Tải bản đầy đủ (.pdf) (152 trang)

Văn hóa làng nghề sơn mài tương bình hiệp tỉnh bình dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 152 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------

NGUYỄN THỊ THANH THÙY

VĂN HĨA LÀNG NGHỀ SƠN MÀI
TƢƠNG BÌNH HIỆP TỈNH BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HĨA HỌC

TP. Hồ Chí Minh – 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------

NGUYỄN THỊ THANH THÙY

VĂN HĨA LÀNG NGHỀ SƠN MÀI
TƢƠNG BÌNH HIỆP TỈNH BÌNH DƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.06.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

PHẢN BIỆN 1: PGS.TS. HUỲNH QUỐC THẮNG
PHẢN BIỆN 2: TS. LÂM NHÂN



NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. CUNG DƢƠNG HẰNG

TP. Hồ Chí Minh – 2015


1

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Cung Dƣơng Hằng, ngƣời hƣớng dẫn tơi
hồn thành luận văn này.
Tơi xin chân thành cảm ơn Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Thành phố Hồ Chí Minh, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tơi trong q trình
học tập. Đồng thời, tơi cũng xin chân thành cảm ơn anh Thành và anh Thái đã
hỗ trợ tôi trong việc thu thập thông tin và thực hiện khảo sát để hoàn thành
luận văn.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thùy


2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đề tài “Văn hóa làng nghề sơn mài Tương Bình
Hiệp tỉnh Bình Dương” là do tôi viết dựa trên cơ sở các kiến thức, thông tin
đƣợc thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và do chính bản thân thực hiện dƣới
sự hƣớng dẫn của TS. Cung Dƣơng Hằng.

Tất cả những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và các thơng tin trích dẫn, hình ảnh trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn
gốc, luận văn chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Thùy


3

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................ 2
MỤC LỤC .................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT......................................................... 4
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................... 5
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƢỢNG
NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm ........................................................................................... 13
1.2. Giới thiệu khái quát tỉnh Bình Dƣơng ............................................... 22
1.3. Giới thiệu làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp ......................................... 36
Tiểu kết ...................................................................................................... 43
CHƢƠNG 2: VĂN HÓA LÀNG NGHỀ SƠN MÀI TƢƠNG BÌNH HIỆP
TỪ 1986 ĐẾN NAY
2.1. Những tác động về sự thay đổi kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dƣơng
đến văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp từ năm 1986 đến nay . 45

2.2. Những biến đổi trong văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp 65
2.3. Các nghệ nhân sơn mài tiêu biểu của làng nghề Tƣơng Bình Hiệp ... 80
Tiểu kết ...................................................................................................... 85
CHƢƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA LÀNG NGHỀ SƠN
MÀI TƢƠNG BÌNH HIỆP TỈNH BÌNH DƢƠNG
3.1. Những giá trị của sơn mài Tƣơng Bình Hiệp ..................................... 87
3.2. Định hƣớng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề
sơn mài Tƣơng Bình Hiệp ......................................................................... 103
Tiểu kết ...................................................................................................... 116
KẾT LUẬN .................................................................................................. 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 122
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 128


4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ-ĐH

: Cao đẳng – Đại học

CP

: Chính phủ

Cty

: Cơng ty

DNTN


: Doanh nghiệp tƣ nhân

ĐH

: Đại học

HS

: Họa sỹ

HTX

: Hợp tác xã

kd

: Kinh doanh

NN

: Nghệ nhân

NQ-CP

: Nghị quyết – Chính phủ

NQ/TU

: Nghị quyết/Trung Ƣơng


PGĐ

: Phó giám đốc



: Quyết định

QĐ-UBND

: Quyết định - Ủy ban Nhân dân

SV

: Sinh viên

sx

: Sản xuất

TT-BNN

: Thông tƣ – Bộ Nông Nghiệp

tr.

: Trang

XN


: Xí nghiệp

UBND

: Ủy ban Nhân dân


5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
2.1 – 1
2.1 – 2
2.2 – 1

Tên bảng biểu

Trang

Diện tích, sản lƣợng lúa Bình Dƣơng giai đoạn
1986 – 2005

51

Số liệu kinh doanh sơn mài năm 2006 và 2007

73


Biểu đồ kết quả điều tra số lao động trong cơ sở
sản xuất, doanh nghiệp sơn mài

77

Biểu đồ kết quả điều tra về tầm quan trọng của các
2.2 – 2

yếu tố đối với việc tạo ra các sản phẩm của làng

80

nghề
2.2 – 3
2.2 – 4
2.2 – 5

Biểu đồ kết quả điều tra về nguồn gốc Tổ nghề sơn
mài
Biểu đồ kết quả điều tra về nguồn gốc hình thành
làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp
Biểu đồ kết quả điều tra về các yếu tố quan trọng
trong việc tạo ra sản phẩm sơn mài

85

85

87


Biểu đồ kết quả điều tra về những yếu tố quan
2.2 – 6

trọng trong việc duy trì và phát triển làng nghề sơn

90

mài Tƣơng Bình Hiệp
3.1 – 1

Nghiên màu thể hiện lối trực tiếp

107

3.1 – 2

Nghiên màu thể hiện lối gián tiếp

107


6

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong văn hóa Việt Nam, mỹ thuật là một trong những yếu tố góp phần
quan trọng trong việc phục vụ đời sống tinh thần cho con ngƣời. Mỹ thuật Việt
Nam hiện nay có nhiều loại hình phong phú đƣợc thể hiện khác nhau nhƣ
tranh sơn dầu, tranh lụa... đặc biệt hơn hết là tranh sơn mài – một nghệ thuật
tạo hình truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Khi nhắc đến sơn

mài miền Nam là nhắc đến sơn mài Bình Dƣơng – một vùng đất đƣợc thiên
nhiên ƣu đãi và là nơi hội tụ những nghệ nhân nổi tiếng không chỉ với tay
nghề giỏi mà cịn có lịng đam mê với nghề nên nghề sơn mài đã sớm đạt đƣợc
những thành tựu đáng kể.
Trong đó, tiêu biểu nhất là làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp với lịch sử
hình thành hơn 300 năm của ngôi làng với nghề sơn mài nổi tiếng khắp tỉnh
Bình Dƣơng và cả nƣớc. Với những điều kiện thuận lợi, làng Tƣơng Bình
Hiệp nhanh chóng trở thành trung tâm sơn mài nổi tiếng khu vực miền Nam.
Từ đó, tạo nên sự thu hút các nhà nghiên cứu, nghệ nhân, họa sĩ và những
ngƣời có sự u thích, đam mê với nghệ thuật sơn mài. Cho đến nay, có rất
nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học, các bài viết về nghề sơn mài Bình
Dƣơng nhƣng lại rất ít tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về làng sơn mài Tƣơng
Bình Hiệp. Để duy trì, phát triển nghề sơn mài thì trƣớc hết phải hiểu rõ tình
trạng thực tế của làng sơn mài mới có thể đƣa ra những biện pháp tốt nhất
nhằm phát huy truyền thống của dân tộc. Mặc dù đã có nhiều cơng trình
nghiên cứu cũng nhƣ các bài viết về làng sơn mài nhƣng chƣa có tài liệu nào
tiếp cận theo khía cạnh văn hóa làng nghề. Vì vậy, đây sẽ là hƣớng tiếp cận
mới và giúp mọi ngƣời có cái nhìn rõ hơn về văn hóa làng nghề đã tồn tại hơn
ba trăm năm của làng Tƣơng Bình Hiệp. Đó chính là lý do mà tác giả luận văn
chọn đề tài “Văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp tỉnh Bình Dƣơng”
để nghiên cứu văn hóa.


7

2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu và xác định những giá trị văn hóa tạo nên sự
kết hợp và kế thừa những tinh hoa truyền thống từ ông cha ta của những nghệ
nhân làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp trong quá trình hình thành và phát triển
sơn mài Bình Dƣơng trên nền tảng của sơn mài truyền thống Việt Nam, một

nghề truyền thống quý báu, tiêu biểu mang đậm nét văn hóa dân tộc.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa làng nghề sơn
mài Tƣơng Bình Hiệp nhằm phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc và
xây dựng các chiến lƣợc phát triển làng nghề, đào tạo các nguồn nhân lực để
đáp ứng kịp thời các nhu cầu hiện nay. Ngoài ra, đề tài “Văn hóa làng nghề
sơn mài Tƣơng Bình Hiệp tỉnh Bình Dƣơng” nhằm giúp nâng cao giá trị của
nghề sơn mài trong lĩnh vực mỹ thuật, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong
phú cho nền văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa thế giới nói chung.
3. Lịch sử vấn đề
Sơn mài Việt Nam
Trong lĩnh vực mỹ thuật Việt Nam, sơn mài là một loại hình nghệ thuật
có giá trị thẩm mỹ cao vì nó thể hiện sự sáng tạo độc đáo của những nghệ
nhân có tay nghề và có sự đam mê với sơn mài. Do đó, những họa sĩ, nghệ
nhân, các nhà khoa học rất quan tâm đến lĩnh vực này và đã có nhiều cơng
trình nghiên cứu từ các khía cạnh khác nhau. Trƣớc hết phải nói đến sự ra đời
của nghề đồ sơn – một nghề cổ của Việt Nam, dù bắt nguồn từ Trung Quốc
nhƣng khi đến Việt Nam đã đƣợc ngƣời dân tiếp thu và biến đổi thành một
nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Đặc biệt, cây sơn là nguyên liệu chính của nghề đồ sơn và đƣợc trồng
rất nhiều ở vùng Phú Thọ của Việt Nam. Từ xƣa, nghề đồ sơn rất phát triển do
đáp ứng đƣợc các nhu cầu trong đời sống hằng ngày của con ngƣời và giữ đồ
vật đƣợc lâu bền. Đồ sơn đƣợc sử dụng trong các vật dụng quen thuộc nhƣ
khay hộp, rƣơng hòm, bài vị, bàn ghế... với những màu cơ bản là đen, nâu, đỏ.
Cho đến năm 1925, khi thành lập trƣờng Cao đẳng Mỹ Thuật Đông
Dƣơng, các sinh viên của trƣờng qua q trình tích lũy các giá trị nghề sơn


8

truyền thống đã đƣa kỹ thuật mài vào các bức tranh để thử nghiệm và tạo nên

bƣớc đột phá cho nền mỹ thuật Việt Nam, đó là sơn mài. Và ngƣời tiên phong
trong lĩnh vực sơn mài Việt Nam là nghệ nhân Đinh Văn Thành và các sinh
viên của trƣờng Cao đẳng Mỹ thuật Đơng Dƣơng nhƣ Nguyễn Gia Trí, Trần
Văn Cẩn, Trần Quang Trân... Đến những năm 1960, xuất hiện các tên tuổi nổi
tiếng trong lĩnh vực sơn mài nhƣ Trần Hà, Tô Ngọc Vân đã tạo nên các tác
phẩm độc đáo và thu hút sự quan tâm của công chúng nhiều hơn, đặc biệt là
những ngƣời yêu nghệ thuật sơn mài.
Năm 1975, Viện Nghệ thuật và Viện Bảo tàng Mỹ thuật đã phối hợp tổ
chức hội nghị “Ba mươi năm nghệ thuật sơn mài Việt Nam (1945 – 1975)” với
sự tham gia gần một trăm nghệ nhân, họa sĩ sơn mài, cán bộ nghiên cứu và
giảng dạy mỹ thuật để tạo điều kiện giao lƣu cho các nghệ nhân cũng nhƣ
đánh dấu sự kiện quan trọng về quá trình hình thành và phát triển sơn mài Việt
Nam.
Các bài viết, nghiên cứu về tổng quan nghề sơn mài ngày càng nhiều
nhƣ “Nghề sơn cổ truyền Việt Nam” của Lê Huyên năm 2003, “Kỹ thuật sơn
mài” của Phạm Đức Cƣờng năm 2005, “Sơn mài” của Tô Ngọc Vân năm
2006… hầu nhƣ các sách đều đƣa ra những phân tích về kỹ thuật, quy trình và
tổng hợp các vấn đề liên quan đến quá trình hình thành cũng nhƣ các chất liệu,
những kinh nghiệm và đặc trƣng tạo nên tác phẩm sơn mài với tính nghệ thuật
cao.
Từ khi sơn mài tạo nên bƣớc đột phá mới, nhiều tác phẩm và công trình
nghiên cứu về sơn mài ngày càng nhiều và đƣợc sự quan tâm của các họa sỹ
nhƣ “Người đầu tiên làm sơn mài – Nghệ nhân Đinh Văn Thành”, “Bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam (Nghề đúc đồng, nghề sơn Việt Nam)”, “Đơi nét về
tiến trình phát triển của tranh sơn mài Việt Nam”, “Nghề sơn mài ở Bình
Dương”... đã giới thiệu khá nhiều về nghề sơn cũng nhƣ quy trình thực hiện.
Nhìn chung, các tác phẩm đều nói về một lĩnh vực cụ thể là sơn mài
trong khi cũng có nhiều tác cơng trình nghiên cứu với phạm vi bao quát hơn
chính là làng nghề. Mỗi làng nghề đều có những đặc trƣng khác nhau tạo nên



9

bản sắc văn hóa cho từng địa phƣơng và cả nền văn hóa dân tộc Việt Nam,
điển hình nhƣ “Văn hóa cổ truyền trong làng – xã Việt Nam hiện nay”, “Vai
trò của các nghệ nhân và của cộng đồng trong việc bảo tồn truyền thống làng
nghề”, “Làng nghề trong cơng cuộc phát triển đất nước”...
Sơn mài Bình Dương
Theo “Gia Định Thành Thơng Chí” của Trịnh Hồi Đức năm 1998 có
đề cập đến nghề đồ sơn của ngƣời dân làng Tƣơng Bình Hiệp, tỉnh Bình
Dƣơng. Bên cạnh đó, cịn có các tài liệu, bài viết, nghiên cứu về các vấn đề
bảo tồn làng nghề và tìm hƣớng đi cho sơn mài Bình Dƣơng nhƣ “Nghề sơn
mài ở Bình Dương” theo Tạp chí Xƣa và nay, số 45B, tháng 11 – 1997; “Sơn
mài Bình Dương tìm một hướng đi” của Tạp chí Văn nghệ Bình Dƣơng năm
1998; “Xưởng sơn mài Thanh Lễ” của Trƣơng Chi năm 1998; “Xóm nghề và
nghề thủ công truyền thống Nam Bộ” của Phan Thị Yến Tuyết (chủ biên) năm
2002. Nhìn chung các bài viết, tài liệu trên vẫn chƣa hồn tồn tìm đƣợc
hƣớng đi cụ thể cho việc bảo tồn làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp và
những khó khăn hiện nay cần đƣợc khắc phục.
Trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Thủ Dầu Một – Bình Dương 300 năm
hình thành và phát triển” năm 1998 có các bài viết về sơn mài nhƣ “Vài nét về
các nghề thủ cơng ở Bình Dƣơng” của Phan An, “Những làng nghề truyền
thống ở Bình Dƣơng”, “Mỹ thuật Bình Dƣơng xƣa và nay”. Ngồi ra, trong
“Địa chí Bình Dương” năm 2010 đã giới thiệu tổng quát về lịch sử hình thành
của các nghề thủ cơng truyền thống và nghề sơn mài nhƣng chƣa đi sâu vào
chuyên môn của các ngành nghề nhƣng vẫn khá đầy đủ thông tin cần thiết về
làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp. Bên cạnh đó, cơng trình nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Quang Minh “Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống” đã
cung cấp khá đầy đủ các thông tin cần thiết về các làng nghề, đặc biệt là nghề
sơn mài truyền thống.

Hiện nay có nhiều trang thơng tin điện tử đăng những bài viết về làng
nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp nhƣng vẫn bị giới hạn ở phần giới thiệu hoặc
chỉ nêu lên những khó khăn của làng nghề mà chƣa phải là một thơng tin hồn


10

chỉnh cho những ngƣời quan tâm đến sơn mài. Đồng thời, các bài viết, cơng
trình nghiên cứu từ các nguồn sách, tạp chí, trang thơng tin điện tử chƣa đƣợc
tập hợp một cách có hệ thống nhƣng đây vẫn là những tài liệu q giá, hữu ích
và có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu, tham khảo khi tìm hiểu thông tin
về lĩnh vực sơn mài hoặc làng nghề sơn mài.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn đối tƣợng nghiên cứu là văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng
Bình Hiệp và tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng để tìm ra những biện
pháp duy trì và phát triển cho làng nghề truyền thống này. Bên cạnh đó, đề tài
“Văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp tỉnh Bình Dƣơng” cịn nghiên
cứu về các yếu tố thuận lợi và những giá trị văn hóa đƣợc hình thành trong
làng nghề nhằm phát triển các chính sách, chiến lƣợc để duy trì và bảo tồn
làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp – một trong những làng nghề thủ cơng truyền
thống của Bình Dƣơng nói riêng và Việt Nam nói chung.
Đề tài nghiên cứu đƣợc giới hạn trong phạm vi văn hóa làng nghề sơn
mài Bình Dƣơng. Theo lịch sử, sơn mài xuất hiện ở Bình Dƣơng khi các cuộc
di dân từ Bắc vào Nam vào thế kỷ XVII, họ đã mang theo nghề sơn mài lập
nghiệp và sinh sống tại đây. Đến năm 1901, trƣờng Kỹ nghệ ở Thủ Dầu Một
đƣợc thành lập và chủ yếu dạy nghề sơn mài, chạm trổ nên nghề sơn mài phát
triển nhanh chóng và lan rộng khắp nơi.
Vì vậy, đề tài “Văn hóa làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp tỉnh Bình
Dương” sẽ tập trung từ khoảng thế kỷ XVIII – giai đoạn bắt đầu hình thành,
phát triển làng sơn mài và những khó khăn mà làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp

đã phải trải qua trong suốt quá trình phát triển và tồn tại cho đến ngày nay.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
a. Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu là tài liệu khoa học giúp cho mọi ngƣời có cái nhìn rõ
hơn về sự sáng tạo, độc đáo trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam. Đồng thời,
đây cũng là tài liệu đáng tin cậy nhằm phục vụ cho các công việc nghiên cứu


11

về lĩnh vực văn hóa mỹ thuật, xã hội và đặc biệt là những ngƣời yêu thích hội
họa Việt Nam hoặc cho các nghệ nhân, họa sĩ có sự yêu thích sơn mài.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài sẽ tạo nên sự thu hút, quan tâm của cộng đồng về việc bảo tồn,
duy trì các làng nghề thủ cơng truyền thống của dân tộc. Thông qua những
đánh giá về giá trị thẩm mỹ, kinh tế, văn hóa xã hội của sơn mài để các cơ
quan, tổ chức… có sự nhìn nhận đúng về cơng sức, trí tuệ của các nghệ nhân
đã tạo nên những tác phẩm sơn mài độc đáo cho nghệ thuật tạo hình Việt
Nam. Đồng thời, giúp quảng bá hình ảnh văn hóa làng nghề cho du lịch Việt
Nam, từ đó sẽ đẩy mạnh phát triển và khơi phục lại các làng nghề truyền thống
hiện nay đang ngày càng bị mai một.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu từ các
nguồn tƣ liệu để rút ra kết luận khoa học, thể hiện đƣợc đặc trƣng về lý luận và
thực tiễn. Có sự kết hợp với các chuyên ngành có liên quan nhƣ Lịch sử, Địa
lý, Mỹ thuật, Xã hội học… để phân tích những biến đổi trong văn hóa làng
nghề sơn mài cũng nhƣ những yếu tố tác động đến quan niệm của ngƣời tiêu
dùng với các sản phẩm sơn mài. Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu sẽ
sử dụng phƣơng pháp khảo sát điền dã để thu thập số liệu, thơng tin cần thiết.

Bên cạnh đó, cịn sử dụng phƣơng pháp điều tra xã hội học nhƣ phỏng vấn các
nghệ nhân, những ngƣời thợ lâu năm của làng nghề hoặc các chủ cơ sở sản
xuất sơn mài. Quan điểm tiếp cận đề tài từ các góc độ, điển hình là tiếp cận
liên ngành từ các góc độ Địa văn hóa, Sử văn hóa, Xã hội học, Quản lý văn
hóa…
Nguồn tư liệu
Luận văn đƣợc thực hiện thông qua các nguồn tƣ liệu từ các phóng sự,
chƣơng trình thực tế về làng sơn mài Tƣơng Bình Hiệp. Đồng thời, tác giả thu
thập thông tin và thực hiện các bản khảo sát trong quá trình nghiên cứu điền
dã.


12

7. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (4 trang) và Tài liệu tham khảo
(7 trang), phần Nội dung gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu (34 trang)
Chƣơng 2: Văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp từ 1986 đến nay (50
trang)
Chƣơng 3: Bảo tồn và phát huy văn hóa làng nghề sơn mài Tƣơng Bình Hiệp
tỉnh Bình Dƣơng (32 trang)


13

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm
1.1.1. Làng nghề và làng nghề sơn mài

Việt Nam có một nền nơng nghiệp phát triển lâu đời và trong q trình
phát triển đó, để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và tăng thêm thu nhập cho gia
đình, các nghề thủ cơng truyền thống dần đƣợc hình thành dựa trên những
nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn tại địa phƣơng và những kinh nghiệm lao
động quý báu của những di dân đem theo từ quê hƣơng khi đến vùng đất mới
để định cƣ, lập nghiệp. Qua sự phân công lao động trong các khâu sản xuất đã
tạo ra những ngƣời thợ thủ công chuyên nghiệp và thu hút những ngƣời trong
làng cùng tham gia để có thêm thu nhập bên cạnh việc làm nơng.
Do đó, làng nghề đóng vai trị quan trọng trong q trình phát triển kinh
tế và xã hội của các vùng nông thôn Việt Nam. “Từ những nghề thủ công, đã
tiến dần đến các nghề thủ cơng mỹ nghệ; có thể coi đây là một bước tiến quan
trọng, thể hiện khát vọng của các thợ thủ công muốn vươn tới cái đẹp, đem trí
tuệ và tài năng của mình ra làm đẹp các sản phẩm nay đã thành hàng hóa,
thỏa mãn nhu cầu của cộng đồng cư dân địa phương và các vùng khác trong
cả nước” [44, tr. 87]. Chính vì vậy, khái niệm làng nghề đƣợc các nhà nghiên
cứu quan tâm và đã đƣa ra nhiều quan điểm khác nhau. Nhìn chung, các khái
niệm này đều có điểm tƣơng đồng và nêu đƣợc những đặc trƣng điển hình cho
một làng nghề. Quan niệm “làng nghề” hiện nay là:
Một thực thể kinh tế – văn hóa – xã hội bao gồm những cƣ dân cùng
sản xuất kinh doanh một nghề thủ công, có nơi có quan hệ dịng họ, có
nơi cùng thờ cúng chung một hoặc một số vị Tổ nghề, có chung chí
hƣớng khơi phục và phát triển nghề thủ cơng truyền thống, vừa góp
phần nâng cao đời sống cƣ dân địa phƣơng, vừa góp phần bảo tồn
những giá trị văn hóa độc đáo của nghề mà cha ơng ta đã truyền lại.


14

Làng nghề chính là nơi kết tinh những kết quả của quá trình lƣu giữ và
phát triển nghề; bảo tồn và phát triển làng nghề trƣớc hết và chủ yếu là

bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc ẩn chứa
trong mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống và trong mỗi làng
nghề [44, tr.92-93].
Làng nghề sơn mài là một thuật ngữ tồn tại khá lâu và đã trở nên quen
thuộc với ngƣời dân Việt Nam nhƣng đến nay vẫn chƣa có một khái niệm
chính xác, hồn chỉnh về thuật ngữ này. Để hiểu đƣợc khái niệm làng nghề
sơn mài trƣớc hết cần phải hiểu rõ khái niệm làng nghề và khái niệm sơn mài.
Trong năm 2006, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành
Thông tƣ số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội
dung và các tiêu chí cơng nhận làng nghề nhƣ sau:
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản, làng, bn,
phum, sóc hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tƣ trên địa bàn một xã, thị trấn,
có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều
loại sản phẩm khác nhau.
Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu cũng đƣa ra những khái niệm khác
về làng nghề nhƣ tác giả Trần Minh Yến cho rằng làng nghề là một thế chế
kinh tế – xã hội ở nông thôn, đƣợc cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn
tại trong một khơng gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình
sinh sống bằng nghề lao động thủ cơng là chính, giữa họ có mối liên kết về
kinh tế, xã hội và văn hóa. Cịn theo tác giả Bùi Văn Vƣợng thì làng nghề
truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết
tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Ngƣời thợ thủ công nhiều trƣờng
hợp cũng đồng thời làm nghề nơng. Nhƣng u cầu chun mơn hóa cao đã
tạo ra những ngƣời thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê
của mình.
Hai khái niệm trên có những điểm tƣơng đồng khá rõ rệt, đều nêu lên
đƣợc những đặc trƣng cơ bản của làng nghề là chủ yếu làm thủ cơng nhƣng
với Trần Minh Yến thì cho rằng “nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề lao



15

động thủ cơng là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”
cịn theo Bùi Văn Vƣợng thì “Người thợ thủ cơng nhiều trường hợp cũng đồng
thời làm nghề nơng”. Điều này có thể thấy, khái niệm làng nghề của Bùi Văn
Vƣợng phân tích sâu hơn về đặc trƣng của làng nghề Việt Nam xƣa [44, tr.32].
Ngoài ra, theo Wikipedia.org định nghĩa “Làng nghề Việt Nam là một
thuật ngữ dùng để chỉ các cộng đồng cư dân, chủ yếu ở các vùng ngoại vi
thành phố và nơng thơn Việt Nam, có chung truyền thống sản xuất các sản
phẩm thủ công cùng chủng loại tại Việt Nam”. Định nghĩa làng nghề nhƣ trên
chƣa chính xác vì “có chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công
cùng chủng loại tại Việt Nam” là chƣa rõ ràng, vì mỗi làng nghề chỉ sản xuất
một loại hàng hóa đặc trƣng cho chính làng nghề đó nên khơng thể nói có
chung truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công cùng chủng loại trong
phạm vi cả nƣớc Việt Nam.
Trong tài liệu “Văn hóa Việt Nam tìm tịi và suy ngẫm”, quan điểm của
Trần Quốc Vƣợng về khái niệm làng nghề là những làng nghề nổi tiếng và tồn
tại lâu đời. Trƣớc hết, định nghĩa này khẳng định làng nghề là một yếu tố quan
trọng trong xã hội tiểu nơng, có những làng gắn với nơng nghiệp và có những
làng đƣợc chun mơn hóa (những làng chun mơn hóa thƣờng gắn liền với
đô thị hay kinh đô hoặc khu vực trung tâm và có một tầng lớp thợ thủ cơng
chun nghiệp, có cơ cấu tổ chức phƣờng hội…). Theo tác giả, một làng nghề
tuy vẫn trồng trọt theo phƣơng thức tiểu nơng và chăn ni nhỏ và cũng có
một số nghề phụ khác nhƣng nổi trội một số nghề cổ truyền, tinh xảo và một
tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có cơ cấu tổ
chức và quy trình cơng nghệ nhất định. Những ngƣời trong làng sống chủ yếu
bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ cơng có tính mỹ nghệ và trở
thành sản phẩm hàng hóa có quan hệ tiếp thị với môi trƣờng xung quanh [31,
tr.372].
Trong số những định nghĩa về làng nghề, có một định nghĩa đã đƣa ra

khá đầy đủ các đặc trƣng của làng nghề, theo tác giả Lê Thị Minh Lý thì làng
nghề là một thực thể vật chất và tinh thần đƣợc tồn tại cố định về mặt địa lý,


16

ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với
nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và đƣợc tồn tại lƣu truyền
trong dân gian. Khái niệm này hiện nay đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đồng tình
và xem là khái niệm khá đầy đủ về làng nghề, bên cạnh đó bài viết “Vai trị
của các nghệ nhân và của cộng đồng trong việc bảo tồn truyền thống làng
nghề” của tác giả Nguyễn Thị Bích Thúy cịn đƣa ra thêm quan điểm về khái
niệm làng nghề theo cách nhìn văn hóa bao gồm nội dung:
Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cƣ có một nghề truyền
thống lâu đời đƣợc lƣu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Ổn định về
một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá
trình sản xuất ra một loại sản phẩm [17, tr.127].
Do đó, làng nghề ln gắn liền với nơng thơn truyền thống; quy trình
sản xuất sản phẩm chủ yếu bằng thủ công, tuy nhiên có thể ứng dụng các khoa
học kỹ thuật để hỗ trợ nhƣng khơng q lệ thuộc vào nó và nghề thủ công của
làng thu hút một lƣợng lớn các hộ gia đình tham gia sản xuất và mang lại thu
nhập cao cho gia đình.
Về thuật ngữ sơn mài, hiện nay có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về
thuật ngữ này do đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo, mang đậm bản sắc
văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Họa sĩ Tô Ngọc Vân – một họa sĩ
nổi tiếng của Việt Nam nêu lên một khái niệm về sơn mài trong tác phẩm Sơn
mài nhƣ sau “Sơn mài là một danh từ mới đặt sau này để chỉ một kỹ thuật
trước kia được gọi là sơn ta nhưng đã biến hóa hẳn do nghệ thuật sơn mài.”
Theo tác giả Phạm Đức Cƣờng, danh từ sơn mài đƣợc đặt ra từ đó để
khỏi lẫn với lối làm sơn cổ truyền thƣờng đƣợc gọi là sơn ta, sơn quang dầu

[18, tr.13]. Cịn trong “Đại từ điển Tiếng Việt” thì “Sơn mài là chất liệu hội
họa, chế từ nhựa sơn, trong và bóng, dùng để vẽ tranh” [15, tr.1463].
Có thể thấy, làng nghề là một thuật ngữ xuất hiện lâu đời đã phản ánh
đặc trƣng nổi bật của nông thôn Việt Nam từ xƣa là tính tự cung tự cấp của
mỗi làng, dẫn đến sự ra đời của việc sản xuất hàng hóa, sản phẩm nhằm đáp
ứng cho nhu cầu cuộc sống ngƣời dân. Trong quá trình phát triển mỹ thuật,


17

thuật ngữ sơn mài đƣợc ra đời nhờ vào những điều kiện khách quan mà những
ngƣời nghệ nhân tâm huyết với nghề đã sáng tạo ra, đồng thời khi biết tận
dụng những nguyên vật liệu có sẵn trong thiên nhiên tại địa phƣơng đã tạo nên
những sản phẩm sơn mài độc đáo không chỉ phục vụ cho nhu cầu vật chất mà
cả về tinh thần. Từ những nghiên cứu về hai thuật ngữ trên, khái niệm làng
nghề sơn mài có thể đƣợc hiểu một cách khái quát nhƣ sau: làng nghề sơn mài
là một làng có phần lớn các hộ gia đình sống chủ yếu bằng nghề sơn mài.
1.1.2. Văn hóa làng nghề
Làng nghề sơn mài đƣợc hình thành dựa trên nhiều yếu tố khách quan
nhƣ điều kiện tự nhiên, sự di dân, cơ cấu tổ chức nghề, cố kết cộng đồng, lễ
hội, tín ngƣỡng, phong tục, tập quán… tất cả sẽ tạo nên một nét văn hóa đặc
trƣng cho làng nghề. Theo tác giả Vũ Trung trong “Văn hóa làng nghề truyền
thống (qua dẫn liệu làng nghề gỗ Sơn Đồng, gốm Bát Tràng – Hà Nội và chạm
bạc Đồng Xâm – Thái Bình)”, tác giả đã chỉ ra những đặc trƣng cơ bản của
văn hóa làng nghề. Về cơ bản, đặc trƣng của văn hóa làng nghề cũng tƣơng tự
văn hóa làng truyền thống với những yếu tố cấu thành nhƣ: Cơ cấu tổ chức về
diện mạo làng xã, dịng họ, phe, giáp, các hội đồng niên…; văn hóa vật thể
nhƣ đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, nhà ở… và văn hóa phi vật thể nhƣ
luật tục, phong tục, tập qn, ứng xử xóm làng, lễ hội, tín ngƣỡng dân gian…
Do nguồn sống chủ yếu dựa vào các sản phẩm của nghề thủ công và

việc trao đổi buôn bán (kinh tế hàng hóa), cộng thêm sự tác động của q trình
di dân nên văn hóa nghề có yếu tố mở khác hẳn với làng nơng nghiệp. Hình
thành nên cơ cấu tổ chức (phƣờng hoặc hội nghề, mối quan hệ làng xóm –
dịng họ – gia đình – thợ thủ cơng) và một số hình thái văn hóa nhƣ nghề và
tín ngƣỡng thờ tổ nghề (nơi thờ tổ nghề), ứng xử mang tính tiểu thƣơng, bí
quyết và kỹ xảo nghề, các tập tục riêng biệt của làng nghề…
Cũng trong bài viết này, văn hóa làng nghề đƣợc nhắc đến với lễ hội và
phong tục tập quán ở làng quê gắn liền với môi trƣờng tự nhiên và những luật
tục riêng của từng làng từng xã. Chức năng của lễ hội và phong tục tập quán là


18

biểu hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng, tái xác định lại những mối liên
hệ và gắn bó, liên kết các thành viên trong cộng đồng với nhau (cố kết cộng
đồng). Những yếu tố cấu thành văn hóa làng nghề đƣợc nêu trên khá đầy đủ
nhƣng vẫn chƣa chi tiết, cụ thể nhƣ trong bài viết “Một số suy nghĩ về phát
huy “văn hóa làng” trong làng nghề (Phác thảo)” của tác giả Vũ Quốc Tuấn
vào tháng 8 năm 2011 có thể nêu ra những yếu tố cấu thành văn hóa làng nghề
nhƣ sau:
Về cơ cấu tổ chức, làng nghề chủ yếu phát huy tính cộng đồng thơng
qua việc duy trì các quan hệ làng xóm – dịng họ – gia đình – thợ thủ
cơng; hình thành những tổ chức hội nghề nghiệp trong quá trình bảo tồn
và phát huy làng nghề… Đồng thời đẩy mạnh liên kết liên doanh, gắn
kết với nhau để khắc phục nhƣợc điểm của từng hộ gia đình, từng tổ
chức sản xuất kinh doanh, để tăng thêm sức mạnh, cùng phát huy tài
năng, sáng tạo mẫu mã, kiểu dáng mới của sản phẩm hàng hóa, tìm
kiếm thị trƣờng…
Về văn hóa vật thể, làng nghề là những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc
trƣng cho văn hóa từng làng nghề từng vùng miền; là các đình, đền, miếu, nơi

thờ Tổ nghề, nhà thờ họ, các nhà truyền thống, bảo tàng làng nghề… Việc tu
bổ, nâng cấp các cơng trình kiến trúc cổ cần giữ đƣợc những giá trị văn hóa đã
hình thành, tránh xây dựng một cách tùy tiện, làm mất đi giá trị truyền thống
của các cơng trình. Các nhà truyền thống, các bảo tàng cần đƣợc xây dựng, kể
cả những công trình có tính tổng hợp của một làng nghề cũng nhƣ những cơng
trình chun đề về một nghề thủ cơng, coi đây là những nơi trƣng bày, giới
thiệu quá trình hình thành và phát triển của nghề, đặc biệt là nêu rõ tinh hoa
văn hóa của nghề.
Về văn hóa phi vật thể, làng nghề là việc phát huy tính cộng đồng của
các luật tục, phong tục tập quán, cung cách ứng xử trong làng xóm; là việc tổ
chức các lễ hội tơn vinh Tổ nghề có tác dụng giáo dục truyền thống, tổ chức
các sinh hoạt văn hóa – tín ngƣỡng cộng đồng (lễ hội, rƣớc sách, tế lễ, các trò
chơi dân gian…); là việc tổ chức dạy nghề, truyền nghề, giữ gìn các bí quyết


19

và kỹ xảo nghề, tôn vinh và phát huy tài năng và sức sáng tạo của các nghệ
nhân… [44, tr.95-96]
Trong bài viết “Bản chất làng nghề và giải pháp phát triển làng nghề”
tại hội thảo quốc tế “Làng nghề và phát triển du lịch” đƣợc tổ chức vào tháng
03 – 2014, có đề cập đến văn hóa làng nghề là khía cạnh giá trị liên quan các
thành tố cơ bản mang tính chất điều kiện quyết định sự phát triển bền vững
của mọi hoạt động làng nghề. Giá trị văn hóa đƣợc thể hiện rõ trong chính
những sản phẩm đặc trƣng của làng nghề, những sản phẩm mang giá trị độc
đáo của văn hóa dân tộc và địa phƣơng. Nó đƣợc tạo nên bởi sự sáng tạo của
các thế hệ nghệ nhân thông qua các nguồn nguyên liệu truyền thống có sẵn
hoặc tái tạo kết hợp vốn tinh hoa tri thức dân gian nhƣ văn hóa kỹ thuật – nghệ
thuật và kỹ năng của bản thân hoặc kế thừa từ các thế hệ đi trƣớc.
Chủ thể quan trọng nhất của văn hóa làng nghề chính là các nghệ nhân,

những ngƣời mà UNESCO dùng khái niệm “Báu vật nhân văn sống” để dành
tặng cho đội ngũ nghệ nhân ở các làng nghề truyền thống trên thế giới. Thông
qua bàn tay, trái tim và khối óc của mình, các nghệ nhân đã tạo nên những sản
phẩm góp phần làm đẹp thêm truyền thống văn hóa của cộng đồng địa phƣơng
và dân tộc. Vì vậy, họ chính là tài sản văn hóa sống cần đƣợc xem trọng và kế
thừa.
Bên cạnh đó, mơi trƣờng tồn tại và phát triển của làng nghề cũng chính
là khơng gian văn hóa vật thể của làng nghề. Từ cảnh quan điều kiện tự nhiên
nhƣ dịng sơng, bến nƣớc… cho tới các yếu tố xã hội liên quan làng nghề nhƣ
cổng làng, những di tích lịch sử văn hóa, nhà thờ Tổ nghề… tất cả đều là môi
trƣờng vừa nuôi dƣỡng vừa thể hiện ra các giá trị văn hóa truyền thống của
cộng đồng địa phƣơng, dân tộc thơng qua văn hóa làng nghề. Ngồi ra, nếp
sống sinh hoạt cộng đồng nhƣ tín ngƣỡng, phong tục tập quán, lễ hội… cịn là
khơng gian văn hóa phi vật thể của làng nghề. Chính nếp sinh hoạt của làng
nghề đã tạo nên nét văn hóa truyền thống đặc trƣng của địa phƣơng, dân tộc
cũng nhƣ của làng nghề thông qua quá trình sống và sản xuất lâu dài của chính
bản thân làng nghề [42, tr.2-3].


20

Theo quan niệm của ngƣời Việt xƣa thì làng nghề thƣờng gắn liền với
các giá trị kinh tế mà không đƣợc quan tâm nhƣ một giá trị văn hóa vì họ cho
rằng để tiêu thụ sản phẩm thì cần phải có sự trao đổi, bn bán, giao thƣơng;
vì vậy mà làng nghề mang tính mở và khơng đƣợc xem trọng.
Nhƣng chính giá trị văn hóa hàm chứa trong mỗi sản phẩm thủ công
mỹ nghệ truyền thống cũng nhƣ trong mỗi làng nghề mới tạo nên giá trị kinh
tế của làng nghề, và đó chính là cái hồn tạo nên giá trị bền vững của làng
nghề. Làng nghề không chỉ là nơi tập trung đông đúc những thợ thủ công cùng
chế tác một loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mà cịn là một mơi trƣờng văn

hóa; nơi lƣu truyền những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật dân gian, những
kinh nghiệm sản xuất, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa tâm linh cộng
đồng (nhƣ lễ hội, hát xƣớng, thờ cúng Tổ nghề, hoạt động phƣờng hội…). Có
thể coi làng nghề nhƣ một bảo tàng sống [44, tr.80].
Khái niệm văn hóa đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vì đây là
vấn đề quan trọng cần đƣợc bảo tồn trong sự phát triển toàn cầu nhƣ hiện nay.
Các khái niệm tiêu biểu về văn hóa nhƣ của E.B Tylor trong cơng trình nghiên
cứu “Văn hóa ngun thủy” năm 1871 thì “Văn hóa là một phức thể bao gồm
tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả
năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt
được”, theo Federico Mayor – Tổng giám đốc UNESCO cho rằng “Văn hóa
bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những
sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối
sống và lao động”.
Tuy nhiên, hai khái niệm trên liệt kê khá dài dịng mà khơng đầy đủ,
đồng thời còn sử dụng cụm từ “sản phẩm tinh vi hiện đại nhất” là thuật ngữ
khơng thuộc về văn hóa mà thuộc về văn minh. Hiện nay, định nghĩa của tác
giả Trần Ngọc Thêm có thể nói là đầy đủ nhất cho một khái niệm hồn chỉnh
về văn hóa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua q trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [30, tr.10].


21

Cịn theo tác giả Đào Duy Anh “Văn hóa là sinh hoạt”, một hoạt động
của con ngƣời mà không cần quan tâm đến dân tộc đó có văn minh hay dã
man nhƣng họ có nền văn hóa riêng của mình và chỉ khác nhau ở trình độ cao
thấp [3, tr.11].
1.1.3. Biến đổi văn hóa làng nghề sơn mài

Hiện nay, khi Việt Nam bƣớc vào thời kỳ đổi mới sau Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ VI năm 1986, làng nghề truyền thống ở khắp nơi trên cả
nƣớc đã có nhiều biến đổi. Từ đó, thuật ngữ biến đổi cũng đƣợc chú ý nhiều
hơn đối với các nhà nghiên cứu.
“Biến đổi văn hóa: là sự đổi khác của văn hóa trong bối cảnh chính trị,
kinh tế, xã hội nhất định. Nói cách khác, biến đổi văn hóa là sự thích nghi và
phát triển của văn hóa trong từng giai đoạn của lịch sử, nếu khơng thích nghi
và phát triển thì văn hóa sẽ biến đổi theo chiều hướng khơng tích cực”. Những
biến đổi văn hóa làng nghề nhƣ các yếu tố chính trị – kinh tế – xã hội ảnh
hƣởng đến sự biến đổi của nghề truyền thống và văn hóa làng nghề; Các
nguyên nhân bên trong của cộng đồng làng ảnh hƣởng đến sự biến đổi văn hóa
làng nghề (tâm lý cộng đồng, hệ thống giá trị chuẩn mực); Sự biến đổi các yếu
tố cấu thành nên văn hóa làng nghề; Q trình đơ thị hóa sẽ làm tan rã cộng
đồng làng; Sự hình thành các yếu tố văn hóa mới trong làng nghề.1
Tuy nhiên, sự biến đổi có thể dẫn đến sự sáng tạo trong việc sáng tác
của các nghệ nhân, đƣa họ đến một trình độ cao hơn hoặc tạo ra những sản
phẩm hoàn hảo hơn đối với ngƣời thƣởng thức. Nghề thủ cơng truyền thống
ln địi hỏi ngƣời nghệ nhân phải có sự sáng tạo khơng ngừng nhƣng vẫn giữ
đƣợc nét truyền thống của dân tộc. Theo Platon, “sáng tạo không phải là một
kỹ nghệ mà một sự linh cảm, nên nó là độc quyền của số ít người”, trong khi
Kant thì cho rằng “sáng tạo chỉ tồn tại trong nghệ thuật, vì nghệ sĩ mặc dù đã

1

/>

22

dự kiến sản phẩm sẽ tạo ra thì cũng khơng hẳn có thể dễ dàng thành cơng nếu
thiếu như đi cảm hứng” [19, tr.93].

Vì vậy, sự biến đổi văn hóa vừa có mặt tích cực nhƣng cũng có mặt tiêu
cực của nó. Biến đổi văn hóa ảnh hƣởng đến từng yếu tố trong làng nghề,
những giá trị cũ sẽ bị thay thế bằng những giá trị mới để thích nghi với từng
giai đoạn của lịch sử. Do đó, sự biến đổi văn hóa thƣờng dẫn đến việc tiếp thu
những xu hƣớng hiện đại và có thể làm mất đi những giá trị truyền thống.
1.2. Giới thiệu khái quát tỉnh Bình Dƣơng
Bình Dƣơng (tỉnh Sơng Bé cũ) là một vùng đất phong phú về tài
ngun thiên nhiên, có khí hậu thuận lợi với vị trí nằm ở trung tâm của vùng
Đơng Nam Bộ, tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh – vùng kinh tế phát
triển. Do đó, những ngƣời di dân đã chọn Bình Dƣơng là điểm dừng chân
trong quá trình đi khai phá của mình, tại đây họ bắt đầu xây dựng nhà cửa,
trồng trọt và định cƣ. Họ khơng chỉ mang theo tài sản của mình mà cịn mang
theo cả nền văn hóa của quê hƣơng, những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm
tích lũy đƣợc trong q trình lao động, sản xuất. Ngƣời dân từ khắp nơi hội tụ
về đây cùng nhau khai phá đất đai, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống; cùng
giao lƣu văn hóa nên dẫn đến hình thành nét văn hóa đặc trƣng cho Bình
Dƣơng và chính sự giao thoa văn hóa là bản sắc văn hóa cho vùng đất này.
1.2.1. Đơi nét về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Bình
Dương
Từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, Bình Dƣơng vẫn còn là một
vùng đất hoang dã, rừng rậm bao phủ. Chủ yếu ngƣời dân sống ở đây là những
dân tộc thiểu số nhƣ Stiêng, M’nơng, Khmer… có kỹ thuật sản xuất thấp kém,
sống bằng việc phá rừng làm nƣơng, kết hợp với săn bắt và hái lƣợm; sống rải
rác thành từng bn, sóc ở những khu vực bìa rừng hoặc vùng gị đồi. Do đó,
đa phần diện tích đất đai còn lại là rừng rậm.
Cho đến thế kỷ XVII, khi xuất hiện những lớp dân di cƣ từ miền Bắc và
miền Trung nhập cƣ vào. Hầu hết đều là những ngƣời dân không chịu nổi sự


23


áp bức bóc lột của chính quyền phong kiến Đàng Ngồi, ngồi ra cịn có một
bộ phận ngƣời Minh Hƣơng cũng theo chân ngƣời Việt vào đây sinh sống
khoảng cuối thế kỷ XVII. Những lƣu dân ngƣời Việt chọn vùng Đồng Nai,
Gia Định làm điểm dừng chân đầu tiên; một số khác thì chọn đi ngƣợc lên
vùng sơng Sài Gịn và dừng chân ở huyện Thuận An, huyện Bến Cát ngày nay.
Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), Thống suất Chƣởng Cơ lễ thành hầu Nguyễn
Hữu Cảnh đƣợc cử vào Nam để thiết lập hệ thống quản lý hành chính vùng
này, lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện
Phƣớc Long, dựng dinh Trấn Biên và lập xứ Sài Gịn làm huyện Tân Bình,
dựng dinh Phiên Trấn. Khi mới lập, dinh Trấn Biên phân chia lãnh thổ huyện
Phƣớc Long gồm 4 tổng là Tân Chánh (sau đổi thành Phƣớc Chánh), Bình An,
Long Thành và Phƣớc An. Địa phận tổng Bình An lúc bấy giờ là địa phận hai
tỉnh Bình Dƣơng và Bình Phƣớc ngày nay. Địa phận tỉnh Bình Dƣơng ngày
nay nằm ở phần đất phía dƣới của tổng Bình An.
Với điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú,
tổng Bình An là nơi sống thích hợp cho con ngƣời, nên sớm thu hút khá đông
những lƣu dân đến lập nghiệp, định cƣ giúp cho vùng đất này nhanh chóng
phát triển về kinh tế và xã hội. Do đó năm 1808, Phƣớc Long đƣợc đổi thành
phủ gồm bốn huyện: Bình An, Phƣớc Chánh, Long Thành và Phƣớc An; Tân
Bình đổi thành phủ gồm bốn huyện: Bình Dƣơng, Tân Long, Thuận An và
Phƣớc Lộc.
Trong buổi đầu khai hoang, cơ chế quản lý hành chính cịn lỏng lẻo nên
mặc dù huyện Bình An và huyện Bình Dƣơng thuộc hai tỉnh khác nhau nhƣng
lại có mối quan hệ thân thiết với nhau trong việc trao đổi hàng hóa và giao lƣu
văn hóa. Năm 1837, huyện Bình An đƣợc chia ra thành hai huyện là Bình An
(Thủ Dầu Một) và Ngãi An (Thủ Đức). “Hồi đầu bản triều đặt làm tổng Bình
Dương, năm Gia Long thứ 7 thăng làm huyện” [40, tr.236]. Đến năm 1841,
huyện Bình Dƣơng đƣợc chia thành hai huyện là Bình Dƣơng (Sài Gịn) và
Bình Long (bao gồm Hóc Mơn và Củ Chi). Sau khi triều đình Huế ký hiệp ƣớc

nhƣợng cho Pháp ba huyện Biên Hòa, Gia Định và Định Tƣờng vào năm


×