đã được báo cáo
gây ảnh hưởng đến 60-80% người bệnh phẫu thuật [58]. Mức độ mà mỗi người
bệnh biểu hiện lo âu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như người bệnh nhạy cảm với
lo âu trước phẫu thuật, tuổi, giới tính, kinh nghiệm trong q khứ với phẫu
thuật, tình trạng giáo dục, loại và mức độ của phẫu thuật đề xuất, tình trạng sức
khỏe hiện tại, và tình trạng kinh tế xã hội. Xác định các yếu tố rủi ro giúp người
điều dưỡng cung cấp hỗ trợ tâm lý trong thăm khám trước phẫu thuật để giảm
căng thẳng. Một số nhóm người bệnh, ví dụ: nữ, người bệnh trẻ tuổi, người
bệnh khơng có tiền sử phẫu thuật trước đó kinh nghiệm hoạt động có mức độ
lo âu trước phẫu thuật tăng lên [71]. Một nghiên cứu của Henok Mulueta (2018)
[53] được thực hiện ở bệnh viện Debre MarKos và Felege Hiwot, Tây Bắc
Ethiopia, cho thấy tỷ lệ chung của lo âu trước phẫu thuật là 61%. Tương tự,
một nghiên cứu của Wetsch (2009) [63] được thực hiện ở Áo báo cáo rằng lo
âu trước phẫu thuật chiếm 45,3% trong số người bệnh phẫu thuật nhập viện.
Hơn nữa, kết quả nghiên cứu của Akinsulore (2015) [23] được thực hiện trong
bệnh viện đại học ở Nigeria và một nghiên cứu thí điểm ở Nigeria cho thấy
51,0% và 90% người bệnh phẫu thuật có lo âu đáng kể trước phẫu thuật. Nghiên
cứu Eva Reyes-Gilaber (2017) [59] về đánh giá sự lo âu trước và sau phẫu thuật
ở người bệnh trải qua phẫu thuật miệng cấp cứu với thang điểm STAI-S cho
thấy tỷ lệ lo âu sau phẫu thuật là 73,3% trên 33 người bệnh. Nghiên cứu Marta
Medeiros & Celina Tizuko Fujiyama Oshima (2010) [52] về trầm cảm và lo âu
trên người bệnh ung thư đại trực tràng, cho thấy kết quả nhóm người bệnh được
điều trị bằng phẫu thuật thì trầm cảm và lo âu cao hơn ở nhóm người bệnh được
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
4
điều trị bằng hóa trị … Tại Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu về sự lo âu
của người bệnh trước phẫu thuật nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập về sự
lo âu của người bệnh trước phẫu thuật ung thư đại trực tràng. Vậy, mức độ lo
âu của người bệnh trước phẫu thuật ung thư đại trực tràng như thế nào và các
yếu tố liên quan đến lo âu của người bệnh trước phẫu thuật ung thư đại trực
tràng là gì? Đó là câu hỏi nghiên cứu. Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng tôi thực
hiện đề tài “Mức độ lo âu của người bệnh trước phẫu thuật nội soi ung thư
đại trực tràng và các yếu tố liên quan”.
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
5
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát:
Xác định các yếu tố liên quan đến lo âu của người bệnh trước phẫu thuật
nội soi ung thư đại trực tràng.
Mục tiêu cụ thể:
1. Xác định mức độ lo lâu của người bệnh trước phẫu thuật nội soi ung thư
đại trực tràng theo thang điểm HADS-A.
2. Xác định các yếu tố liên quan đến mức độ lo âu của người bệnh trước
phẫu thuật nội soi ung thư đại trực tràng: dân số, hỗ trợ xã hội và tình trạng
bệnh
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược tâm lý người bệnh
1.1.1 Tâm lý người bệnh
Tâm lý là sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, não
làm chức năng phản ánh đó. Sự phản ánh này có tính chất chủ thể và mang bản
chất xã hội - lịch sử.
Khi bị bệnh, tâm lý người bệnh cũng bị thay đổi. Sự thay đổi tâm lý
người bệnh thường diễn ra trên hai bình diện:
+ Bình diện thứ nhất: mối quan hệ tương hỗ giữa hiện tượng tâm lý với bệnh
tật.
+ Bình diện thứ hai: mối quan hệ giữa tâm lý người bệnh và môi trường xung
quanh (kể cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) [10], [15].
1.1.2 Tâm lý người bệnh và bệnh tật
Tâm lý người bệnh ảnh hưởng trở lại với bệnh tật đến mức nào là tùy
thuộc vào đời sống tâm lý vốn có của người bệnh. Mỗi người bệnh có những
thái độ khác nhau đối với bệnh tật. Có người cho bệnh tật là điều bất hạnh
không thể tránh được, đành cam chịu, mặc cho bệnh tật hoành hành. Có người
kiên quyết đấu tranh, khắc phục bệnh tật. Có người không sợ bệnh tật, không
quan tâm tới bệnh tật. Có người sợ hãi, lo âu vì bệnh tật. Đơi khi chúng ta gặp
những người thích thú với bệnh tật, dùng bệnh tật để tô vẽ cho thế giới quan
của mình. Bên cạnh những người giả vờ mắc bệnh, lại có người giả vờ như
khơng bị bệnh tật... Thái độ đối với bệnh tật nói riêng và đời sống tâm lý của
người bệnh nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động năng lực bản
thân trong phòng và chữa bệnh cũng như trong khắc phục hậu quả bệnh tật của
người bệnh.
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
7
Những diễn biến bệnh tật và biến đổi tâm lý của người bệnh tác động lẫn
nhau theo vịng trịn khép kín: bệnh ảnh hưởng đến tâm lý của người bệnh và
ngược lại, tâm lý cũng ảnh hưởng đến diễn biến và kết cục của bệnh.
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của người bệnh ung thư
Những người bệnh này thường khơng được biết chính xác về kết quả
chẩn đốn bệnh. Họ tị mị tìm hiểu từ bác sĩ và những người xung quanh. Họ
sợ bị bệnh ung thư, sợ chết. Họ có trạng thái suy nhược, tăng ám thị (sẵn sàng
nghe theo bất kỳ ai, miễn là giúp họ khỏi bệnh, hoặc làm dịu cơn đau). Nhiều
người tỏ ra thất vọng, tiêu cực, sợ trở thành gánh nặng đối với người thân, thậm
chí đi đến tự sát, khơng thiết sống...[10]
1.1.4 Đặc tính tâm lý người bệnh phẫu thuật
Bệnh tật là một chấn thương tâm lý và cơ thể, gây nên sự lo sợ. Mức độ
tuỳ thuộc vào bệnh nặng, nhẹ, cấp hoặc mạn tính. Cuộc đời con người, ai cũng
đã từng trãi qua bệnh tật nhẹ hoặc nặng, có tâm trạng lo âu và mong có sự hỗ
trợ của nhân viên y tế. Đặc biệt là bệnh cần can thiệp phẫu thuật thường có ảnh
hưởng lớn đến tâm lý người bệnh, họ có rất nhiều nỗi lo như: Mổ có nguy hiểm
khơng, bác sĩ nào mổ, sau mổ có lành bệnh khơng, có để lại di chứng, biến
chứng khơng... Do đó người bệnh chuẩn bị phẫu thuật, tâm trạng lo âu chiếm
đến 83.43%, trong lúc đó tâm lý yên tâm 13.49% và sợ hãi 3.06%. Vì vậy, việc
hỗ trợ tâm lý cho người bệnh là rất cần thiết, nhằm nâng cao sức chống đỡ, tăng
hiệu quả điều trị [10].
Đau nói chung và đau sau mổ nói riêng gây cảm giác sợ hãi, lo lắng rất
khó chịu, thậm chí còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, đời sống và
sự phục hồi của người bệnh. Kết quả khảo sát cho thấy trước phẫu thuật người
bệnh sợ đau 64.41%, sợ phẫu thuật 11.65%, sợ tái phát 19.63% và sợ rủi ro
4.29%. Đau gây ra hàng loạt các rối loạn tại chỗ và toàn thân như làm tăng các
chấn thương tâm lý của cơ thể đối với tổn thương, gây rối loạn về nội tiết,
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
8
chuyển hóa, hơ hấp và tuần hồn, làm chậm q trình hồi phục sau phẫu thuật,
đặc biệt làm tăng nguy cơ trở thành đau mạn tính mà người bệnh sẽ phải chịu
suốt đời dù vết mổ đã lành hồn tồn. Sau khi thốt mê khó chịu nhiều nhất là
đau 85.88%, khát 7.79%, cảm giác bị bỏ rơi 3.68% và nóng chỉ có 2.24%. Đau
sau mổ cịn có thể gây ra các biến chứng sớm và nguy hiểm như tăng huyết áp,
loạn nhịp tim, suy hô hấp... và có thể dẫn đến tử vong. Vì vậy, trong nghiên
cứu của Zhang và Cooper (2010) [65] đã cho thấy rằng, mong muốn nhiều nhất
của người bệnh sau mổ là giảm đau 69.93%, mau lành bệnh 23.31%, hồi phục
sớm 3.08%, làm việc lại như cũ 3.68% [65].
1.2 Tình trạng lo âu
1.2.1 Định nghĩa lo âu
Lo âu là một cảm giác mơ hồ, chủ quan, không cụ thể của sự không thoải
mái, cảm giác e ngại, căng thẳng, lo âu quá mức, cảm giác sắp chết, tránh sự
bất hợp lý của các đối tượng hoặc tình huống và cuối cùng lo âu tấn công [15].
1.2.2 Một số loại lo âu
Rối loạn hoảng loạn: Những người có cảm giác lo âu đột ngột và liên tục
mà không báo trước. Các triệu chứng khác của một sự hoảng loạn bao gồm đổ
mồ hôi, đau ngực, đánh trống ngực, nhịp tim đập mạnh bất thường và cảm giác
nghẹt thở [15].
Rối loạn lo âu xã hội: Còn gọi là ám ảnh xã hội, điều này bao gồm sự lo
âu và tự ý thức về những tình huống xã hội hằng ngày. Lo âu thường tập trung
vào sự sợ bị người khác đánh giá hoặc hành xử theo cách có thể gây bối rối
hoặc dẫn đến chế giễu [15].
Ám ảnh cụ thể: Đây là những nỗi sợ hãi mãnh liệt của một đối tượng cụ
thể hoặc tình huống. Mức độ sợ hãi thường khơng phù hợp với tình hình và có
thể khiến bạn tránh những tình huống thông thường hằng ngày [15].
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
9
Rối loạn lo âu tổng quát: Đây là sự lo âu và căng thẳng quá mức, khơng
thực tế, ngay cả khi có ít hoặc khơng có gì để kích thích sự lo âu [15].
1.2.3 Các biểu hiện của rối loạn lo âu
Lo âu là một trạng thái căng thẳng cảm xúc lan tỏa, hết sức khó chịu
nhưng mơ hồ như cảm giác trống rỗng ở thượng vị, xiết chặt ở ngực, hồi hộp,
vã mồ hôi, đau đầu, run, khô miệng, đau cơ, kèm sự bứt rứt bất an đứng ngồi
khơng n.
Lo âu có hai thành phần chính: Các biểu hiện báo trước của cảm giác cơ
thể (khô miệng, đánh trống ngực,…) và trải nghiệm cảm giác khiếp sợ. Lo âu
cũng ảnh hưởng lên tư duy, tri giác và học tập. Có sự liên quan giữa lo âu với
hoạt động trí óc và cơ thể. Lúc ban đầu, khi lo âu vừa mới khuấy động lên thì
hoạt động được cải thiện tốt lên: đó là thời kỳ hoạt bát, và khi lo âu trở nên quá
mức làm hao tốn nhiều năng lực thì chuyển sang thời kỳ suy yếu, làm giảm khả
năng các động tác vận động khéo léo và các nhiệm vụ trí tuệ phức tạp. Người
bệnh lo âu lâm sàng bị các ảnh hưởng này. Lo âu trở thành lo âu lâm sàng khi
nó xuất hiện khơng có liên quan đến một mối đe dọa nào có thể tồn tại hoặc
kéo dài. Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt các hoạt động, lúc đó được gọi là
lo âu bệnh lý [15].
1.2.4 Nguyên nhân lo âu
Nguyên nhân chính xác của rối loạn lo âu là không rõ, nhưng rối loạn lo
âu giống như các dạng bệnh tâm thần khác không phải là kết quả của sự suy
yếu cá nhân, thiếu sót về nhân cách. Các nhà khoa học cho rằng rối loạn này là
do sự kết hợp của các yếu tố, bao gồm cả sự thay đổi trong não và căng thẳng
môi trường [15].
1.2.5 Đo lường sự lo âu
Có rất nhiều cơng cụ đo lường mức độ lo âu của người bệnh, những công
cụ thường được sử dụng như: The State-Trait Anxiety Inventory (STAI), The
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
10
Beck Anxiety Inventrory (BAI)), The Amsterdam Preoperative Anxiety
Information Scale (APAIS), Visual Analog Scale for Anxiety (VSA-A),
Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A), HADS (Hospital Anxiety and
Depression Scale) [72].
The State-Trait Anxiety Inventory (STAI) là công cụ tự báo cáo sự lo âu
được Charles Spielberger và cộng sự xuất bản năm 1983, đánh giá tình trạng lo
âu hiện tại, hỏi người trả lời cảm thấy thế nào ngay bây giờ, sử dụng các vật
phẩm đo lường cảm giác chủ quan của sự e ngại, căng thẳng, lo âu, và kích hoạt
/ kích thích của thần kinh tự trị hệ thống. STAI có 40 mục, 20 mục được phân
bổ cho mỗi phân nhóm: S-Anxiety và T-Anxiety. Các phản hồi cho thang đo
S-Anxiety đánh giá cường độ của cảm xúc hiện tại. Tại thời điểm này, ngay lập
tức: 1) hồn tồn khơng, 2) phần nào, 3) vừa phải, và 4) rất nhiều. Các phản hồi
cho thang đo T-Anxiety đánh giá tần suất cảm xúc nói chung, 1) gần như khơng
bao giờ, 2) đôi khi, 3) thường xuyên và 4) hầu như luôn luôn. Các hệ số độ tin
cậy kiểm tra lại thử nghiệm trên phát triển ban đầu dao động từ 0,31 đến 0,86,
với các khoảng từ 1 giờ đến 104 ngày. STAI cũng có mối tương quan cao với
trầm cảm, trong một số nghiên cứu, STAI không phân biệt lo âu với người bệnh
trầm cảm [72].
The Beck Anxiety Inventrory (BAI) là một thước đo ngắn gọn về sự lo
âu, tập trung vào các triệu chứng lo âu được phát triển như một biện pháp lão
luyện trong việc phân biệt giữa lo âu và trầm cảm. BAI được quản lý thông qua
tự báo cáo và bao gồm đánh giá các triệu chứng như hồi hộp, chóng mặt, khơng
thể thư giãn,…BAI có tổng cộng 21 mục, những người được hỏi cho biết họ đã
bị làm phiền đến mức nào trong mỗi triệu chứng trong tuần qua. Phản hồi được
đánh giá theo thang điểm Likert 4 điểm và phạm vi từ 0 (hoàn toàn không) đến
3 (nghiêm trọng). Tổng số điểm nằm trong khoảng từ 0 - 63. Các hướng dẫn
sau đây được khuyến nghị cho việc giải thích điểm số: 0 - 9, bình thường hoặc
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
11
khơng lo âu; 10 -18, lo âu nhẹ đến trung bình; 19 -29, lo âu vừa đến nặng; và
30 - 63, lo âu nặng nề. Tính nhất quán bên trong rất cao với bảng chữ cái của
Cronbach từ 0,90 đến 0,94 và đã được thử nghiệm trong các mẫu lớn người
bệnh tâm thần, sinh viên đại học và người lớn sống trong cộng đồng. Các hệ số
kiểm tra lại thử nghiệm là hợp lý và nằm trong khoảng từ 0,62 (khoảng thời
gian 7 tuần) đến 0,93 (khoảng thời gian 1 tuần). BAI không đánh giá các triệu
chứng lo âu chính khác, đáng chú ý nhất là lo âu và các khía cạnh nhận thức
khác của lo âu [72].
The Amsterdam Preoperative Anxiety Information Scale (APAIS) được
xây dựng vào năm 1996 của Nelly Moermann và cộng sự. APAIS là công cụ
đáng tin cậy cho các chuyên gia gây mê, gây tê dùng để đánh giá sự lo lắng
trước mổ và các thông tin cần cung cấp của người bệnh. Bảng câu hỏi này bao
gồm sáu mục và là một công cụ kinh tế. Các vật phẩm được đánh giá theo thang
điểm Likert năm điểm với các cực cuối, khơng phải là tất cả (1) và cực kỳ khó
khăn (5). Nó đại diện cho hai thang đo lo âu (mục 1, 2, 4 và 5; Cronbachs α =
0.86) và nhu cầu thông tin (mục 3 và 6; Cronbachs α = 0.72). Hai thang đo được
nhân rộng phân tích. Trong một số nghiên cứu, tổng giá trị được tính bằng cách
cộng hai thang đo lo âu và nhu cầu thông tin. APAIS tương quan với Thang đo
trạng thái lo âu nhà nước (STAI) với r = 0,74 [1], r = 0,67 cũng như r = 0,64 là
một chỉ số tốt cho tính hợp lệ của nó. Hơn nữa, bảng câu hỏi này phù hợp để
dự đoán đau sau phẫu thuật. Thang đo APAIS khơng thể hiện đặc thù giới tính.
Hơn nữa, những ảnh hưởng có thể có của các yếu tố khác đối với sự lo âu và
nhu cầu thông tin đã được kiểm tra (ở đây không được hiển thị). Không phải
bằng cách tương quan hay so sánh các nhóm con có thể ảnh hưởng đến các yếu
tố ảnh hưởng đến thiết kế này. Tương tự, khơng có ảnh hưởng theo tuổi tác, các
biến số nhân khẩu học xã hội khác, các ca phẫu thuật trước đó và loại bệnh tật
có thể được xác định [27].
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
12
Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A) được xây dựng bởi Hamilton
vào năm 1959, là một trong những thang đo đầu tiên để đo lường mức độ
nghiêm trọng của các triệu chứng lo âu, thang đo đã được chứng minh là hữu
ích khơng chỉ trong việc theo dõi từng người bệnh mà còn trong nghiên cứu
liên quan đến nhiều người bệnh. Thang đánh giá lo âu Hamilton (HAM-A) là
một công cụ được sử dụng rộng rãi và được xác nhận hợp lệ để đo lường mức
độ nghiêm trọng của sự lo âu của người bệnh. Thang điểm gồm 14 mục, mỗi
mục được tính theo thang điểm 5, từ 0 = khơng có đến 4 = nghiêm trọng. Tại
một thời điểm, khi rối loạn lo âu tổng quát là một rối loạn không đặc hiệu được
đặc trưng bởi các triệu chứng lo âu lan tỏa, việc sử dụng HAM-A là phù hợp.
Tuy nhiên, quy mô là kém trong phân biệt giữa lo âu chung chung [44].
Visual Analog Scale for Anxiety (VSA-A), là thang đo tự đánh giá sự lo
âu của người bệnh bằng cách chọn các con số thể hiện mức lo âu của họ trong
khoảng từ 0 đến 100 mm, với 0 là không lo âu và 100 là lo âu nghiêm trọng
[72].
Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS-A), được phát triển như
một thước đo ngắn gọn từ các triệu chứng của lo âu tổng quát. Mục đích của
HADS-A nhằm phát hiện các dấu hiệu và biểu hiện lo âu, trầm cảm liên quan
tới các bệnh mạn tính. Thang đo này đã được dịch ra tiếng Việt, chuẩn hóa và
được áp dụng trên một số bệnh lý mạn tính tại Việt Nam như trên người bệnh
ung thư và thường được sử dụng để xác định mức độ lo âu, trầm cảm mà người
bệnh trải qua. HADS là một thang điểm gồm mười bốn mục, trong đó: 07 mục
liên quan đến trầm cảm và 07 mục liên quan đến lo âu. Mỗi mục trong bảng
câu hỏi được tính từ 0 đến 3 điểm và điều này có nghĩa là một người có thể đạt
được điểm số giữa 0 và 21 đối với chứng lo âu hoặc trầm cảm [50]. Bjelland và
cộng sự (2002) thơng qua một tổng quan có hệ thống với mục tiêu: xem tài liệu
và tính hợp lệ của thang đo độ lo âu và trầm cảm của bệnh viện HADS. Phương
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
13
pháp: đánh giá 747 giấy tờ đã được xác định sử dụng HADS đã được thực hiện
[28]. Kết quả: Alpha của Cronbach đối với HADS-A dao động từ 0.68 đến 0.93
(trung bình 0.83) và cho HADS-D từ 0.67 đến 0.90 (trung bình 0.82). Trong
hầu hết các nghiên cứu, sự cân bằng tối ưu giữa độ nhạy và độ đặc hiệu đã đạt
được khi tính ngẫu nhiên được xác định bằng điểm 8 hoặc cao hơn. Độ nhạy
và độ đặc hiệu của cả HADS-A và HADS-D xấp xỉ 0.80 tương đương với độ
nhạy và độ đặc hiệu của bảng câu hỏi Y tế Tổng quát (General Health
Questionnaire-GHQ). Tương quan giữa HADS và các bảng câu hỏi phổ biến
khác nằm trong khoảng từ 0.49 đến 0.83 [28].
Kết luận: HADS được phát hiện có hiệu quả trong việc đánh giá mức độ
trầm trọng tình trạng rối loạn lo âu, trầm cảm ở cả người bệnh tâm thần và
người bệnh không tâm thần. Trong nghiên cứu này HADS-A được sử dụng bậc
thang đánh giá lo âu (SAS) và bản kiểm kê tình trạng hiện trạng lo âu (ATI) do
Zung (1971) phát triển. Hai thang đo này được phát triển để đánh giá sự lo âu
như rối loạn tâm thần [44]. SAS và ATI bao gồm các mục tương tự nhưng được
trình bày dưới dạng cho phép cả người bệnh tâm thần và nhân viên y tế đánh
giá. Điểm số chuyển đổi của cả hai quy mô dao động từ 25 đến 100. Zung đề
xuất một điểm cắt của 44/45 để chỉ ra lâm sàng đáng lo ngại. Điểm số 45 đến
59 cho thấy lo âu nhẹ đến mức vừa phải; 60 đến 74 cho thấy có dấu hiệu lo âu
nghiêm trọng và 75 trở lên cho thấy lo âu cực đoan. Alpha Cronbach của người
bệnh không bị ảnh hưởng và tâm thần là 0.69 và 0.81 (McDowell, 2006) [44].
HADS-A đã được chứng minh được tính giá trị và tính ổn định trong nhiều
nghiên cứu, HADS-A cũng được dịch sang tiếng Việt và cũng được kiểm tra
tính giá trị và ổn định trong các nghiên cứu trước [1], [22]. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi sử dụng HADS-A để xác định sự lo âu của người bệnh trước
phẫu thuật ung thư đại trực tràng.
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
14
1.3 Các cơng trình nghiên cứu về tình trạng lo âu trước PT
1.3.1 Các cơng trình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Thái Hòang Để, Dương Thị Mỹ Thanh năm 2011 [18],
qua khảo sát 163 người bệnh nghiên cứu cho thấy tâm lý lo lắng trước mổ chiếm
tỷ lệ rất cao (83,43%), sau mổ đau là vấn đề người bệnh quan tâm nhất (85,88%)
và mong muốn chủ yếu là được giảm đau (69,93%).
Khảo sát trên 90 người bệnh trước phẫu thuật bụng tại bệnh viện Phú
Thọ năm 2013 của Đỗ Cao Cường [1], cho thấy điểm trung bình của lo âu trước
phẫu thuật là 8,22 (SD = 3,82), tỷ lệ lo âu trước phẫu thuật có 98,9% và khơng
có lo lắng trước khi phẫu thuật chỉ có 1,1%.
Một nghiên cứu khác của Võ Thị Yến Nhi (2017) [22] về các yếu tố lo
âu của người bệnh trước phẫu thuật tiêu hóa, qua khảo sát 145 người bệnh trước
mổ, trung bình lo âu của người bệnh trước phẫu thuật tiêu hóa: 8,65 ± 4,03,
những vấn đề người bệnh lo âu trước phẫu thuật nổi bật là giảm đau không đủ
sau phẫu thuật 37,2%, ảnh hưởng xấu từ sai sót trong phẫu thuật 33,8%, khơng
có thu nhập vì nằm viện 24%,…
1.3.2 Các cơng trình nghiên cứu ngồi nước
Nghiên
cứu
của
Anne
Thushara
Matthias,
Dharmanbandhu
Samarasekera (2012) [50] khảo sát trên 100 người bệnh tại Bệnh viện Quốc gia
Sri Lanka về lo âu của người bệnh trước phẫu thuật, độ tuổi thay đổi từ 25 đến
72 tuổi (trung bình = 48,7 tuổi, SD = 13,6). Độ tin cậy của APAIS rất cao;
Cronbach 'alpha = 0.864 trong thành phần tổng thể và 0,84; 0,73 và 0,97 trong
sự lo âu liên quan đến phẫu thuật, gây mê và trong các thành phần mong muốn
thông tin, tương ứng. Nữ giới lo âu hơn nam giới (p = 0,02) và những người
chưa bao giờ phẫu thuật kéo dài lo âu hơn những người trước đây đã phẫu thuật
(p = 0,05). Chuyến thăm và đặt thuốc của bác sĩ gây mê làm giảm tổng điểm lo
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
15
âu (Z = -3.07, p = 0,002) và điểm lo âu liên quan đến gây mê (Z = -3,45, p =
0,001).
Nghiên cứu Nigussie Sefiu (2014) [54] về những dự đoán về sự lo âu
trước phẫu thuật ở những người bệnh phẫu thuật tại Bệnh viện giảng dạy
chuyên ngành Đại học Jimma, Tây Nam Ethiopia, cho thấy trong 239 người
bệnh thì lo âu trước phẫu thuật đã được ghi nhận là 70,3%. Các yếu tố phổ biến
nhất dẫn đến lo âu là sợ chết 38,1% và sợ không rõ nguồn gốc 24,3% và chiến
lược phổ biến nhất được người bệnh đề cập trong việc giảm lo âu là nói chuyện
với người bệnh khác 79,8% và niềm tin tôn giáo.
Nghiên cứu về tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến lo âu trước phẫu thuật ở
người bệnh phẫu thuật tự chọn tại Bệnh viện Đại học Gondar, Tây Bắc Ethiopia,
của Woldegerima Yophtaphe (2017) [71] qua khảo sát 178 người bệnh thấy tỷ
lệ lo âu trước phẫu thuật là 59,6%, giá trị trung bình (± SD) của điểm STAI là
48,63 ± 17,56. Lo âu trước phẫu thuật cao có liên quan đến tuổi 18 18-30 (AOR
= 6,92, 95% CI = 1,39 -33,82), tuổi 31- 45 (AOR = 5,72, 95% CI = 1,61- 20,28),
khơng có thu nhập (AOR = 3,21 , 95% CI = 1,01 -10,27), thu nhập thấp (AOR
= 3.06, 95% CI = 1.18 -7.93). Sợ không thể hồi phục sau khi gây mê (53,9%),
đau sau phẫu thuật (51,7%), mối quan tâm của gia đình (43,3%) là nguồn gây
lo âu trước phẫu thuật hàng đầu. Mối liên quan đáng kể với sự lo âu trước phẫu
thuật được tìm thấy trong nỗi sợ chết (AOR = 2,40, 95% CI = 1,08 - 5,32), mối
quan tâm của gia đình (AOR = 2,15, 95% CI = 1,03 -4.50), sợ phụ thuộc (AOR
= 2,75, 95% CI = 1,57 -7,20) và nỗi sợ khuyết tật (AOR = 2,75, 95% CI = 1,22
-6,21).
Nghiên cứu của tác giả Fatma Celik (2018) [32] đánh giá sự lo âu trước
phẫu thuật và nỗi sợ gây mê bằng cách sử dụng điểm số APAIS tại Đại học Ahi
Evran cho thấy trong 221 trường hợp có 44,3% với những lo âu liên quan đến
.
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
16
việc gây mê, 41,2% lo âu về việc thức dậy trong khi phẫu thuật, 49,8% lo âu về
đau sau phẫu thuật.
Nghiên cứu lo âu trước phẫu thuật và các yếu tố liên quan giữa các người
bệnh phẫu thuật trưởng thành ở bệnh viện Debre Markos và Felege Hiwot, Tây
Bắc Ethiopia của Henok Mulugeta (2018) [53], kết quả cho thấy 61% (95% CI
(55,5 - 65,7)) người bệnh có mức độ lo âu trước phẫu thuật cao đáng kể. Yếu
tố được báo cáo phổ biến nhất chịu trách nhiệm cho sự lo âu trước phẫu thuật
là sợ biến chứng 187 (52,4%). Có một mức độ lo âu trước phẫu thuật cao đáng
kể ở người bệnh nữ [AOR 2.19 (95% CI (1.29 - 3.71))] và người bệnh thiếu
thông tin trước phẫu thuật [AOR 2.03 (95% CI (1.22 - 3,39)) .
Nghiên cứu Adam Zemla (2019) [72] về đo lường sự lo âu ở người bệnh
trước phẫu thuật tự chọn Cộng hòa Séc sử dụng Thang điểm Tương tự Trực
quan cho Lo âu (VAS-A) trên 344 người bệnh, cho thấy những lo âu phổ biến
nhất là sợ đau sau phẫu thuật, lo về biến chứng gây mê, buồn nôn và nôn sau
phẫu thuật, lo âu về việc tỉnh lại sau khi gây mê, lỗi phẫu thuật và hoãn phẫu
thuật.
Nghiên cứu của Leopold Eberhart (2020) [33] tại Bệnh viện Đại học
Marburg Đức, khảo sát về lo âu trước phẫu thuật ở người lớn, trên 3087 đã ghi
nhận được trung bình (SD) lo âu trước phẫu thuật (APAIS-AT, phạm vi 4-20)
là 9,9 (3,6). Lo âu cao (APAIS-AT> 10) đã được báo cáo bởi 40,5% đối tượng.
Mức độ quan tâm trung bình (SD) liên quan đến tám nỗi sợ cụ thể được nghiên
cứu nằm trong khoảng từ 3.9 (3.08) liên quan đến "lỗi gây mê" đến 2.4 (2.29)
liên quan đến "mệt mỏi và buồn ngủ" với trung bình là 3,2 (2,84) liên quan đến
tất cả các nỗi sợ cụ thể.
Nghiên cứu của Jiwanmall Meghna (2020) [40] về tỷ lệ và các yếu tố
liên quan đến lo âu trước phẫu thuật ở người bệnh trưởng thành trải qua phẫu
thuật ban ngày tại Ấn Độ, lo âu trước phẫu thuật được đánh giá bằng thang đo
.