.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
----------------
NGUYỄN THỊ NGUYÊN
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM ĐANG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
.
.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
----------------
NGUYỄN THỊ NGUYÊN
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
CỦA NGƯỜI BỆNH SUY TIM ĐANG ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
Ngành Điều dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HỒNG ĐỊNH
TS. ELIZABETH ESTERL
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2019
.
.
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Ngun
.
.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH VIỆT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.............................................................................. 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 4
1.1. Tổng quan về suy tim ................................................................................. 4
1.2. Định nghĩa chất lượng cuộc sống............................................................... 9
1.3. Ảnh hưởng của suy tim đến chất lượng cuộc sống .................................. 11
1.4. Thang đo đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim .......... 13
1.5. Các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh suy tim ........................ 14
1.6. Giới thiệu khoa Nội Tim mạch- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương ... 17
1.7. Vận dụng học thuyết Điều dưỡng vào nghiên cứu .................................. 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 21
2.1. Đối tượng và thiết kế nghiên cứu ............................................................. 21
2.2. Phương pháp chọn mẫu- Tiêu chuẩn chọn mẫu ....................................... 21
2.3. Phương pháp và thu thập số liệu .............................................................. 22
2.4. Xử lý và phân tích số liệu ........................................................................ 24
2.5. Kiểm sốt sai lệch .................................................................................... 25
2.6. Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu .......................................... 26
.
.
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu ........................................................................ 28
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ ................................................................................. 29
3.1. Đặc điểm chung của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu ............ 29
3.2. Kiến thức về suy tim và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ................ 33
3.3. Điểm số chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim .......................... 34
3.4. Mối liên quan giữa các yếu tố và CLCS của người bệnh suy tim ........... 35
3.6. Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đến CLCS của người bệnh suy tim
......................................................................................................................... 44
Chương IV. BÀN LUẬN ................................................................................ 48
4.1. Đặc điểm chung của người bệnh suy tim trong mẫu nghiên cứu ............ 48
4.2. Kiến thức về suy tim và hành vi tự chăm sóc của người bệnh ................ 52
4.3. Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim trong nghiên cứu ........... 53
4.4. Mối liên quan giữa các yếu tố đối với CLCS của người bệnh suy tim .... 55
4.5. Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đối với CLCS của người bệnh suy
tim.................................................................................................................... 60
4.6. Bàn luận về ưu nhược điểm của nghiên cứu ............................................ 67
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 69
KIẾN NGHỊ .................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1. PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU
Phụ lục 2. THỎA THUẬN ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU
Phụ lục 3. DANH SÁCH NGƯỜI BỆNH THAM GIA NGHIÊN CỨU
.
i
.
DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT
CLCS: chất lượng cuộc sống
HVTCS: hành vi tự chăm sóc
KTC: khoảng tin cậy
TV: trung vị
KTV: khoảng tứ vị
.
ii
.
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH VIỆT
TIẾNG ANH
World Health Organization
Minnesota Living with Heart
VIẾT
TẮT
WHO
MLHFQ
TIẾNG VIỆT
Tổ chức Y tế thế giới
Thang đo chất lượng cuộc sống
của người bệnh suy tim
Failure
New York Heart Association
NYHA
Minnesota
Number of patient
n
Hiệp hội tim mạch New York
Probability value
p
Số người bệnh
Giá trị xác suất
.
iii
.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Liệt kê các nguyên nhân gây suy tim ............................................... 5
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim theo Framingham ............................. 7
Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi của người bệnh suy tim ........................... 29
Bảng 3.2. Phân bố nghề nghiệp của người bệnh suy tim ................................ 30
Bảng 3.3. Phân bố tình trạng hơn nhân của người bệnh suy tim .................... 32
Bảng 3.4. Phân bố tình trạng chung sống, kinh tế, nơi cư trú của người bệnh
......................................................................................................................... 32
Bảng 3.5. Phân bố thời gian suy tim và phân loại mức độ suy tim của người
bệnh ................................................................................................................. 33
Bảng 3.6. Kiến thức về suy tim và HVTCS của người bệnh .......................... 34
Bảng 3.7. Điểm số chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim ................. 34
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và CLCS của người bệnh suy tim.. 35
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa giới tính và CLCS của người bệnh suy tim .... 36
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa nghề nghiệp và CLCS của người bệnh suy tim
......................................................................................................................... 37
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa trình độ học vấn và CLCS của người bệnh ... 38
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa tình trạng hơn nhân và CLCS của người bệnh
......................................................................................................................... 39
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tình trạng chung sống và CLCS của người
bệnh ................................................................................................................. 40
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế và CLCS của người bệnh . 40
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa nơi cư trú và CLCS của người bệnh suy tim 41
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa thời gian suy tim và CLCS của người bệnh .. 42
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa phân độ suy tim và CLCS của người bệnh ... 43
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa kiến thức suy tim, HVTCS và CLCS ............ 44
Bảng 3.19. Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố đến tổng điểm CLCS ...... 45
.
iv
.
Bảng 3.20. Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố liên quan tới CLCS lĩnh
vực thể chất ..................................................................................................... 46
Bảng 3.21. Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố liên quan tới CLCS lĩnh
vực tinh thần .................................................................................................... 47
Bảng 4.1. Kết quả trung bình độ tuổi của một số nghiên cứu ........................ 48
Bảng 4.2. Kết quả điểm CLCS của người bệnh suy tim của một số nghiên cứu
......................................................................................................................... 54
.
v
.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Mơ hình nâng cao hành vi sức khỏe của Pender trong nghiên
cứu………………………………………………………………………….20
Biểu đồ 3.1. Phân bố tình trạng giới tính của người bệnh suy tim…………30
Biểu đồ 3.2. Phân bố tình trạng học vấn của người bệnh suy tim………….31
.
1
.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại, tuổi thọ con người
ngày càng được nâng cao. Cùng với sự già hóa của dân số thì tỷ lệ mắc các
bệnh mạn tính cũng ngày càng gia tăng, đặc biệt là các bệnh lý về tim mạch.
Trong đó suy tim là kết cục cuối cùng của nhiều bệnh lý như: tăng huyết áp,
bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh. Vì vậy suy tim đang và sẽ
trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trong những thập kỷ tới [30].
Suy tim ảnh hưởng đến khoảng 26 triệu người trên thế giới và đang tiếp
tục gia tăng. Theo thống kê của hiệp hội Tim mạch - Đột quỵ Hoa Kỳ cập
nhật năm 2017, số người trưởng thành bị suy tim tăng từ khoảng 5,7 triệu
người (năm 2009-2012) lên khoảng 6,5 triệu người (năm 2011-2014) và dự
đoán đến năm 2030 sẽ tăng 46%, dẫn đến hơn 8 triệu người bị suy tim
[21],[65].
Tỷ lệ lưu hành của bệnh tăng theo tuổi và dao động từ 4,8% - 13,5% trong
dân số người cao tuổi. Tại châu Á, suy tim cũng đang là một vấn đề sức khỏe
cộng động rất được quan tâm với tỷ lệ mắc chiếm khoảng từ 1,3 – 6,7% dân
số [56],[70].
Ở Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính thức về số lượng người mắc
bệnh suy tim, song theo tần suất mắc bệnh của thế giới, ước tính có khoảng
320.000 người đến 1,6 triệu người nước ta bị suy tim [1].
Suy tim làm giảm hoặc mất sức lao động của người bệnh, làm gia tăng
tình trạng nhập viện cũng như gia tăng tỷ lệ tử vong. Mỗi năm trên thế giới
ước tính có khoảng 300000 ca tử vong do suy tim [72].
Mặt khác suy tim là nguyên nhân phổ biến nhất của nhập viện ở những
người bệnh trên 65 tuổi. Tại Hoa Kỳ và châu Âu hàng năm có khoảng 1 triệu
ca nhập viện do suy tim và tỷ lệ tái nhập viện chiếm khoảng 30% sau 60 – 90
ngày, [16],[38]. Do đó tạo ra gánh nặng chi phí cho điều trị và chăm sóc sức
khỏe lâu dài tại các quốc gia [11],[48],[75].
.
2
.
Mặc dù ngày nay cùng với sự ra đời của các kỹ thuật hiện đại, các liệu
pháp điều trị mới đã cải thiện đáng kể sự sống còn của người bệnh suy tim,
nhưng tiên lượng của người bệnh suy tim ln có xu hướng ngày càng xấu đi,
làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh
[8],[71].
Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh là đánh giá khách
quan về mức độ ảnh hưởng của bệnh suy tim đối với cuộc sống của người
bệnh và cách mà người bệnh đối phó với nó. Đánh giá này rất cần thiết, nó
như một biện pháp cơ bản và kết quả cần cung cấp trong quá trình điều trị để
ghi nhận những tác động làm thay đổi ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh,
góp phần để đưa ra các can thiệp phù hợp trong quản lý lâm sàng và ra các
quyết định điều trị [5],[14],[69].
Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam, số lượng các nghiên cứu về CLCS của
người bệnh suy tim còn rất hạn chế và chủ yếu là nghiên cứu trên đối tượng
người bệnh ngoại trú.
Tại khoa Nội tim mạch- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, số người
đến khám và điều trị bệnh suy tim ngày càng tăng. Trong khi theo hiểu biết
của chúng tôi chưa có một nghiên cứu nào về CLCS của người bệnh suy tim
được thực hiện tại tỉnh Bình Dương. Đó là lý do chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “ Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh
suy tim đang điều trị nội trú” với mong muốn tìm hiểu về CLCS của người
bệnh suy tim nội trú và các yếu tố gây khó khăn, là rào cản ảnh hưởng tới
CLCS của họ. Qua đó có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời, giúp người bệnh
khắc phục và cải thiện CLCS. Đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất
lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, giúp quá trình điều trị đạt hiệu quả
tốt hơn.
.
3
.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá CLCS của người bệnh suy tim và các yếu tố liên quan đến
CLCS của người bệnh suy tim tại khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện đa khoa
tỉnh Bình Dương từ tháng 01/2019 – 06/2019
Mục tiêu cụ thể
1. Đánh giá CLCS của người bệnh suy tim đang điều trị nội trú tại khoa
Nội Tim Mạch- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh suy tim
đang điều trị nội trú.
.
4
.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về suy tim
1.1.1. Định nghĩa
Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp, là hậu quả của bất kỳ rối
loạn nào về cấu trúc hoặc chức năng của tim (di truyền hoặc mắc phải) dẫn
đến giảm khả năng đổ đầy hoặc bơm máu của tâm thất [6].
1.1.2. Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy suy tim
Nguyên nhân
Các bệnh lý làm thay đổi cấu trúc hoặc chức năng của thất trái đều có thể
gây suy tim. Mặc dù nguyên nhân của suy tim có chức năng tâm thu bảo tổn
(đo bằng phân suất tống máu EF) khác với nguyên nhân gây suy tim có EF
giảm, vẫn có sự trùng lắp về căn nguyên của hai tình trạng suy tim này.
Ở các nước công nghiệp, bệnh mạch vành là nguyên nhân hàng đầu gây
suy tim với tỷ lệ 60 – 75%. Tăng huyết áp cũng đóng góp 75% trường hợp
suy tim, bao gồm hầu hết người bệnh có bệnh mạch vành.
Tại châu Phi và châu Á, bên cạnh bệnh mạch vành và tăng huyết áp,
bệnh tim hậu thấp vẫn là một nguyên nhân quan trọng tại các nước thuộc hai
châu lục này, đặc biệt ở những người trẻ.
Khoảng 20 – 30% các trường hợp suy tim với EF giảm không xác định
được nguyên nhân. Những người bệnh này được quy cho bệnh cơ tim không
thiếu máu cục bộ, bệnh cơ tim giãn nở, hay bệnh cơ tim tự phát nếu không rõ
nguyên nhân. Tình trạng nhiễm siêu vi hay phơi nhiễm với độc tố trước đó (ví
dụ: rượu hay hóa trị) có thể gây bệnh cơ tim giãn nở. Ngồi ra ngày càng có
nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy một số lượng lớn các trường hợp bệnh cơ
tim giãn nở là do các khiếm khuyết về di truyền (hầu hết các bệnh cơ tim giãn
nở có tính chất gia đình di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường). Các bệnh lý
làm cho cung lượng tim cao (ví dụ: dị động tĩnh mạch, thiếu máu mạn) rất
hiếm khi gây suy tim trên một tim bình thường [6].
.
5
.
Bảng 1.1. Liệt kê các nguyên nhân gây suy tim
Các nguyên nhân gây suy tim
Bệnh mạch vành
Nhồi máu cơ tim
Thiếu máu cơ tim
Quá tải áp lực mạn tính
Tăng huyết áp
Bệnh van tim có tắc nghẽn
Q tải thể tích mạn tính
Bệnh van tim do hở
Luồng thông trái – phải trong tim
Luồng thơng ngồi tim
Bệnh cơ tim giãn nở khơng do thiếu máu cục bộ
Các rối loạn có tính gia đình/ di truyền
Các rối loạn do thâm nhiễm
Thuốc/độc tố
Rối loạn chuyển hóa
Siêu vi
Bệnh Chagas
Các rối loạn về tần số và nhịp tim
Rối loạn nhịp chậm mạn tính
Rối loạn nhịp nhanh mạn tính
Bệnh cơ tim
Bệnh cơ tim phì đại tiên phát
Bệnh cơ tim hạn chế
Bệnh tim phổi
Tâm phế
.
6
.
Bệnh mạch máu phổi
Các tình trạng cung lượng cao
Rối loạn chuyển hóa
Cường giáp
Rối loạn dinh dưỡng (beriberi)
Nhu cầu lưu lượng máu cao
Thông động tĩnh mạch hệ thống
Thiếu máu mạn
Các yếu tố thúc đẩy suy tim
Ăn mặn
Không tuân thủ điều trị
Thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim
Tăng huyết áp
Rối loạn nhịp tim
Thiếu máu
Uống rượu
Thai kỳ, nhiễm trùng
Hở van tim cấp
Thuốc kháng viêm nonsteroid, verapamil diltiazem…
1.1.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim
Tiêu chuẩn Framingham
Tiêu chuẩn Framingham là thang điểm dùng để tầm soát suy tim xuất phát từ
nghiên cứu dựa trên dân số Framingham.
Chẩn đoán suy tim theo tiêu chuẩn Framingham khi có ít nhất 2 tiêu chuẩn
chính hoặc 1 tiêu chuẩn chính kết hợp 2 tiêu chuẩn phụ.
Tiêu chuẩn phụ chỉ được chấp nhận khi không bị quy cho các bệnh lý khác (ví
.
7
.
dụ: tăng áp phổi, bệnh phổi mạn tính, xơ gan, báng bụng, hội chứng thận
hư)[6].
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim theo Framingham
Tiêu chuẩn chính
Khó thở kịch phát về đêm hoặc khó thở khi nằm
Tĩnh mạch cổ nổi
Ran phổi
Tim to
Phù phổi cấp, gallop T3
Tăng áp lực tĩnh mạch (> 16cm H20)
Phản hồi gan – cảnh
Tiêu chuẩn phụ
Phù mắt cá chân, ho về đêm
Khó thở khi gắng sức
Gan to
Tràn dịch màng phổi
Dung tích sống giảm 1/3 so với tối đa
Nhịp tim nhanh (tần số >120 lần/phút)
Tiêu chuẩn chính hoặc phụ
Tiêu chuẩn chính hay phụ: Giảm cân > 4,5kg trong 5 ngày đáp ứng với điều
trị.
1.1.4. Phân loại mức độ suy tim theo chức năng
Theo hiệp hội tim mạch New York (NYHA) dựa vào triệu chứng cơ năng
và khả năng gắng sức
Độ I: có bệnh tim nhưng khơng giới hạn hoạt động thể lực. Hoạt động
thể lực thông thường không gây mệt, hồi hộp, khó thở hay đau ngực.
Độ II: có bệnh tim gây giới hạn nhẹ hoạt động thể lực. Thoải mải khi
nghỉ ngơi. Hoạt động thể lực thông thường gây mệt, hồi hộp, khó thở hay đau
.
8
.
ngực.
Độ III: có bệnh tim gây giới hạn đáng kể hoạt động thể lực. Thoải mải
khi nghỉ ngơi. Hoạt động thể lực dưới mức thơng thường gây mệt, hồi hộp,
khó thở hay đau ngực.
Độ IV: có bệnh tim gây triệu chứng với bất kỳ hoạt động thể lực nào,
thậm chí ngay cả khi đang nghỉ ngơi. Triệu chứng nặng hơn khi hoạt động [6].
1.1.5. Điều trị suy tim
Nguyên tắc điều trị suy tim
Giảm gánh nặng làm việc cho tim bằng chế độ nghỉ ngơi.
Tăng sức co bóp cơ tim bằng các thuốc trợ tim.
Giảm ứ máu ngoại biên bằng chế độ ăn nhạt, dùng thuốc lợi tiểu, dùng
thuốc giãn mạch.
Giải quyết nguyên nhân: điều trị tăng huyết áp, sửa chữa van tim, thay
van tim [3].
Những biện pháp điều trị chung
Chế độ nghỉ ngơi góp phần làm giảm gánh nặng làm việc cho tim
Nói chung người bệnh phải giảm hoặc bỏ hẳn các hoạt động gắng sức.
Trong trường hợp suy tim nặng phải nghỉ ngơi tại giường theo tư thế nửa nằm
nửa ngồi.
Khi hoàn cảnh cho phép, chúng ta cần khuyến khích người bệnh xoa bóp
và làm một số động tác lúc đầu là thụ động sau là chủ động ở các chi, nhất là
hai chi dưới để làm cho máu tĩnh mạch trở về tim dễ dàng hơn, giảm bớt các
nguy cơ tắc nghẽn mạch thường hay gặp trong suy tim.
Chế độ ăn nhạt làm giảm hạn chế ứ nước.
Chế độ ăn nhạt là cần thiết vì muối ăn (NaCl) làm tăng áp lực thẩm thấu
trong máu, do đó làm tăng khối lượng tuần hồn gây tăng gánh nặng cho tim.
Với các trường hợp suy tim nặng, phù nhiều, chỉ được dùng tới 0,5g
muối/ngày.
.
9
.
Trong các trường hợp khác cũng dùng rất hạn chế muối: từ 1 – 2g
muối/ngày
Thuốc lợi tiểu: Các thuốc lợi tiểu làm tăng đào thải muối và nước, do
đó sẽ làm giảm bớt tiền gánh. Có rất nhiều loại lợi tiểu khác nhau,
nhưng trong suy tim người ta thường dùng một trong ba loại sau:
Hypothiazid( Hydrochlorothiazide)
Lasix (Furosemid)
Aldactone (Spironolactone)
Thuốc trợ tim: người ta thường dùng các glucozid trợ tim thuộc nhóm
Digitalis và Strophantus
Thuốc giãn mạch: làm giảm trương lực tĩnh mạch hay tiểu động mạch,
do đó làm giảm tiền gánh, bớt ứ đọng máu trong tâm thất hay giảm hậu
gánh để cải thiện hoạt động của tim, tăng thể tích tâm thu, giúp cho tim
bị suy yếu lại hoạt động được trong các điều kiện thuận lợi hơn.
Các amin giống giao cảm: thường dùng dopamin hay tốt hơn cả là
dobutamine (dobutrex).
Thuốc chống đông: điều trị dự phòng trong các trường hợp suy tim, tim
to, nhất là các trường hợp có thêm loạn nhịp hoàn toàn do rung nhĩ.
Bên cạnh sử dụng heparin trong các trường hợp tắc mạch cấp, người ta
thường dùng các loại thuốc chống đơng thuộc nhóm kháng vitamin K.
Điều trị tùy theo nguyên nhân gây bệnh. [3]
1.2. Định nghĩa chất lượng cuộc sống
Khái niệm về “chất lượng cuộc sống” được sử dụng khá rộng rãi trong
lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định
nghĩa thống nhất chung được đưa ra.
Theo Rumsfiel thuật ngữ liên quan đến “chất lượng cuộc sống” là tình
trạng sức khỏe, có nghĩa là tác động ảnh hưởng của bệnh tật đối với các chức
năng của người bệnh theo báo cáo của người bệnh [69].
.
10
.
Đối với tác giả Heo và cộng sự cho rằng: CLCS được xem theo nghĩa
rộng bao gồm tất cả các yếu tố liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình
trạng sức khỏe. Nó là sự phản ánh của sức khỏe tinh thần và thể chất của một
người trong cuộc sống hàng ngày của họ. Và nó đo lường hiệu quả sự ảnh
hưởng của một căn bệnh hoặc cách điều trị theo quan điểm của người bệnh
[41].
Mặc dù chưa có định nghĩa chung nhất về CLCS, nhưng nhóm nghiên
cứu chất lượng cuộc sống của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xác định:
“chất lượng cuộc sống là nhận thức của cá nhân về vị trí của họ trong cuộc
sống, trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ sống và liên quan đến
mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm.” [39].
Tình trạng chức năng của người bệnh suy tim có xu hướng ảnh hưởng
đến nhiều lĩnh vực của CLCS như: sức khỏe thể chất, tâm lý, xã hội, tình cảm
và tinh thần. Theo quan điểm của người bệnh, các vấn đề quan trọng nhất của
CLCS liên quan đến sự độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, suy giảm thể chất
và nhận thức, quản lý triệu chứng, tình trạng tâm lý và tình trạng tái nhập viện
[59].
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là một khái niệm rộng liên
quan đến việc một tình trạng bệnh có giới hạn khả năng của các cá nhân trong
việc thực hiện vai trị bình thường hay không [62].
Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim: Được đánh giá khác
nhau dựa trên quan điểm chủ quan của người bệnh, liên quan đến sức khỏe
thể chất, tâm lý, xã hội, tình cảm, tình dục và tinh thần trong cuộc sống hàng
ngày. Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến chất lượng cuộc sống của
người bệnh suy tim. Nhưng nhìn chung được đánh giá là khả năng có thể tự
chăm sóc bản thân, thực hiện các hoạt động thể lực, giảm các triệu chứng khó
thở, mệt nhọc, được tham gia vào các mối quan hệ gia đình, xã hội, tâm lý
thoải mái [13],[41].
.
11
.
1.3. Ảnh hưởng của suy tim đến chất lượng cuộc sống
Suy tim là một bệnh mạn tính tiến triển, theo hiệp hội Tim mạch New
York (NYHA) phân độ suy tim mạn theo chức năng gồm 4 độ: độ I, độ II, độ
III và độ IV. Suy tim độ I, độ II có thể chưa ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của
người bệnh, hầu như họ vẫn có thể sinh hoạt bình thường và các triệu chứng ít
xuất hiện. Tuy nhiên khi suy tim chuyển sang độ III, độ IV với các triệu
chứng khó thở, mệt, đau ngực, phù, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm… làm ảnh
hưởng trực tiếp tới các hoạt động thể lực và cuộc sống của người bệnh. Tình
trạng sức khỏe xấu đi dần dần do sự thiếu hụt của tim trong việc bơm máu,
được đặc trưng bởi các đợt cấp tính với các triệu chứng mất bù [6].
Với những biến cố đột ngột, suy tim có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao.
Tiên lượng của tình trạng này tồi tệ hơn so với nhiều bệnh ác tính và tỷ lệ tử
vong trong 5 năm là gần khoảng 50% [17],[32].
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ tử vong sau chẩn đoán suy tim lên tới 10% sau 30
ngày, 20 - 30% sau 1 năm và 45% - 60% sau 5 năm theo dõi. Ở châu Âu, tỷ lệ
tử vong lần lượt đạt 11% và 41% sau 1 năm và 5 năm theo dõi. Một nghiên
cứu gần đây ở Hy Lạp (2017) cho thấy tỷ lệ tử vong hàng năm là 24,3% đối
với người bệnh suy tim nhập viện và 7,7% cho người bệnh điều trị ngoại trú,
tỷ lệ tái nhập viện do suy tim hàng năm là 42,9% cho những người bệnh nhập
viện trước đó và 19,2% cho người bệnh điều trị ngoại trú [24],[74].
Suy tim là nguyên nhân hàng đầu của tất cả các lần nhập viện và điều trị
ở người cao tuổi, chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí chăm sóc sức khỏe của các
quốc gia. Tại Hoa Kỳ năm 2012, ước tính chi phí y tế dành cho điều trị và
chăm sóc suy tim chiếm khoảng 31 tỷ đô la, tương đương với hơn 10% tổng
chi phí chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe các bệnh tim mạch ở Hoa Kỳ. Tuy
nhiên dự đoán con số này cịn đáng báo động hơn với tổng chi phí dự kiến sẽ
tăng 127% trong khoảng thời gian từ 2012 đến 2030 [56].
Suy tim với các triệu chứng liên quan đến thể chất và tinh thần của người
.
12
.
bệnh như: khó thở, mệt mỏi, đau ngực, phù, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm có
thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới CLCS của người bệnh [41].
Các triệu chứng phổ biến nhất ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh suy
tim là khó thở khi nghỉ ngơi hoặc khi gắng sức, khó thở về đêm, khó ngủ, và
mệt mỏi cũng như thiếu năng lượng. Các triệu chứng này xấu đi là ngun
nhân chính của tình trạng nhập viện [67],[77].
Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng có thể làm giảm năng lực chức
năng của người bệnh. Điều này đặt ra một hạn chế ngày càng tăng trong các
hoạt động hàng ngày, dẫn đến sự thiếu độc lập của người bệnh. Trong đó, một
số người bệnh cho rằng vấn đề tình dục trong bệnh suy tim có tác động tiêu
cực tới CLCS của họ. Đa số người bệnh mắc bệnh suy tim báo cáo rằng cả xu
hướng và tần suất sinh hoạt tình dục của họ đều giảm, một số ít đối tượng
hoạt động tình dục đã dừng hẳn lại. Với những người bệnh suy tim còn trong
độ tuổi lao động, hoạt động xã hội, họ không dễ dàng chấp nhận vai trị của
một người bệnh. Mặt khác trong q trình làm việc do thiếu năng lượng hoặc
giảm các hoạt động chức năng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng công việc
cũng như tinh thần của người bệnh [49],[55].
Ngày nay cùng với sự tiến bộ trong các can thiệp y học và chăm sóc đã
cải thiện đáng kể các triệu chứng cũng như kéo dài tuổi thọ cho người bệnh,
nhưng gánh nặng về kinh tế và sự tác động nhiều khía cạnh của bệnh vẫn làm
cho người bệnh bị ảnh hưởng rất nhiều, đặc biệt là về mặt tâm lý.
Theo một nghiên cứu đánh giá tổng quan, tác giả Jeon cùng cộng sự đã
đưa ra 3 ảnh hưởng nghiêm trọng mà bệnh suy tim tác động lên chất lượng
cuộc sống của người bệnh đó là: sự cơ lập về mặt xã hội, cảm giác sợ hãi và
sự mất kiểm sốt [45].
Tóm lại suy tim ảnh hưởng nghiêm trọng đến CLCS của người bệnh cả
về thể chất lẫn tinh thần, so với các bệnh mãn tính khác thì bệnh nhân suy tim
có chất lượng cuộc sống thấp hơn. Vì vậy mục tiêu quan trọng nhất trong điều
.
13
.
trị bệnh suy tim là làm giảm tỷ lệ tử vong, ngăn ngừa tình trạng tái nhập viện
và cải thiện CLCS cho người bệnh. Do đó đánh giá CLCS của người bệnh suy
tim để tiên lượng sớm tình trạng của người bệnh sẽ rất hữu ích đối với những
trường hợp có nguy cơ cao để có biện pháp điều trị chuyên sâu hơn và theo
dõi thường xuyên hơn [29],[66],[68].
1.4. Thang đo đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy tim
Có nhiều thang đo được sử dụng trong đánh giá CLCS của người bệnh
suy tim mạn tính. Chia làm 2 nhóm: nhóm thang đo CLCS dành cho bệnh
mạn tính nói chung và nhóm thang đo dành riêng cho bệnh suy tim mạn [10].
Trong các thang đo CLCS dùng cho bệnh mạn tính nói chung, SF-36
(short-form health survey -36 questions) được sử dụng phổ biến nhất.
SF-36: Là thang đo tổng quát được sử dụng nhiều nhất, có từ năm 1988
và sử dụng rộng rãi ở hơn 60 quốc gia, gồm 36 câu thuộc 8 lĩnh vực sức khoẻ,
chia thành 2 nhóm thể chất và tinh thần. Tuy nhiên thang đo có nhược điểm là
khó áp dụng trên bệnh nhân lớn tuổi và kém nhạy với những biến đổi lâm
sàng quan trọng ở bệnh nhân suy tim.
Đối với nhóm thang đo CLCS dành riêng cho bệnh suy tim: được sử
dụng phổ biến là các thang đo: MLHFQ (Minnesota Living with Heart Failure
Questionnaire), KCCQ (Kansas City Cardiomyopathy Questionnaire), CHQ
(Chronic Heart Failure Questionnaire)
CHQ là một bảng câu hỏi có 20 mục tập trung vào 3 vấn đề: khó thở,
mệt và chức năng cảm xúc. Thang đo này chưa được nghiên cứu nhiều trên
bệnh nhân suy tim. Ngồi ra, thang đo CHQ cịn có nhược điểm là khá phức
tạp, phải thực hiện bởi một người phỏng vấn đã được huấn luyện kỹ.
KCCQ (Kansas City Cardiomyopathy Questionnaire) là một bảng 15 câu
hỏi gồm 23 mục, cho phép định lượng những lĩnh vực sau đây của bệnh nhân
suy tim: các hạn chế về mặt thể lực, các triệu chứng, độ nặng và sự thay đổi
theo thời gian, khả năng đạt mục tiêu và hiểu biết, sự tương tác xã hội và chất
.
14
.
lượng cuộc sống. Thiết kế cho bệnh nhân suy tim mạn tự điền, có giá trị tiên
báo bệnh suất và tử suất, phân tầng nguy cơ của bệnh nhân suy tim ngoại trú.
MLHFQ đã được dịch ra gần 30 ngôn ngữ, gồm 21 câu hỏi liên hệ với
các triệu chứng điển hình của suy tim (khó thở, khó ngủ, mệt mỏi, phù chân),
hoạt động thể chất, tương tác xã hội, hoạt động tình dục, cơng việc và cảm
xúc (lo âu, trầm cảm) trong vịng 1 tháng qua. MLHFQ có độ hằng định và tin
cậy cao, với hệ số độ tin cậy Cronbach alpha= 0,928. Ngoài ra ưu điểm của
thang đo này là ngắn gọn, dễ hiểu, dễ sử dụng, và hiện tại đây vẫn là thang
được sử dụng phổ biến nhất trên đối tượng suy tim [9],[22],[37].
Đó cũng là lý do chúng tôi chọn thang đo MLHFQ để đánh giá CLCS
của người bệnh suy tim mạn tính trong nghiên cứu này.
1.5. Các yếu tố liên quan đến CLCS của người bệnh suy tim
Nghiên cứu về CLCS của người bệnh suy tim ở nước ngoài rất phổ biến,
phong phú và đa dạng. Trong khi đó tại Việt Nam số lượng các nghiên cứu về
CLCS của người bệnh suy tim rất hạn chế.
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Minh (2014) nghiên cứu
trên 285 người bệnh suy tim sau xuất viện 4 tuần, điều trị ngoại trú tại phòng
khám bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Sử dụng thang đánh giá CLCS SF-36,
kết quả nghiên cứu cho thấy: CLCS của người bệnh suy tim giảm ở tất cả các
lĩnh vực sức khoẻ thể chất và tâm thần, đặc biệt là sức khoẻ thể chất. Tuổi cao
liên quan đến giảm sức khoẻ thể chất. Phụ nữ có CLCS kém hơn nam giới.
Người bệnh có trình độ học vấn cao có CLCS tốt hơn. Phân độ suy tim
(NYHA) càng cao thì CLCS càng thấp [8].
Theo tác giả Lê Minh Đức (2013) nghiên cứu trên 135 người bệnh suy tim
mạn tại phòng khám khoa tim mạch bệnh viện Nhân Dân Gia Định, sử dụng
thang đánh giá CLCS SF-36. Kết quả cho thấy: CLCS của người bệnh suy tim
mạn đều giảm trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó các yếu tố ảnh hưởng tới
CLCS của người bệnh là: tuổi cao, giới tính nữ, số bệnh mạn tính đi kèm,
.
15
Bản quyền tài liệu thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh.
phân độ suy tim (NYHA), phân suất tống máu thất trái [4].
Trong các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Minh (2014) và Lê
Minh Đức (2013) các tác giả chỉ thực hiện trên đối tượng người bệnh ngoại
trú, sử dụng bộ công cụ thang đo dành cho bệnh mạn tính nói chung. Mặt
khác các tác giả chỉ khảo sát mối liên quan giữa CLCS và các yếu tố đặc điểm
chung của người bệnh nên kết quả có thể chưa khách quan và phản ánh đầy
đủ CLCS của người bệnh suy tim và các yếu tố liên quan.
Nghiên cứu của Hà Thị Phương Dung (2016) về “Đánh giá hiệu quả
phương pháp tư vấn tự chăm sóc cho người bệnh suy tim mạn tính tại khoa
Nội tim mạch- Bệnh viện TWQĐ 108” đã đưa đánh giá CLCS là một trong
những tiêu chí đánh giá hiệu quả của phương pháp. Sử dụng thang đánh giá
CLCS dành cho người bệnh suy tim MLHFQ. Kết quả cho thấy: tổng điểm
chất lượng cuộc sống ở nhóm được tư vấn là 35,7 điểm thấp hơn có ý nghĩa
so với ở nhóm khơng tư vấn 79,8 điểm (theo thang điểm MLHF: điểm số càng
cao tương ứng với chất lượng cuộc sống của người bệnh càng thấp)[5]
Tổng hợp kết quả tìm được từ các nghiên cứu trong và ngồi nước, kết quả
tìm kiếm trong y văn cho thấy CLCS của người bệnh suy tim liên quan đến
một số các yếu tố sau:
1.5.1. Tuổi
Theo tìm kiếm các kết quả nghiên cứu trong y văn, tuổi là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng tới CLCS của người bệnh suy tim. Tuy nhiên mối liên quan
giữa CLCS của người bệnh suy tim và yếu tố tuổi là không nhất quán.
Trong khi một số tài liệu nghiên cứu cho rằng CLCS của người bệnh suy
tim trẻ tuổi thấp hơn so với người cao tuổi. Kết luận này được tìm thấy trong
kết quả nghiên cứu của tác giả Baert (2018) [20], Wu (2016) [76], Nesbitt
(2014) [58], Moser (2013) [54], Zambroski (2005) [77]. Thì một số tác giả lại
cho rằng CLCS của người bệnh suy tim cao tuổi thấp hơn so với người trẻ
.